1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp

98 33 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Công Sở Tại Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội – Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả ThS. Phạm Ngọc Trụ, TS. Nguyễn Thị Ngọc Linh, CN. Trần Xuân Hòa, ThS. Nghiêm Xuân Mừng, ThS. Phạm Duy Cảnh
Trường học Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp (Đề tài NCKH) Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp

Trang 2

Thành viên đề tài: CN Trần Xuân Hòa

ThS Nghiêm Xuân Mừng

ThS Phạm Duy Cảnh

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp mới của đề tài 9

7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 9

8 Bố cục của đề tài 10

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 11

1.1 Các khái niệm cơ bản 11

1.1.1 Khái niệm văn hóa 11

1.1.2 Khái niệm công sở, văn hóa công sở và văn hóa công sở tại trường đại học 13

1.1.2.1 Khái niệm công sở 13

1.1.2.2 Khái niệm văn hóa công sở 14

1.1.2.3 Văn hóa công sở tại trường đại học 16

1.2 Vai trò của văn hóa công sở đối với trường đại học 17

1.3 Nội dung của văn hóa công sở tại trường đại học 21

1.3.1 Tác phong làm việc, trang phục, lễ phục của đội ngũ công chức, viên chức, người lao động 21

1.3.1.1 Tác phong làm việc 21

1.3.1.2 Trang phục, lễ phục của đội ngũ công chức, viên chức, người lao động 24

1.3.2 Phẩm chất đạo đức, tuân thủ kỉ luật, kỉ cương hành chính 25

1.3.2.1 Phẩm chất đạo đức 25

1.3.2.2 Tuân thủ kỷ luật, kỷ cương hành chính 26

1.3.3 Phương thức, lề lối làm việc 28

1.3.4 Bài trí công sở 29

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa công sở trường đại học 29

Trang 4

1.4.1 Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc 30

1.4.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội 31

1.4.3 Trình độ, năng lực của đội ngũ công chức, viên chức, giảng viên 32

1.4.4 Vị thế, thương hiệu của trường đại học 32

1.4.5 Mức độ hiện đại hóa công sở 33

1.4.6 Các yếu tố khác 34

1.4.6.1 Nhận thức, mức độ quan tâm của người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học 34

1.4.6.2 Tính chất, đặc điểm của cơ sở giáo dục đại học 34

1.5 Kinh nghiệm xây dựng văn hóa công sở của một số trường Đại học ở Việt Nam 35

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 38

2.1 Khái quát về trường Đại học Nội vụ Hà Nội 38

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 38

2.1.2 Đội ngũ và ngành nghề đào tạo 40

2.2 Thực trạng các quy định về xây dựng văn hóa công sở 42

2.2.1 Thực trạng quy định của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội về văn hóa công sở 42

2.2.2 Một số hạn chế còn tồn tại 43

2.3 Thực trạng tình hình thực hiện văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 44

2.3.1 Những kết quả đạt được 44

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 47

2.3.3 Nguyên nhân những tồn tại, hạn chế 52

Tiểu kết Chương 2 55

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 56

3.1 Quan điểm, định hướng về việc nâng cao văn hóa công sở 56

3.1.1 Quán triệt chủ trương của Đảng về đường lối xây dựng, phát triển văn hóa 56

Trang 5

3.1.2 Bám sát các đặc tính, tiêu chí ảnh hưởng đến sự phát triển văn hóa công

sở 57

3.1.3 Khắc phục những hạn chế từ thực trạng xây dựng văn hóa công sở và đảm bảo tính phù hợp trong điều kiện hiện nay 59

3.2 Các giải pháp nâng cao văn hóa công sở tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội 60 3.2.1 Nâng cao nhận thức về văn hóa công sở 60

3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục về văn hóa công sở 62 3.2.3 Đổi mới phương pháp tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động 63

3.2.4 Tăng cường kỉ luật, kỉ cương, nâng cao thái độ phục vụ người học của viên chức, người lao động trong Nhà trường 64

3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện văn hóa công sở 65

3.2.6 Nâng cao chất lượng môi trường làm việc của viên chức, người lao động Nhà trường 66

3.2.7 Hoàn thiện quy định về văn hóa công sở của Nhà trường 67

Tiểu kết Chương 3 68

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 73

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CCVC : Công chức, viên chức

CHXHCNVN : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam CQHCNN : Cơ quan hành chính Nhà nước

CQNN : Cơ quan Nhà nước

NQ-CP : Nghị quyết của Chính phủ

QĐ-TTg : Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

UBTVQH : Ủy ban Thường vụ Quốc hội

VHCS : Văn hóa công sở

Trang 7

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa công sở là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất quan tâm và đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật quy định về xây dựng văn hóa công sở, hình thành chuẩn mực, nề nếp làm việc kỷ cương, dân chủ trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và các đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước nhấn mạnh: Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ nhà nước và đoàn thể, coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh Trong đó, trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tụy, hết lòng phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân gắn bó máu thịt với nhân dân; có ý thức thượng tôn pháp luật, dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và ý nghĩa công dân”

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg, ngày 02/8/2007 ban hành Quy chế văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước; Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp và Quyết định số 1847/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ Trong đó, Đề án Văn hóa công vụ có mục tiêu là nâng cao văn hóa công vụ, góp phần hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đảm bảo tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ, đáp ứng yêu cầu phục phụ nhân dân, xã hội Trên cơ sở đó, Bộ Nội vụ đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 và Quyết định số 733/QĐ-TTg ngày 14/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổ chức

Trang 8

2

thực hiện Phong trào thi đua "Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở" giai đoạn 2019-2025 Bộ Nội vụ yêu cầu các cơ quan, đơn vị, tổ chức đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và quán triệt thực hiện nội dung của văn hóa công

sở, đạo đức công vụ cho công chức, viên chức, người lao động trong thực thi nhiệm nhiệm vụ nhằm nâng cao nhận thức về tinh thần, thái độ làm việc, các chuẩn mực giao tiếp, ứng xử đạo đức, lối sống, góp phần tăng cường kỷ luật, kỉ cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nền công cụ, tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, sự đồng thuận và phát huy sức mạnh tổng hợp của công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị để triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch của Chính phủ

Văn hóa công sở không chỉ thể hiện đạo đức, phẩm chất của công chức,

viên chức, người lao động trong khi thực hiện nhiệm vụ mà còn thể hiện trình độ

và nhu cầu văn hóa của họ Vì vậy, để đảm bảo tính trang nghiêm, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, ngày 02/8/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg về Quy chế văn hóa công sở Căn cứ vào Quy chế này các cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa phương đều đã ban hành Quy chế văn hóa áp dụng tại cơ quan, đơn vị mình và đều nhận được sự ủng hộ, đồng tình của đa số công chức, viên chức và nhân dân Điều này đã khẳng định mạnh mẽ, văn hóa công sở có vai trò to lớn trong việc xây dựng nề nếp làm việc khoa học, kỉ cương và dân chủ Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa cũng giúp cho các thành viên trong công sở tôn trong kỉ luật, đoàn kết, thân

ái và hợp tác vì sự phát triển chung của công sở Đồng thời, khơi dậy, phát huy năng lực sáng tạo của từng cá nhân, tạo môi trường làm việc thân thiện, văn minh Tuy nhiên, tại nhiều cơ quan nhà nước hiện tượng vi phạm văn hóa công

sở vẫn diễn ra thường xuyên, trang phục giao tiếp ứng xử của công chức viên chức còn nhiều bất cập Tình trạng nhậu nhẹt, đánh bài hút thuốc nơi công sở; quan liêu, hách dịch, cửa quyền và làm việc thiếu trách nhiệm vẫn tồn tại

Trang 9

3

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là một cơ sở giáo dục đại học Theo xu thế vận động phát triển giáo dục toàn cầu và cả nước, nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của văn hóa công sở, Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường luôn quan tâm, sát sao trong việc xây dựng môi trường giáo dục thân thiện văn minh nhưng lại đảm bảo tính kỉ luật, đoàn kết Tuy nhiên, theo sự phát triển của xã hội văn bản quy định về văn hóa công sở của nhà trường đã tỏ ra bất cập, lạc hậu; tình hình triển khai, thực hiện văn hóa công sở của viên chức, giảng viên nhà trường vẫn còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của nhà trường khi tiến tới hoạt động tự chủ

Với những lý do như trên, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài

nghiên cứu khoa học cấp trường với mong muốn đề tài là cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất, hoàn thiện các quy định về văn hóa công sở của Nhà trường, góp phần đưa sự nghiệp giáo dục của Nhà trường ngày càng phát triển bền vững

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Văn hóa công sở là đề tài được rất nhiều các học giả, nhà nghiên cứu, nhà quản lý quan tâm Tính đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến văn hóa công sở Mỗi công trình nghiên cứu tiếp cận dưới một góc độ nhất định nhưng đều có ý nghĩa góp phần làm sáng tỏ về văn hóa công sở Cụ thể, các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước như sau:

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong nước, các công trình nghiên cứu về văn hóa công sở khá đa dạng, phong phú và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Tiêu biểu có một số

công trình sau đây:

Cuốn sách Tổ chức điều hành hoạt động của các công sở của PGS.TSKH

Trang 10

4

Nguyễn Văn Thâm viết năm 2003, Nxb Chính trị Quốc gia trình bày những vấn

đề chung về tổ chức hoạt động của các công sở hành chính, đồng thời đề cập đến vai trò của văn phòng, kỹ năng điều hành, lãnh đạo trong công sở, trên cơ sở đó tác giả kiến nghị một số biện pháp nâng cao kỹ thuật hành chính, kỹ năng điều hành công sở trong tương lai Những quan điểm, giải pháp của tác giả trong cuốn sách

cũng góp phần thực hiện văn hóa công sở, giúp công sở văn minh hiện đại hơn

Cuốn sách chuyên khảo Pháp luật, lối sống và văn hóa công sở do PGS.TS

Nguyễn Minh Đoan chủ biên, Nxb Tư Pháp, năm 2011, cũng đề cập đến văn hóa công sở Tác giả cho rằng pháp luật và văn hóa công sở có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Văn hóa công sở được thể hiện ở yếu tố hình thức nơi công sở, trong hoạt động giao tiếp pháp lý, trong tiếp dân, trong việc tiết kiệm chống lãng phí

thời gian và tiền của nhà nước và lời thề của người cán bộ công chức

Đề tài Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay nghiệm thu năm 2015, do TS

Huỳnh Văn Thới, Học viện Hành chính Quốc gia làm chủ nhiệm Công trình này

đã luận giải cơ sở hình thành văn hóa công vụ, các nhân tố tác động đến nó Trên

cơ sở đó phản ánh được bức tranh hiện thực về văn hóa công vụ tại Việt Nam Tác giả luận giải những vấn đề lớn đang đặt ra và thách thức với văn hóa công vụ Việt Nam Từ đó, đề xuất định hướng, tiêu chí và giải pháp phát triển văn hóa công vụ phù hợp với điều kiện của Việt Nam

Đề tài Văn hóa công sở và xây dựng văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước do ThS Nguyễn Huyền Hạnh làm chủ nhiệm, nghiệm thu

năm 2018 tại Bộ Nội vụ Đề tài đã khái quát một số vấn đề lý luận về văn hóa công sở trong cơ quan hành chính nhà nước Trên cơ sở đó phân tích thực trạng

và đề xuất các quan điểm, giải pháp xây dựng văn hóa công sở trong các cơ quan

hành chính nhà nước

Bên cạnh các công trình trên, còn có các bài báo, bài viết đăng trên các tạp

Trang 11

5

chí khoa học đề cập, nghiên cứu liên quan đến văn hóa công sở, như: Nguyễn Minh Đoan (2006), Yếu tố văn hóa công sở trong các hoạt động nhà nước, Tạp chí Luật học, số 11 (tr11-18); Lê Như Hoa (2006), Môi trường văn hóa nơi công

sở, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 10 (tr3-7); Trần Thị Thanh Thủy (2006), Văn hóa tổ chức và một số giải pháp phát triển văn hóa công sở, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, tr14; Đinh Thị Cẩm Lê (2013), Xây dựng các yếu tố cấu thành văn hóa công sở hành chính, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4 (tr63-67)

Qua đó cho thấy, có không ít các công trình, sách, bài viết nghiên cứu liên quan đến văn hóa công sở Các công trình này, dù tiếp cận ở khía cạnh nào thì đều góp phần hình thành nên cơ sở khoa học về cả lý luận và thực tiễn đối với văn hóa công sở Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào là đề tài nghiên cứu về văn hóa công sở cấp trường đại học, trong đó có văn hóa công sở

tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Do vậy, nghiên cứu về Văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội – Thực trạng và giải pháp là một vấn đề cấp bách,

vừa vận dụng lý luận chung văn hóa công sở vào một loại công sở đặc thù vừa góp phần nâng cao văn hóa công sở của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong thời

gian tới

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Với các nước phát triển, trong môi trường làm việc năng động và chuyên nghiệp, bên cạnh việc sáng tạo để tìm ra những cách riêng giúp làm việc nhanh hơn và đạt hiệu quả cao hơn thì có một cách khá tốt để xây dựng giá trị bản thân

đó là hình thành những thói quen, lề lối làm việc, phương cách ứng xử cùng hành

vi văn minh, lịch sự chốn công sở hay nói cách khác là văn hóa công sở Chính vì vậy, văn hóa công sở luôn là một vấn đề được các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực, văn hóa, thông tin thư viện, giáo dục trên thế giới quan tâm Đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về văn hóa công sở Để có cái nhìn khái quát tình hình nghiên cứu trên thế giới về vấn đề này, đề tài giới thiệu một số công trình

Trang 12

6

tiêu biểu tiếp như sau: Schraeder, M (2005) Organizational culture in public sector organizations: Promoting change through training and leading by example

Leadership & Organization Development Journal, 26, 492-502 (tạm dịch:

Schraeder, M (2005) Văn hóa tổ chức trong các tổ chức khu vực công: Thúc đẩy thay đổi thông qua đào tạo và dẫn dắt bằng ví dụ Tạp chí Phát triển Tổ chức & Lãnh đạo, 26, 492-502); Parker, R.,&Bradley, L (2000) Organizational culture in

the public sector: Evidence from six organizations International Journal of Public Sector Management, 13, 125-141 (tạm dịch: Parker, R., & Bradley, L

(2000) Văn hóa tổ chức trong khu vực công: Bằng chứng từ sáu tổ chức Tạp chí quốc tế về quản lý khu vực công, 13, 125-141); Hatch, M J.,& Schultz, M

(1997).Relation between organizational culture, identity and image.European Journal of Marketing, 31, 356-365 (tạm dịch: Hatch, M J., & Schultz, M (1997)

Mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, bản sắc và hình ảnh Tạp chí Tiếp thị Châu

Âu, 31, 356-365)…

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vai trò, chức năng, thực trạng văn hóa tổ chức nói chung và văn hóa công sở nói riêng Theo đó, văn hóa công sở đóng vai trò quan trọng trong tổ chức hoạt động của một cơ quan, công

sở Trên cơ sở phân tích, phản ánh thực trạng văn hóa tổ chức, các tác giả cũng

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao, phát triển văn hóa tổ chức, văn hóa công sở trong tổ chức

Việc tổng quan các công trình nghiên cứu trên có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài Bởi thông qua đó, tác giả tiếp thu được nhiều cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu; xác định được khoảng trống nghiên cứu và xây dựng được khung lý thuyết nghiên cứu về văn hóa công sở để làm cơ

sở phân tích thực trạng văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Từ

đó đưa ra quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong thời gian tới

Trang 13

7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích: Nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng từ đó đề xuất các

giải pháp nâng cao văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về văn hóa công sở tại trường đại học như: khái niệm, vai trò, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa công sở

trong trường đại học

- Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng văn hóa công sở của một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội để tham khảo, vận dụng vào xây dựng nâng cao văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

- Nhận diện và đánh giá thực văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ

Hà Nội từ năm 2013 đến nay Trên cơ sở đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của nó để tiếp tục hoàn thiện, khắc phục;

- Đề xuất quan điểm, các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao văn hóa công sở tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Văn hóa công sở tại trường đại học 4.2 Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi nội dung: đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao văn hóa công sở tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội Các vấn đề lý luận về văn hóa công

sở trong trường đại học nói chung có ý nghĩa to lớn trong việc giúp đề tài giải quyết

các nhiệm vụ và đạt được mục đích nghiên cứu

+ Phạm vi thời gian: từ năm 2013 đến 6/2020

Trang 14

8

+ Phạm vi không gian: tại Cơ sở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Hà Nội

5 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ và đạt được mục đích đã đặt ra của đề tài, nhóm

nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

a Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu

Nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài bao gồm cả nguồn tài liệu thứ cấp và sơ cấp Đối với mỗi loại dữ liệu trên, tác giả lại có phương pháp thu thập riêng để có được nguồn tài liệu trung thực, đáng tin cậy nhất phục vụ cho việc phân

tích thực trạng xây dựng văn hóa công sở trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Để có được tài liệu, tác giả thu thập nhiều công trình nghiên cứu trước có liên quan đến văn hóa công sở như: sách chuyên khảo, bài báo tạp chí khoa học chuyên ngành, bài viết mang tính nghiên cứu và trao đổi trên các diễn đàn Internet, văn bản pháp luật, v.v Sau khi thu thập các tài liệu trên, tác giả thực hiện việc sắp xếp, phân loại theo thời gian, theo từng nội dung cụ thể có liên quan đến các phần,

mục trong đề tài để thuận tiện cho việc mã hóa các dữ liệu này

Sau khi thu thập các dữ liệu trên, đối với dữ liệu thứ cấp, tác giả thực hiện việc sắp xếp, phân loại theo thời gian, theo từng nội dung cụ thể có liên quan đến

các phần, mục trong đề tài và tiến hành mã hóa các dữ liệu này theo chủ đề

Ngoài ra, để xử lý dữ liệu, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như:

Trang 15

9

phương pháp thống kê, so sánh, v.v từ đó có được những thông tin đầy đủ nhất về

thực trạng văn hóa công sở tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội

b Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp này được tác giả sử dụng sau khi đã nghiên cứu các tài liệu để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về văn hóa công sở trường Đại học Nội vụ Hà Nội, phân tích các yếu tố, các mặt sau đó tổng hợp lại để làm rõ thực trạng văn hóa công

sở trường Đại học Nội vụ Hà Nội, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu

quả văn hóa công sở cho Nhà trường

6 Đóng góp mới của đề tài

- Đề tài đã hệ thống, phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về văn hóa

công sở tại trường đại học;

- Đề tài đã phân tích, đánh giá và làm rõ thực trạng văn công sở tại trường

Đại học Nội vụ Hà Nội từ năm 2013 đến 6/2020

- Đề tài đã đưa ra quan điểm và đề xuất các giải pháp nâng cao văn hóa công

sở tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong thời gian tới

- Đặc biệt, đề tài dự thảo Quy chế văn hóa công sở mới và đề xuất ứng dụng thay thế cho Quy chế hiện hành nhằm nâng cao văn hóa công sở trường Đại học Nội vụ Hà Nội

7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

- Về mặt khoa học: Trên cơ sở tổng hợp, phân tích tài liệu và các công trình

nghiên cứu trước, đề tài góp phần làm rõ khái niệm văn hóa công sở tại trường đại học, vai trò của văn hóa công sở đối với một cơ sở giáo dục đại học ; đánh giá về thực trạng văn hóa công sở tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ 2013 đến 6/2020 Những kết quả này là thông tin khoa học đã được kiểm chứng có giá trị tham khảo cho lãnh đạo nhà trường trong việc vận dụng để nâng cao văn hóa công sở cho

Trang 16

10

trường Đại học Nội vụ Hà Nội

- Về mặt ứng dụng: Các giải pháp nâng cao văn hóa công sở tại trường Đại

học Nội vụ Hà Nội đề tài đề xuất, có khả năng ứng dụng cao và là kênh tham khảo đáng tin cậy cho lãnh đạo nhà trường trong việc nâng cao văn hóa công sở nói riêng

và góp phần phát triển bền vững nhà trường theo hướng tự chủ, hiện đại và chuyên

nghiệp

Ngoài ra, đề tài còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai nghiên cứu, quan tâm tới chủ đề này

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, nội dung đề tài được triển

khai như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về văn hóa công sở tại trường đại học

Chương 2 Thực trạng văn hóa công sở tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao văn hóa công sở tại trường Đại

học Nội vụ Hà Nội

Trang 17

11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người Ở phương Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm

Trong sách Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và từ hoá: “Quan hồ nhân văn dĩ hoá

thành thiên hạ” (Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ) [10, tr18] Cụm từ này với nghĩa như một phương thức giáo hóa, giáo dục con người Khổng Tử, nhà triết học - luân lý có nói đến “văn”, sau này môn đệ của ông là Tuân Tử (Thế kỷ

VI trước CN) có giải thích “văn” là cái “ngụy” (cái do con người làm nên, không tự nhiên mà có) Tuân Tử, học trò của Khổng Tử có một thuyết thường biết đến là “tính người là ác; thiện là do người làm ra” (Tuân Tử, thiên 23) Theo ông: “Tính là tài chất còn nguyên; ngụy là văn lễ hay tốt Không tính thì không có gì để làm thêm Không làm thêm, thì tính không thể tự thành tốt” (thiên 19) [2, tr.15] Như vậy Không Tử và

Tuân Tử đều cho rằng văn là cái do con người làm ra, do con người tu dưỡng, rèn

luyện mà có

Người sử dụng từ “văn hóa” đầu tiên được cho là Lưu Hướng (năm 77 - 6, Thế kỷ 1 TCN), thời Tây Hán ở Trung Quốc Văn hoá được Lưu Hướng dùng với hàm ý là một phương thức hay biện pháp để cai trị xã hội, nó đối lập với vũ lực (Phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hoá mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết) Văn hóa ở đây được hiểu là “văn trị giáo hóa”, nghĩa là tổ chức, quản lý, cai trị xã hội bằng văn hoá [10, tr.18]

Ở phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ một động từ tiếng La - tinh “cultus”

sau chuyển thành “kultura”, có nghĩa là cày cấy, vun trồng Về sau từ “kultura”

Trang 18

12

chuyển thành “culture” (tiếng Anh), nghĩa là vun trồng,chăm sóc, bồi dưỡng tinh thần, trí tuệ cho con người [10, tr.18]

Như vậy, văn hoá trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây đều

có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người

và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn

Về khái niệm văn hóa, cho đến nay, tuy chưa thống kê chính xác nhưng người ta ước có hàng ngàn khía niệm, định nghĩa về văn hoá Chính vì vậy, rất khó tìm ra một định nghĩa nào được coi là chuẩn về văn hóa Người ta chỉ có thể xếp hay chia các định nghĩa về văn hóa theo các nhóm và quy cách hiểu về văn hóa theo 2 góc độ rộng và hẹp

Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo bề sâu hoặc bề rộng, theo không

gian, thời gian hoặc chủ thể bao gồm văn hoá nghệ thuật, văn hoá ẩm thực, văn hóa kinh doanh, trình độ văn hoá, nếp sống văn hoá; văn hoá Nam Bộ, văn hoá Phương Đông; văn hoá Việt Nam, văn hoá đại chúng…

Hiểu theo nghĩa rộng: Văn hoá là một tổng thể phức tạp gồm tri thức, tín

ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen, tập quán mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội Cách hiểu này chủ yếu đề cập đến văn hóa ở góc độ các giá trị tinh thần

Trên cơ sở tiếp cận theo nghĩa rộng, UNESCO định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ, hiện tại.Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và cách thể hiện, đó là những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [ 10, tr.18]

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [10,

tr.19…] Định nghĩa này khẳng định văn hoá là những sáng tạo của con người,

Trang 19

13

mang lại giá trị cho con người, trong đó bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần Theo đó, văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người được biểu hiện, được kết tinh trong các của cải vật chất do con người tạo ra; đồng thời văn hóa còn bao gồm cả các sản phẩm tinh thần mà các cá nhân hay cộng đồng sáng tạo ra trong lịch sử

1.1.2 Khái niệm công sở, văn hóa công sở và văn hóa công sở tại trường đại học

1.1.2.1 Khái niệm công sở

Theo từ Hán - Việt thì: công là chung, sở là cơ quan; công sở là nơi hay chỗ

làm việc của các cơ quan công quyền Tuy nhiên cũng có rất nhiều khái niệm để định nghĩa về công sở tuỳ vào thuật ngữ này được sử dụng để chỉ khía cạnh nào: vật chất, địa điểm hoạt động, hay còn gọi là trụ sở, nơi công vụ được tiến hành hoặc dịch vụ công được cung cấp; hay một số trường hợp thuật ngữ này được sử dụng thay thế cho thuật ngữ khác quen dùng là cơ quan hành chính nhà nước Từ

góc độ tiếp cận văn hóa công sở, có thể khái niệm: Công sở là tổ chức của hệ thống

bộ máy nhà nước hoặc tổ chức công ích được Nhà nước công nhận, bao gồm cán

bộ, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy chế công chức hoặc theo thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà nước Công sở có vị trí, chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và có cơ cấu tổ chức do pháp luật quy định, được sử dụng công quyền để tổ chức công việc Nhà nước hoặc dịch vụ công vì lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng Ở đây có thể thấy về mặt nội dung công việc, hoạt động của

công sở nhằm thỏa mãn các lợi ích chung của cộng đồng; về mặt hình thức tổ chức thì công sở là một tập hợp cơ cấu tổ chức, có phương tiện vật chất và con người được Nhà nước bảo trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình; về ý nghĩa tổ chức nhà nước thì có thể coi công sở là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước, do Nhà nước lập ra và có thẩm quyền giải quyết công vụ Vậy từ phân tích trên có thể hiểu: Công

sở là một tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính, là

Trang 20

14

nơi phối hợp thực hiện một nhiệm vụ được Nhà nước giao và là bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước

1.1.2.2 Khái niệm văn hóa công sở

Công sở là một thiết chế xã hội - văn hoá chỉ có ở xã hội loài người, là một

bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước Công sở tồn tại như một hiện tượng văn hoá đồng thời là một chủ thể văn hoá gắn liền với các yếu

tố tổ chức quyền lực và tâm lý, tình cảm của con người Văn hoá công sở là một bộ phận của văn hoá nói chung, trong đó đối tượng được hướng đến ở đây là văn hoá liên quan đến niềm tin và cách hành động trong nội bộ tổ chức công sở và liên quan đến hình ảnh, diện mạo, uy tín và ảnh hưởng của tổ chức đối với bên ngoài Bởi khi nói đến văn hoá người ta thường nói đến khía cạnh tinh thần Trên thực tế, văn hoá

có cả biểu hiện mang tính vật thể và có cả biểu hiện phi vật thể Từ sự nhận thức trên, chúng tôi tán đồng với khái niệm văn hoá công sở sau:

Văn hoá công sở là một dạng đặc thù của văn hoá - xã hội, là một sự pha trộn riêng biệt của các giá trị, niềm tin, chuẩn mực, vẻ đẹp và cách hành xử trong hoạt động công sở, mà các thành viên trong công sở cùng tiếp nhận để ứng xử với nhau trong nội bộ công sở và phục vụ cộng đồng với sự tác động của hệ thống quan hệ thứ bậc mang tính quyền lực và tính xã hội, tạo nên một dấu ấn riêng biệt, giúp phân biệt công sở này với công sở khác [1, tr.14]

Văn hoá công sở ảnh hưởng đến các thành viên trong công sở một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Thông qua các quy định chính thức như quy chế làm việc, văn hoá là công cụ để các nhà quản lý hướng cách thức hành vi của đội ngũ theo những kiểu nhất định Đồng thời, văn hoá còn hiện diện và ảnh hưởng đến nếp nghĩ, nếp làm của cán bộ, công chức thông qua hệ thống các quy tắc xử sự mang tính thông lệ, không chính thức, không thành văn, nhưng đôi khi có tính lâu bền và sức ảnh hưởng mạnh mẽ hơn bất cứ công cụ chính thức nào Văn hoá công sở như một môi

Trang 21

15

trường văn hoá đặc thù với những giá trị chuẩn mực văn hoá chi phối mọi hoạt động, các quan hệ trong nội bộ công sở cũng như đối với công dân với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước hay một cơ quan sự nghiệp, dịch vụ công

Việc xác định các biểu hiện của văn hoá công sở là một yêu cầu quan trọng

để đánh giá công sở Cụ thể cần phải căn cứ vào các biểu hiện chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, biểu tượng: biểu tượng là một công cụ thể hiện về ý chí, về lịch sử

và cũng là cách thức để khuếch trương hình ảnh của một tổ chức Biểu tượng của công sở có thể là lá cờ tổ quốc được treo theo quy định hiện hành về lễ tân nhà nước và logo, ngoài ra còn thể hiện trong văn bản với tư cách là các quyết định hành chính thành văn

Thứ hai, khẩu hiệu, phương châm hành động, hiện nay các công sở của

chúng ta hành động theo phương châm chính là duy trì một hệ thống hành chính của dân, do dân, vì dân Bên cạnh đó, phương châm này còn được cụ thể hoá hơn tuỳ theo ngành, nghề, địa phương, ví dụ ở điểm một cửa có phương châm thực thi công vụ là nguyên tắc: công khai, đơn giản, đúng pháp luật; Yêu cầu: nhanh chóng, thuận tiện, văn minh

Thứ ba, chiến lược, chương trình hành động của công sở

Thứ tư, quy trình thủ tục: Các quy định cụ thể về cách thức thực thi và cách

thức đánh giá kết quả thực thi

Thứ năm, các thủ tục, nghi thức, nghi lễ hay nói ngắn gọn hơn là các chuẩn

mực hành động Như thủ tục trình ký văn bản, quy trình hội họp Yếu tố này đặc biệt quan trọng vì nó phản ánh toàn bộ cách tư duy, cách hành động và mức độ tổ chức đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình

Thứ sáu, trang phục: Trong văn hoá nói chung và văn hoá công sở nói riêng

việc sử dụng trang phục sao cho vừa phù hợp thể hiện vẻ đẹp truyền thống, vừa thuận tiện trong khi làm nhiệm vụ là một đòi hỏi cần thiết, bên cạnh đó, nếu cơ

Trang 22

16

quan, đơn vị nào muốn tạo một dấu ấn riêng có thể áp dụng việc mặc đồng phục, logo trên áo, phù hiệu Đây có thể coi là một biểu hiện quan trọng khi đánh giá về văn hoá công sở

Thứ bảy, mức độ gắn kết trong nội bộ: Quá trình điều hành cần xây dựng tập

thể thành một khối gắn kết chặt chẽ, trong đó các cá nhân kết hợp trong hành động, mọi thành viên ủng hộ các cấp quản lý và đặc biệt là nhà quản lý cấp cao nhất; có sự gắn kết giữa các nhóm không chính thức xoay quanh việc thực hiện tốt nhiệm vụ

Thứ tám, các chuẩn mực xử sự như: Quan hệ nhân sự (nhân viên với nhân

viên, nhân viên với các nhà quản lý và cán bộ công chức viên chức với dân), tích cực (nhân ái, hỗ trợ); có quy định cụ thể về cách thức giao tiếp, xử sự với công dân, tinh thần trách nhiệm; các mối quan hệ chính thức được đánh giá như thế nào [1, tr.14,15]

1.1.2.3 Văn hóa công sở tại trường đại học

Văn hóa công sở tại trường đại học có những đặc điểm riêng, đó là tổ chức hành chính sự nghiệp - sư phạm, có chức năng, nhiệm vụ chính là đào tạo trình độ đại học, sau đại học; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; hợp tác quốc tế

và dịch vụ công phục vụ các ngành, nền công vụ và yêu cầu của xã hội Mỗi trường đại học lại có cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động và những điểm mạnh, điểm yếu riêng do chính đội ngũ cán bộ viên chức thuộc mọi thế hệ trong các nhà trường tạo lập nên Vì vậy, trên cơ sở khái niệm của văn hóa công sở, có thể hiểu khái niệm văn hóa công sở tại trường đại học như sau:

Văn hóa công sở tại trường đại học là hệ thống niềm tin, giá trị chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các công chức, viên chức, người lao động trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó hình thành nên bản sắc riêng cho nhà trường

Trang 23

17

Qua khái niệm trên, có thể hiểu văn hóa công sở tại tại các trường đại học có những đặc điểm của văn hóa công sở nói chung, đồng thời có những điểm đặc thù sau đây:

Thứ nhất: Chủ thể thực hiện văn hóa công sở tại các trường đại học là giảng

viên, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên hỗ trợ, phục vụ của nhà trường (gọi chung

là cán bộ, công chức, viên chức, giảng viên), chịu sự điều chỉnh bởi Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 (đối với Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng nhà trường), Luật Viên chức năm 2010 (đối với viên chức, giảng viên) và các văn bản pháp luật có liên quan

- Thứ hai: Văn hóa công sở tại các trường đại học bao gồm tập hợp các giá

trị cơ bản, chuẩn mực đạo đức, phương tiện và các mẫu hành vi quy định cách thức

mà cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên và học viên của nhà trường (là cán bộ, công chức, viên chức) tương tác với nhau và đầu tư năng lực vào công việc của mình và vào việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi nhà trường nói chung Hệ thống các giá trị tạo nên niềm tin, xác định động cơ, thái độ làm việc của các thành viên, tạo nên bầu không khí, môi trường văn hóa của nhà trường

Thứ ba: Văn hóa công sở tại trường đại học được biểu hiện thông qua nhận

thức, hành vi và thái độ của các thành viên trong nhà trường đối với học viên, sinh viên, đồng nghiệp, các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhà trường như quan niệm về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, quan niệm về hợp tác và cạnh tranh cũng như các vấn đề thuộc về truyền thống, giá trị riêng của mỗi nhà trường

1.2 Vai trò của văn hóa công sở đối với trường đại học

Ngày nay, giáo dục đại học là con đường tất yếu góp phần quyết định vào phát triển đất nước Trường đại học được giao chức năng quan trọng là sáng tạo, chuyển giao tri thức, bảo tồn và phát triển văn hóa, đào tạo nguồn nhân lực cao cho

xã hội Là trung tâm khoa học và đào tạo, nơi lưu trữ, sáng tạo và truyền bá tri thức,

Trang 24

18

nơi đào tạo ra không chỉ là những người công dân, những người lao động có tri thức mà còn có nhiệm vụ cao hơn, là nơi chuẩn bị đội ngũ lãnh đạo tương lai cho đất nước Vì vậy, ngoài nhiệm vụ chuyên môn thì xây dựng văn hóa công sở càng

có vai trò quan trọng với môi trường sư phạm, nhằm đào tạo cho đất nước một đội ngũ nhân lực, lao động vừa có trình độ chuyên môn cao, vừa có kỹ năng, văn hóa ứng xử chuẩn mực của công sở Và cũng chính vì thế đối với mỗi công sở nói chung và trường đại học nói riêng, văn hóa công sở có vai trò quan trọng, được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Một là, Văn hóa công sở tạo điều kiện cho các bên tham gia vào quan hệ

hành chính ở công sở thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình Văn hóa công sở thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân thông qua quá trình giao tiếp hành chính góp phần hình thành nên những chuẩn mực, giá trị văn hóa mà cả hai bên cùng tham gia vào Ở trường đại học, mối quan hệ ứng xử giữa sinh viên, học viên với cán bộ, công chức, viên chức và giữa các thành viên trong nhà trường với nhau phải được cân bằng bằng cán cân của hệ thống giá trị văn hóa Văn hóa công sở giúp cho cán bộ, công chức, viên chức và người học biết phương hướng, cách thức giải quyết công việc, giúp họ hiểu rõ những công việc cần làm, phải làm; đặc biệt giúp họ thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách hiểu biết, tự nguyện Qua đó người cán bộ, công chức, viên chức thực hiện việc trao đổi quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ ở nhà trường một cách tốt đẹp hơn

Hai là, Văn hóa công sở là điều kiện phát triển tinh thần và nhân cách cho

con người Khả năng gây ảnh hưởng, để người khác chấp nhận giá trị của mình là một nghệ thuật Nhờ có văn hóa con người có thể hưởng thụ những giá trị vật chất

và tinh thần như ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ, lòng tự trọng, … Từ đó phát triển tinh thần và nhân cách của mỗi công chức, viên chức, giảng viên góp phần vào sự phát triển, cải cách của Nhà trường Đối với mỗi trường đại học, mỗi cán bộ, công chức, viên chức, giảng viên là người vừa sáng tạo, vừa trực tiếp hưởng thụ các giá

Trang 25

19

trị văn hóa do chính mình và môi trường sư phạm của mình tạo ra Môi trường sư phạm trước hết là môi trường thị phạm, đòi hỏi sự tiên phong và mẫu mực trong xây dựng văn hóa công sở, góp phần xây dựng thương hiệu và sự phát triển của mỗi nhà trường

Ba là, Văn hóa công sở đem lại giá trị toàn diện cho con người Giá trị là cái

tồn tại, tác động mạnh mẽ đến hoạt động của công sở Giá trị của văn hóa công sở cũng gắn bó với các quan hệ trong công sở, đó là: Giá trị thiết lập một bầu không khí tin cậy trong công sở; Sự tự nguyện phấn đấu, cống hiến cho công việc; Được chia sẻ các giá trị con người cảm thấy yên tâm và an toàn hơn; Biết được giá trị trong văn hóa ứng xử thì công chức, viên chức, giảng viên tránh được hành vi quan liêu, cửa quyền, hách dịch trong giao tiếp hành chính với người học, người dân; Các giá trị làm đơn giản hóa các thủ tục hành chính, các quy định nhưng vẫn đảm bảo đúng chính sách của nhà nước, của pháp luật làm cho hoạt động của công sở thuận lợi hơn Ở trường đại học, văn hóa công sở giúp cho người giảng viên tự hoàn thiện mình, đồng thời không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, tinh thần thái độ phục vụ người học, lấy đó làm thước đo cho sự thành công và tiến bộ của mình

Bốn là, Văn hóa công sở vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển con

người Việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa công sở không chỉ là nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức mà còn là nhiệm vụ của mỗi viên chức, giảng viên đối với công việc của mình ở các vị trí, cương vị khác nhau trong thực thi công vụ và cung cấp dịch vụ công Trong hoạt động công sở, quan hệ ứng xử và môi trường chính trị - hành chính mang đậm mà sắc văn hóa nhân bản (cái chân), nhân ái (cái thiện)

và nhân văn (cái mỹ) là sự kết nối những giá trị truyền thống đến hiện đại Con người không ngừng học tập, sáng tạo để tiếp thu những tri thức mới của nhân loại -

đó là những yếu tố cấu thành văn hóa công sở, đồng thời khẳng định vai trò của văn hóa trong sự phát triển của mỗi cơ quan, công sở hiện nay

Thực tế đã chứng minh không thể coi nhẹ nhân tố con người trong sự phát

Trang 26

20

triển của các cơ quan, công sở Nói đến con người chính là nói đến văn hóa, vì toàn

bộ những giá trị văn hóa làm nên những phẩm chất, năng lực và tinh thần của con người Vận dụng các yếu tố văn hóa trong việc thúc đẩy mọi hoạt động của công sở như xây dựng hệ thống thi đua - khen thưởng công bằng, minh bạch, tạo ra bầu không khí làm việc phát huy tối đa sự sáng tạo, cống hiến của cán bộ, công chức, viên chức, tạo động lực làm việc hăng say … sẽ kích thích, loại bỏ được sức ỳ trong công việc Yếu tố văn hóa xuất hiện trong công sở xuất phát từ chính vai trò của công sở trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bộ máy hành chính Một công sở chỉ làm tròn nhiệm vụ và chức năng của nó khi tạo dựng được mối quan hệ tốt giữa công chức, viên chức trong công việc, các chuẩn mực ứng xử, các nghi thức tiếp xúc hành chính, ý thức chấp hành kỷ luật trong và ngoài Trường

Ngoài 4 khía cạnh quan trọng nêu trên, có thế thấy yếu tố văn hóa xuất hiện trong công sở xuất phát từ chính vai trò của công sở trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bộ máy hành chính mà nó là một bộ phận cấu thành Một công sở của trường đại học chỉ làm tròn nhiệm vụ và chức năng của nó khi tạo dựng được mối quan hệ tốt giữa công chức, viên chức trong công việc, các chuẩn mực xử sự, các nghi thức tiếp xúc hành chính, các phương pháp giải quyết các bất đồng trong nhà trường, đơn vị, cách lãnh đạo, quản lý và ý thức chấp hành kỷ luật trong và ngoài công sở của công chức, viên chức Đây là vai trò của nếp sống văn hóa trong công sở nhà trường

Văn hóa còn có vai trò to lớn trong việc xây dựng nề nếp làm việc khoa học,

có kỷ cương, dân chủ Nó đòi hỏi các thành viên trong công sở phải quan tâm đến hiệu quả công việc chung của công sở, nó giúp cho mỗi công chức, viên chức, giảng viên tự nhìn lại mình, đánh giá mình, chống lại những biểu hiện thiếu văn hóa như tham ô, móc ngoặc, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, cơ hội Bên cạnh đó yếu

tố văn hóa còn giúp cho mỗi thành viên trong công sở trường học phải tôn trọng ý thức

kỷ luật, danh dự của công sở, quan hệ thân ái, đoàn kết, hợp tác vì sự nghiệp chung

Trang 27

21

của đơn vị, nhà trường

Vai trò của văn hóa còn được thể hiện trong sự định hướng giải quyết đúng đắn các vấn đề trong từng thời kỳ và mối quan hệ giữa hiện đại hóa công sở với việc thực hiện sự công bằng cho các thành viên trong công sở Chỉ có như vậy mới phát huy được các biện pháp hành chính trong chống tham nhũng, hối lộ, quan liêu, đặc quyền đặc lợi trong công sở

Vai trò của văn hóa trong hoạt động công sở còn thể hiện trong quan niệm về

sự bình đẳng và thực hiện bình đẳng Theo ý nghĩa văn hóa, bình đẳng là mọi thành viên trong công sở đều có cơ hội như nhau trong học tập, đào tạo, việc làm, chế độ, chính sách…

Chính vì có vai trò quan trọng như vậy cho nên đối với mỗi công sở nói chung và mỗi trường đại học nói riêng việc xây dựng văn hóa công sở là một nhiệm vụ chiến lược, cấp bách, thường xuyên, liên tục và phải được thực hiện đồng

bộ trên tất cả các mặt nhằm tạo ra chất lượng hiệu quả thực sự cho công sở và xây dựng thương hiệu của tổ chức

1.3 Nội dung của văn hóa công sở tại trường đại học

1.3.1 Tác phong làm việc, trang phục, lễ phục của đội ngũ công chức, viên chức, người lao động

Trang 28

22

nhân viên là sản phẩm của môi trường tổ chức Tác phong và phong cách tốt, nhất

là từ phía người lãnh đạo có tác dụng truyền cảm hứng, cổ vũ cho sự phát triển con người và văn hóa tổ chức Một khi tác phong tốt đã trở thành quy tắc ứng xử, cách thức và lề lối làm việc, sinh hoạt chung của tổ chức, thì sẽ trở thành tài sản và động lực giúp tổ chức đó hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững

Theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế văn hóa công sở đã đề cập một số vấn đề liên quan đến tác phong làm việc cơ bản sau:

Chào hỏi nơi công sở: Nguyên tắc chào hỏi nơi công sở là khi gặp nhau ở

công sở thì nam chào nữ trước, cấp dưới chào cấp trên, người ít tuổi chào người lớn tuổi hơn, người mới đến chào người đã đến trước, người từ ngoài vào chào người

đã ở trong phòng làm việc Nếu trong cơ quan có người không mấy thiện cảm với chúng ta thì chúng ta phải chủ động chào trước nhằm gây thiện cảm với người đó, xua tan sự lạnh nhạt Khi thủ trưởng bước vào phòng, cấp dưới cần đứng dậy để chào hoặc xoay hẳn người lại, nhìn thủ trưởng để chào Khi thủ trường đi cùng khách thì phải chào cả thủ trưởng và khách Khi thủ trưởng đi ra khỏi phòng thì cấp dưới cũng nên (phải) đứng dậy chào Kết thúc một ngày làm việc, công chức cùng phòng (cơ quan) nên chào nhau hoặc chào những người gặp ở nhà để xe Kết thúc một tuần làm việc, nên chào thủ trưởng hay đồng nghiệp bằng một lời chúc “Chúc ngày nghỉ vui vẻ” Lời chào là cách khẳng định rằng đến thời điểm đó đồng nghiệp vẫn tôn trọng, quý trọng nhau; còn không chào là biểu hiện ngược lại

Thủ trưởng, lãnh đạo thăm hỏi cấp dưới: Lâu nay, chúng ta vẫn quan niệm

thăm hỏi, chúc tụng cấp trên là việc đương nhiên của cấp dưới đối với cấp trên và cấp trên cũng thường quan tâm thăm hỏi, chia sẻ, động viên đối với cấp dưới Tuy nhiên thăm hỏi cấp dưới là việc không phải thủ trưởng nào cũng quan tâm Khi được thủ trưởng thăm hỏi, cấp dưới sẽ rất cảm động vì sự quan tâm đó Đối với cấp dưới, lời thăm hỏi của cấp trên có tác dụng như một lời khen Khi thăm hỏi, nên

Trang 29

23

nhìn thẳng vào mắt người được thăm hỏi với cái nhìn ấm áp và thực tâm muốn biết tình cảm của họ

Chào khách đến liên hệ công việc: Khi tiếp khách (cấp trên, cấp dưới hoặc

ngang cấp) hoặc khách (nhân dân) đến liên hệ công việc, điều đầu tiên là chào bằng tiếng nói như; chào chú, chào bác, chào anh, chào chị…Nếu đang bận rộn hoặc khách đông thì có thể gật đầu chào chung hoặc chào bằng nụ cười thiện cảm Nếu trong phòng làm việc thì chúng ta có thể mời khách ngồi ghế, rót nước mời xong chúng ta bắt đầu giải quyết công việc cho khách

Bắt tay trong công sở: Bắt tay nhau là một cử chỉ chào nhau thân thiện Tục

bắt tay ở Việt Nam đã có hơn một thế kỷ, nhưng cho thực tế cho thấy nhiều cán bộ, công chức, viên chức cũng chưa quen với phép xã giao này Đầu tiên và hơn hết là một cái bắt tay chắc chắn nếu thủ trưởng chìa tay ra với cấp dưới hoặc với khách đến làm việc Nếu thủ trưởng không chìa tay thì cấp dưới hoặc khách đến làm việc chỉ nên chào rõ ràng và hơi cúi đầu kính cẩn chứ không cố bắt tay thủ trưởng Nếu

là phụ nữ chìa tay ra cũng nên bắt tay chắc chắn, nhưng không bóp quá mạnh hoặc giữ tay quá lâu Kể cả người cùng giới cũng không nên giữ tay đối phương quá lâu, hoặc giật tay lâu và mạnh thái quá Khi bắt tay nên dịu dàng, hồn nhiên, chân thành; còn nếu bóp mạnh là thô bạo, hời hợt là thiếu tôn trọng, vồ vập là sỗ sàng Mùa đông giá lạnh khi bắt tay phải tháo găng (riêng nữ công chức, viên chức có thể không cần tháo găng khi bắt tay đồng nghiệp là nam giới) Không đút tay trong túi

áo, túi quần còn một tay đưa ra bắt tay Người chưa quen thì không chủ động bắt tay khách, nên chờ người giới thiệu hoặc chủ động giới thiệu để làm quen rồi mới bắt tay Tay đang ướt hoặc không sạch có thể xin lỗi không bắt tay người khác chìa

ra nhưng phải nói lời xin lỗi Không chủ động bắt tay người có cương vị cao hơn mình, nhất là đối với khách phụ nữ Cần đứng dậy, người hơi cúi bắt tay người có cương vị cao hơn mình nhưng không khúm núm, cong gập người Khi có nhiều người cùng giơ tay cho mình bắt, phải bắt tay người có tuổi tác, cương vị cao hơn

Trang 30

24

Không nên dùng hai tay nắm chặt tay phụ nữ, nhưng để tỏ rõ sự tôn kính thì nên đưa cả hai tay ra đón lấy tay người hơn mình về cương vị xã hội và tuổi tác Không nên bắt tay người nọ chéo tay người kia mà phải kiên nhẫn đợi đến lượt mình Không được dùng đồng thời hai tay phải, trái để bắt tay hai người Khi bắt tay không ngoảnh mặt sang hướng khác Chỉ người có cương vị hoặc tuổi tác cao hơn mới được vỗ vai cấp dưới hoặc người trẻ tuổi hơn

Phát ngôn: Người xưa đã kết luận: “Ngôn là người” Ngôn ở đây không chỉ

hiểu là giọng nói mà còn là cách nói, kiểu nói, cung cách trò chuyện Đó còn là sự ứng xử tình huống, nghệ thuật giải quyết xung đột Thực tế cuộc sống cho thấy chính văn hóa hành vi trong giao tiếp sẽ nói lên thật nhiều sự thanh lịch đích thực của một con người Lời ăn tiếng nói trong cuộc sống hằng ngày là những gì rất giản

dị như cơm ăn áo mặc hằng ngày Nhưng nói làm sao cho đẹp, có nghi lễ là điều cần có sự rèn luyện và tu dưỡng của mỗi công chức, viên chức Ông cha ta thường dạy “Tiên học lễ, hậu học văn”, điều đó cho thấy lễ tiết là một trong nghi thức được coi trọng mang sắc thái văn hoá của dân tộc Trong các gia đình xưa, lễ giáo được xem như một nghi thức truyền thống Chính vì thế, nếp sống của các gia đình xưa chuẩn mực, có quy tắc Con cái phải biết vâng lời cha mẹ, người ít tuổi phải lễ độ với người nhiều tuổi hơn Cuộc sống hiện đại không đòi hỏi con người phải giữ những nghi lễ quá khắt khe kiểu phong kiến Lớp trẻ có thể phát huy tính sáng tạo,

tự do phát triển Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là phát triển tự do bừa bãi, không có lề thói, không có chuẩn mực đạo đức, dẫn đến vi phạm những quy tắc cơ bản thông thường trong giao tiếp ứng xử như việc cần phải biết cảm ơn, xin lỗi hay những quy tắc chào hỏi…, tôn trọng người trên, nhường nhịn chỉ bảo cấp dưới trong công sở

1.3.1.2 Trang phục, lễ phục của đội ngũ công chức, viên chức, người lao động

Ấn tượng ban đầu để đánh giá về công chức, viên chức, người lao động chính là qua trang phục và cách trang điểm của họ Công chức, viên chức sẽ không

Trang 31

25

gây được thiện cảm với thủ trưởng, với đồng nghiệp nếu bộ trang phục công sở trông thật nhàu nát hay quá sặc sỡ, cũng khó có thể thành công trong giao tiếp với đối tác với bề ngoài như vậy Trong điều kiện hiện nay, các cơ quan công sở của chúng ta chưa trang bị đồng phục làm việc nơi công sở cho công chức cần chú ý một só cách ăn mặc nơi công sở như sau: không mặc áo quần màu sắc hoa hòe sặc

sỡ, may cầu kỳ, màu quá chói mắt như; đỏ, vàng chóe, xanh lá cây rực rỡ…., không nên đến công sở với bộ đồ nhàu nát Không mặc quần áo quá chật, vải quá mỏng, quá ôm sát, vào người (nhất là đối với nữ công chức, viên chức) như: áo pull, quần jean, váy quá ngắn, áo không cổ hoặc cổ áo quá rộng, … Tốt nhất nên dùng sơ mi, quần âu hay comple, màu sắc trang nhã phù hợp Khi dự lễ những nơi trang trọng

nữ nên mặc áo dài hoặc comple, nam nên thắc cà vạt hoặc mặc veston thêm phần

lịch sự hơn Điều 5 Quy chế Văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước

(Ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ) quy định về Trang phục của cán bộ, công chức, viên

chức trong công sở như sau: 1 Khi thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải ăn mặc gọn gàng, lịch sự 2 Cán bộ, công chức, viên chức có trang phục riêng thì thực hiện theo quy định của pháp luật

Về lễ phục, điều 6, chương 2 Quy chế cũng nêu rõ: Lễ phục của cán bộ, công chức, viên chức là trang phục chính thức được sử dụng trong những buổi lễ, cuộc họp trọng thể, các cuộc tiếp khách nước ngoài: 1 Lễ phục của nam cán bộ, công chức, viên chức: bộ comple, áo sơ mi, cravat 2 Lễ phục của nữ cán bộ, công chức, viên chức: áo dài truyền thống, bộ comple nữ Đối với cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số, trang phục ngày hội dân tộc cũng coi là lễ phục [5]

1.3.2 Phẩm chất đạo đức, tuân thủ kỉ luật, kỉ cương hành chính

1.3.2.1 Phẩm chất đạo đức

Về phẩm chất đạo đức, đối với mỗi công chức, viên chức khi thi hành nhiệm

Trang 32

26

vụ, công vụ cần phải thực hiện đầy đủ và đúng các quy định về nghĩa vụ của công chức viên chức theo Luật Công chức, Luật Viên chức; trân trọng, bảo vệ các chủ trương đổi mới của Đảng, Nhà nước và của Trường Đó chính là phẩm chất đạo đức đầu tiên cần phải có của mỗi công chức, viên chức Công chức, viên chức phải luôn trau dồi về đạo đức, khách quan, công bằng; có trách nhiệm phát hiện việc phát ngôn thất thiệt, sai lệch, hoặc chưa đầy đủ, những việc thực hiện sai hoặc không đầy đủ, không đúng quy định của các công chức viên chức khác trong cùng

cơ quan; đơn vị và công chức viên chức các cơ quan, đơn vị khác có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ để phản ánh đến lãnh đạo đơn vị quản lý công chức viên chức đó và chịu trách nhiệm cá nhân về những phản ánh của mình; trong trường hợp công chức viên chức phản ánh hai lần mà lãnh đạo đơn vị vẫn không có những biện pháp để giải quyết, thì phản ánh trực tiếp đến Phó Hiệu trưởng phụ trách đơn vị hoặc phản ánh trực tiếp với Hiệu trưởng

Đối với mỗi công sở nói chung và trường đại học nói riêng, vai trò trong của văn hóa công sở trong công tác lãnh đạo quản lý rất quan trọng, nó xác định vai trò của người đứng đầu và người làm công tác lãnh đạo, quản lý Như vậy, đó vừa là quy định, vừa là yêu cầu đòi hỏi không thể thiếu trong mỗi công sở, thông qua đó còn xác định giá trị đạo đức, phẩm chất của mỗi công chức, viên chức, giảng viên trong xây dựng văn hóa công sở

1.3.2.2 Tuân thủ kỷ luật, kỷ cương hành chính

Đối với mỗi công chức, viên chức và người lao động trong công sở nói chung và trường đại học nói riêng, việc tuân thủ kỷ luật, kỷ cương hành chính có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo ra sự nghiêm túc và hiệu quả cho thực thi công vụ Tuân thủ kỷ luật, kỷ cương hành chính ở đây trước hết chính là sự tự giác chấp hành những quy định chung của tập thể, của cơ quan, đơn vị, của các tổ chức xã hội

ở mọi nơi, mọi lúc Bên cạnh đó biểu hiện của việc tuân thủ kỷ luật, kỷ cương hành chính của mỗi công chức, viên chức là tự giác chấp hành sự phân công của tổ chức

Trang 33

27

Việc tuân thủ kỷ luật, kỷ cương hành chính giúp cho mỗi công sở nói chung

và mỗi trường đại học nói riêng có kỷ cương, nề nếp, đem lại lợi ích cho tất cả các thành viên trong công sở đồng thời giúp cho mỗi công sở có sự phát triển, tiến bộ không ngừng Trước hết, nó giúp cho các hoạt động mỗi công sở, mỗi tổ chức được thực hiện nghiệm túc, thống nhất và có hiệu quả Cụ thể:

- CCVC khi thực thi nhiệm vụ, công vụ phải thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật, các quy định, hướng dẫn của Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và của Nhà trường; chấp hành quyết định của cấp có thẩm quyền; hoàn thành nhiệm vụ, công vụ đúng trình tự, thủ tục, hiệu quả, có giá trị thực tiễn và đảm bảo thời gian quy định; làm việc, học tập chuyên cần, say mê, tâm huyết, trung thực, tận tụy, có trách nhiệm với công việc được giao; sử dụng hiệu quả, hợp lý mọi nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả mọi hoạt động vì sự ổn định, thống nhất, đổi mới, phát triển của nhà trường, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

- Công chức, viên chức khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ phải phục tùng, chấp hành quyết định của lãnh đạo đơn vị phụ trách trực tiếp Trường hợp có quyết định của cấp trên cấp quản lý trực tiếp thì cán bộ, viên chức phải thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền cao nhất, đồng thời có trách nhiệm báo cáo cấp quản lý trực tiếp của mình về việc thực hiện quyết định đó Khi thực hiện quyết định của cấp có thẩm quyền, công chức, viên chức phát hiện quyết định đó trái pháp luật, trái với các quy định của nhà trường hoặc không phù hợp với khả năng

và thực tiễn thì phải báo cáo ngay với người ra quyết định Trong trường hợp vẫn phải chấp hành quyết định thì phải báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả gây ra do việc thực hiện quyết định đó

- Công chức, viên chức có trách nhiệm đóng góp ý kiến trong hoạt động quản lý, điều hành của lãnh đạo đơn vị và BGH Trường; tôn trọng và bảo vệ uy tín

Trang 34

28

của người quản lý, điều hành

- Công chức, viên chức khi được giao nhiệm vụ, công vụ để giải quyết các yêu cầu của cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo đúng quy định của pháp luật và của Trường.” [9]

1.3.3 Phương thức, lề lối làm việc

Để tạo cho mình phong cách làm việc phù hợp với văn hóa công sở, việc trước tiên người công chức, viên chức nên làm là đừng để công việc theo kiểu

“nước đến chân mới nhảy” Muốn vậy, công việc cần phải được lên kế hoạch cụ thể Những việc cần làm phải được làm ngay để tránh việc tự nhiên xao nhãng Vì nếu khi công việc có sự thay đổi đột ngột mới cuống cuồng làm thì mọi kế họach trong cơ quan, đơn vị bị chậm trễ bởi một thành viên gây ra mà ảnh hưởng chung đến cả tập thể trong công sở nhà trường Làm việc có mục tiêu rõ ràng cũng là một tiêu chí quan trọng tạo nên phong cách làm việc của công chức, viên chức Khi mà các cơ quan, đơn vị ngày càng tiến tới phong cách làm việc chuyên nghiệp thì họ cũng yêu cầu ở nhân viên mình một tác phong tương tự Tạo cho mình một tác phong công nghiệp chính là bạn đang thể hiện bạn là một công chức, viên chức chuyên nghiệp

Sắp xếp tài liệu công việc khoa học: Cách sắp xếp tài liệu và công việc sẽ nói

lên tính cách và hiệu quả công việc của công chức, viên chức Bàn làm việc lộn xộn cùng một loạt công việc cần làm nhưng không biết việc gì làm trước, việc gì làm sau, thể hiện rằng hiệu quả làm việc của công chức, viên chức chưa tốt Để khắc phục tình trạng này, cần sử dụng các phương tiện hiện đại để lập lịch làm việc như sử dụng máy tính với phần mềm chuyên dụng; lịch để bàn điện tử; ghi nhớ thông tin vào máy điện thoại di động; ghi vào lịch để bàn Đối với viên chức, giảng viên chuyên môn nghiệp vụ, luôn có một cuốn sổ công tác để ghi nhật ký công việc Trong giải quyết công việc, cần phải trang bị kiến thức cơ bản cho bản thân về nhiệm

Trang 35

Một công sở trường đại học văn minh thể hiện ngay từ cách bài trí công sở,

từ nơi công cộng đến từng vị trí làm việc cá nhân Hiện nay, nhiều trường đại học

đã từng bước được nâng cấp cơ sở vật chất, bài trí khoa học, hợp lý tạo nên một khung cảnh chung khá gọn gàng, ấn tượng và chuyên nghiệp nhưng nhiều nơi việc bài trí còn luộm thuộm, thiếu chuyên nghiệp Thậm chí vẫn còn có những nơi bài

trí rất tùy tiện, cụ thể như lập bàn thờ, thắp hương, đốt vàng mã tại cơ quan, Điều

14,15 Mục 2 Quy chế Văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước quy định rõ về Biển tên cơ quan, bài trí phòng làm việc chi tiết: 1 Cơ quan phải có biển tên được đặt tại cổng chính, trên đó ghi rõ tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt và địa chỉ của cơ quan 2 Bộ Nội vụ hướng dẫn thống nhất cách thể hiện biển tên cơ quan

Phòng làm việc phải có biển tên ghi rõ tên đơn vị, họ và tên, chức danh cán

bộ, công chức, viên chức Việc sắp xếp, bài trí phòng làm việc phải bảo đảm gọn gàng, ngăn nắp, khoa học, hợp lý Không lập bàn thờ, thắp hương, không đun, nấu trong phòng làm việc”.[5]

Trên thực tế khi Quy chế này được ban hành thì đã xảy ra rất nhiều hiện tượng bài trí công sở không phù hợp, thiếu đồng bộ, thống nhất Cụ thể, tình trạng luộm thuộm, bài trí sai, việc đun nấu, lập bàn thờ, bát hương và cúng lễ trong công

sở diễn ra rất phổ biến Điều này làm cho công sở nhà trường thiếu tính nghiêm túc

và chuyên nghiệp cần phải được chấn chỉnh nghiêm túc

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa công sở trường đại học

Văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nói chung và trong trường

Trang 36

30

đại học nói riêng được biểu hiện qua các nội dung như trang phục, lễ phục; tinh thần đoàn kết, hành vi, thái độ ứng xử của đội ngũ công chức, viên chức, giảng viên; cách thức tổ chức, điều hành hoạt động của công sở; trang bị phương tiện làm việc và bài trí, hiện đại hóa công sở… Các nội dung trên luôn có tính ràng buộc và tác động qua lại với nhau Chính vì có nội hàm phong phú, đa dạng như vậy nên văn hóa công sở trong trường đại học chịu sự tác động của nhiều nhân tố, từ các nhân tố khách quan như điều kiện phát triển kinh tế - xã hội; các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc tới các nhân tố chủ quan như trình độ nhận thức của đội ngũ công chức, viên chức, giảng viên…

1.4.1 Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị thuộc về tư tưởng, lối sống, chuẩn mực thái độ, hành vi được cộng đồng thừa nhận và duy trì, gìn giữ qua các thế hệ Văn hóa công sở luôn gắn với các đối tượng là công chức, viên chức, giảng viên - một nhóm đối tượng cụ thể trong xã hội, là cộng đồng người, là những xã hội thu nhỏ, chịu ảnh hưởng chi phối của khái niệm rộng hơn là văn hóa quốc gia, dân tộc Các giá trị văn hóa truyền thống chính là nền tảng, cơ sở cho việc hình thành, lựa chọn các giá trị về tổ chức, hoạt động nơi công sở nhà trường, tới đạo đức và chuẩn mực trong hành vi, lối sống của CCVC, giảng viên…

Các giá trị văn hóa truyền thống tác động đến văn hóa công sở theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực Những giá trị truyền thống tốt như tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc; lòng thương yêu, quý trọng con người, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; lòng dũng cảm, bất khuất, đức tính cần, kiệm, khiêm tốn, giản dị, trung thực… góp phần hình thành những giá trị, chuẩn mực chân chính ở công sở, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng một đội ngũ CCVC trung thành với Tổ quốc, tận tụy với nhân dân, trách nhiệm với công việc, chuyên nghiệp, có hành vi, thái độ ứng xử đúng mực… Những giá trị truyền thống lạc hậu, bảo thủ, không phù hợp với bối cảnh, tình hình hiện tại như tư tưởng tiểu nông, cục bộ, bình quân chủ

Trang 37

31

nghĩa… sẽ tạo ra những lực cản cho sự phát triển, cho việc xây dựng một nền văn hóa công sở văn minh, hiện đại Vì vậy, trong quá trình xây dựng văn hóa công sở hiện nay, các trường đại học phải tiếp thu, kế thừa những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam được hình thành qua nhiều thế hệ gắn với bối cảnh, yêu cầu của tình hình mới, với mục tiêu xây dựng con người mới, bổ sung những giá trị mới nhằm hình thành một nền văn hóa công sở tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa giữ gìn và phát triển được nền tảng tốt đẹp của mình, đồng thời đảm bảo tính văn minh, hiện đại

1.4.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội

Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia ảnh hưởng, tác động đến việc hình thành, xây dựng các giá trị văn hóa, trong đó có văn hóa công sở Kinh tế phát triển hay đi xuống đều ảnh hưởng đến vấn đề xây dựng văn hóa công

sở từ việc xây dựng, hoạch định chính sách, xác định các giá trị chuẩn mực cho đến các nguồn lực dành cho nhà trường văn minh, hiện đại, trang bị phương tiện, điều kiện làm việc của CCVC, giảng viên… Ở quốc gia có trình độ kinh tế - xã hội phát triển sẽ có điều kiện dành nhiều nguồn lực hơn cho việc xây dựng văn hóa công sở Việc đầu tư các nguồn lực cũng đặt ra yêu cầu phải tăng cường công tác quản lý, thực hiện các biện pháp tổ chức, điều hành công sở linh hoạt, thúc đẩy sự hòa hợp giữa viên chức, giảng viên với đơn vị, nhà trường; nâng cao hiệu suất, chất lượng hoạt động của các trường đại học góp phần đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi ngày càng cao của người học và xã hội

Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường đã tác động, đặt ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng văn hóa nói chung và văn hóa công sở nói riêng Phát triển kinh tế thị trường luôn đặt vấn đề hiệu quả lên hàng đầu, đòi hỏi các trường đại học phải không ngừng cải tiến lề lối làm việc, đội ngũ công chức, viên chức, giảng viên phải

Trang 38

32

có năng lực, trình độ, có trách nhiệm với công việc, tận tụy và phục vụ tốt nhu cầu của người học với tư cách là những khách hàng của nhà trường Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng có những mặt trái, nếu không có biện pháp khắc phục hiệu quả sẽ là điều kiện, môi trường làm nảy sinh những biểu hiện tiêu cực, phi văn hóa trong đội ngũ công chức, viên chức, giảng viên như sách nhiễu người học, tham nhũng, kèn cựa, bè phái gây mất đoàn kết gây ra nhiều khó khăn và thách thức cho việc xây dựng văn hóa công sở của nhà trường văn minh, hiện đại

1.4.3 Trình độ, năng lực của đội ngũ công chức, viên chức, giảng viên

Trình độ, năng lực nhận thức của các CCVC, giảng viên được biểu hiện qua mức độ nắm vững kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, chức trách, quyền và nghĩa vụ của bản thân; hệ thống các quy tắc xử sự với cấp trên, đồng nghiệp và với người học… Trình độ, năng lực nhận thức còn biểu hiện thông qua mức độ tự giác thực hiện các quy chế, quy định làm việc của cơ quan, các quy tắc, chuẩn mực ứng xử Nếu CCVC, giảng viên nhận thức rõ và có ý thức tuân thủ, bảo vệ và duy trì những quy định đó trong hoạt động thực thi công vụ thì văn hóa công sở sẽ không ngừng được nâng cao Vì vậy, để góp phần xây dựng văn hóa công sở, một giải pháp rất quan trọng là tăng cường công tác giáo dục cho CCVC, giảng viên về chức năng, nhiệm vụ, định hướng hoạt động của nhà trường; chức trách, quyền và nghĩa vụ của bản thân; hệ thống các quy tắc xử sự thể hiện qua thái độ, hành vi ứng xử… để CCVC, giảng viên nắm vững và tự giác thực hiện

1.4.4 Vị thế, thương hiệu của trường đại học

Vị thế của các trường đại học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng uy tín của nhà trường, tạo nên niềm tin, niềm tự hào của chính CCVC, giảng viên đối với ngôi trường mình công tác Vị thế của một trường đại học luôn được quyết định bởi kết quả thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của nhà trường, đơn

vị Nếu thực hiện tốt vai trò thì vị thế sẽ không ngừng được củng cố và phát triển

Trang 39

33

Nếu một trường đại học có uy tín, tạo dựng được vị thế, “thương hiệu” tốt, được người học và xã hội thừa nhận thì bản thân mỗi CCVC, giảng viên trong trường sẽ yêu nghề hơn, không ngừng phấn đấu, rèn luyện, tự giác tuân thủ nội quy, quy chế làm việc, có trách nhiệm hơn với công việc được giao và không ngừng nâng cao hiệu quả làm việc Ngược lại, nếu hình ảnh và vị thế của cơ quan, đơn vị bị đánh giá thấp, làm mất niềm tin, không đáp ứng yêu cầu của các thành viên trong công

sở cũng như người dân, tổ chức thì các giá trị của văn hóa công sở sẽ không được coi trọng Vì vậy, cần đặc biệt quan tâm tới việc tạo dựng hình ảnh và vị thế của các cơ quan hành chính nhà nước, cụ thể là phải gắn cơ quan hành chính với phương châm vì dân phục vụ, tận tụy hết mình vì nhân dân, đồng thời phải biến khẩu hiệu đó thành những chương trình hành động cụ thể, những cam kết cụ thể, rõ ràng, minh bạch, từ đó mới có thể thuyết phục và tạo dựng được niềm tin của người học và xã hội vào nhà trường

1.4.5 Mức độ hiện đại hóa công sở

Văn hóa công sở luôn có mối liên hệ chặt chẽ với hiện đại hóa công sở trường đại học Văn hóa công sở chỉ có thể được xây dựng và duy trì trên cơ sở có

sự đảm bảo ở mức độ nhất định về cơ sở vật chất cũng như trang bị phương tiện, điều kiện làm việc cho CCVC, giảng viên Trụ sở của cơ quan hành chính nếu được xây dựng khang trang, hiện đại, tại những địa điểm thuận lợi cho các hoạt động giao dịch sẽ tạo được sự hài lòng cho người học, góp phần tạo dựng hình ảnh và vị thế của nhà trường văn minh, hiện đại Đồng thời, các thiết bị làm việc, thiết bị văn phòng được trang bị đồng bộ, phù hợp sẽ giúp cho CCVC, giảng viên làm việc nhanh, hiệu quả, nâng cao chất lượng phục vụ của nhà trường Song song với việc hiện đại hóa công sở cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CCVC, giảng viên

có trình độ, sử dụng thành thạo trang thiết bị hiện đại, có phong cách làm việc mới, văn minh và chuyên nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh việc tăng cường hiện đại hóa công sở, trang bị phương tiện làm việc đầy đủ cho CCVC, giảng viên, cần kiên

Trang 40

34

quyết chống lại các biểu hiện lãng phí, sử dụng không đúng mục đích các tài sản công, một biểu hiện phi văn hóa trong tổ chức, hoạt động của nhà trường

1.4.6 Các yếu tố khác

1.4.6.1 Nhận thức, mức độ quan tâm của người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học

Trong một cơ quan, nhận thức của người đứng đầu có vai trò hết sức quan trọng Với vị trí và quyền lực của mình, người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học sẽ có những định hướng, quyết sách tích cực hay tiêu cực đối với văn hóa công sở Ngoài

ra, mức độ quan tâm của người đứng đầu cũng quyết định tầm quan trọng các quy định văn hóa công sở so với các quy định khác Phong cách của người đứng đầu cơ

sở giáo dục đại học sẽ có ảnh hưởng lớn tới hành vi của các công chức viên chức khác Chính nó sẽ tạo ra các trào lưu hay xu hướng, tạo nên những cái mới trong công sở

1.4.6.2 Tính chất, đặc điểm của cơ sở giáo dục đại học

Tính chất và đặc điểm của cơ sở giáo dục đại học biệt so với các cơ quan, đơn

vị sản xuất, kinh doanh hay các đoàn thể quần chúng Bởi, cơ sở giáo dục đại học là tổ chức hành chính sự nghiệp - sư phạm chuyên đào tạo trình độ đại học, sau đại học đáp ứng yêu cầu của xã hội Vì vậy, nó đòi hỏi có cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động và những điểm mạnh, điểm yếu riêng khác với cơ quan công quyền hay đơn vị sản xuất kinh doanh, như: chuẩn mực đạo đức, phương tiện và các mẫu hành

vi quy định cách thức ứng xử Mặt khác, chủ thể của các trường đại học là giảng viên, công chức, viên chức quản lý giáo dục, nhân viên hỗ trợ, phục vụ của nhà

trường (gọi chung là công chức, viên chức, giảng viên, người lao động), nên văn

hóa công sở tại trường đại học được biểu hiện thông qua nhận thức, hành vi và thái

độ của họ đối với học viên, sinh viên, đồng nghiệp, các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhà trường như quan niệm về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, quan niệm về hợp tác và cạnh tranh cũng như các vấn đề thuộc về truyền thống, giá

Ngày đăng: 28/04/2021, 08:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hoàng Linh Chi (2014), Văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật Hành chính, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hoàng Linh Chi
Năm: 2014
2. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1997
3. Nguyễn Lân (2002), Từ điển Từ và ngữ Hán - Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và ngữ Hán - Việt
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2002
4. Trịnh Huyền Mai (2017), Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các bộ, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viên Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa công sở tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các bộ
Tác giả: Trịnh Huyền Mai
Năm: 2017
7. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Nguyễn Thị Thường (2008), Văn hóa học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội 9. Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (2013), Quy chế văn hóa công sở, Lưu hànhnội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học", Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội 9. Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (2013), "Quy chế văn hóa công sở
Tác giả: Nguyễn Thị Thường (2008), Văn hóa học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội 9. Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2013
10. Trần Quốc Vượng (chủ biên) (1997), Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
11. Nguyễn Văn Thâm (2001), Tổ chức điều hành hoạt động của các công sở. NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức điều hành hoạt động của các công sở
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
12. Phan Ngọc (2013), Bản sắc văn hóa Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Ngọc (2013), "Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2013
13. Huỳnh Văn Thới (2015), “Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay” - Học Viện hành chính quốc gia, Đề tài độc lập cấp Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huỳnh Văn Thới (2015), “"Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Huỳnh Văn Thới
Năm: 2015
14. Trần Văn Bính (2013), “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam”, NXB Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam”
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2013
15. Bùi Ngọc Sơn, “Xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh văn hóa Việt Nam”, (2004), NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh văn hóa Việt Nam
Tác giả: Bùi Ngọc Sơn, “Xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh văn hóa Việt Nam”
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2004
16. Nguyễn Văn Đáng và Vũ Xuân Hương (1996), “Văn hóa và nguyên lý quản trị” NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và nguyên lý quản trị
Tác giả: Nguyễn Văn Đáng và Vũ Xuân Hương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1996
17. Nguyễn Chí Tình (2009), “Văn hóa và thời đại” NXB. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và thời đại
Tác giả: Nguyễn Chí Tình
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 2009
18. Phạm Hồng Tung chủ biên (2008), “Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị”, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị”
Tác giả: Phạm Hồng Tung chủ biên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2008
20. Trần Hoàng (2004), Văn hoá ứng xử ở công sở, NXB Chính trị QG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ứng xử ở công sở
Tác giả: Trần Hoàng
Nhà XB: NXB Chính trị QG
Năm: 2004
21. Trần Hoàng, Trần Việt Hoa ( 2011), Kỹ năng thực hành văn hoá công sở, lễ tân và nghi thức nhà nước ở cơ quan, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng thực hành văn hoá công sở, lễ tân và nghi thức nhà nước ở cơ quan
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
22. Nguyễn Minh Đoan (2013), Pháp luật với lối sống theo pháp luật và văn hoá giao tiếp pháp lý – NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật với lối sống theo pháp luật và văn hoá giao tiếp pháp lý
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2013
23. Nguyễn Minh Đoan (ch.b.), Bùi Thị Đào, Nguyễn Văn Năm (2011), Pháp luật, lối sống và văn hóa công sở. NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật, lối sống và văn hóa công sở
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan (ch.b.), Bùi Thị Đào, Nguyễn Văn Năm
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2011
24. Văn Tất Thu (2014), Khoa học tổ chức và công tác tổ chức trong cải cách nền hành chính. Tạp chí Tổ chức và công vụ (Điện tử) của Viện Khoa học Tổ chức Bộ Nội vụ, ra ngày 11-4-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tổ chức và công tác tổ chức trong cải cách nền hành chính
Tác giả: Văn Tất Thu
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w