Được sự nhất trí của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Môi Trường cũng với nguyện vọng của bản thân, tôi tiến hành đề tài “ Đánh giá công tác thu gom và xử lý chất
ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường là thành phần quan trọng, nó không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người và các sinh vật trên Trái đất Nó là không gian sống, cung cấp tài nguyên trong sản xuất và trong cuộc sống hằng ngày…Trong những năm trở lại đây, môi trường toàn cầu đang biến đổi theo chiều hướng xấu đi đối với cuộc sống con người và các sinh vật trên trái đất Do đó, vấn đề phát tiển bền vững và bảo vệ môi trường đang có sự quan tâm đặc biệt của phần lớn các Quốc gia trên Thế giới, cũng nhƣ các tố chức Chính phủ và Phi Chính phủ Vì vậy mục tiêu phấn đấu của cả nhân loại là phát triển bền vũng nhằm đảm bảo cân bằng giữa phát triển bền vững và BVMT
Việt Nam là một nước có tỷ lệ phát triển nông nghiệp cao, chiếm 70% tổng sản phẩm thu nhập quốc dân (GDP) Trước đây, nghề trồng trọt cây lương thực đóng góp đa số cho ngành nông nghiệp nước ta Và hiện nay, việc gia tăng sản lượng thực phẩm từ chăn nuôi gia súc cũng đem lại những bước tiến mới trong nông nghiệp Nó đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, từ trồng trọt sang chăn nuôi, đồng thời cải thiện đời sống kinh tế của nông dân Tuy nhiên, việc phát triển các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm tự phát một cách tràn lan, trong điều kiện người nông dân thiếu vốn, thiếu hiểu biết đã làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Đặc biệt với hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ, thiếu quy hoạch và tình trạng chăn nuôi trên địa bàn dân cư đông đúc đã làm môi trường ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng Ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động chăn nuôi chủ yếu là từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không đúng quy trình kĩ thuật Đối với các cơ sở chăn nuôi,
2 các chất thải gây ra ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh của vật nuôi làm tăng chi phí phòng bệnh, giảm năng xuất và hiệu quả kinh tế, sức đề kháng của gia súc, gia cầm giảm sút đồng thời làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh
Hiện nay, tại Việt Nam tình trạng ô nhiễm môi trường đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, khi người dân đô thị phải đối mặt với tình trạng tồn ứ rác thải sinh hoạt, công nghiệp, ô nhiễm nước thải, ô nhiễm không khí do bụi… thì người dân vùng nông thôn lại phải sống chung với tình trạng ô nhiễm môi trường do thuốc trừ sâu, hóa chất bảo vệ thực vật, rác thải nông nghiệp đặc biệt là tình trạng bùng phát các trang trại quy mô hộ gia đình đƣợc xây dựng ngay trong khu dân cƣ mà không sử dụng một biện pháp thu gom hay xử lý chất thải chăn nuôi nào ngoại trừ xử lí bằng biogas
Ba Vì là một trong những khu vực có số lƣợng trang trại chăn nuôi lớn của nước ta, nhất là chăn nuôi lợn ngày càng phát triển với số lượng ngày càng tăng.Kéo theo đó là lƣợng chất thải của nó cũng ngày một tăng và có nhiều thành phần gây ô nhiễm cho môi trường Vấn đề về chất thải cũng trở thành điểm nóng ảnh hưởng xấu tới môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe người chăn nuôi lợn của các trang trại lợn tại Ba Vì nói riêng và các trang trại chăn nuôi lợn của Việt Nam nói chung Vì vậy, xuất phát từ thực tế đó, em tiến hành làm đề tài:‘‘ Đánh giá công tác thu gom và xử lý chất thải rắn phát sinh trong chăn nuôi tại trạilợn nái ông Nguyễn Danh Lộc xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.’’
Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung Đánh giá về công tác thu gom, xử lý chất thải rắn phát sinh trong hoạt động chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung
- Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi tại trại lợn nái ông Nguyễn Danh Lộc xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội
- Đánh giá mức độ ô nhiễm do chẩt thải rắn gây ra tại trại
- Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động chăn nuôi lợn gây ra.
Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu nhằm đánh giá một phần tình trạng chăn nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình tại Ba Vì - Hà Nội Đề tài nhằm vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiểu biết về công tác quản lí và xử lý ô nhiễm môi trường tại các hộ gia đình chăn nuôi
- Ý nghĩa thực tiễn: Điều tra đánh giá thực trạng công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn phát sinh trong hoạt động chăn nuôi lợn.Đồng thời đề xuất các giải pháp để thu gom và xử lý chất thải rắn cho phù hợp với điều kiện của trang trại, của địa phương để đạt hiệu quả cao nhất nhằm nâng cao công tác quản lí môi trường một cách khoa học và bền vững,kết hợp với việc bảo vệ môi trường góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
QUAN TÀI LIỆU
Cơ sở khoa học về chăn nuôi trang trại
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, ngày 23 tháng 06 năm 2014 định nghĩa như sau: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật
Là sự biến đổi của các thành phần môi trường khôngphù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
Là vật chất đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hay các hoạt động khác
2.1.1.4 Chất thải chăn nuôi lợn
Bao gồm chất thải rắn và chất thải lỏng, chất thải rắn bao gồm phân, xác gia súc chết, nhau thai, Chất thải lỏng là nước tiểu, chất nhầy, nước rửa chuồng trại và rửa các dụng cụ dùng trong chăn nuôi
Là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm
Là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải
2.1.1.7 Quản lý chất thải rắn
Là hoạt động của các tổ chức và cá nhân nhằm giảm bớt ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người, môi trường hay mỹ quan Các hoạt động đó liên quan đến việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải… Quản lí chất thải rắn cũng có thể góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải
2.1.1.8 Quản lý chất thải nguy hại
Là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại
2.1.1.9 Vận chuyển chất thải rắn và chất thải nguy hại
Là quá trình chuyên trở chất thải rắn và chất thải rắn nguy hại từ nơi phát sinh đến nơi xử lý; Có thể kèm theo việc thu gom, đóng gói, bảo quản, lưu giữ tạm thời, trung chuyển, sơ chế chất thải nguy hại
2.1.1.10 Xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại
Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm biến đổi, loại bỏ, cách ly, tiêu hủy hoặc phá hủy thiêu đốt, đồng thời xử lý, cô lập, chôn lấp với mục đích cuối cùng là không gây tác động xấu đến môi trường và sức khỏe con người
2.1.1.11Tái sử dụng, tái chế chất thải
Là việc trực tiếp sử dụng hoặc thu hồi, tái chế từ chất thải, các thành phần có thể sử dụng để biến thành các sản phẩm mới hoặc các dạng năng lƣợng để phục vụ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất
Trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, định nghĩa như sau: “ Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông
6 số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”
2.1.2 Tổng quan về chất thải chăn nuôi
2.1.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi Ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trang trại: Là sự thay đổi bất lợi môi trường đất, môi trường nước và môi trườngkhông khí hoàn toàn hay đại bộ phận do hoạt động chăn nuôi, các hoạt động nuôi trồng thủy sản của con người tạo nên Những hoạt động này gây tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự thay đổi về mặt năng lƣợng, mức độ bức xạ, về thành phần hóa học, tính chất vật lý Những thay đổi đó do các tác động có hại đến con người và sinh vật trên trái đất ( Nguyễn Thiện, Trần Đình Miện, 2001) [7]
2.1.2.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải chăn nuôi
Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn gây ra ô nhiễm môi trường trong hoạt động chăn nuôi chủ yếu là do phân, thức ăn thừa của lợn vung vãi ra nền chuồng mà không đƣợc thu gom kịp thời Các chất này đều chứa những chất dễ phân hủy sinh học: Carbonhydrate, Protein, chất béo dẫn đến các vi sinh vật phân hủy làm phát tán mùi hôi thối ra môi trường Đây là các chất gây ô nhiễm nặng nhất trong các trang trại chăn nuôi tập trung.( Phạm Thị Phương Lan, 2007) [4]
Mức độ ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi nặng hay nhẹ tùy thuộc vào lƣợng thải ra môi trường là bao nhiêu, xử lý hay không xử lý trước khi chất thải đó được thải vào môi trường Hiện nay cả nước có khoảng 135.437 trang trại chăn nuôi, tỷ trọng chăn nuôi trang trại và công nghiệp chiếm 37% (Phạm Thị Phương Lan,
2.1.2.3 Thành phần, tính chất của chất thải rắn trong chăn nuôi lợn
Khái niệm chất thải rắn (CTR) được sử dụng trong Báo cáo môi trường quốc gia 2011 đƣợc hiểu là: Chất thải rắn là các chất thải ở thể rắn, đƣợc thải ra từ
7 quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt, chăn nuôi hoặc từ các hoạt động khác
Chất thải trong chăn nuôi theo báo báo Môi trường Quốc gia, bao gồm
- Chất thải rắn (phân, thức ăn thừa, xác gia súc, gia cầm chết)
- Chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước dùng để tắm gia súc
Hiện trạng môi trường chăn nuôi trên Thế giới và ở Việt Nam
Chăn nuôi thế giới đang từng bước chuyển dịch từ các nước đã phát triển sang các nước phát triển Các nước đã phát triển xây dựng kế hoạch chiến lƣợc phát triển ngành chăn nuôi duy trì ở mức độ ổn định, nâng cao quá trình thâm canh, các biện pháp an toàn sinh học, chất lƣợng và vệ sinh an toàn thực phẩm Các nước đang phát triển như ở Châu Á và Châu Nam Mỹ được nhận định sẽ trở thành khu vực chăn nuôi chính và cũng đồng thời là khu vực tiêu thụ nhiều các sản phẩm chăn nuôi Chăn nuôi công nghiệp ở các nước đã phát triển sản xuất ra các sản phẩm chăn nuôi có giá cạnh tranh nhƣng đồng thời họ giải quyết triệt để được vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi công nghiệp tạo ra, vì chăn nuôi công nghiệp tạo ra một lƣợng chất thải khá lớn cho môi trường của họ Chi phí cho giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi tính trên mỗi sản phẩm chăn nuôi sẽ ngày càng lớn, trong khi họ có thể nhập khẩu các sản phẩm này từ một nước khác có chất lượng tương tự và có giá cả thấp hơn trong nước
Ngày nay, ngành chăn nuôi nước ta đang có những dịch chuyển nhanh chóng từ hộ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại, công nghiệp; Từ chăn nuôi nhỏ lẻ lên chăn nuôi quy mô lớn Đảng và Chính phủ quan tâm tới ngành chăn nuôi để cùng với ngành trồng trọt, thủy sản đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm thông qua những chủ trương, chính sách nhằm định hướng và tạo ra những cơ chếkhuyến khích để ngành chăn nuôi phát triển nhanh, mạnh và vững chắc Tuy nhiên, mặt chƣa đƣợc của chăn nuôi đó là vấn đề ô nhiễm môi trường Cộng đồng khoa học trong và ngoài nước đã chỉ rõ gây ô nhiễm môi trường lớn nhất trong nông nghiệp ở Việt Nam là từ trồng trọt và chăn nuôi
Bảng 2.3: Số lƣợng lợn phân theo các vùng ở Việt Nam
Năm 2014 2015 2016 Đồng bằng Sông Hồng 134.302 130.363 127.999
Miền nùi và Trung du 1.410.765 1.412.175 1.415.040 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 803.461 8.414.443 816.422
Tây Nguyên 88.785 86.273 86.343 Đông Nam Bộ 49.338 46.489 42.218 ĐB sông Cửu long 34.858 33.917 31.389
( Nguồn: Thống kê chăn nuôi Việt Nam 2014, 2015, 2016)
Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), chất thải của gia súc toàn cầu tạo ra 65% lƣợng Nitơ oxit (N2O) trong khí quyển Đây là loại khí thải có khả năng hấp thụ năng lƣợng mặt trời cao gấp 296 lần so với khí CO 2 Cùng với các loại khí khác nhƣ CO 2 , CH 4 … gây ra hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên Theo số liệu của Tổng Cục thống kê năm 2014 đàn lợn nước ta có khoảng 26,76 triệu con, đàn bò khoảng 7,75 triệu con, đàn gia cầm khoảng 327.69 triệu con Trong đó chăn nuôi nông hộ hiện tại vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 65-70% về số lƣợng và sản phẩm Từ số đầu gia súc, gia cầm đó có thể quy đổi đƣợc lƣợng chất thải rắn (phân, chất độn chuồng, các loại thức ăn dƣ thừa rơi vãi), đàn gia súc, gia cầm thải ra trên khoảng 76 triệu tấn, và khoảng trên 30 triệu khối chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước từ sân phơi, bãi vận động, bãi chăn) Phân của vật nuôi chứa nhiều chất chứa Nitơ, Phốt pho, kẽm, chì, Asen, Niken (kim loại nặng)….và các vi sinh vật gây hại khác không những gây ô nhiễm không khí mà còn làm ô nhiễm đất, làm rối loạn độ phì đất, không chỉ nước nước mặt mà còn cả nguồn nước ngầm
Nhằm khắc phục và giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi gây ra, thời gian vừa qua Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các cấp, ngành liên quan kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại các trang trại chăn nuôi lợn tập trung trên địa bàn, đánh giá quá trình thu gom, xử lý chất thải phát sinh tại các trang trại, điều tra đánh giá quy trình xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép ra ngoài môi trường Sự cương quyết của các cấp, ngành liên quan đã góp phần nâng cao ý thức của người dân đồng thờiBTN&MT sẽ phối hợp với ngành nông nghiệp tăng cường kiểm tra, xử lý, đình chỉ sản xuất đối với các trang trại có hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đôn đốc các cơ sở gây ô nhiễm môi trường thực hiện kế hoạch xử lý triệt để ô nhiễm, yêu cầu các trang trại phải có đầy đủ công trình, biện pháp bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu về xử lý ô nhiễm (được cơ quan chức năng xác nhận trước khi đưa vào hoạt động), khẩn trương quy hoạch vùng chăn nuôi cho từng loại vật nuôi từng bước hạn chế, không cho phép chăn nuôi gia trại, chăn nuôi quy mô nhỏ trong khu dân cƣ, triển khai ứng dụng mô hình xử lý nước thải sau biogas, làm cơ sở hướng dẫn, nhân rộng áp dụng cho các trang trại (Báo mới, 2011) [10]
2.2.1 Tình hình ô nhiễm môi trường chất thải chăn nuôi ở Việt Nam
Việt nam là một đất nước có nền nông nghiệp phát triển vì vậy đã tạo điệu kiện thuận lợi thúc đẩy cho ngành chăn nuôi phát triển Nhƣng điều này đang khiến nước ta phải đối diện với những khó khăn trong thu gom, xử lý chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi vì nó chƣa đƣợc quan tâm đúng mức
Theo BNN&PTNT, 6 tháng cuối năm 2016, tình hình chăn nuôi trên địa bàn cả nước đang đi vào ổn định sau thiên tai và dịch bệnh Xu hướng chăn nuôi quy mô lớn đang đƣợc quan tâm, chăn nuôi nông hộ giảm dần Hiện ngành nông nghiệp đang chỉ đạo việc quy hoạch phát triển chăn nuôi theo các vùng sinh thái và theo sản phẩm chăn nuôi trên phạm vi cả nước, bảo
14 đảm phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do tình hình thiên tai, dịch bệnh xảy ra thường xuyên
Lợn là vật nuôi truyền thống và gắn bó với người nông dân, sản lượng thấp từ 75-85% nhu cầu của xã hội Chính vì vậy, đàn lợn của nước ta không ngừng tăng lên qua các năm Hiện nay, xu hướng chăn nuôi chuyển từ nhỏ lẻ, phân tán sang tập trung, trang trại đang đƣợc lựa chọn.(Bùi Xuân An,2007)[1]
Chăn nuôi lợn thường theo 4 phương thức chính: Thứ nhất,chăn nuôi quy mô nhỏ với mức độ an toàn sinh học thấp Thứ hai, chăn nuôi quy mô hàng hóa nhỏ với mức độ an toàn sinh học tối thiểu kết hợp nuôi cá Thứ ba, chăn nuôi trang trại công nghiệp và chăn nuôi gia công với mức độ an toàn sinh học cao Thứ tƣ, chăn nuôi trong các hợp tác xã hay nhóm tổ chức chăn nuôi với mức độ an toàn sinh học bình thường
Trong một báo cáo về tổ chức sản xuất lợn, trâu và bò ở cấp hộ gia đình trang trại của Viện Chăn nuôi, các chuyên gia đã chỉ ra rằng, nước ta đang có xu hướng chuyển từ chăn nuôi tận dụng, nhỏ lẻ lên hàng hóa với quy mô 10-
30 con lợn thịt để tận dụng lao động hộ gia đình và chuồng trại chăn nuôi Xu hướng này chuyển đổi mạnh mẽ hơn so với chuyển đổi từ chăn nuôi nhỏ lẻ lên chăn nuôi trang trại, vì chăn nuôi trang trại đòi hỏi nhiều vốn và đặc biệt là chuồng trại phải xa khu dân cƣ Việc nhập các sản phẩm chăn nuôi không kiểm soát được đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi trong nước Mặt khác, việc nhập lậu gia súc sống, nhập nội tạng và phụ phẩm chăn nuôi còn ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm, vệ sinh thú y và tiềm ẩn các nguy cơ về dịch bệnh cho vật nuôi và con người
Tại Đồng Nai, theo ước tính của ngành môi trường, mỗi ngày có khoảng 5 tấn phân lợn, phân gà và 12.000m 3 nước thải chăn nuôi trên địa bàn thành phố Biên Hòa đƣợc thải trực tiếp ra sông Đồng Nai Các trang trại không có hệ thống xử lý nước thải và tất cả đều được đổ ra dòng suối Săn Máu đã và đang dần giết chết dòng sông này, những bao phân tươi được đặt ngay trên đường đi, khiến cho môi trường không chỉ trong các khu chăn nuôi bị ô nhiễm nặng nề, mà còn gây mùi hôi thối nồng nặc ảnh hưởng tới sức khỏe người dân vùng lân cận, Theo số liệu thông kê Biên Hòa hiện có khoảng 140.000 đầu lợn và 1 triệu con gia cầm đƣợc nuôi trong hơn 8000 hộ chăn nuôi quy mô lớn ở Tân Hòa, Tân Biên và Tân Phong nhƣng trong đó chỉ có khoảng 15% số hộ sử dụng hầm biogas để tận dụng chất thải làm nguồn năng lƣợng chất đốt, còn lại đều thải vô tƣ ra xung quanh (Phương Liễu, 2008) [11]
2.2.2 Tình hình ô nhiễm môi trường chất thải chăn nuôi tại Ba Vì, Thành phố Hà Nội
Khi còn chăn nuôi nhỏ lẻ kết hợp với việc xử dụng chất thải từ chăn nuôi cho hoạt động sản xuất nông nhiệp thì chất thải chăn nuôi từ các hộ gia đình gần như không phải là một mối hiểm họa đối với môi trường
Tuy nhiên, khi chăn nuôi chuyển sang hình thức tập trung theo quy mô lớn thì còn rất nhiều trang trại chăn nuôi lợn, bò hằng ngày thải ra một lƣợng lớn chất thải không được xử lý và đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước, kênh, mương trong vùng làm nhiều hộ dân không có nước sinh hoạt (nước giếng trong vùng có váng, mùi hôi tanh), tỉ lệ người dân bị mắc bệnh tiêu chảy, mẩn ngứa, ghẻ lở cao Ô nhiễm do chất thải chăn nuôi không chỉ ảnh hưởng nặng tới môi trường sống khu dân cư mà còn gây ô nhiễm nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên và ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất chăn nuôi Các hoạt động gây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước
Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước còn khá phổ biến đã làm tăng diện tích đất xói mòn, suy giảm chất lượng nước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn Ô nhiễm môi trường còn làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi
Bảng 2.4 : Số lƣợng lợn nái qua các năm
Năm Cả nước Hà Nội Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Thống kê chăn nuôi Việt Nam 2014, 2015, 2016)
Các nghiên cứu trên Thế giới và trong nước về xử lý chất thải chăn nuôi lợn
2.3.1 Các nước trên thế giới
Việc xử lý chất thải chăn nuôi lợn đã đƣợc nghiên cứu triển khai ở các nước phát triển từ cách đây vài trục năm Ở các nước phát triển, quy mô trang trại hàng trăm hecta, phân lợn và chất thải chăn nuôi lợn chủ yếu làm phân vi
18 sinh và năng lượng biogas cho máy phát điện, nước thải chăn nuôi dùng cho mục đích nông nghiệp
Tại các nước phát triển việc ứng dụng phương pháp sinh học trong xử lý nước thải, chất thải chăn nuôi đã được nghiên cứu ứng dụng và cải tiến trong nhiều năm qua như: Ở Châu Á, các nước như: Trung Quốc, Thái Lan là các nước có nền chăn nuôi công nghiệp lớn trong khu vực nên rất quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải chăn nuôi
Nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc đã tìm ra nhiều công nghệ xử lý nước thải thích hợp như:
- Kĩ thuật lọc yếm khí
- Kĩ thuật phân hủy yếm khí hai giai đoạn
Hiện nay ở Trung Quốc các bể biogas tự hoại đã sử dụng rộng rãi nhƣ phần phụ trợ cho các hệ thống xử lý trung tâm Bể biogas là một phần không thể thiếu trong các hộ gia đình chăn nuôi lợn vừa và nhỏ ở các vùng nông thôn, nó vừa xử lý được nước thải, phân, giảm mùi hôi thối mà nó còn tạo ra năng lƣợng để sử dụng Ở Nga các nhà nghiên cứu cũng nghiên cứu xủ lý nước thải, phân lợn, phân bò dưới các điều kiện ưa lạnh và ưa nóng
Một số tác giả ở Úc cho rằng chiến lƣợc giải quyết vấn đề xử lý chất thải chăn nuôi lợn là sử dụng kĩ thuật SBR (Sequencing Batch Reactor) Ở Ý đối các loại chất thải giàu Nitơ và Phốtpho như nước thải chăn nuôi lợn thì các phương pháp xử lý thông thường không thể đạt được các tiêu
19 chuẩn cho phép về hàm lượng về Nitơ và Phốtpho trong nước sau khi xử lý Công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi giàu chất hữu cơ ở Ý đƣa ra là SBR có thể giảm thiểu trên 95% nồng độ COD, Nitơ và Phốtpho
Nhận xét chung về công nghệ xử lý chất thải giàu chất hữu cơ sinh học trên Thế giới là áp dụng tổng thể và động bộ các thành tựu kỹ thuật lên men yếm khí, lên men hiếu khí và lên men hiếu-kỵ khí, nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường Trên cơ sở đó có thể đề xuất ra những giải pháp kỹ thuật phù hợp với từng điều kiện sản xuất cụ thể
Tại Hà Lan, nước thải chăn nuôi được xử lý bằng công nghệ SBR qua 2 giai đoạn: Giai đoạn hiếu khí chuyển hóa thành phần hữu cơ thành CO 2 , nhiệt năng và nước, Amoni được Nitrat hóa thành Nitrit và khí Nitơ; giai đoạn kỵ khí xảy ra quá trình để khử Nitrat thành khí Nitơ Phốtphat đƣợc loại bỏ từ pha lỏng bằng định lƣợng vôi vào bể sục khí
Tại Tây Ban Nha, nước thải chăn nuôi đươc xử lý bằng quy trình VALPUREN Đây là quy trình xử lý kết hợp phân hủy kỵ khí tạo hơi nước và làm khô bùn bằng nhiệt năng đƣợc cấp bởi hỗn hợp khí sinh học và khí tự nhiên
2.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Tình hình chung về các nghiên cứu chất thải chăn nuôi ở Việt Nam, nước thải chăn nuôi được coi là một trong những nguồn nước thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt làchất thải chăn nuôi lợn Việc mở rộng các khu dân cƣ xung quanh các xí nghiệp chăn nuôi lợn nếu không đƣợc giải quyết thỏa đáng sẽ gây ra ô nhiễm môi trường ảnh hương đến sức khỏe cộng đồng và gây ra những vấn đề mang tính chất xã hội phức tạp
Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực xử lý chất thải chăn nuôi lợn đang được hết sức quan tâm vì mục tiêu giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường,
20 đồng thời với việc tạo ra năng lƣợng mới Các nghiên cứu về xử lý chất thải chăn nuôi lợn chủ yếu tập trung vào hai hướng chính: Hướng thứ nhất là sử dụng các thiết bị yếm khí tốc độ thấp nhƣ bể lên men tạo khí biogas kiểu nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam hoặc dung các túi PE Phương hướng thứ nhất nhằm mục đích xây dựng kỹ thuật xử lý yếm khí nước thải chăn nuôi lợn trong các hộ gia đình chăn nuôi với số đầu lợn không quá nhiều Hướng thứ hai là xây dựng quy trình công nghệ và thiết bị tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ nhằm áp dụng trong các xí nghiệp chăn nuôi mang tính chất công nghiệp Trong các nghiên cứu có thể tiến hành nhƣ sau: (1) xử lý cơ học: lắng 1; (2) xử lý sinh học: bắt đầu bằng sinh học kị khí UASB, tiếp theo là sinh học hiếu khí( Aeratank hoặc hồ sinh học; (3) khử trùng trước khi thải ra ngoài môi trường
Một số nghiên cứu chủ yếu về chăn nuôi và xử lý chất thải chăn nuôi ở nước ta:
- Nghiên cứu của Lương Tất Nhợ, Đinh Xuân Tùng: „„ Hiệu quả chăn nuôi ởhuyện Nam Sách,Tỉnh Hải Dương và huyện Thái Thụy, Tỉnh Thái Bình‟‟, 2011: Là hoạt động nghiên cứu trong nước được thực hiện bởi các chuyên gia của Viện Chăn Nuôi Nghiên cứu phân tích hiệu quả chăn nuôi lợn của các hộ gia đình tại hai huyện Nam Sách (Hải Dương) và huyện Thái Thụy (Thái Bình) Nghiên cứu cho thấy hiệu quả chăn nuôi của các hộ khác nhau, nhìn chung hiệu quả chăn nuôi thấp Nghiên cứa phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới giá thành chăn nuôi như giá thức ăn, giá giống Ngoài ra nghiên cứu cũng cho thấy những yếu tố khác còn ảnh hưởng tới hiệu quả chăn nuôi như trình độ chủ hộ, khoảng cách thị trường
- Đề tài đánh giá hiện trạng quản lí chất thải trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Phú Bình, Tỉnh Thái Nguyên và đề xuất một số giải pháp quản lí: Đề tài đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn tại các trang trại chăn nuôi lợn trên địa
21 bàn, đánh giá chất lượng nước thải và tình hình xử lý chất thải, nước thải tại một số trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện, đánh giá về yếu tố xã hội ảnh hưởng đến môi trường chăn nuôi trên địa bàn và ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến sức khỏe người dân Đồng thời đề tài cũngđề xuất giải pháp quản lí chất thải chăn nuôi tại huyện Phú Bình
- Đề tài nghiên cứu hiện trạng chăn nuôi và các mô hình xử lý chất thải chăn nuôi hiệu quả tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội: Do nhu cầu phát triển kinh tế, hầu hết các hộ dân ở xã Phù Đổng đang mở rộng theo mô hình chăn nuôi trang trại, gia trại Phần lớn, các hộ gia đình chăn nuôi theo kiểu “chuồng trại chăn nuôi cạnh nhà, cạnh bếp” Do đó, chất thải chăn nuôi vẫn thải trực tiếp ra môi trường, nước thải bốc mùi hôi, phát sinh nhiều loài ký sinh trùng gây bệnh Qua đó đề tài cũng đã nêu ra một số mô hình xử lý môi trường như: mô hình xử lý bằng hầm biogas, mô hình ủ phân và mô hình nuôi giun, dế, lươn, baba
Nhìn chung những nghiên cứu của chúng ta đã đi đúng hướng, tiếp cận đƣợc các công nghệ Thế giới đang quan tâm nhiều Tuy số lƣợng nghiên cứu và chất lƣợng các nghiên cứu của chúng ta còn cần đƣợc nâng cao hơn, nhằm nhanh chóng đƣợc áp dụng trong thực tế sản xuất.
Các phương thu gom chất thải rắn phát sinh trong hoạt động chăn nuôi lợn
Hiện nay với sự hội nhập quốc tế kèm với nó là sự gia tăng những quy định về BVMT, ý thức ngày càng đƣợc nâng cao của cộng đồng về các vấn đề môi trường thì vấn đề môi trường nói chung và môi trường chăn nuôi nói riêng đã nhận đƣợc nhiều sự quan tâm của cộng đồng Trên thế giới môi trường chăn nuôi đã được đánh giá một cách khá toàn diện, một trong số đó là các nghiên cứu về vấn đề xử lý chất thải chăn nuôi tại Việt Nam, đặc biệt là xử lý chất thải rắn Mặc dù, đã phần nào nhận biết đƣợc tác hại do chăn nuôi
22 gây ra xong gần nhƣ chƣa có một nghiên cứu đầy đủ nào về vấn đền thu gom, quản lí và xử lý chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi Đặc biệt là sự phát sinh về chất thải rắn một dạng chất thải phát sinh rất nhiều,và rất khó để thu gom và xử lý Các hoạt động gây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước Tình trạng chăn nuôi thả rông,chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước… Còn khá phổ biến đã làm tăng diện tích đất xói mòn, suy giảm chất lượng nước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn
2.4.1 Hình thức thu gom tại chuồng
Thu gom chất thải là quá trình thu nhặt chất thải từ các chuồng trại chăn nuôi thu gom và chất chúng lên xe vận chuyển đến địa điểm xử lý Để thuận tiện cho việc thu gom trại đã sử dụng các thiết bị và dụng cụ thu gom chủ yếu là xe đẩy cải tiến, chổi (chổi che, chổi cọ),xẻng phục vụ cho công tác thu gom
Hình thức này chỉ đƣợc áp dụng cho các trang chăn nuôi có nhiều công nhân vệ sinh trong trại và số lƣợng heo nuôi ở một giới hạn nhất định với hình thức chăn nuôi nhốt Tuy nhiên hệ thống chăn nuôi này mất nhiều thời gian và chi phí lao động cao
Hình thức thu gom tại chuồng đƣợc tiến hành theo sơ đồ sau:
4.2.4.2Hình thức thu gom theo khối
Xe thu gom chất thải chạy theo một lịch trình đã được đặt ra từ trước, có thể hàng ngày hoặc vài ba ngày/lần, tuỳ theo khối lƣợng chất thải phát sinh trong trại Các xe thu gom này dừng tại những điểm quy định và rung chuông Các chuồng ở trong trạisẽ mang chất thải đến và đổ vào xe theo một quy trình.Quy trình thu gom theo khối:
2.4.3 Thu gom tổng hợp chất thải chăn nuôi phát sinh tại trại và chất thải phát sinh từ sinh hoạt của công nhân trong trại
Hình thức thu gom này khá chủ yếu ở tất cả các trại chăn nuôi theo quy mô trang trại và quy mô hộ gia đình Chất thải phát sinh sẽ đƣợc thu gom bằng các bao tải hay túi nilông rồi đƣợc tập kết tại một địa điểm đã đƣợc quy đinh sẵn trong trại Tại địa điểm tập kết chất thải sẽ tiến hành luôn các biện pháp xử lý nhƣ: Chôn lấp, đốt
2.4.4 Tầm quan trọng của việc thu gom chất thải chăn nuôi
Thực trạng chất thải chăn nuôi tại các hộ gia đình hay các trang trại chăn nuôi nếu không đƣợc thu gom hợp lý không chỉ làm mất cảnh quan đô thị, đường làng ngõ xóm mà còn là nguồn bệnh nguy hiểm, cụ thể:
-Chất thải chăn nuôi nếu không được thu gom hợp lý sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, làm mất cảnh quan khu đô thị, nông thôn, làm ô nhiễm và suy thoái môi trường Nhiều loại chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động chăn nuôi có thể tồn tại lâu trong môi trường, tồn dư trong nông sản phẩm, thực phẩm, nguồn nước và có khả năng gây ra các bệnh nguy hiểm đối với con người như bệnh đường tiêu hóa, bệnh hô hấp, xương khớp và một số bệnh nan y khác
-Chất thải phát sinh trong hoạt động chăn nuôi nếu không đƣợc thu gom đúng quy định, hiện tƣợng đổ chất thải chăn nuôi bừa bãi ra hệ thống kênh mương, đường làng hoặc các khu đất canh tác nông nghiệp, nhất là các túi nilông, hộp thuốc, vỏ thuốc dùng trong thú y, bao bì cám và các phế thải sẽ có nguy cơ làm thay đổi pH của đất, giảm lƣợng mùn, thay đổi kết cấu đất, làm mất cân bằng dinh dƣỡng trong đất Chất thải rắn cũng là nơi sinh sống của các
25 loài côn trùng, gặm nhấm, vi khuẩn, nấm mốc Những loại này di động mang các vi trùng gây bệnh truyền nhiễm cộng đồng và phá hoại mùa màng
- Chất thải chăn nuôi không đƣợc thu gom và xử lý đúng cách cũng sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm nguồn nước Nước mưa, nước từ chất thải theo dòng chảy Đi vào các nguồn nước mặt làm ô nhiễm nước mặt hoặc ngấm xuống đất làm ô nhiễm nước ngầm Thông thường sẽ mang vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng, chất hữu cơ từ chất thái vào nguồn Điểm đáng chú là các chất ô nhiễm này sẽ có mặt trong nước sinh hoạt hoặc nước canh tác từ đó đi vào cơ thể con người, tích lũy qua thời gian và gây ra các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
Các phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi lợn
Việc xử lý chất thải chăn nuôi lợn nhằm giảm nồng độ các chất ô nhiễm trong chất thải đến một nồng độ cho phép có thể xả vào nguồn tiếp nhận Việc lựa chọn phương pháp làm sạch và lựa chọn quy trình xử lý chất thải phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Các yêu cầu về công nghệ và vệ sinh nước
- Các điều kiện của trại chăn nuôi
- Hiệu quả xử lý Đối với chất thải chăn nuôi, có thể áp dụng các phương pháp sau:
Trong các phương pháp trên ta thường sử dụng phương pháp xử lý cơ học là phương pháp xử lý chính Vì điều kiện trang thiết bị trong trại heo nái Mr.Lộc là một trại chăn nuôi của hộ gia đình, chủ yếu lƣợng chất thải rắn phát sinh trong hoạt động chăn nuôi của trại thường được công nhân thu gom, xử lý bằng biogas, làm phân bón hay bán lại
2.5.1 Một số biện pháp xử lý môi trường trong chăn nuôi
- Lựa chọn vị trí xây dựng chuồng trại hợp lý: Chuồng nuôi xây dựng phải được đảm bảo mỹ quan, tách biệt với nơi sinh hoạt của con người, nên tránh hướng gió để hạn chế bị gió lùa, thuận tiện cho quá trình chăm sóc nuôi dưỡng và giữ ấm vào mùa đông, mát về mùa hè, thuận tiện về nguồn nước và tiện cho công tác thu gom xử lý chất thải Chuồng trại nên được xây xa đường bê tông chính, tránh được tiếng ồn và những hoạt động của con người
- Mật độ và diện tích chuồng nuôi:Mật độ nuôi là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và sức đề kháng bệnh của vật nuôi, xong hầu nhƣ ít đƣợc tuân thủ một cách nghiêm ngặt trong tổ chức bố trí sản xuất, do đó đã tạo ra một môi trường kém về độ thông thoáng, dễ phát sinh dịch bệnh và khả năng lây nhiễm bệnh cao
-Bố trí, sắp xếp các dãy chuồng nuôi hợp lý:Trong một trang trại chăn nuôi hoặc một hộ sản xuất khi xây dựng chuồng trại cần đảm bảo khoảng cách tối thiểu giữa các dãy chuồng từ 5 - 7m, nhƣ vậy sẽ thuận tiện trong quá trình sản xuất, dễ áp dụng các biện pháp chăm sóc nuôi dƣỡng, thuận tiện cho việc cách ly để điều trị khi có dịch bệnh xảy ra và phân tách đƣợc các lứa tuổi vật nuôi theo từng dãy chuồng Thông thường đối với nông hộ chăn nuôi với quy mô nhỏ thì chuồng nuôi nên chia thành các ngăn để thuận tiện cho việc thực hiện các biện pháp chăm sóc, nuôi dƣỡng và công tác phòng trị bệnh
-Xây dựng công trình xử lý chất thải:Đối với chăn nuôi quy mô lớn và theo phương thức công nghiệp nên việc xây hầm biogas là biện pháp hữu hiệu để xử lý chất thải và tận dụng đƣợc nguồn chất đốt cho sinh hoạt.
- Công tác vệ sinh chuồng trại:Ngoài việc hàng ngày tiến hành dọn vệ sinh phân rác và nước tiểu vật nuôi, thì cần định kỳ hàng tuần quy định 1
28 ngày thực hiện tổng vệ sinh chuồng trại và khu vực chăn nuôi, thu gom rác về nơi quy định để đốt và phun khử trùng khu vực chăn nuôi bằng thuốc sát trùng để tiêu diệt nguồn mầm bệnh cư trú hoặc tiềm ẩn trong môi trường.
-Trồng cây xanh:Xung quanh khu vực chăn nuôi tiến hành trồng cây xanh để tạo bóng mát và chắn đƣợc gió lạnh, gió nóng, ngoài ra cây xanh còn quang hợp hút khí CO 2 và thải khí O2 rất tốt cho môi trường chăn nuôi Nên trồng các loại cây nhƣ: Nhãn, vải, keo dậu, muồng….
Như vậy, công tác xử lý môi trường trong chăn nuôi là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất, chất lƣợng sản phẩm vật nuôi, giữ gìn môi trường sinh thái Tuy nguồn chất thải của vật nuôi có những ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và hiệu quả chăn nuôi xong bên cạnh đó nếu chúng ta tuân thủ và xử lý triệt để nguồn chất thải thì đây là nguồn phân hữu cơ chủ yếu để phục vụ cho ngành trồng trọt, góp phần đẩy mạnh phát triển song song giữa trồng trọt và chăn nuôi, tạo ra môi trường trong sạch và bảo vệ sức khoẻ con người.
2.5.2 Các phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi chủ yếu
2.5.1.1 Xử lý chất thải rắn chăn nuôi lợn bằng phương pháp ủ
Xây dựng công trình xử lý chất thải chăn nuôi:
- Đối với chăn nuôi theo quy mô lớn và theo phương thức công nghiệp yêu cầu các hộ chăn nuôi phải xây hầm khí sinh học để tận dụng chất thải chăn nuôi sản xuất khí gas cho đun nấu và không gây ô nhiễm môi trường, tuyệt đố không xả chất thải chăn nuôi chưa được xử lý ra môi trường
- Đối với chăn nuôi quy mô nộng hộ nhỏ lẻ thì trong quy hoạch chuồng nuôi phải xây dựng bể chứa chất thải lỏng và ủ phân có nắp đập Hằng ngày tiến hành thu gom phân, rác nước khi xịt nước rửa chuồng để đưa vào hố ủ hoai mục làm phân bón Trại đã dùng vôi bột + đất bột + phân lân + lá phân xanh
29 hoặc trấu cùng ủ với phân Phân ủ hoai mục rất tốt vừa không có mùi, hàm lƣợng hữu cơ cao và đạm cao lại vừa không tồn tại mầm bệnh Để ủ đƣợc phân gia súc làm phân bón, bà con có thể thực hiện theo một số phương pháp ủ chủ yếu sau:
Một là: Phương pháp ủ nguội: Bà con gom phân chuồng về hố và nén chặt, bổ sung thêm chất độn chuồng nhƣ rác, trấu, rơm rạ và giữ độ ẩm khoảng 70% dùng bạt hay nilông che phủ trên miệng ống, bổ sung còn có thể sử dụng phân này cho các cây trồng, làm giá thể trồng rau rất tốt
Hai là: Phương pháp ủ nóng: được chuẩn bị như ủ nguội nhưng không cần nén chặt hố phân và định kì 2 tháng dùng dụng cụ xáo đống phân lại, cứ làm nhƣ thế khoảng 2 lần là phân hoai mục, sau 3-4 tháng là phân hoai mục hoàn toàn Cần làm ống thoát hơi nước từ đống phân lên cao để hạn chế mùi hôi phát tán