Mô hình toán học cho mối liên hệ dài hạn giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát Mô hình toán học cho mối liên hệ dài hạn giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát Mô hình toán học cho mối liên hệ dài hạn giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: TOÁN TIN
HÀ NỘI – 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
TRẦN TUẤN THANH
MÔ HÌNH TOÁN HỌC CHO MỐI LIÊN HỆ DÀI HẠN GIỮA LÃI SUẤT DANH NGHĨA VÀ LẠM PHÁT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành: TOÁN TIN
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Phương Anh
GS TS Nguyễn Khắc Minh
Trang 3
M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
DANH SÁCH BẢNG, HÌNH 5
MỞ ĐẦU 6
ỆT NAM 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Lạm phát 8
1.1.2 Lãi suất 10
1.2 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam 13
1.3 Thực trạng lãi suất và Các chính sách lãi suất của Việt Nam 17
1.3.1 Thực trạng lãi suất Việt Nam 17
1.3.2 Các chính sách lãi suất của Việt Nam giai đoạn 1996 đến nay 20
1.4 Mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất 23
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 29
2.1 Sơ lược lý thuyết 29
2.2 Nghiên cứu thực nghiệm 31
2.2.1 Nghiên cứu nước ngoài: 31
2.2.2 Nghiên cứu trong nước: 36
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP LUẬN 41
3.1 Định dạng mô hình 41
3.2 Mô hình thực nghiệm 45
Trang 43.2.1 Mô hình thực nghiệm Fisher 45
3.2.2 Mô hình Var 45
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 48
4.1 Mô tả số liệu được sử dụng 48
4.2 Kết quả ước lượng thực nghiệm 49
4.2.1 Kết quả ước lượng của dạng Fisher: 49
4.2.2 Kết quả ước lượng của Mô hình Var 50
4.2.3 Kết quả dự báo của mô hình 55
4.2.4 Tổng quan chung về kết quả ước lượng thực nghiệm 57
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 58
1 Kết luận 58
2 Một số khuyến nghị chính sách 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 65
1 Kiểm định nghiệm đơn vị 65
2 Kiểm định quan hệ nhân quả 67
3 Kiểm định tính ổn định của Mô hình 69
Trang 5L ỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin chân thành cảm ơn GS.TS NGUYỄN KHẮC MINH và TS NGUYỄN PHƯƠNG ANH đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong thời gian qua
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Viện Toán Ứng dụng và Tin
học và Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã dạy bảo, cung cấp những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người luôn cổ vũ, quan tâm
và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập cũng như lúc làm luận văn
Do thời gian và kiến thức có hạn nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu xót nhất định Em rất mong nhận được sự góp ý quý báu của thầy cô và các bạn
Hà N ội, tháng 3 năm 2013
TRẦN TUẤN THANH
Trang 6L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
HỌC VIÊN CAO HỌC
TRẦN TUẤN THANH
Trang 7DANH SÁCH B ẢNG, HÌNH
Bảng 1.1: Lạm phát theo năm của Việt Nam ……….……….…….14
Bảng 1.2: Lạm phát của Việt Nam so với một số nước trong khu vực …… …… 15
Hình 1.3: Lạm phát của Việt Nam giai đoạn từ 1996 – 2012……… ……… … 16
Hình 1.4: Chỉ số CPI theo tháng so với cùng kỳ năm trước ……… 17
Hình 1.5: Lãi suất của Việt Nam so với một số nước trong khu vực ……… …….18
Hình 1.6: Lãi suất theo tháng của Việt Nam ……… ………20
Hình 1.7: Lạm phát và Lãi suất Việt Nam theo tháng giai đoạn 1996 - 2012 …… 25
Hình 1.8: Lãi suất thực (áp dụng với tiền gửi 1 tháng năm 2011 - 2012) … ….27
Bảng 4.1: Mô tả thống kê cho các biến ………48
Hình 4.2: Kiểm định tính tự tương quan của Nhiễu …… ……….… 52
Hình 4.3: Phần dư của các biến trong mô hình VAR ……… 53
Bảng 4.4: Phản ứng của các cú sốc ……… 54
Hình 4.5: Bảng phần dư của mô hình dự báo lạm phát……… 55
Bảng 4.6: Kết quả dự báo Lãi suất cho các tháng của năm 2013 ……….……56
Hình 4.7: Biểu đồ dự báo lãi suất năm 2013 ………56
Trang 8M Ở ĐẦU
Nước ta đang trong quá trình xây d ựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa với cơ chế quản lý nền kinh tế đã có nhiều thay đổi và đang tiếp tục được hoàn thiện Trong quá trình chuyển đổi đó, nền kinh tế nước ta đã có những biến động phức tạp
và những thay đổi đáng kể trong công tác phát triển và ổn định kinh tế
Trong bối cảnh ấy, các chính sách kinh tế, các quyết định điều hành chỉ đạo, quản
lý nền kinh tế đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển Kinh tế - Xã hội
của đất nước Thực tiễn phát triển Kinh tế - Xã hội ở nước ta hiện nay đòi h ỏi các chính sách kinh tế không chỉ phải được ban hành đồng bộ, nhanh chóng, kịp thời và có tính khả thi cao mà còn phải luôn được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn biến động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước cũng như quốc tế, và đặc biệt là vấn đề lạm phát
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, lạm phát luôn cao và có thể bùng nổ bất cứ lúc nào Do đó, cần phải có những nghiên cứu về lạm phát và nghiên cứu các công cụ có
thể kiềm chế được lạm phát Có rất nhiều công cụ để kiềm chế lạm phát, tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng, công cụ lãi suất là công cụ hữu hiệu nhất trong kiềm chế lạm phát Trong tiến trình đó, nhiều mô hình và phương pháp nghiên cứu đã được đề xuất kiểm nghiệm, trong đó phải kể đến mô hình do Ir Fisher đưa ra vào năm 1930 Ông cho r ằng
lạm phát và lãi suất danh nghĩa có mối quan hệ dài hạn trong quá trình vận động của nền kinh tế, đồng thời việc áp dụng các kết quả này cũng đã mang l ại nhiều thành quả khả quan
Với cách đặt vấn đề như trên, trải qua quá trình học tập nghiên cứu và được sự giúp
đỡ của giáo viên hướng dẫn, tôi đã chọn đề tài “Mô hình Toán học cho mối liên hệ dài hạn
giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
Mục tiêu cơ bản của luận văn là: Thứ nhất, hệ thống hóa lý thuyết và các nghiên cứu
thực nghiệm về mối liên hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát trong dài hạn trên thế giới
Trang 9cũng như ở Việt Nam; thứ hai là áp dụng giả thuyết của Ir Fisher để đề xuất mô hình thực nghiệm và sử dụng số liệu theo tháng của Tổng cục Thống kê về lãi suất danh nghĩa và làm phát trong giai đoạn từ năm 1996 đến 2012 (tần suất dữ liệu được thống kê theo tháng) để đưa ra kết quả thực nghiệm ban đầu; và thứ ba là thông qua quá trình nghiên cứu, luận văn mong muốn đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm kiềm chế lạm phát thông qua công
cụ lãi suất
C ấu trúc của luận văn gồm 4 chương:
những khái niệm cơ bản về lạm phát và lãi suất Bên cạnh đó, chương này phân tích thực
trạng của lạm phát, lãi suất và mối liên hệ của chúng trong thực tiễn ở Việt Nam
lý thuyết và một số kết quả thực nghiệm về lạm phát và lãi suất ở trong và ngoài nước
Chương III: Phương pháp luận: Chương này hệ thống lại phương pháp và đưa ra mô hình áp dụng cho trường hợp cụ thể của Việt Nam
Chương IV: Kết quả thự : Chương này giới thiệu một số kết quả thực nghiệm ban đầu và giải thích các kết quả của mô hình thu được
ột số kết luận và khuyến nghị này tóm lược lại
những kết luận chính trong phần mô hình thực nghiệm ở Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị chính sách với mong muốn đóng góp một phần vào nền tảng nghiên cứu lạm phát và lãi suất ở Việt nam
Trang 10, các
* Khái ni ệm lạm phát
Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian
của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và dịch vụ so với một thời điểm trước đó, thường
là tháng, quý hoặc năm Như vậy lạm phát được đánh giá bằng cách so sánh giá cả của một
loại hàng hoá vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượng không thay đổi
Khi giá trị của hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền
giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số lượng hàng hoá ít hơn so với thời kỳ trước Có nhiều dạng lạm phát khác nhau, như lạm phát một con
số (single-digit inflation), lạm phát hai con số (double-digit inflation), lạm phát phi mã (galloping inflation), siêu lạm phát (hyper inflation)
* Phân lo ại lạm phát và các nguyên nhân của lạm phát
- L ạm phát do cầu kéo
Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó tăng lên mức cao hơn Lạm phát do cầu kéo thường là do chính phủ chi tiêu quá mức khi thực hiện chính sách thu chi ngân sách mở rộng, hoặc do hộ gia đình tăng chi tiêu tiêu dùng quá mức bình thường hoặc do khu vực hộ gia đình có nguồn thu nhập không do sản xuất như viện trợ nước ngoài, hay thu nhập do giá cả xuất khẩu tăng đột biến
Trang 11- L ạm phát do cơ cấu
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho ngư ời lao động Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình Nhưng đ ể đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Đây cũng được coi là một nguyên nhân cơ bản dẫn đến lạm phát
ngoại tệ vào để giữ giá cho đồng nội tệ so với ngoại tệ, hay do mua công trái theo yêu cầu của nhà nước , khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên hoặc
có thể do tỷ giá hối đoái được điều chỉnh không phù hợp
Trang 12- L ạm phát do kỳ vọng: lạm phát trong quá khứ gây kỳ vọng cho người dân và doanh
nghiệp có tâm lý là lạm phát sẽ tiếp tục xảy ra thậm chí còn cao hơn và chính k ỳ vọng ấy thúc đẩy lao động đòi tăng lương, doanh nghiệp tăng giá bán sản phẩm, và từ đó có thể làm
lạm phát trở lên trầm trọng hơn
1.1.2 Lãi su ất
* Khái ni ệm về lãi suất
Lãi suất là một phạm trù kinh tế quan trọng được đề cập trên nhiều lĩnh vực của đời
sống kinh tế từ tiết kiệm, đầu tư, kiểm soát lạm Nhà nước sử dụng lãi suất như là một công cụ của chính sách tiền tệ để điều tiết các quan hệ kinh tế trong một nền kinh tế với
mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng Như vậy, lãi suất có một vai trò quan trọng và với các phương thức tác động vào lãi suất của nhà nước hình thành nên nhiều quan điểm, xu hướng khác nhau về lãi suất và điều hành lãi suất Hay nói một cách khác, lãi suất là công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia, do
- cơ quan thay mặt Nhà nước thực thi chính sách tài chính tiền tệ - nắm giữ, và
sử dụng nhằm điều chỉnh và can thiệp vào thị trường giúp hạn chế và khắc phục những yếu kém của nền kinh tế
Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay; là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu
Mặt khác, trong nền kinh tế luôn có những chủ thể tạm thời dư thừa vốn, cùng lúc đó
có những người có cơ hội đầu tư sinh lợi, cần vốn song lại thiếu vốn, thị trường tài chính
ra đời làm thông suốt quá trình chuyển vốn từ người thừa vốn sang người cần vốn, các chủ
thể qua quan hệ vay mượn tín dụng hoặc mua bán các công cụ nợ đều đạt được mục đích
Trang 13của mình; ngư ời thừa vốn vừa bảo đảm được vốn vừa thu được lợi, người thiếu vốn vừa được đáp ứng đủ cho đàu tư Do vậy, theo quan điểm thị trường, lãi suất được hình thành như giá cả của một loại hàng hoá (ở đây là vốn), nó là chi phí mà người đi vay phải trả cho người cho vay để được quyền sử dụng vốn, nó vận động tuân theo quy luật cung cầu, xác định trên cơ sở cân bằng giữa nhu cầu về vốn vá cung về vốn trên thị trường Như vậy, lãi
suất chính là tín hiệu thị trường tham gia vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và phân
bổ nguồn vốn một cách hợp lý
Ngoài ra khái niệm lãi suất như là chi phí cơ hội của việc giữ tiền cũng tương đối phổ
biến
Trong đời sống hàng ngày chúng ta cũng g ặp rất nhiều loại lãi suất khác nhau như lãi
suất các chứng khoán, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất danh nghĩa - lãi
suất thực, lãi suất trần - sàn Sự phân biệt các loại lãi suất này dựa trên sự liên quan đến vai trò công cụ của chính sách tiền tệ, chỉ số lạm phát hoặc kỳ hạn và rủi ro của mỗi loại
chứng khoán Tuy nhiên một điều quan trọng là hầu hết các loại lãi suất này đều diễn biến theo nhau
* Cơ chế xác định lãi suất
Từ những khái niệm trên về lãi suất ở trên, ta có thể mô hình hoá những yếu tố tham gia vào việc hình thành nên lãi suất trong nền kinh tế
Tài chính gián tiếp (NHTM)
Trang 14Như vậy, có hai yếu tố tham gia vào hình thành lãi suất của thị trường:
+ Nhóm yếu tố thứ nhất thuộc lực lượng thị trườ m này bao gồm người cho vay, người đi vay và các Ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức Tài chính trung gian Các
Ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức Tài chính trung gian có vai trò nhất định
Những yếu tố này tham gia vào việc xác định lãi
suất tuân theo qui luật của thị trường Nghĩa là những yếu tố này xác định mức lãi suất cân
bằng thông qua mức cung và cầu về vốn
+ Nhóm yếu tố thứ hai là các yếu tố thuộc Chính sách tiền tệ: bao gồm các Cơ quan có
có nhiệm vụ phát hành tiền, quản lý hành chính hệ thống Ngân hàng, xây dựng chính sách
tiền tệ Tuy nhiên, mục tiêu của công cụ lãi suất mà sử dụng nhằm
mục đích là ổn định tiền tệ, tạo việc làm và tăng trưởng kinh t sử dụng công cụ lãi suất phụ thuộc vào chính sách điều hành lãi suất của ở mỗi giai đoạn khác nhau của nền kinh tế Xây dựng chính sách lãi suất đúng đắn nhằm hướng dẫn phân bổ hợp lí nguồn vốn, huy động được tất cả các nguồn lực tiềm năng trong nền kinh
tế, kích thích đầu tư, phù hợp tỷ giá và tạo thuận lợi cho hoạt động ngoại thương, mang lại
đà phát triển vững mạnh cho nền kinh tế là một yêu cầu bức thiết luôn được đặt ra cho mỗi
quốc gia cũng như các nhà hoạch định chính sách của nó
có thể tác động tới lãi suất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng cách áp đặt một mức lãi suất cho thị trường hoặc sử dụng các công cụ tác động gián tiếp đến mức lãi suất cân bằng của thị trường Các công cụ này bao gồm:
- D ự trữ bắt buộc là công cụ của chính sách tiền tệ Các Ngân hàng thương mại được yêu cầu phải giữ lại một tỉ lệ phần trăm các khoản tiền gửi của họ dưới dạng dự trữ
hoặc là bằng tiền mặt tại quỹ hoặc là bằng tiền gửi tại quỹ dự trữ của
Sự thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc có tác động mạnh mẽ lên khả năng cho vay của các Tổ
chức tín dụng và cho cả hệ thống Tài chính
Trang 15- Lãi su ất tái chiết khấu: là lãi suất mà cho các tổ chức tín dụng vay trên cơ sở những chứng từ có giá của Ngân hàng thương mại
thông qua lãi suất tái chiết khấu tác động vào lãi suất thị trường
- Nghi ệp vụ thị trường mở: là nghiệp vụ mua bán chứng khoán (thường là chứng khoán
nhà nước) trên thị trường tiền tệ ngắn hạn muốn đẩy mạnh tăng trưởng, mở rộng tín dụng, bằng cách mua vào các chứng khoán có giá làm cho cung về
tiền tệ tăng lên, dẫn tới làm giảm lãi suất Ngược lại, khi muốn thu
hẹp tín dụng bằng cách bán ra các chứng khoán có giá làm cho cung tiền tệ giảm xuống
dẫn tới tăng lãi suất trên thị trường tiền tệ
- H ợp đồng mua lại: là hợp đồng bán những chứng khoán, trong đó người bán cam kết
sẽ mua lại chứng khoán này vào một thời điểm trong tương lai với mức giá được xác định trước trong hợp đồng Như vậy, thực chất hợp đồng mua bán lại là hợp đồng cho vay có
thế chấp, trong đó chứng khoán đóng vai trò th ế chấp Khi mua thế chấp (tức cho vay),
bơm tiền vào thị trường Tài chính và do vậy làm giảm lãi suất ngắn
hạn Khi bán thế chấp từ tài khoản của mình, rút tiền ra khỏi thị trường tiền tệ và do đó tạo ra sức ép làm tăng lãi suất ngắn hạn
Nước ta đang trong quá trình xây d ựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với cơ chế quản lý nền kinh tế đã có nhiều thay đổi và đang tiếp tục được hoàn thiện Trong quá trình chuyển đổi đó, nền kinh tế nước ta đã có nh ững biến động phức tạp và
những thay đổi đáng kể trong công tác phát triển và ổn định kinh tế Cụ thể, tỷ lệ lạm phát
đã dao động rất lớn từ mức cao 453,5% (1986) tới mức rất thấp, thậm chí âm -1,6% (2000)
và chỉ số này vẫn có những dao động khá mạnh trong những năm gần đây Đây là đặc trưng riêng về lạm phát của hầu hết các nước đang phát triển Như vậy, Việt Nam đã có kinh nghiệm trong việc chống và giảm dần lạm phát, khi có sự cải cách mạnh mẽ hướng
tới tự do hóa nền kinh tế, tiếp nhận đầu tư nước ngoài và thúc đẩy ngoại thương
Trang 16Có thể thấy rằng, lạm phát ở Việt Nam không ổn định và có xu hướng tăng dần Trước năm 2000, tốc độ lạm phát giảm và thậm chí âm các năm liên tiếp 2000 và 2001 với
mức tương ứng -1,6% và -0,4% Tuy nhiên, lạm phát cao đã xuất hiện sau năm 2002 bằng
sự đảo chiều và tăng nhanh tới 4,4% (từ -0,4% lên 4%) so với năm trước Những năm tiếp theo, chỉ số lạm phát không giảm mà tiếp tục tăng và bùng nổ năm 2007 và 2011 với mức
lạm phát tương ứng là 19.9% và 18.12% so với thời điểm cuối năm trước Điều này cho
thấy dường như Việt Nam đã đánh đ ổi lạm phát cho tăng trưởng và chấp nhận một mức cao nhất định để đạt được phát triển kinh tế
Bảng 1.1: Lạm phát theo năm của Việt Nam
Ngu ồn: Tổng cục thống kê
Trang 17Bảng 1.2: Lạm phát của Việt Nam so với một số nước trong khu vực Đơn vị: %
China Indonesia Malaysia Philippines Thailand Vietnam
Ngu ồn: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Có thể thấy rằng, lạm phát của các nước đang phát triển hầu hết có những biến động
mạnh và phức tạp Cụ thể, trong giai đoạn 1996-2000, đối với các nước trong khu vực, Indonesia là nước có lạm phát trung bình giai đo ạn cao nhất, đạt khoảng 21,12% và lạm phát của Philippines tương ứng là 7,29% Trong khi đó, Lạm phát của Trung Quốc chỉ là 1,27% và lạm phát của Việt Nam, Malaysia và Thái lan chỉ dao động trong khoảng từ 3-4% Như vậy, có thể thấy xu thế lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn này khá tương đồng với lạm phát của Malaysia và Thái lan
Trong hai giai đoạn tiếp theo, giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010, trong khi các nước trên có xu hướng giảm lạm phát hoặc lạm phát chỉ tăng nhẹ, thì lạm phát của Việt Nam trong hai giai đoạn này lại tăng khá nhanh Cụ thể, lạm phát trung bình của Việt Nam giai đoạn 2001-2005 chỉ là 5,11% thì đ ến giai đoạn 2006-2010 con số này đã lên đ ến 11,5% Nguyên nhân ở đây là do trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010 nền kinh tế nước ta
đã có những biến đổi nhanh chóng và chấp nhận một mức lạm phát cao để có được tăng trưởng cao Bên cạnh đó là sự tăng lên của một lượng vốn lớn, hay chính là hiện tượng
tăng vốn “ồ ạt” cũng gây ra mức lạm phát khá cao cho nền kinh tế
Như vậy, trong hai năm 2011 và 2012, so với mức lạm phát khá ổn định của các nước trong khu vực thì lạm phát của Việt Nam lại có những biến động mạnh mẽ Cụ thể, mức
lạm phát năm 2011 lên tới 18,13% và năm 2012 tương ứng là 6,8% Trong khi đó, lạm
Trang 18phát của các nước trong khu vực chỉ khoảng từ 3-5% trong năm 2011 và trong năm 2012 con số này có vẫn mang tính chất giảm và khá ổn định Đối với Indonesia, một nước có tình hình lạm phát khá tương đồng với Việt Nam thì lạm phát trong hai năm 2011 và 2012
là nhỏ hơn 100%, tức là lạm phát theo tháng của năm 2000 và 2001 giảm so với cùng kỳ các tháng trước đó Trong các năm tiếp theo, bắt đầu từ năm 2002, lạm phát của các tháng
có xu hướng tăng dần và không ổn định Cụ thể, vào tháng 8 năm 2008, chỉ số lạm phát này đạt cao nhất vào khoảng 128,32% so với cùng kỳ năm trước Đây là một chỉ số lạm phát khá cao, và tính trung bình lạm phát năm 2008 của Việt Nam là cao, đạt 19,9% so với
cuối thời điểm tháng 12 năm 2011
Trang 19Một đặc điểm nổi bật nữa là lạm phát theo tháng của Việt Nam từ năm 2010 đến nay bắt đầu có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước Điều này dẫn đến một mức lạm phát khá cao cho năm 2011 tương ứng là 18,12% so với tháng 12 năm 2011 và lạm phát
của tháng 8 năm 2011 là cao nhất, với mức lạm phát là 123,02% so với cùng kỳ năm trước
Hình 1.4: Chỉ số CPI theo tháng so với cùng kỳ năm trước
Ngu ồn: Tổng cục thống kê
Như vậy, nhìn một cách tổng thể, lạm phát của Việt Nam từ năm 1996 đến nay đã có
những thay đổi phức tạp và những thay đổi này gắn liến với quá trình phát triển kinh tế, trong đó, Việt Nam chấp nhận một mức lạm phát cao để được mức tăng trưởng cao
Thời gian qua Ngân hàng Nhà nước liên tục đổi mới chính sách Nhà nước theo diễn
biến kinh tế và lạm phát, thực hiện lãi suất thực dương, lãi suất tiền gửi cao hơn lạm phát,
bảo toàn giá trị đồng tiền cho người gửi, lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động, lãi suất dài hạn cao hơn lãi suất ngắn hạn, sử lý hài hoà cho mối quan hệ lợi ích cho người gửi tiền,
Trang 20người đi vay và Ngân hàng, mối quan hệ giữa lãi suất nội tệ và ngoại tệ, giữa lãi suất và
lạm phát
Hình 1.5: Lãi suất của Việt Nam so với một số nước trong khu vực
Ngu ồn: ADB
Có thể thấy rằng, lãi suất của Việt Nam so với một số nước trong khu vực thì có những
biến động phức tạp hơn Cụ thể, đối với các nước như Indonesia và Philippines lãi suất luôn có xu hướng giảm từ năm 2000 tới nay, lãi suất của Malaysia, Thái Lan và Trung
Quốc có những biến động nhỏ và ít thay đổi trong suốt giai đoạn hơn một thập kỷ qua Trong khi đó, lãi su ất của Việt Nam biến động khá thất thường và mức dao động của lãi
suất là khá lớn Lãi suất của Việt nam năm 2000 chỉ là 10,55% thì đ ến năm 2008 và 2011
lần lượt là 15,78% và 16,95% Như phân tích ở trên về lạm phát ở Việt Nam, thì có thể
thấy năm 2008 và năm 2011 Việt Nam có mức lạm phát là khá cao Như vậy, có thể thấy,
sự tăng lên của lãi suất cũng tương ứng với sự tăng lên của lạm phát Mặt khác, lãi suất của
Việt Nam do Ngân hàng nhà nước qui định, do đó, với những mục tiêu cụ thể là kiềm chế
lạm phát, Ngân hàng nhà nước sử dụng công cụ lãi suất là tăng lãi su ất làm giảm lượng
tiền lưu thông trong thị trường nhằm mục đích kiềm chế lạm phát cho nền kinh tế
Trang 21Để thấy rõ đư ợc những điều chỉnh của Ngân hàng nhà nước đối với lãi suất của Việt Nam, ta cần nghiên cứu kỹ các Quyết định và các Thông tư của Ngân hàng nhà nước Bên
cạnh đó, ta cần phải nghiên cứu kỹ mức lãi suất cho từng tháng
Có thể thấy rằng, nếu xem xét mức lãi suất theo tháng thì lãi suất của những tháng đầu năm 1996 là khá cao và ở mức 21% Tuy nhiên, lãi suất của những tháng tiếp theo lại có
xu hướng giảm dần và giảm đến mức thấp nhất là 8,46% vào tháng 4 và tháng 5 năm 2002 Trong giai đoạn từ tháng 4 năm 2001 đến hết năm 2004 thì lãi su ất của Việt Nam theo tháng khá ổn định và luôn dưới 10% Trong giai đoạn tiếp theo, từ năm 2005 đến 2007 lãi
suất của Việt Nam theo tháng chỉ ổn định quanh mức 11% Đến năm 2008, với những biến động phức tạp của nền kinh tế cũng như những biến động phức tạp của lạm phát, Ngân hàng nhà nước đã đi ều chỉnh mức lãi suất cao, có tháng lên tới 20,19% nhằm mục đích
kiềm chết lạm phát Nếu nghiên cứu kỹ có thể thấy, sự tăng lãi suất trong năm 2008 là hệ
quả tất yếu của sự bùng nổ về vốn của năm 20071
Sự tăng lãi su ất này nhằm hạn chế lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế để giảm lạm phát đang tăng cao trong cùng thời kỳ Năm 2009, lãi su ất có nhiều chuyển biến tích cực khi luôn ở mức thấp hơn 10% Tuy nhiên, với sự bất ổn vĩ mô và lạm phát cao năm 2011, buộc Ngân hàng nhà nước phải sử
dụng công cụ lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát Do vậy, mức lãi suất chung theo các tháng
của năm 2011 là khá cao và cao nhất vào tháng 9 và tháng 10 với mức lãi suất là 19%
1 Theo s ố liệu của tổng cục thống kê năm 2007: Tỷ số vốn đầu tư toàn xã hội trên GDP là 46,52% và tốc độ tăng tích
l ũy tài sản cố định là 27,05%
Trang 22Hình 1.6: Lãi suất theo tháng của Việt Nam
Ngu ồn: Ngân hàng nhà nước
- Giai đoạn 1996-1998: Các chính sách về lãi suất của Ngân hàng nhà nước chủ yếu
tập trung vào qui định các mức trần lãi suất và mức cho vay
- Giai đoạn từ 21/01/1998 đến 08/2000:
Tại kì họp thứ hai, tháng 12/1997, Quốc hội khoá IX cho phép bỏ mức chênh lệch 0,35%/tháng, đồng thời để thu hẹp sự cách biệt giữa mức lãi suất cho vay giữa thành thị
và nông thôn Ngân hàng nhà nước với Quyết định số 39/1998/QĐ-NHNN, quy định các
mức lãi suất mới và khoảng cách giữa các trần cũng không còn xa nhau như trước
- Trần lãi suất cho vay ngắn hạn 1,2%/tháng
- Trần lãi suất cho vay trung dài hạn 1,25%/tháng
- Trần lãi suất cho vay quỹ tín dụng cho vay các thành viên 1,5%/tháng Việc quản lý lãi
suất theo trên có những ưu điểm sau:
Trang 23- , các Tổ chức tín dụng được tự do định mức lãi suất cho vay tiền gửi cụ thể, linh hoạt, phù hợp điều kiện kinh doanh, thực hiện điều kiện kinh doanh, thực hiện cạnh tranh lành mạnh, từng bước tự do hoá lãi suất
- Phù hợp với đặc điểm, chi phí hoạt động Ngân hàng ở các vùng khác nhau
- Tạo mặt bằng chung về lãi suất trong cả nước, xoá bỏ lãi suất thoả thuận, vượt quá
xa mức lãi suất do Ngân hàng nhà nước quy định
- Có trần khống chế sẽ bảo vệ lợi ích người vay, Tổ chức tín dụng và người gửi
tiền
- Đảm bảo vai trò quản lý của Ngân hàng nhà nước về lãi suất trong giai đoạn đầu của
thị trường tiền tệ mới hình thành trong nền kinh tế thị trường
- Lãi suất tiền gửi được hoàn toàn tự do
Tuy nhiên, quản lý theo trần lãi suất là cách quản lý hành chính trong giai đo ạn nền kinh tế thị trường còn sơ khai, chưa phát huy được hết mặt tích cực, không được điều chỉnh theo quan hệ cung cầu vốn và điều kiện khó khăn thuận lợi của từng vùng
- Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến nay: Lãi suất cơ bản được hình thành trên cơ sở nguyên
tắc thị trường nhưng với bước đi thích hợp thận trọng, phù hợp với điều kiện thực tế của thị trường tiền tệ; từng bước tiến tới tự do hoá lãi suất, quốc tế hoá hoạt động tài chính trong nước, đồng thời với các biện pháp phát triển thị trường tiền tệ và nâng cao năng lực điều hành
của các tổ chức tín dụng, xử lý lãi suất đồng Việt Nam trong mối quan hệ với lãi suất ngoại tệ
và chính sách tỷ giá, quản lý ngoại hối Cụ thể là:
Đối với lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam: Ngân hàng nhà nước bãi bỏ quy định trần lãi suất cho vay của Tổ chức tín dụng với khách hàng, chuyển sang xác định và công bố lãi
suất cơ bản và tỷ lệ biên độ %, dựa trên việc tham khảo lãi suất cho vay ngắn hạn thông thường các Ngân hàng thương mại áp dụng với khách hàng vay có uy tín trong việc sử dụng
vốn vay, trả nợ, có rủi ro thấp
Trang 24Lãi suất cho vay và huy động của Tổ chức tín dụng gắn với lãi suất cơ bản Theo đó lãi
suất cho vay của tổ chức tín dụng cao nhất = lãi suất cơ bản + tỷ lệ %
Để xác định đúng mức lãi suất cơ bản, quá trình xác định cần phải quán triệt các yêu cầu:
- Từng bước tự do hoá lãi suất nhưng vẫn đảm bảo được sự kiểm soát của Nhà nước đối với thị trường, phù hợp với mục tiêu và diễn biến kinh tế vĩ mô, tiến trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, điều kiện thực tế thị trường tiền tệ trong nước và hạn chế đến
mức tối đa rủi ro và tác động xấu của biến động thị trường tiền tệ thế giới
- Phù hợp với hội nhập thị trường tài chính khu vực và quỗc tế, lãi suất trong nước cần theo sát lãi suất thị trường quốc tế, nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc quá trình tự do hoá lãi suất của các nước từ đó áp dụng cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động phức tạp, do đó Ngân hàng nhà nước đã có những qui định về các mức lãi suất nhất định Tuy nhiên, hầu hết các qui định về lãi suất của Ngân hàng nhà nước đều nhằm mục đích ổn định vĩ mô và kiềm
chế lạm phát
Trong đó, những bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước ngày càng được bộc lộ rõ nét từ
cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới năm 2008 Trong bối cảnh này, chính sách tiền
tệ thắt chặt đã đư ợc áp dụng từ năm 2010 và được cụ thể hóa từ Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 Đây có thể coi là bước ngoặt của Chính phủ Việt Nam khi thực hiện các
giải pháp đồng bộ trước các bất ổn gia tăng trong nền kinh tế Công cụ lãi suất đã đư ợc phát huy tối đa tác dụng Sau khi tăng lãi su ất cơ bản tháng 11/2010, điều chỉnh giảm giá VND (giảm 9,3% giá trị VND so với USD) và thu hẹp biên độ dao động (từ +- 3% xuống +-1%) vào ngày 11/2/2011, ngay sau Nghị quyết 11, đã áp trần lãi
suất huy động VND (14%/năm) và áp trần lãi suất huy động USD (2-3%/năm) là nhằm thu hút tiền mặt trong dân, giảm bớt dòng tiền trong nền kinh tế Việc áp dụng trần lãi suất huy động khá cao khiến mức lãi suất cho vay cũng ở mức cao, điều này đã gây khó khăn r ất nhiều cho hoạt động cho vay vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 25Trong năm 2012, Ngân hàng nhà nước đã ra hàng loạt các chính sách về lãi suất cho vay như: Thông tư 05; 08; 17 và 19/2012/TT-NHNN là những qui định và bổ sung đối với lãi suất
tiền gửi tại các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài Trong khi đó, các thông
tư 14 và 20/2012/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước qui định lãi suất cho vay ngắn hạn và
104 và 188/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính qui định lãi suất cho vay tín dụng đầu tư, tin dụng
xuất khẩu của nhà nước và những hỗ trợ về lãi suất vay vốn Đây là những chính sách lãi suất
nhằm thúc đẩy và hỗ trợ tăng trưởng
Cụ thể, trong tháng 3 năm 2012, đã điều chỉnh giảm 1 điểm
phần trăm đối với các mức lãi suất điều hành và trần lãi suất huy động VND của các tổ
chức tín dụng nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay Lãi suất huy động USD phổ biến 1,9-2%/năm đối với tiền gửi của dân cư và 0,5%/năm đối với tiền
gửi của tổ chức kinh tế, kéo theo lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 6-7,5%/năm đối
với ngắn hạn, 7,5-9%/năm đối với trung và dài hạn Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế hiện
tại, lãi suất vẫn còn khá cao nên các nhà đ ầu tư cân nhắc trong vấn đề vay vốn Mặt khác,
mặc dù lãi suất đã giảm nhưng các doanh nghiệp vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn vay, và do vậy, nguồn vốn cho quá trình sản xuất vẫn chưa thông, gây ra tình
trạng tồn kho tăng cao và sản xuất đang dần rơi vào tình trạng trì trệ nghiêm trọng
Như vậy, ti n trình thực hiện lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt nam ngày càng rõ ràng và các chính sách về lãi suất trong thời gian qua đ ã được điều chỉnh linh hoạt và phù hợp
với những biến động của nề Trong đó, chủ yếu các công cụ lãi suất được sử dụng với
mục đích ổn định vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong nhiều thập kỷ qua, lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữ lãi suất và lạm phát Fisher chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát cao Có nhiều nguyên nhân gây nên lạm phát và cũng có nhi ều biện pháp để kiểm soát lạm phát, trong đó công cụ lãi suất là một giải pháp có hiệu quả tích cực Trong thời kỳ lạm phát, tăng
Trang 26lãi suất sẽ cho phép hệ thống Ngân hàng có thể thu hút phần lớn số tiền có trong lưu thông khiến cho đồng tiền trong lưu thông giảm; cơ số tiền và lượng tiền cung ứng giảm, lạm phát được kiềm chế
Fisher chỉ ra rằng, mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất danh nghĩa mà trước hết là lãi suất tiền gửi, do các phương trình xác đ ịnh lãi suất theo đề xuất của Fisher được viết dưới dạng sau :
lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa - tỉ lệ lạm phát Hay: lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực tế + tỉ lệ lạm phát
Như vậy, nếu lạm phát cao thì lãi suất danh nghĩa cũng tăng cao hơn m ức lãi suất danh nghĩa cho vay, về nguyên tắc lãi suất danh nghĩa cho vay cao hơn lãi suất danh nghĩa huy động sẽ làm tăng chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp đẩy giá thành lên cao, giá bán lên cao đưa đến vòng xoáy gia tăng l ạm phát Tuy nhiên khi tăng cao lãi su ất danh nghĩa đặc biệt là lãi suất tiền gửi sẽ tăng tiết kiệm giảm tiêu dùng dẫn đến lạm phát giảm và lãi
suất danh nghĩa h ạ dần theo nguyên tắc lãi suất thực dương sẽ kích thích đầu tư tạo việc làm giảm thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế
Như vậy, giữa lãi suất và lạm phát luôn có những mối liên hệ nhất định trong một
nền kinh tế, trên phương diện lý thuyết chúng ta có thể xem xét mối liên hệ giữa lạm phát
và lãi suât thông qua sơ đồ bên dưới:
Lạm phát cao
Đầu tư thấp
Lạm phát thấp
Đầu tư cao
Trang 27Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là sự biểu hiện tập trung về cân đối vĩ mô như cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư, thu chi ngân sách và cán cân thanh toán Quốc tế
Trong trường hợp cụ thể ở Việt Nam, vào cuối thập kỷ 80 Việt Nam đã tri ển khai đồng bộ chống lạm phát thành công, xoá bỏ cơ chế hành chính quan liêu, giải phóng lao động sản xuất từng bước tự do hoá kinh doanh đặc biệt tăng lãi su ất tiền gửi rất cao, thi hành chính sách lãi suất thực dương, hạn chế và chấm dứt phát hành bù tăng thâm hụt ngân sách, thống nhất tỷ giá hối đoái và từng bước thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt
Nguyên nhân lạm phát trước thập kỉ 90 ở Việt Nam là do nền sản xuất bị kìm hãm
bởi cơ chế hành chính quan liêu kìm hãm sản xuất (kinh tế suy thoái) và cơ chế bao cấp phát hành bù đắp thiếu hụt ngân sách gây lạm phát phi mã
Sau năm 1990, nền kinh tế Việt Nam có những đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt là những đổi mới về cơ chế và chính sách Trong đó, các chính sách ngày càng được hoàn thiện hơn,
do vậy, nền kinh tế đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ
Hình 1.7: Lạm phát và Lãi suất Việt Nam theo tháng giai đoạn 1996-2012
Ngu ồn: Ngân hàng nhà nước
Trang 28Xem xét mối quan hệ lạm phát và lãi suất của Việt Nam theo tháng có thể thấy: trong giai đoạn những tháng đầu năm 1996, lãi suất có xu hướng cao hơn lạm phát Tuy nhiên, những tháng tiếp theo thì lãi luất luôn thấp hơn lạm phát Cụ thể, trong năm 2008 và
2011 là các năm mà có lạm phát theo tháng cao và cũng d ễ nhận thấy lãi suất của những tháng trong năm này khá cao Hệ số tương quan cho hai chuỗi số liệu theo tháng của lạm phát và lãi suất từ năm 1996 đến 201 bằng 0,52 Điều này cho thấy, giữa lạm phát và lãi
suất mối tương quan dương, nghĩa là khi lạm phát tăng thì lãi suất tăng và ngược lại
Từ tháng 3/2011, với mục đích hạn chế tăng trưởng tín dụng, xử lý tình trạng các ngân hàng đua tranh tăng lãi su ất huy động nhằm thu hút các nguồn tiền gửi từ dân cư, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện một loạt các biện pháp áp trần lãi suất huy động đối với
tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VND)
Khi lạm phát chưa được kiềm chế và vẫn ở mức cao, việc áp trần lãi suất đã dẫn đến các cấp quản lý phải thực thi chính sách “lãi suất thực” âm trong suốt cả năm 2011
Phải đến tháng 4/2012 lạm phát mới được giảm bớt và lãi suất tiền gửi mới trở nên dương Cùng với áp trần lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện các biện pháp hướng dòng tiền đến khu vực sản xuất, hạn chế tín dụng vào khu vực phi sản xuất, đồng
thời lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh cho các đối tượng khác nhau ở mức khá cao
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, trong năm 2011, lãi su ất cho vay dư nợ VND bình quân là 18,3%/năm và lãi su ất áp dụng đối với dư nợ bằng ngoại tệ bình quân 6,6%/năm Trong năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành lãi suất giảm mạnh, với 5
lần giảm lãi suất huy động từ 14% xuống 8%, lãi suất tái cấp vốn từ 15% xuống 9% và lãi
suất tái chiết khấu từ 13% xuống 7%
Trang 29Hình 1.8: Lãi suất thực (áp dụng với tiền gửi 1 tháng năm 2011-2012) (%)
Ngu ồn: Tổng cục thống kê và Ngân hàng nhà nước
Với việc điều hành chính sách lãi suất như trên dẫn đến kết quả: năm 2011, tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 14% (giảm mạnh so với mức 32,4% của năm 2010) và tổng phương tiện thanh toán là 12% (thấp hơn mức tăng 16,41% của năm 2010) Tình trạng này
tiếp tục kéo dài đến năm 2012, tính đến tháng 8, trong khi tổng huy động vốn tăng 11,23% thì dư nợ tín dụng chỉ tăng 1,4%
Tương quan này phản ánh tình trạng ách tắc tín dụng và sự lệch pha trong cán cân huy động và cho vay Cũng t ừ đó, phát sinh lo ngại: rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường từ sự
mất cân bằng giữa huy động và cho vay, cũng như b ất an đến từ việc tín dụng tăng thấp nhưng huy động vẫn tăng đang ngày càng hiện hữu Điều này đang thực sự diễn ra và có
thể còn kéo dài trong thời gian tới
Như đã phân tích ở trên, lạm phát và lãi suất ở Việt Nam biến động khá phức tạm
và biên độ giao động giữa các thời kỳ là khá lớn Cụ thể, trong những năm gần đây, kể từ năm 2008, sau khủng khoảng suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt nam xuất hiện nhiều dấu hiệu bất ổn vĩ mô và tình trạng lạm phát cao Trong đó, Nghị quyết số 11/NQ-
Trang 30CP ngày 24/2/2011 “v ề những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
t ế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội” là nền tảng cho mọi cơ chế, chính sách của Chính phủ
đối với đời sống kinh tế - xã hội trong những năm gần đây Do đó, các chính sách về lãi
suất của Ngân hàng Nhà nước chủ yếu nhằm mục đích ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm thế
lạm phát đã được thực thi
Như vậy, thực trạng ở Việt Nam cho thấy, trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới
nền kinh tế vẫn còn có nhiều bất cập và các chính sách kinh tế vĩ mô chưa đồng bộ Do đó, trong từng thời kỳ nhất định, các nhà hoạch định chính sách cần đồng bộ hóa các chính sách kinh tế vĩ mô với chiến lược rõ ràng và thống nhất giữa các công cụ chính sách để có
thể đạt được các mục tiêu kinh tế như đã đề ra
Trang 31CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Sơ lược lý thuyết
Lý thuyết đầu tiên liên hệ giữa lạm phát và lãi suất đã đư ợc Henry Thornton phát triển trong cuốn “An Inquiry into the nature and effects of the Paper Credit of
Great Britain” năm 1802 Sau này, mối quan hệ lãi suất và lạm phát được nhắc tới trong công trình của Irving Fisher (1930) Từ những năm đầu của thập kỷ 1970 ảnh hưởng của lạm phát lên lãi suất danh nghĩa đã đư ợc thảo luận sâu rộng hơn, vì có s ự trùng khớp của tăng tỷ lệ lạm phát và tăng lên của tỷ lệ lãi suất danh nghĩa, và gia t ốc
của tăng trưởng tiền là đặc trưng của hiện tượng của những năm 1970 ở Mỹ
Hiệu ứng do Fisher đề xuất theo đó lãi su ất danh nghĩa đư ợc biểu thị bằng tổng
số của lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát kỳ vọng Phương tình có d ạng
trong đó : i- lãi suất danh nghĩa
r- lãi su ất thực tế Nếu biểu diễn i là lãi suất danh nghĩa,
Fisher (1930) giả định rằng nếu lạm phát kỳ vọng thay đổi một đơn vị thì kết
quả là tại mức cân bằng lãi suất danh nghĩa cũng thay đ ổi một đơn vị tương ứng, điều
đó có thể chỉ ra rằng lãi suất thực tế kỳ vọng, quyết định chủ yếu đến đầu tư và phương thức tiết kiệm, vẫn luôn cố định Trong những trường hợp như vậy, sự thay
Trang 32đổi lượng tiền kéo theo sự thay đổi của lạm phát và lạm phát kỳ vọng được gọi là
"độc lập" hoặc không có ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế Hơn nữa, khi lãi suất thực
tế không thay đổi thì chỉ có những tác động tạm thời mới có những ảnh hưởng đáng
kể đến nó
Để hiểu rõ hơn v ấn đề được đưa ra sẽ được xem xét trong phương trình c ủa Fisher như sau:
it = Et-1 (rt) + Et-1 (πt) Trong đó: it: là lãi suất danh nghĩa ở thời điểm t
Et-1 (rt): lãi suất thực tế được kỳ vọng trong khoảng thời gian từ t-1 đến t
Et-1 (πt): lạm phát kỳ vọng ở trong khoảng thời gian từ t-1 đến t Khi lạm phát kỳ vọng không được tính đến, lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa sẽ là như nhau Vì l ạm phát kỳ vọng yêu cầu một giá trị xác thực nên hiệu ứng Fisher khẳng định rằng nếu lãi suất thực tế kỳ vọng là không đổi và độc lập với lạm phát kỳ vọng, hay lãi suất danh nghĩa ch ỉ có thể điều chỉnh để thích ứng với lạm phát
kỳ vọng có nghĩa là l ạm phát kỳ vọng tăng 1% thì lãi su ất danh nghĩa cũng tăng tương ứng 1% Hiệu ứng Fisher có thể được biểu diễn chính xác hơn dưới dạng
it = Et-1 (rt) + β Et-1 (πt) trong đó β = 1 lãi suất thực tế kỳ vọng Et-1 (rt) bị quy định bởi trạng thái cân bằng trên thị trường hàng hoá và dịch vụ Lãi suất danh nghĩa it thay đổi theo tỷ lệ một - một với những thay đổi trong tỷ lệ lạm phát kỳ vọng Et-1 (πt)
Trang 332.2 Nghiên c ứu thực nghiệm
Đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau xem xét hiệu ứng Fisher Một số nghiên
cứur xuất phát từ phương trình Fisher, ví dụ lãi suất danh nghĩa b ằng tổng của lãi suất
thực tế kỳ vọng và lạm phát kỳ vọng Những ghiên cứu khác dùng cách tiếp cận khác
dựa trên mô hình đ ịnh giá tài sản vốn để đạt tới mối liên hệ với hiệu ứng Fisher
Fama (1975) đã xem xét hiệu ứng Fisher dựa vào tỷ lệ lạm phát kỳ vọng Fama
dựa trên giả thiết rằng lãi suất thực tế kỳ vọng là không đổi, thị trường trái phiếu hiệu
quả với ngụ ý rằng lãi suất danh nghĩa trong m ột thời kỳ sẽ là những dự đoán tốt cho
tỷ lệ lạm phát trong cùng thời kỳ đó Những giả thiết cơ bản trong những phân tích Fama là:
(i) Lãi suất thực tế kỳ vọng là không đổi;
(ii) Các nhà đầu tư có kỳ vọng hợp lý;
(iii) Lạm phát và lãi suất danh nghĩa có m ột tỷ lệ trong cùng một tháng;
(iv) Lãi suất là khoản khấu trừ thuế trong dài hạn;
(v) Lãi suất và lạm phát là quá trình ngẫu nhiên dừng
Barslly (1987) đã làm rõ thêm s ự thay đổi trong quan hệ Fisher với khác biệt trong quá trình ngẫu nhiên của lạm phát, hơn là thay đổi trong cấu trúc của mối quan
hệ giữa lãi suất và lạm phát kỳ vọng Tác giả sử dụng dữ liệu của Mỹ và Anh nghiên
cứu thực nghiệm Kết luận từ nghiên cứu này trùng hợp với Summer (1983), nghĩa là
không có sự phân tán của tỷ lệ lãi suất danh nghĩa cho đ ến 1930 được tính đến bởi
lạm phát kỳ vọng hay thực tế
Mishkin (1992) đã đặt vấn đề tại sao ảnh hưởng mạnh của hiệu ứng Fisher xảy
ra chỉ trong một số thời kỳ nhất định chứ không phải vào lúc khác Những phát triển
về lý thuyết chuỗi thời gian có thể giúp giải quyết hai vấn đề này và giải thích được
Trang 34tại sao ảnh hưởng của hiệu ứng Fisher là không mạnh Tồn tại nghiệm đơn vị đối với
lạm phát và lãi suất Điều này chỉ ra rằng trong ngắn hạn lãi suất có khả năng dự báo được lạm phát sau chiến tranh ở Mỹ là giả mạo Việc tìm ra đư ợc lạm phát có khả năng dự báo trong ngắn hạn đối với lãi suất ít có tính thuyết phục Sau khi sử dụng
kiểm định hồi quy đồng tích hợp của Engle và Granger, ông đã tìm th ấy những bằng
chứng của hiệu ứng Fisher trong dài hạn trong thời kỳ hậu chiến của Mỹ trước tháng 10/1979
Dutt và Ghosh (1995) kiểm định giả thuyết Fisher trên cơ sở dữ liệu ở Canada
với hai chế độ là tỷ giá hối đoái cố định và thả nổi Tác giả chỉ ra được những điểm
mạnh và điểm yếu của giả thuyết này
Lạm phát và lãi suất dưới cả hai chế độ của tỷ giá hối đoái thả nổi tồn tại nghiệm đơn vị Johansen and Juselius (1990) và Phillip Hansen đã cho thấy không có đồng tích hợp giữa lãi suất và lạm phát đối với cả hai chế độ tỷ giá hối đoái cố định
và tỷ giá hối đoái thả nổi
Choudhry (1996) nghiên cứu mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất danh nghĩa và
lạm phát trong chế độ bản vị vàng (1879 - 1913) bằng kiểm định ADF để kiểm tra tính chất của chuỗi số liệu theo thời gian cả 3 chuỗi, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngắn hạn, lãi suất dài hạn là chuỗi dừng Sau khi lấy sai phân bậc nhất nhưng không dừng ở một
số mức độ khác nhau Theo kiểm định hồi quy đồng tích hợp Johansen, kết quả chỉ ra
rằng tồn tại ảnh hưởng của hiệu ứng Fisher đối với cả hai lãi suất danh nghĩa trong
ngắn hạn và dài hạn trong thời gian trên ở Mỹ, nhưng mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa (trong ngắn hạn và dài hạn) và tỷ lệ lạm phát không phải là một - một, như hiệu ứng Fisher đưa ra (1930) Điều này là mâu thuẫn với những nghiên cứu trước đây
Summer (1983) đã tìm ra những sai sót của hiệu ứng Fisher trong khi ứng dụng
thực nghiệm vào thời kỳ trước chiến tranh thế giới lần thứ I Ngoài ra, trong chế độ
bản vị vàng, tỷ lệ lạm phát hầu như không có ảnh hưởng nhiều Vì vậy, dự báo về lạm
Trang 35phát của thời kỳ này là không đổi Do đó, không tồn tại một mối tương quan giữa lạm phát và lãi suất danh nghĩa n ếu các nhà đầu tư không thể dự tính trước được lạm phát
Hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ áp dụng đối với lãi suất ngắn hạn và tỷ lệ lạm phát ngắn hạn
Nghiên cứu thực nghiệm của Thornton (1996) đã chỉ ra sự tồn tại của hiệu ứng Fisher giữa lãi suất của trái phiếu kho bạc và lạm phát ở Mêhicô trong thời gian 1978-
1994 Tác giả đã cho thấy giả thiết về nghiệm đơn vị không bị bác bỏ với một mức độ nào đó đối với lạm phát và lãi suất nhưng có thể bị bác bỏ khi lấy sai phân bậc nhất
và hai đối với những chuỗi này Hai chuỗi có vẻ như là đồng tích hợp trong mối quan
hệ đối xứng Do vậy, chính sách tiền tệ ở Mêhicô không có tác động nhiều đến lãi
suất thực tế trong dài hạn
Engsted (1996) kiểm định hiệu ứng Fisher trong dài hạn dựa trên tỷ giá kỳ
vọng và lãi suất thực tế kỳ vọng không đổi sử dụng số liệu của Đan Mạch trong thời
kỳ sau chiến tranh thế giới thứ II (1948-1989) Tác giả đã chỉ ra rằng lãi suất và tỷ lệ
lạm phát là quá trình không dừng Kết quả đã đưa ra những bằng chứng ủng hộ mạnh
hiệu ứng Fisher: lãi suất được xác định sau khi đã đánh thu ế
Sử dụng các số liệu theo quý từ (1973-1993), Yuhn (1996) nghiên cứu tác động
của hiệu ứng Fisher trong ngắn và dài hạn của lãi suất dựa trên tỷ giá hối đoái linh
hoạt ở 5 nước phát triển: Mỹ, Anh, Nhật Bản, Đức và Canada Ảnh hưởng của tỷ lệ
lạm phát kỳ vọng trong dài hạn được tính bằng trung bình trư ợt của tỷ lệ lạm phát 5 quý Kết quả của kiểm định nghiệm đơn vị đã chỉ ra rằng lãi suất danh nghĩa và t ỷ lệ
lạm phát ở 5 nước cùng tồn tại nghiệm đơn vị Một khi lãi suất và tỷ lệ lạm phát là đồng tích hợp, nên có thể kiểm định sự tồn tại của yếu tố xu thế giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát
Olekalns (1996) kiểm định hiệu ứng Fisher ở Úc, bằng việc sử dụng phương pháp tự hồi quy véctơ, nhờ đó đưa ra được những ước lượng của các tham số trong
Trang 36mô hình đ ặc trưng kỳ vọng hợp lý Kết quả nghiên cứu cho thấy có xấp xỉ 50% tỷ lệ
lạm phát kỳ vọng được thể hiện bằng lãi suất danh nghĩa Tuy nhiên, từ khi Úc bãi bỏ
những quy định, hệ thống tài chính của nước này là độc lập, sự điều chỉnh lạm phát không thể bị bác bỏ Những kết quả này chỉ ra việc quản lý và ban hành các chính sách tiền tệ trước khi điều chỉnh mà phần lãi suất danh nghĩa v ới lạm phát kỳ vọng có nghĩa là lãi suất thực tế đã bị ảnh hưởng 2 cách có hệ thống bởi những khủng hoảng
do tăng cung tiễn danh nghĩa Ngư ợc lại, sau khi bãi bỏ những quy định lãi suất thực
tế bị tách ra khỏi những thay đổi tiền tệ Lãi suất thực tế do đó sẽ cao hơn so với trong nghiên cứu trước của Fisher
Hawhee (1997) kiểm định hiệu ứng Fisher cho lãi suất ngắn hạn và dài hạn
bằng việc sử dụng phương pháp kiểm định hồi quy đồng tích hợp có tính đến trước và sau thuế Tác giả đã sử dụng dữ liệu theo quý Nghiên cứu của ông được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 1 từ 3/1963 đến 4/1983 là giai đoạn trước khi bãi bỏ quy định tài chính, giai đoạn 2 từ 1980 đến 1990 là giai đoạn sau khi bãi bỏ quy định tài chính
Kết quả kiểm định trên hai mẫu cho thấy có ít bằng chứng, là đồng tích hợp của quan
hệ giữa lãi suất danh nghĩa và l ạm phát Ngược lại trong giai đoạn 1 có những bằng
chứng đồng tích hợp Để kiểm định tác động của thuế bằng hồi quy đã cho k ết quả ước lượng sau thuế Cũng như trong trư ờng hợp trước thuế, cả hai hồi quy mẫu cũng cho thấy có ít hoặc không có bằng chứng về đồng tích hợp Do đó, mẫu này lại bị loại,
với những kết quả hạn chế trong giai đoạn đầu, nhưng lại có những bằng chứng tích
cực lại xuất hiện trong giai đoạn 2 Nhưng phương trình trư ớc thuế có quan hệ một -
một bị bác bỏ trong khi đó ở phương trình sau thu ế lại thể hiện mối quan hệ một - một
lại không bị bác bỏ
Shome, Smich và Pinkerton (1988) phát triển và ước lượng mô hình Fisher dựa vào tính không chắc chắn và không thích rủi ro dựa trên mô hình của Lucas (1978) phát triển