Bài viết bàn về sự kế thừa, tiếp nối Chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền dân tộc tự quyết trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây được coi là một trong những nội dung cơ bản, cốt lõi, có tính quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trang 1SỰ TIẾP NỐI TỪ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐẾN TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH TRONG VẤN ĐỀ QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT
Bảo tàng Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Cùng với phong trào đấu tranh giai cấp, phong trào giải phóng dân tộc mà mục tiêu chính là đòi quyền tự quyết đã trở thành tiêu điểm của thế kỷ XX, trong đó Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ chí Minh từ một quốc gia nhược tiểu, bị đô hộ
đã trở thành ngọn cờ đầu của phong trào đấu tranh giải phóng, đấu tranh cho quyền tự quyết dân tộc Trong bài viết, chúng tôi muốn bàn về sự kế thừa, tiếp nối Chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền dân tộc tự quyết trong tư tưởng Hồ Chí Minh Đây được coi là một trong những nội dung cơ bản, cốt lõi, có tính quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Từ khóa: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền dân tộc tự quyết
I MỞ ĐẦU
Trong lịch sử phát triển của loài người, quá trình đi xâm lấn, mở rộng biên giới diễn ra liên tục, các dân tộc nhược tiểu trở thành thuộc địa đã là một phần trong lịch sử thế giới Quyền dân tộc tự quyết luôn là vấn đề mang tính thời sự, nhất là vào thế kỷ XX, khi mà phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển một cách mạnh mẽ Hồ Chí Minh tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin vì mục tiêu giải phóng dân tộc và vấn đề quyền dân tộc tự quyết là vấn đề Người quan tâm, tiếp thu, áp dụng một cách có sáng tạo trong điều kiện Việt Nam
II NỘI DUNG
2.1 Quyền dân tộc tự quyết trong chủ nghĩa Mác - Lênin
Cũng như nhiều hình thức cộng đồng khác, dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:
Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh
tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc;
kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý
Trang 2thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.Theo nghĩa này, dân tộc được hiểu như một tộc người hay một dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc
Hai là, chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh
thổ, nền kinh tế thống nhất, ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Như vậy, dân tộc đồng nghĩa với quốc gia - dân tộc
Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng từ dân tộc theo nghĩa là một quốc gia dân tộc, có lịch sử hình thành và được phân định cương vực rõ ràng Trước hết, chúng ta cùng tìm hiểu về vấn đề quyền dân tộc tự quyết trong chủ nghĩa Mác - Lênin
Là những người đi đầu trong việc ủng hộ quyền dân tộc tự quyết, thể hiện qua việc quan tâm đến vấn đề dân tộc và thuộc địa; từ thực tế nghiên cứu trường hợp các quốc gia thuộc địa vùng lên đấu tranh đòi lại quyền dân tộc như Ba Lan chống ách thống trị của Nga Hoàng, cách mạng ở Trung Quốc… Tuy nhiên, Mác - Ăngghen lại chưa đưa ra khái niệm cụ thể về quyền dân tộc tự quyết Năm 1853, C Mác viết bài
báo có tiêu đề Cách mạng ở Trung Quốc và châu Âu, trong đó đề cập đến mối quan hệ
giữa việc phải đảm bảo quyền độc lập dân tộc của nhân dân Trung Quốc và của các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc khác với phong trào cộng sản ở châu Âu Sau đó 4 năm, năm 1857, Ănghen kêu gọi ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển ở nhiều quốc gia như: Ấn Độ, Trung Quốc, Iran, Ai Cập Hai ông cũng luôn bày tỏ thái
độ phê phán với những trường hợp các nhà lãnh đạo từ chối trao trả độc lập cho những nước thuộc địa như trường hợp Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; lên tiếng bênh vực quyền lợi của Airơlen - một nước đang nằm dưới ách thống trị của Anh… Từ quan điểm của những bài viết và cuộc đấu tranh nêu trên, có thể thấy Mác và Ănghen coi quyền dân tộc tự quyết được thể hiện chủ yếu dưới hình thức quyền độc lập về mặt chính trị Bên cạnh đó, các ông cũng gián tiếp đề cập đến vấn đề độc lập về kinh tế và văn hóa, tuy nhiên đây chỉ là hai vấn đề đi sau, là hệ quả tất yếu của độc lập chính trị
Độc lập về chính trị ở một góc độ nhất định mang ý nghĩa rộng lớn hơn, bao quát hơn nhưng về bản chất có thể coi đó là quyền tự quyết về chính trị Đây không phải là yếu tố duy nhất về vấn đề quyền dân tộc tự quyết theo quan niệm của hai ông như đã phân tích ở trên mà do những điều kiện khách quan nên hai ông tập trung nhấn mạnh lĩnh vực mấu chốt đó nhằm phục vụ những nhu cầu cấp bách của phong trào cộng sản quốc tế lúc bấy giờ và vấn đề kinh tế, xã hội cũng được đề cập đến ngay sau đó
Trang 3Trên cơ sở lập luận rằng: nguyên tắc dân tộc có nội dung chủ yếu gồm quyền tự quyết mà việc thực thi nó một cách triệt để là điều kiện để có hòa bình và hợp tác quốc
tế giữa các dân tộc [1; tr.711], Mác - Ăngghen không chỉ đấu tranh hết mình cho phong trào cách mạng vô sản mà còn góp phần vô cùng quan trọng trong cuộc cách mạng đòi quyền tự quyết của các dân tộc
Tiếp thu quan điểm của Mác - Ăngghen, khi bàn về vấn đề quyền dân tộc tự quyết, Lênin đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau, đặc biệt là tình trạng ly khai của các dân tộc trong liên hiệp quốc gia Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới thời kỳ lúc bấy giờ, khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa, biến các quốc gia, dân tộc nhỏ yếu hơn trở thành thuộc địa của mình, hay nói cách khác, tình trạng áp bức của quốc gia này lên quốc gia khác ngày càng phổ biến “Một phần lớn của châu Á, bộ phận đông đảo nhất của thế giới, hiện đang ở trong tình trạng, hoặc là thuộc địa của các “cường quốc lớn”, hoặc là quốc gia hết sức bị phụ thuộc và bị áp bức về mặt dân tộc” [6; tr.55] thì sau này, ông đặt nhiều sự quan tâm vào vấn đề này và đưa ra những luận điểm cụ thể, mang tính định hướng Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ tập trung vào khai thác vấn đề quyền tự quyết dân tộc liên quan đến vấn đề dân tộc và thuộc địa do có ảnh hưởng trực tiếp đến Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam
Năm 1914, trong một chuyên khảo riêng biệt với tiêu đề: Về quyền dân tộc tự
quyết, Lênin đã đi thẳng vào câu hỏi: Quyền dân tộc tự quyết là gì? Ông chỉ ra rằng:
“Lẽ tự nhiên, đây là vấn đề được đặt ra trước tiên khi người ta định nghiên cứu theo quan điểm Mác xít, cái mà người ta gọi là quyền tự quyết Nên hiểu quyền dân tộc tự quyết là như thế nào? Chúng ta sẽ tìm lời giải đáp trong các định nghĩa pháp lý rút ở mọi thứ “khái niệm” về pháp quyền ra chăng? Hay phải tìm lời giải đáp trong sự nghiên cứu có tính chất lịch sử, kinh tế về phong trào dân tộc?” [7; tr.302] và “Quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn chỉ có nghĩa là các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ” [8; tr.327] Như vậy, chúng ta có thể thấy, cũng như Mác - Ăngghen, Lênin cho rằng về bản chất, quyền tự quyết của dân tộc thể hiện trên phương diện chính trị Tuy nhiên, trong nhiều tác phẩm sau đó, ông cũng đề cập trực tiếp đến khía cạnh tự quyết về văn hóa, kinh tế, nhưng
quan điểm có tính chất xuyên suốt là: quyền tự quyết - về bản chất - là quyền của các
dân tộc bị áp bức được tự do tách khỏi các dân tộc đang áp bức họ để thành lập ra quốc gia độc lập riêng
Trang 4Với Lênin, trên lập trường Mácxít, ông kiên quyết chống các hình thức cực đoan của chủ nghĩa dân tộc, nhất là chủ nghĩa sô vanh nước lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Lênin nêu quyền dân tộc tự quyết trong đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức nhưng trên cương lĩnh của chủ nghĩa Mác về dân tộc: “các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại” [7; tr.375] Như vậy, đấu tranh giải phóng dân tộc không phải để chia rẽ nhân dân lao động hay giai cấp công nhân tại các dân tộc mà đoàn kết giai cấp chính là yếu tố quan trọng nhất trong đấu tranh đòi quyền dân tộc tự quyết
Đi sâu bàn về vấn đề quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa, trong văn bản
mang tính chất quan trọng: Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa lần đầu tiên đăng trên báo Nhân đạo - cơ quan ngôn luận của Đảng
Cộng sản Pháp tháng 7/1920, Lênin đã chỉ ra vấn đề căn cốt trong việc giải quyết vấn
đề thuộc địa là việc trao trả cho các dân tộc quyền được tự quyết định lấy vận mệnh của nước mình, bên cạnh trách nhiệm liên minh, liên kết với các giai cấp, tầng lớp khác trong công cuộc tự giải phóng Trong tác phẩm này, Lênin từ việc lên án các quan điểm sai lầm của những người đứng đầu quốc tế II về vấn đề dân tộc và thuộc địa, lên án chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đã khẳng định quyền bình đẳng, quyền độc lập và quyền tự do của tất cả các dân tộc trên thế giới, nhất là các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc Để đi đến thắng lợi trong công cuộc đấu tranh vì quyền tự quyết của các dân tộc, Lênin một lần nữa nhấn mạnh đến sức mạnh đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản và các nước thuộc địa, khởi xướng sự kết hợp giữa phong trào đấu tranh giai cấp và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
Như vậy, có thể thấy, trên lập trường mácxít, Lênin đã phát triển và hoàn thiện khái niệm quyền tự quyết dân tộc nhất là đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc Ông quan niệm để đi tới tự quyết dân tộc cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh giai cấp và đấu tranh giải phóng dân tộc Trong bối cảnh thế kỷ XX, khi vấn đề thuộc địa đang là vấn đề bức thiết thì việc đưa ra yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phong trào đấu tranh giai cấp với đấu tranh giải phóng, đòi quyền tự quyết dân tộc mang tính chất tháo
bỏ những vướng mắc, trở thành lời giải đáp, hướng đi cho nhiểu cuộc cách mạng lúc bấy giờ, trong đó có cách mạng Việt Nam
2.2 Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng vấn đề quyền dân tộc tự quyết trong điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam
Sinh ra và lớn lên trong bối cánh đất nước đã trở thành thuộc địa của Pháp, quyền dân tộc bị chà đạp, đặc biệt không có bất kỳ một tiếng nói nào trên cương vị một quốc
Trang 5gia Việt Nam nghiễm nhiên trở thành “con” của nước mẹ đại Pháp và đương nhiên được nước mẹ bảo trợ trên danh nghĩa nhưng thực tế chủ yếu là o bế Phụ thuộc chính quốc về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, chính trị…; người dân Việt Nam không những không được tự do mà ngược lại còn bị bóc lột một cách dã man Các phong trào yêu nước, đòi độc lập tự do của người dân Việt Nam lớp này, lớp khác, theo chân các vị lãnh đạo như Phan Đình phùng, Tống Duy Tân, Hoàng Hoa Thám,… đều bị dìm trong biển máu Các nhà yêu nước theo khuynh hướng khác như Phan Bội Châu hay Phan Chu Trinh cũng đi đến kết cục bị giam cầm, đàn áp mà con đường đi đến độc lập tự do của dân tộc vẫn mịt mù
Ra đi tìm đường cứu nước với mục đích đòi lại quyền tự quyết dân tộc, nhân quyền cho người dân Năm 1919, hy vọng và như là một phép thử với lời hứa trong tuyên bố 14 điểm của Tổng thống Mỹ Uyn-xơn, trong đó điểm thứ 5 đảm bảo “giải quyết rộng rãi, tự do và hoàn toàn vô tư tất cả các yêu sách về thuộc địa”; Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh đã gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam yêu cầu những quyền
tối thiếu đối với người dân, với một dân tộc bởi: “Từ ngày đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ thuộc đều chứa chan hy vọng rằng theo những lời cam kết chính thức
và trịnh trọng mà các cường quốc đồng minh đã tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của Văn minh chống Dã man, thì tiền đồ một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với họ” và đó là lúc mà “quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự” [2; tr.469] Như vậy, xuất phát từ lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc thể hiện ngay trong chính ý nghĩa của tên gọi “Nguyễn Ái Quốc”, Yêu sách
đã nêu lên những yêu cầu cơ bản của quyền dân tộc, là những quyền lợi tối thiểu làm tiền đề cho vấn đề một dân tộc được tự quyết định lấy vận mệnh của chính quốc gia mình Tuy nhiên, chính từ sự thờ ơ của các nước đế quốc trước đề nghị của mình, của dân tộc mình, Người nhận thấy con đường cần phải đi đến dân tộc tự quyết là con đường dấn thân, tranh đấu chứ không thể chỉ trông chờ vào thỉnh nguyện thư và lời hứa
“màu mè” của các nước lớn
Sự kiện tháng 7/1920, khi Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh gặp được Sơ thảo lần
thứ nhất những luận cương các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin được coi là thời
khắc quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong hành trình tìm đường cứu nước, đòi quyền dân tộc tự quyết của Người Thời khắc Người thốt lên “đây là con đường giải phóng chúng ta” chính là thời khắc hoàn thiện, là lúc Người nhận biết đầy đủ con đường cần hướng tới
để đấu tranh thành công cho quyền dân tộc tự quyết theo chủ nghĩa Mác - Lênin
Thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ kinh nghiệm của mình với phong trào đấu tranh của nhân dân các nước đã đi qua, và đặc biệt từ thực tế của đất
Trang 6nước, Hồ Chí Minh nhận thấy để có quyền tự quyết dân tộc cần phải có sự liên minh giai cấp trước hết trong phạm vi quốc gia và sau đó là trên phạm vi toàn thế giới, như lời kêu gọi “vô sản các dân tộc đoàn kết lại” nhưng quan trọng nhất vẫn là sức mạnh nội sinh Để đảm bảo cho con đường đi tới độc lập, tự do, đòi quyền tự quyết, Người có những sáng lập quan trọng trong cuộc đời cũng như với dân tộc mình, bao gồm: thành lập Đảng Cộng sản, thành lập Mặt trận Việt Minh, thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam Ba sáng lập này là những thành tố hợp thành, dẫn tới sáng lập thứ 4, khẳng định thắng lợi trong cuộc đấu tranh đòi quyền dân tộc tự quyết: sáng lập ra nước Việt Nam mới
Sau Cách mạng tháng Tám, trong các thư và điện văn gửi tới Liên hợp quốc và Chính phủ các nước, Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố: “nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng
để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước” [3; tr.522]
Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ Thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi và khảng khái khẳng định: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [3; tr.534]
Khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh, ồ ạt đổ quân viễn chinh và phương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc với quy mô và cường độ ngày càng ác liệt, Hồ Chí Minh nêu cao chân lý lớn nhất của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” [4; tr.131] Đây là lời khẳng định chắc chắn nhất cho lẽ phải, cho việc bảo vệ quyền dân tộc tự quyết của người đứng đầu quốc gia vốn có truyền thống yêu nước ý chí độc lập, tự cường
Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình đòi lại quyền tự quyết dân tộc, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trước những đế quốc lớn như Pháp và Mỹ là thành quả khẳng định sự kế thừa sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc tự quyết từ chủ nghĩa Mác - Lênin Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền tự quyết dân tộc phải được đảm bảo đầy đủ các yếu tố:
Thứ nhất, quyền dân tộc tự quyết phải được đảm bảo trên tất cả các phương diện:
chính trị, kinh tế, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ trong đó quan trọng nhất là độc lập về chính trị
Thứ hai, quyền tự quyết dân tộc chỉ có ý nghĩa thực sự khi người dân được đảm
bảo nhân quyền, phải có cuộc sống ấm no, hạnh phúc
Trang 7Thứ ba, quyền tự quyết dân tộc là tiền đề cho vấn đề nhân quyền và nhân quyền,
ngược lại là một mặt phản ánh quan trọng của tự quyết dân tộc đúng như trong các văn bản của quốc tế sau này
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, với thắng lợi chung của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới mà Việt Nam là một trong những ngọn cờ đầu thì việc ban hành Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966); Tuyên bố Viên và chương trình hành động (1993),… đã xác định quyền dân tộc tự quyết là một loại quyền con người - quyền tập thể của quyền con người: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết Với quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do theo đuổi con đường phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của mình…” [5; tr.656]
III KẾT LUẬN
Ngày nay, dù tình hình đất nước và quốc tế có những đổi thay nhanh chóng, nhưng những nội hàm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề quyền tự quyết dân tộc vẫn giữ nguyên giá trị Tiếp thu và kế thừa các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng từ thực tế dân tộc mình cũng như cách mạng các nước thuộc địa khác, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vấn đề quyền dân tộc tự quyết trong đó nhấn mạnh đến sức mạnh nội lực, nhấn mạnh đến các yếu tố độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Đây
cũng kim chỉ nam để toàn Đảng, toàn dân thực hiện lời di huấn của Người trong Di
chúc: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn
đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” [4; tr.624]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 C Mác và Ph Ăngghen (2004), Toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
3 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
4 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
5 Phạm Khiêm Ích, Hoàng Văn Hảo (Chủ biên) (1995), Quyền con người trong
thế giới hiện đại, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội
6 V.I Lênin (1980) Những vấn đề chính sách dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô
sản, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva
7 V.I Lênin (1980), Toàn tập, tập 25, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva
8 V.I Lênin (2005), Toàn tập, tập 27, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội