Lý luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) là một bộ phận quan trọng trong học thuyết Mác - Lênin, đáp ứng nhu cầu phát triển của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa trong thời đại mới. Bài viết đề cập tới những sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách tiếp cận CNXH so với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trang 1HỒ CHÍ MINH TIẾP CẬN, VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN
SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
ThS Nguyễn Khánh Ly ThS Hoàng Nam Hưng Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
Tóm tắt
Lý luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) là một bộ phận quan trọng trong học thuyết Mác - Lênin, đáp ứng nhu cầu phát triển của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa trong thời đại mới Dưới ánh sáng của Cách mạng tháng Mười và Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I Lênin đã đưa Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy con đường giải phóng dân tộc (GPDT) Tuy nhiên, cách tiếp cận của Người về CNXH cũng không hoàn toàn giống kiểu của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới những sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách tiếp cận CNXH so với chủ nghĩa Mác - Lênin
Từ khóa: Hồ Chí Minh, tiếp cận, sáng tạo, CNXH, Mác - Lênin
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong bối cảnh các dân tộc thuộc địa vùng lên thực hiện sự nghiệp giải phóng Sứ mệnh lịch sử đặt lên vai Người là tìm đường GPDT mình và các dân tộc thuộc địa Để thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc (CMGPDT), Hồ Chí Minh quyết tâm đi theo con đường cách mạng vô sản (CMVS) nhưng chưa làm ngay cách mạng vô sản kiểu Cách mạng tháng Mười Đồng thời, Người nhận thức rõ chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản (CNCS) mới cứu được các dân tộc khỏi ách nô lệ, mới đưa con người tới hạnh phúc thật sự (nhưng không thể thực hiện kiểu “quá độ trực tiếp”) Do điểm xuất phát của Hồ Chí Minh không giống với C Mác,
Ph Ăngghen, V.I Lênin nên cách tiếp cận của Người về CNXH cũng không hoàn toàn giống kiểu của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin… Những vấn đề này cần được lý giải thấu đáo không phải chỉ trong một vài công trình mà phải huy động sức mạnh tổng hợp của nhiều nhà khoa học Nhận thức rõ vấn đề này, Đảng ta khẳng định “lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn một số vấn đề cần phải qua tổng
Trang 2kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để tiếp tục làm rõ”1 Trong bài viết này, chúng tôi không tham vọng và không đủ sức giải quyết hết mọi vấn đề Chúng tôi chỉ cố gắng làm rõ những sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách tiếp cận CNXH so với chủ nghĩa Mác
- Lênin, nhưng chắc chắn vẫn chưa lý giải thấu đáo và lột tả hết những sáng tạo của Người Chúng tôi hy vọng nhận được những góp ý và bổ sung quý báu về vấn đề này
II NỘI DUNG
2.1 Cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội
2.1.1 Nghiên cứu sự phát triển của xã hội loài người, đặc biệt trên cơ sở phân
tích mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản (CNTB) - mâu thuẫn giữa sản xuất ngày càng mang tính chất xã hội, trong khi chiếm hữu lại mang tính chất tư nhân TBCN,
C Mác (1818 - 1883) và Ph Ăngghen (1820 - 1895) đã phát hiện ra xu thế phát triển của xã hội loài người thông qua những kiến giải kinh tế, chính trị, xã hội Đó là XHTBCN tất yếu sẽ bị thay thế bởi một xã hội mới mà các ông gọi là XHCSCN
Trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, C Mác tập trung phân tích hình thái kinh tế - xã hội TBCN Điều này giúp ông hiểu thấu được các hình thái kinh tế - xã hội trước đó Ông viết: “Xã hội tư sản là một tổ chức sản xuất phát triển nhất và đại diện nhất trong lịch sử Vì vậy, các phạm trù biểu thị những quan hệ của xã hội đó, kết cấu của xã hội đó, đồng thời cũng cho ta cái khả năng hiểu thấu được kết cấu và các quan hệ sản xuất trên tất cả các hình thái xã hội đã diệt vong”2 Chính sự giải phẫu của C Mác đối với xã hội tư bản và các quy luật vận động của nó đã cho phép ông dự báo một cách khoa học về xã hội tương lai
Cũng theo C Mác, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có tính chất quá độ và tính chất lịch sử, nghĩa là đều phải trải qua quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong để chuyển sang hình thái cao hơn Bằng việc phân tích khoa học các giai đoạn của hình thái kinh tế - xã hội TBCN và những vấn đề gắn liền với nó, các nhà kinh điển Mác - Lênin đã cung cấp chìa khóa phương pháp luận để tìm hiểu vấn đề phân kỳ kinh tế - xã hội CSCN
V.I Lênin (1870 - 1924) đã vận dụng học thuyết Mác để giải quyết những vấn đề của CMVS trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây dựng CNXH Ông nhận
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr.67
2
C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.883
Trang 3định “tính quy luật chung của sự phát triển trong lịch sử toàn thế giới đã không loại trừ
mà trái lại,còn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang đặc điểm hoặc về hình thức hoặc về trình tự của sự phát triển đó”3 Theo quan điểm biện chứng, tất cả con đường phát triển cụ thể của các nước đều là con đường riêng mà trong đó bao hàm những quy luật chung, những quá trình có tính phổ biến của sự phát triển xã hội
Trên cơ sở phân tích chế độ xã hội của nước Nga đầu thế kỷ XX trong mối quan
hệ chặt chẽ với lịch sử thế giới đương đại, V.I Lênin đã kết luận về một cuộc CMVS
có thể nổ ra và thắng lợi ở một nước là khâu yếu nhất trong hệ thống TBCN Đồng thời, ông đã cụ thể hóa quan điểm của C Mác về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH;
về sự phát triển hai giai đoạn của CNCS và khả năng phát triển không trải qua giai đoạn TBCN
2.1.2 Cống hiến của C Mác và Ph Ăngghen còn ở tư tưởng nhân văn, nhân đạo,
là lý tưởng giải phóng con người và nhân loại, xây dựng một xã hội tốt đẹp không còn
áp bức, bóc lột, tạo điều kiện cho con người và nhân loại, xây dựng một xã hội tốt đẹp không còn áp bức, bóc lột, tạo điều kiện cho con người có thể phát triển mọi khả năng sẵn có Theo hai ông, mục đích của CNCS không phải xóa bỏ hoàn toàn mọi thứ sở hữu, không tước bỏ quyền chiếm hữu sản phẩm xã hội của những người lao động mà chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác Do đó, việc xóa bỏ những quan hệ sở hữu đã tồn tại trước kia không phải là đặc trưng vốn có của CNCS mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản C Mác viết: “sự giải phóng xã hội khỏi
sở hữu tư nhân,… khỏi sự nô dịch, trở thành hình thức chính trị của sự giải phóng công nhân, vả lại vấn đề ở đây không chỉ là sự giải phóng của họ, vì sự giải phóng của họ bao hàm sự giải phóng toàn thể loài người” 4
Tiếp thu chủ nghĩa Mác, V.I Lênin đã nhận thấy sự cần thiết phải xóa bỏ chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất Ông viết: “Để thực sự giải phóng giai cấp công nhân, cần phải có một cuộc cách mạng xã hội, xuất phát một cách tự nhiên từ toàn bộ sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tức là phải thủ tiêu chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất, chuyển các tư liệu đó thành sở hữu công cộng và thay thế nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa bằng việc tổ chức sản xuất sản phẩm theo lối xã hội chủ nghĩa”5
3
V.I Lênin, Toàn tập, tập 45, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.431
4
C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.143
5
V.I Lênin, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.518
Trang 42.1.3 Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C Mác và Ph Ăngghen khẳng định,
chỉ có giai cấp vô sản là “giai cấp thực sự cách mạng” là “giai cấp nắm tương lao trong tay” cùng với đội tiên phong của nó là Đảng của giai cấp vô sản mới có thể làm thay đổi một cách căn bản tình cảnh của giai cấp mình và các tầng lớp nhân dân lao động khác bằng một cuộc cách mạng toàn xã hội, bằng việc lật đổ ách thống trị của giai cấp
tư sản và thiết lập một xã hội mới không có áp bức bóc lột
Tiếp thu tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen, V.I Lênin khẳng định sự áp bức, bóc lột là tai họa lớn đối với người lao động Sự thay thế các xã hội trước CNXH chẳng qua chỉ là sự thay thế của các hình thức áp bức, bóc lột đối với người lao động Chỉ có CNXH mới có khả năng giải phóng con người khỏi các hình thức bóc lột đó Ông viết:
“Chúng ta đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, nghĩa là cho sự giải phóng hoàn toàn nhân dân lao động khỏi mọi ách áp bức, không những chỉ ách áp bức chính trị mà cả ách áp bức kinh tế nữa Chúng ta chỉ liên hợp vào trong đảng chúng ta những kẻ nào thừa nhận mục đích vĩ đại ấy và không phút nào quên chuẩn bị lực lượng để đạt tới mục đích ấy”6
Bên cạnh đó, V.I Lênin cũng khẳng định, dưới CNXH chưa thể thực hiện được công bằng và bình đẳng hoàn toàn: Về mặt của cải còn sự chênh lệch, nhưng tình trạng người bóc lột người thì không thể còn nữa bởi vì không ai có thể chiếm tư liệu sản xuất, công xưởng, máy móc, đất đai làm của riêng được
Như vậy, theo các nhà kinh điển C Mác - V.I Lênin, CNXH luôn vì con người, coi sự giải phóng con người, giải phóng giai cấp bị áp bức là một quá trình lâu dài, gian khổ, đầy phức tạp, song nhất định đi đến thắng lợi cuối cùng Quá trình đòi hỏi phải được thực hiện bằng một cuộc cách mạng xã hội, bằng việc lật đổ trật tự xã hội cũ và sáng lập ra một xã hội mới
2.2 Sáng tạo của Hồ Chí Minh trong cách tiếp cận chủ nghĩa xã hội
2.2.1 Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong bối cảnh CNTB
chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ), với sự xuất hiện mâu thuẫn mới: mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với CNĐQ Mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt dẫn tới phong trào đấu tranh GPDT ở các nước thuộc địa ngày càng phát triển, nhưng chưa nơi nào giành được thắng lợi Với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, những tiền đề và điều kiện mới đã thúc đẩy phong trào GPDT ở các nước, trong đó có Việt Nam phát triển nhanh chóng
6
V.I Lênin, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.132
Trang 5Trên cơ sở học thuyết C Mác - V.I Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, Hồ Chí Minh khẳng định con đường tiến lên CNXH là quy luật vận động khách quan của lịch
sử, “Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư
bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nói chung thì loài người phát triển theo quy luật
nhất định như vậy” 7
Từ lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân - giai cấp trung tâm của thời đại mới trong học thuyết C Mác - V.I Lênin, Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên xác định vai trò, sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam Đó là lực lượng có khả năng lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên CNXH “Trong thời đại ngày nay chỉ có giai cấp công nhân là người có sứ mệnh duy nhất lãnh đạo cách mạng”
Hồ Chí Minh tiếp cận CNXH xuất phát từ hoàn cảnh một nước thuộc địa mất độc lập, tự do Từ khát vọng giải phóng dân tộc, trải qua nhiều năm khảo sát, tìm tòi, Người biết tới Cách mạng tháng Mười và Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I Lênin Từ đó, Người tin theo V.I Lênin, cũng tức là tiếp cận CNXH Người khẳng định, chỉ có CMVS và CNXH mới có thể giải phóng các dân tộc một cách triệt để Như vậy, với khát vọng, hoài bão ra đi tìm đường cứu nước, Người đã đến với CNXH
2.2.2 Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của CNXH vừa ở mức sống vật chất cao,
vừa ở giá trị đạo đức của xã hội, ở phẩm chất đạo đức của những người cộng sản ưu tú Người cổ vũ: “Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người”8 Đối với Hồ Chí Minh, đạo đức cao cả là đạo đức cách mạng, đạo đức giải phóng dân tộc, giải phóng loài người
CNXH là một chế độ xã hội được xây dựng dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (TLSX) chủ yếu, đảm bảo cho sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và xã hội Do
đó, CNXH đối lập với chủ nghĩa cá nhân Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội Cho nên, thắng lợi của chủ nghĩa
xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”9;
“Muốn giữ gìn sự trong sáng chủ nghĩa Mác - V.I Lênin thì trước hết mình phải trong sáng Muốn đánh thắng kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, muốn xây dựng thắng lợi chủ
7
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.293
8
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.612
9
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.609
Trang 6nghĩa xã hội,thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”10
Bên cạnh đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh cũng rất chăm lo đến nhu cầu, lợi ích, đề cao năng lực, phẩm chất của mỗi cá nhân Theo Người, “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”11
Người luôn khuyến khích lợi ích cá nhân chính đáng và đặt nó trong mối quan hệ thống nhất với lợi ích tập thể và xã hội “… lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm… Nếu lợi ích
cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của
cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”12 Đây là một quan điểm đúng đắn và cách mạng GPDT, tiến lên CNXH là bước nhảy vọt trong lịch sử Việt Nam Quyền lợi tối cao của Tổ quốc, lợi ích sống còn của nhân dân phải được đặt lên trên hết Nhận thức đúng đắn điều đó sẽ là cơ sở để giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng
2.2.3 Hồ Chí Minh còn tiếp cận CNXH từ truyền thống lịch sử, văn hóa và con
người Việt Nam Nghiên cứu giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh sớm khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”13 Khi nói đến chủ nghĩa yêu nước, Người viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” 14
Truyền thống tốt đẹp của văn hóa, con người Việt Nam là một trong những cơ sở dẫn dắt Hồ Chí Minh đến với CNXH Người từng nói: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ Ba” 15 Đối với Hồ Chí Minh, CNXH mang bản chất nhân văn, văn hóa cao đẹp, là giai đoạn phát triển cao hơn CNTB về mặt văn hóa và giải phóng con người
10
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.468
11
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.610
12
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.610
13
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.511
14
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.38
15
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.563
Trang 72.2.4 Bên cạnh truyền thống văn hóa Việt Nam, Hồ Chí Minh còn tiếp cận
CNXH từ truyền thống văn hóa phương Đông Xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, Hồ Chí Minh am tường Khổng giáo Ngay từ những năm 20, Người đã bàn tới thuyết đại đồng của Khổng Tử (551 trước Công nguyên) Thực chất, Người muốn gắn cuộc đấu tranh vì công bằng và bình đẳng với những nét đẹp của xã hội mới Những vấn đề trong tư tưởng Khổng, Mạnh mà Hồ Chí Minh nhắc lại như “sự bình đẳng về tài sản”, “Thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng”, “sự bảo vệ và phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn”, “sự lên
án nghiêm khắc thói ăn bám, sự nghỉ ngơi của người già, việc thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọi người”,… được hiểu như những “lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu” Đó là một cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về CNXH từ chất liệu văn hóa phương Đông, mà ở thời đại Khổng Tử, có người gọi là
“chủ nghĩa xã hội không tưởng”
2.2.5 Trải qua hành trình khảo sát chính trị vô cùng phong phú, Hồ Chí Minh có
một bề dày kinh nghiệm và bản lĩnh cách mạng trong cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp, tích lũy được vốn tri thức dồi dào về chính trị, làm cơ sở vững chắc cho Người đi đến sự
so sánh, chọn lựa đúng con đường GPDT: Muốn cứu nước và GPDT, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản
Ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Người khẳng định “chủ
trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” 16 Việc đặt CMGPDT nằm trong phạm trù CMVS, gắn độc lập dân tộc với CNXH
đã khiến quan điểm GPDT của Hồ Chí Minh mang tính toàn diện và triệt để Người khẳng định: “Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”17 Logic lịch sử tự nhiên của sự vận động phong trào GPDT tất yếu dẫn tới CNXH do bản chất cách mạng triệt để của nó
Dưới góc độ giải phóng, độc lập dân tộc mới chỉ là bước đầu Giải phóng về mặt chính trị, tự bản thân nó chưa phải là một công cuộc giải phóng hoàn toàn Hay nói cách khác, trong điều kiện Việt Nam, độc lập dân tộc là tiền đề để tiến lên CNXH, đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc
16
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.1
17
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.392
Trang 8Như vậy, Hồ Chí Minh đến với CNXH trên cơ sở của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc kết hợp của nhiều nền văn hóa, thấm đượm truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị nhân văn của loài người Đường lối cách mạng do Người lựa chọn đã đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng cần lao nước ta và đáp ứng đòi hỏi khách quan trong sự phát triển của dân tộc Việt Nam
III KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân ta Nghiên cứu, làm rõ nội dung tư tưởng của Người, nhất là những luận điểm sáng tạo của Người là một trong những nhiệm vụ cơ bản, có tầm quan trọng hàng đầu của công tác tổng kết lý luận nhằm đưa cách mạng Việt Nam vượt qua thách thức, chớp lấy thời cơ, nhanh chóng vươn lên trong khu vực và trên thế giới
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tiếp cận CNXH từ những kiến giải kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa nhằm mục tiêu giải phóng giai cấp công nhân và
cả loài người Trên cơ sở kế thừa chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp cận CNXH từ khát vọng GPDT, từ phương diện đạo đức, từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống nhân văn, văn hóa dân tộc nhằm giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (Dành cho
bậc Đại học chuyên ngành lý luận chính trị), Hà Nội
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
3 V.I Lênin (2005), Toàn tập, tập 6, tập 12, tập 45, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
4 C Mác và Ph Ăng ghen, Toàn tập, tập 12, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội
5 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, (15 tập), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội