Có thể khẳng định, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, khoa học trong tư tưởng công bằng xã hội của Hồ Chí Minh. Sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội được thể hiện rõ ở một số nội dung cơ bản: công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, cần được thực hiện một cách hợp lý;...
Trang 1TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI - SỰ VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
VÀO VIỆT NAM
TS Vũ Thị Minh Tâm
Học viện Kỹ thuật Quân sự
Tóm tắt
Có thể khẳng định, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, khoa học trong tư tưởng công bằng xã hội của Hồ Chí Minh Sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội được thể hiện rõ ở một số nội dung cơ bản: công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, cần được thực hiện một cách hợp lý; chỉ có con đường cách mạng vô sản mới thực hiện được công bằng
xã hội; nguyên tắc phân phối theo lao động được coi là công bằng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản; tách biệt hai phạm trù công bằng xã hội và bình đẳng xã hội… Từ đó, Hồ Chí Minh xây dựng tư tưởng công bằng xã hội rất sâu sắc và độc đáo, vượt xa các quan niệm về công bằng xã hội trước đó không chỉ về bản chất mà cả độ sâu sắc và toàn diện, nhất là về điều kiện thực hiện
Từ khóa: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng xã hội
I MỞ ĐẦU
Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã đấu tranh không mệt mỏi vì sự công bằng, tiến bộ của xã hội loài người Hồ Chí Minh sớm được trang bị những giá trị công bằng xã hội trong văn hóa truyền thống của dân tộc và bước đầu tiếp nhận những giá trị công bằng, bình đẳng của phương Tây trong trường học Người lại sớm chứng kiến những áp bức, bất công tồn tại trong xã hội Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến Điều này thôi thúc Hồ Chí Minh tham gia vào phong trào đấu tranh yêu nước đòi dân chủ, công bằng cho nhân dân Việt Nam đầu thế kỷ XX Cuộc hành trình xuyên qua nhiều châu lục, khảo sát nhiều chế độ xã hội của Hồ Chí Minh nhằm mục đích tìm con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam đã giúp người có điều kiện tìm hiểu lý luận và thực tiễn thực hiện công bằng xã hội (CBXH) ở các nước trên thế giới Kế thừa quan điểm của các nhà tư tưởng trong lịch sử, đặc biệt là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đề cập một cách khá toàn diện về công bằng xã hội, chỉ ra vai
Trang 2trò, bản chất, nội dung, giá trị của việc thực hiện công bằng xã hội Có thể khẳng định, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, khoa học trong tư tưởng công bằng xã hội của Hồ Chí Minh
II NỘI DUNG
Sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội được thể hiện rõ ở một số nội dung cơ bản sau:
2.1 Thứ nhất, công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, cần được thực hiện một cách hợp lý
Chủ nghĩa Mác - Lênin coi công bằng xã hội là một phạm trù có tính lịch sử Tùy theo điều kiện lịch sử khác nhau mà công bằng xã hội được thực hiện tương xứng Sẽ là sai lầm nếu mang thước đo công bằng ở thời kỳ lịch sử này áp đặt vào giai đoạn lịch sử khác Theo các ông, công bằng xã hội gắn liền với lợi ích giai cấp, tầng lớp xã hội nhất định cùng với những điều kiện vật chất sinh ra nó
Từ sự hiểu biết sâu sắc tính lịch sử của phạm trù công bằng xã hội, kế thừa quan điểm này của các nhà kinh điển Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tới việc thực hiện công bằng xã hội một cách hợp lý Tùy vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng giai đoạn lịch sử để đặt ra những vấn đề thực hiện công bằng xã hội, không được đưa ra những tiêu chí không phù hợp với thực tiễn Người luôn nhắc nhở cán bộ ta phải tính toán một cách lâu dài, công bằng, hợp lý
Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nói rõ quan điểm của mình: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý” [6] Công bằng đi liền với hợp lý Ngôn từ mà Hồ Chí Minh sử dụng rất đơn giản nhưng nó mang nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc Công bằng xã hội phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, mang tính tương đối Nếu tách thực hiện công bằng xã hội ra khỏi hoàn cảnh cụ thể thì công bằng ấy có thể trở thành không hợp lý, bất công Sự hợp
lý ở đây được hiểu là sự phù hợp giữa thực hiện công bằng xã hội với điều kiện khách quan, thực tiễn kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, nhấn mạnh tới việc coi công bằng xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu nhưng không thể nóng vội đòi đạt tới công bằng xã hội tuyệt đối ngaylập tức
Theo Hồ Chí Minh, công bằng xã hội phải được thực hiện từng bước, gia tăng cấp độ dần dần Đây là một vấn đề tưởng chừng đơn giản nhưng cũng phải có những bài học thực tiễn để chúng ta nhận thức đúng đắn được chân lý này Sự nóng vội, chủ quan duy ý chí mong muốn xóa bỏ mọi áp bức bất công, xóa bỏ sở hữu tư nhân, công
Trang 3hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, bỏ qua nguyên tắc phân phối theo lao động để thực hiện phân phối bình quân, mọi người đều được hưởng sự công bằng, tự do trong khi trình độ của lực lượng sản xuất còn hạn chế, kinh tế xã hội còn thấp kém đã đẩy nước
ta và một số nước vào cuộc khủng hoảng trầm trọng và toàn diện Đòi hỏi phải đổi mới toàn bộ trong đó có việc nhìn nhận lại cách hiểu về công bằng xã hội mà Hồ Chí Minh
đã vạch ra Công bằng xã hội mang tính hợp lý, việc thực hiện nó phải phù hợp với thực tiễn, tách rời hiện thực khách quan, thực hiện công bằng xã hội không còn đem lại công bằng cho mọi người nữa Điều này thể hiện rõ nét tính sâu sắc, khoa học trong quan điểm về công bằng xã hội của Hồ Chí Minh
Quan điểm của Hồ Chí Minh về thực hiện công bằng xã hội hợp lý thể hiện khá
đầy đủ trong Chương trình Việt Minh: “1 Công nhân Ngày làm 8 giờ Định tiền lương
tối thiểu Công việc làm như nhau nhận tiền lương ngang nhau Cứu tế thất nghiệp Xã hội bảo hiểm Cấm đánh đập, chửi mắng…Công nhân già có lương hưu trí 2 Nông dân Nông dân ai cũng có ruộng cày Giảm địa tô Cứu tế nông dân trong những nǎm mất mùa 3 Binh lính Hậu đãi binh lính có công giữ gìn Tổ quốc và phụ cấp gia đình binh lính được đầy đủ 4 Học sinh Bỏ học phí, bỏ khai sinh hạn tuổi Mở thêm trường học Giúp đỡ học trò nghèo 5 Phụ nữ Về các phương diện kinh tế, chính trị, vǎn hoá, đàn bà đều được bình đẳng với đàn ông 6 Thương nhân và các nhà kinh doanh Chính phủ hết sức giúp các nhà có vốn tự do kinh doanh Bộ thuế môn bài và các thứ tạp thuế
do đế quốc đặt ra 7 Viên chức Hậu đãi viên chức xứng đáng với công học hành của
họ 8 Người già và kẻ tàn tật Được chính phủ chǎm nom và cấp dưỡng 9 Nhi đồng Được chính phủ sǎn sóc đặc biệt về thể dục và trí dục” [3] Bên cạnh đó, còn phải:
“Lập các nhà chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho Nhân dân Lập thêm nhà thương, nhà đỡ đẻ, nhà dưỡng lão” [3]
Trong Chương trình Việt Minh, Người đề cập đến từng đối tượng và cách thức
thực hiện công bằng xã hội phù hợp với những đối tượng đó Từ các tầng lớp Nhân dân lao động: công nhân, nông dân, thương nhân,… tới các đối tượng chính sách: người già, người tàn tật, trẻ em, thương binh,… đều cần được quan tâm chăm nom Theo đó, thực hiện công bằng xã hội phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để tiến hành cho hợp lý
Để đảm bảo công bằng xã hội đang được làm đúng phải tính tới nhiều yếu tố như: sự phát triển không đều giữa các nhóm người, các vùng, dân tộc khác nhau, các đối tượng chính sách Từ đó, xây dựng những chính sách ưu tiên với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, trợ giúp tầng lớp dân cư ở vùng khó khăn, người nghèo, người khuyết tật Như vậy, công bằng xã hội chỉ thực sự có được khi nó hợp lý với hoàn cảnh lịch
sử cụ thể
Trang 4Tư tưởng công bằng xã hội của Hồ Chí Minh mang tính nhân văn sâu sắc Người quan tâm tới những chính sách xã hội cho những người yếu thế thiệt thòi ngay từ điểm xuất phát ban đầu Sự quan tâm này không dừng lại ở cứu trợ nhất thời hay giúp đỡ thụ động theo lối bao cấp Đây không phải là một giải pháp thực hiện công bằng xã hội bền vững Nhà nước phải có những chính sách phát triển kinh tế, chăm lo ý tế, giáo dục, ổn định đời sống cho đồng bào Nhà nước phải cử cán bộ giúp đồng bào định canh định
cư, bảo vệ rừng, làm phân bón, làm ruộng bậc thang, cải tiến kỹ thuật canh tác để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh Người chú trọng việc bồi dưỡng, giáo dục, cất nhắc cán
bộ địa phương, cán bộ dân tộc và tin tưởng vào sự tiến bộ của đồng bào Như vậy, không đồng nhất giữa các chính sách ưu đãi với việc bao cấp trong chính sách xã hội, giúp đồng bào tự lực vươn lên, “không nên chỉ ỷ lại vào Chính phủ” [6] chính là điểm hợp lý trong thực hiện công bằng xã hội của Hồ Chí Minh Người luôn nhấn mạnh việc
“phải tính toán một cách lâu dài, công bằng, hợp lý” [6]
Quan điểm công bằng hợp lý được Hồ Chí Minh khẳng định nhất quán Nhất là trong điều kiện kinh tế còn chưa phát triển cao càng cần phải thực hiện công bằng xã hội, không được viện lý do kinh tế khó khăn để gạt bỏ vấn đề này Người yêu cầu tránh việc cào bằng chia đều cái khổ cho mọi người hay tập trung hết cho phát triển kinh tế
để Nhân dân sống quá kham khổ hoặc chờ tới khi kinh tế dư giả mới tính tới thực hiện công bằng xã hội
Trong giai đoạn đầu quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nước ta còn nghèo nàn, kiệt quệ do hậu quả của chế độ thực dân phong kiến Nhưng dù khó khăn đến đâu,
Hồ Chí Minh cũng nhất quán quan điểm: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên” [9] Ở đây, không phải Hồ Chí Minh coi nhẹ vai trò nhân tố kinh tế mà Người so sánh nhằm nhấn mạnh việc phát triển kinh tế phải gắn liền với thực hiện công bằng xã hội Công bằng xã hội vừa là chính sách xã hội vừa là chính sách kinh tế Giữa các yếu tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau, tương trợ nhau cùng phát triển Kinh tế là tiền đề vật chất để thực hiện công bằng xã hội, đồng thời, sự ổn định của xã hội là nền tảng, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế
Hồ Chí Minh rất sáng suốt, đánh giá đúng những khó khăn khi thực hiện công bằng xã hội Trong chừng mực nhu cầu của con người và khả năng hiện thực của kinh
tế xã hội còn mâu thuẫn chưa thể giải quyết thì không thể có được công bằng xã hội tuyệt đối Ta chỉ có thể đòi hỏi công bằng xã hội ở mức độ hợp lý Tức là những cống hiến trí tuệ và sức lực của chúng ta cho xã hội được đền đáp tương xứng Người lười lao động, cống hiến thì không được hưởng thụ và không chấp nhận những kẻ trục lợi,
Trang 5buôn gian, bán lận, tham nhũng, hưởng lợi không chính đáng “Ngồi mát ăn bát vàng, tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải quét đi” [6] Trong xã hội sẽ còn tồn tại những bất công mà chúng ta phải tạm thời chấp nhận và khắc phục dần dần “cố nhiên phải tìm cách làm cho công bằng hợp lý, nhưng cũng khó hoàn toàn” [6]
2.2 Thứ hai, chỉ có con đường cách mạng vô sản mới thực hiện được công bằng xã hội
Đến với các quốc gia tư bản nổi tiếng với những giá trị về dân chủ, công bằng, bình đẳng, bác ái như: Anh, Pháp, Mỹ, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu thực tiễn đời sống Nhân dân ở các quốc gia này và hiểu rõ thực chất của nền dân chủ tư sản Bản chất bóc lột, bất công ẩn sau tuyên ngôn dân chủ, công bằng của nền dân chủ tư sản đã được Hồ Chí Minh nhìn nhận, đánh giá bằng chính những trải nghiệm thực tiễn của bản thân Người nói: “Khi sang các nước Châu Âu, tôi thấy ở đó cũng có một số người rất giàu
“ngồi mát ăn bát vàng”, và lớp người Nhân dân lao động rất nghèo khổ” [8] Khi đến
Mỹ, Người cũng nhận thấy tình cảnh tương tự: “Ở Mỹ có một số người rất giàu có, họ sống cực kỳ xa hoa,.… và có rất đông người lao động rất cực khổ” [8] Hồ Chí Minh đã nhận thấy bản chất bóc lột, bất công của nhà nước tư sản, tự nhận là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Người đánh giá tất cả những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái mà chúng giương cao đều là giả dối để che đậy bản chất ngược lại của chúng mà thôi Theo Người, chúng dùng chữ tự
do, bình đẳng, đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến, khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân Sự kiện gửi Bản yêu sách tới Hội nghị Versailles đòi quyền dân chủ, công bằng cho Nhân dân Việt Nam bị chính những kẻ nhân danh chính nghĩa từ chối thì Hồ Chí Minh càng không thể tin tưởng vào
lý tưởng công bằng xã hội của nền dân chủ tư sản
Khi tiếp xúc với Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh đã nhận định đây là cái cần thiết cho đất nước, là
con đường giải phóng cho dân tộc ta Từ đó, Người nhất quán lựa chọn con đường cách mạng vô sản Con đường này sẽ đưa Nhân dân ta tới xây dựng một xã hội mới, ở đó vấn đề công bằng xã hội luôn được quan tâm thực hiện Phát biểu tại Đại hội thứ nhất Đảng Cộng sản Pháp, Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc tình hữu ái thực sự và quyền bình đẳng chỉ có trong chủ nghĩa cộng sản, trong chủ nghĩa cộng sản ta mới có thể thực hiện được sự hòa hợp và hạnh phúc ở chính quốc và ở thuộc địa
Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu những tư tưởng công bằng xã hội ở các quốc gia
mà Người tìm đến trong hành trình cứu nước mà còn đấu tranh cho tự do, cho công
Trang 6bằng một cách mạnh mẽ Người đứng trong hàng ngũ đấu tranh của công nhân các nước tư sản đòi tăng lương, giảm giờ làm, tham gia hội họp, làm báo, tham gia vào các
tổ chức chính trị xã hội Tất cả những hoạt động thực tiễn đấu tranh đòi quyền công bằng này cũng tác động không nhỏ tới sự hình thành tư tưởng công bằng xã hội của Hồ Chí Minh
Khi đến nước Nga và trực tiếp tìm hiểu thực tế xây dựng xã hội mới ở Nga, Hồ Chí Minh đã thấy những khát vọng về một xã hội tốt đẹp, công bằng cho Nhân dân đang được thực hiện Nhà nước Xô Viết là nhà nước của Nhân dân lao động; công bằng
xã hội được thực hiện toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Hồ Chí Minh chỉ ra: “Như ở Nga bây giờ, công cụ sinh sản là của chung, không ai bóc lột ai, của cải làm ra theo nguyên tắc “ai không làm không ăn” mà chia cho người
làm” [5] Y tế, giáo dục, các chính sách xã hội cho Nhân dân được Nhà nước quan tâm
Người dân được miễn học phí, Nhân dân ai ốm thì được chữa trị, không mất tiền thầy tiền thuốc, giờ giấc lao động, chế độ nghỉ dưỡng, người già, trẻ nhỏ đều được xắp xếp hợp lý, công bằng Hồ Chí Minh xác định đây là một mẫu hình Nhà nước đảm bảo công bằng xã hội cho Nhân dân Từ đó, Người xác định độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội mới coi công bằng xã hội là một mục tiêu cần thực hiện Chỉ có đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội thì công bằng xã hội mới được đảm bảo Người nói: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình và hạnh phúc” [2] Trong chủ nghĩa xã hội: “Nhà máy, xe lửa, ngân hàng,… làm của chung” [8] Như vậy,
mô hình Nhà nước mới được các nhà kinh điển vạch ra và được Hồ Chí Minh đón nhận
vì nó đáp ứng được khát vọng giải phóng triệt để cho dân tộc của Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh nhấn mạnh công bằng xã hội là một đặc trưng quan trọng của chủ nghĩa xã hội và chỉ có trong chủ nghĩa xã hội, Nhân dân lao động mới được hưởng ngày càng nhiều hơn, đầy đủ hơn công bằng xã hội
2.3 Thứ ba, nguyên tắc phân phối theo lao động được coi là công bằng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản
Từ việc đánh giá chế độ sở hữu tư nhân trong chủ nghĩa tư bản là nguyên nhân khách quan của tình trạng bất công xã hội, các nhà kinh điển thấy được nguyên tắc phân phối dựa trên lượng tài sản, vốn sở hữu là bất hợp lý Hệ quả của nó là các nhà tư sản ngày càng giàu thêm trên sự nghèo đói của người lao động Chủ nghĩa Mác - Lênin
Trang 7khẳng định: nguyên tắc phân phối theo lao động được coi là công bằng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản
Tuy nhiên, nguyên tắc phân phối này không mang lại công bằng tuyệt đối mà vẫn còn hàm chứa tình trạng bất bình đẳng vì những người lao động không phải ai cũng như ai, người này khác người kia về thể chất và tinh thần, trình độ lao động, hoàn cảnh gia đình Vì vậy: “Với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng xã hội, thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia,
người này vẫn giàu hơn người kia” [1]
Theo nguyên tắc này thì mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượng sản phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà họ cung cấp cho xã hội, sau khi những khoản cần thiết để duy trì sản xuất, tái sản xuất, cũng như duy trì đời sống cộng đồng đã được khấu trừ Khi bước vào xây dựng chủ nghĩa cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định đây là nguyên tắc phân phối công bằng cần được áp dụng triệt để Theo các nhà kinh điển, thực chất công bằng xã hội là mối quan hệ lợi ích của con người Trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thì lợi ích kinh tế là căn bản nhất Vì vậy, thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa quyết định tới vấn đề này ở các lĩnh vực khác
Nguyên tắc phân phối lợi ích được Hồ Chí Minh chỉ ra như sau: “Lao động nhiều hưởng nhiều, lao động ít hưởng ít, không lao động thì không hưởng” [6] Có thể thấy đây là nguyên tắc phân phối công bằng trong điều kiện nước ta hiện nay Điều này thể hiện địa vị làm chủ nước nhà, làm chủ tư liệu sản xuất của người lao động Mọi người được hưởng quyền lợi ngang nhau ở những công hiến ngang nhau Ngược với điều này là
vô lý, không công bằng: “Lao động ít mà muốn thu nhập nhiều thì rất vô lý” [7] Hưởng thụ không tương xứng với cống hiến, không cống hiến gì mà đòi hưởng thụ là đi ngược với nguyên tắc phân phối lợi ích công bằng của Hồ Chí Minh Áp dụng nguyên tắc đúng đắn này trong nền kinh tế sẽ giúp việc thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế đạt hiệu quả cao nhất
Không dừng lại ở nguyên tắc phân phối lợi ích, Hồ Chí Minh còn yêu cầu việc phân phối phúc lợi xã hội cũng cần phải đảm bảo công bằng Làm thế nào để mọi người dân đều được Nhà nước chăm lo, cải thiện đời sống: “Phải phân phối cho công bằng hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khỏe và giải trí của Nhân dân” [9] Những yêu cầu thiết yếu của Nhân dân cả về vật chất lẫn tinh thần đều cần có sự quan tâm của Nhà nước thông qua các quỹ phúc lợi xã hội Điều này làm nổi bật tính nhân văn, triệt để trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội Nhóm
Trang 8những người thiệt thòi, yếu thế, không có khả năng lao động càng cần tới sự giúp đỡ đùm bọc của toàn xã hội: “Người tàn tật, già yếu, cháu bé không phải không lao động được mà không được ăn Nhà nước, xã hội giúp đỡ họ” [6] Như vậy phân phối lợi ích
và phân phối phúc lợi xã hội phải đi liền với nhau Thiếu một phần là đã hiểu không đúng bản chất nguyên tắc trong thực hiện công bằng xã hội của Hồ Chí Minh
Theo Mác, xã hội mới sẽ còn tồn tại những bất công khi nó mới lọt lòng từ xã hội
tư bản chủ nghĩa sau những cơn đau đẻ kéo dài Ông khẳng định: “Nhưng đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc
nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra sau những cơn đau đẻ kéo dài Quyền không bao giờ có thể ở một mức độ cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của
xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” [1] Mác cho rằng không thể ngay lập tức có được công bằng xã hội tuyệt đối do xã hội mới vừa thoát thai khỏi xã hội tư sản còn rất nhiều khó khăn tồn tại Khi nền tảng kinh tế không cho phép thì xã hội buộc phải chấp nhận những bất công nhất định Khi xã hội bước vào giai đoạn phát triển cao hơn, lao động không đơn thuần là phương tiện sinh sống mà là nhu cầu hoạt động và phát triển, người lao động có thể làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu
Tiếp nối quan điểm này Hồ Chí Minh cũng khẳng định những bất công sẽ vẫn còn tồn tại trong giai đoạn chúng ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí khắc phục bất công này sẽ có thể làm nảy sinh bất công khác Có những bất công chúng ta phải tập trung giải quyết ngay nhưng vẫn phải chấp nhận có những điều chưa công bằng còn tồn tại
2.4 Thứ tư, tách biệt hai phạm trù công bằng xã hội và bình đẳng xã hội
Theo Ph Ăngghen, công bằng và bình đẳng là hai phạm trù tách biệt với nhau Ông đánh giá nếu cho rằng luận điểm (bình đẳng = công bằng) là một nguyên tắc tối cao và là một chân lý cuối cùng thì thật là ngu xuẩn Bình đẳng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đối lập với bất bình đẳng, công bằng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đối lập với không công bằng Kế thừa quan điểm này, Hồ Chí Minh khẳng định không thể đồng nhất hai phạm trù công bằng xã hội và bình đẳng xã hội Trong điều kiện kinh tế xã hội chưa thể tương xứng với các nhu cầu của con người thì chỉ có thể từng bước thực hiện công bằng xã hội hướng tới sự như nhau trong hưởng thụ của những người có cùng cống hiến chứ chưa thể làm cho mọi người đều ngang nhau ở các phương diện Nếu nhận thức sai lầm về vấn đề này sẽ dẫn tới những hành động sai lầm Người viết: “Cái gì cũng muốn "bình đẳng" Ví dụ: Cấp trên vì công việc phải cưỡi ngựa, đi xe Cấp dưới
Trang 9cũng muốn cưỡi ngựa, đi xe Người phụ trách nhiều việc, cần có nhà rộng Người không phụ trách nhiều việc, cũng đòi nhà rộng Phụ cấp cho thương binh cũng muốn nhất luật, không kể thương nặng hay nhẹ Làm việc gì, thì muốn già, trẻ, mạnh, yếu đều làm bằng nhau Có việc, một người làm cũng được, nhưng cũng chờ có đủ mọi người mới chịu làm Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng Không hiểu rằng: người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít” [4]
Người lấy ví dụ cụ thể: “nếu một chiến sĩ bị thương được đi xe, ăn ngon, các chiến sĩ khác đều đòi đi xe, đòi ăn ngon Hoặc vì bình đẳng mà bắt buộc một trẻ em cũng ăn nhiều, cũng gánh nặng, như một người lớn Nếu như thế là bình đẳng, thì bình đẳng đó rất vô lý, rất xấu, chúng ta phải kiên quyết chống lại thứ bình đẳng đó” (4) Như vậy, để mỗi người đều có thể hưởng theo nhu cầu, nguyện vọng của mình là chưa thể có ngay được trong điều kiện kinh tế còn khó khăn Do đó, đòi hỏi bình đẳng ai cũng như ai là không phù hợp với hiện thực khách quan Ta chỉ có thể từng bước đảm bảo công bằng xã hội để tiến dần lên bình đẳng xã hội hoàn toàn
Chính sai lầm trong việc đồng nhất giữa công bằng xã hội với bình đẳng xã hội đã dẫn tới nguyên tắc phân phối bình quân, chia đều cho tất cả mọi người Hậu quả là triệt tiêu động lực của sự phát triển kinh tế và trên thực tế lại trở thành bất công Theo Hồ Chí Minh, bình đẳng không phải là bình quân mà xác định trên cơ sở công bằng: ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng Không dừng lại ở đó, tiếp
thu lý luận của Mác trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gô ta, Hồ Chí Minh nhận thức
được sự bất bình đẳng của nguyên tắc: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít C Mác
lý giải: với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế người nãy vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia là vì bất cứ người nào cũng chỉ là một người lao động như những người khác nhưng nó lại mặc nhiên thừa nhận sự không ngang nhau về năng khiếu cá nhân, do đó về năng lực lao động của những người lao động Đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội chủ nghĩa cộng sản Do
đó, Hồ Chí Minh đã bổ sung thêm cho nguyên tắc này để đảm bảo công bằng xã hội được thực hiện Chấp nhận việc chưa thể đạt được công bằng xã hội và bình đẳng xã hội tuyệt đối nhưng vẫn thực hiện công bằng xã hội trong từng bước phát triển Người vạch rõ: “Phân phối phải theo mức lao động, lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít Lao động khó thì được phân phối nhiều, lao động dễ
Trang 10thì được phân phối ít Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ cũng công điểm như nhau” [7]
Có thể thấy rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phạm trù công bằng xã hội và bình đẳng xã hội đều là mục tiêu phấn đấu của nhân loại nói chung và Nhân dân ta nói riêng Hai phạm trù này gắn kết chặt chẽ với nhau, có những khía cạnh tương đồng với nhau nhưng không trùng khít với nhau Phải triệt để tránh việc đồng nhất hai phạm trù này trong nhận thức và hành động thực tiễn
III KẾT LUẬN
Như vậy, quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội mang tính khoa học, cách mạng và toàn diện Các ông khẳng định công bằng xã hội nằm trong chính cơ sở kinh tế xã hội hiện thực; vạch ra nguyên tắc phân phối công bằng là nền tảng để thực hiện công bằng xã hội; nhấn mạnh vai trò quan trọng của công bằng xã hội đối với sự phát triển xã hội Kế thừa và phát triển sáng tạo những quan điểm công bằng
xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nâng tư tưởng công bằng xã hội của Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới: khoa học và cách mạng Đánh giá một cách tổng quát, tư tưởng
Hồ Chí Minh về công bằng xã hội rất sâu sắc và độc đáo, vừa khái quát vừa cụ thể các khía cạnh, các vấn đề rất căn bản của con người và của xã hội Công bằng xã hội theo
Hồ Chí Minh là phạm trù thuộc bản chất con người - xã hội, ở đó thể hiện khát vọng, nhu cầu tự nhiên của con người, đồng thời là quyền chính đáng, thiêng liêng của con người Bởi công bằng xã hội theo người là quan hệ ngang nhau về quyền và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, giữa người với người trong xã hội Sự ngang nhau này phải theo nguyên tắc hợp lý, phù hợp với tình hình, điều kiện của xã hội ở thời điểm hiện tại; trên tất cả các lĩnh vực hoạt động sống của con người (kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội) Công bằng xã hội được tập trung thực hiện trong quá trình phân phối lợi ích, phúc lợi và trong các cơ hội phát triển Theo Hồ Chí Minh, công bằng xã hội chỉ trở thành hiện thực trong xã hội bảo đảm cho nó các điều kiện hiện thực - đó là chủ nghĩa
xã hội Rõ ràng quan niệm và nội hàm về công bằng xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh vượt xa các quan niệm về công bằng xã hội trước đó không chỉ về bản chất mà cả
độ sâu sắc và toàn diện, nhất là về điều kiện thực hiện
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 C Mác - Ph Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr.35-36