Đánh giá thay đổi về kiến thức, thái độ và hành vi của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ về LCGTTS tại Hải Dương sau can thiệp .... Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi của các cặ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
-
Đinh Huy Dương
CAN THIỆP THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ LỰA CHỌN GIỚI TÍNH TRƯỚC SINH TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2013-2016
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.03.01
Hà Nội, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
-
Đinh Huy Dương
CAN THIỆP THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ LỰA CHỌN GIỚI TÍNH TRƯỚC SINH TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG, GIAI ĐOẠN 2013-2016
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Y tế Công cộng, các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành tới Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lương Ngọc Khuê và Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lưu Bích Ngọc, là giáo viên tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi và định hướng cho tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Thị Thu Hà, là giáo viên đã tận tâm chỉ bảo và dành rất nhiều quan tâm giúp đỡ tôi trong thực hiện luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Hải Dương và tỉnh Hà Nam; Ủy ban Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội người cao tuổi, Đoàn Thanh niên của thành phố Hải Dương, huyện Thanh Miện thuộc tỉnh Hải Dương và thành phố Phủ Lý, huyện Duy Tiên thuộc tỉnh Hà Nam; cán bộ trạm y tế, cộng tác viên dân số và nhân dân các địa phương đã nhiệt tình hỗ trợ
và tạo mọi điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Văn phòng Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Công ty Mekong Economics và Depocen cùng nhiều cán bộ của các tổ chức này đã luôn phối hợp cùng tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Bố Mẹ tôi, những người đã cho tôi cuộc sống, luôn khích lệ để tôi tiến bước trên con đường chinh phục trí thức Cám ơn anh trai tôi đã luôn là nguồn động viên tinh thần cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới vợ, các con tôi, những người đã luôn
chia sẻ, ủng hộ và truyền nhiệt huyết để tôi có thể hoàn thành luận án này
Tác giả
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG xi
DANH MỤC CÁC HÌNH xiii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Xu hướng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 5
1.2.1 Tỷ số giới tính khi sinh trên thế giới 5
1.2.2 Sự khác biệt về TSGTKS theo một số đặc trưng 7
1.2.3 Tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam 11
1.2.4 Tỷ số giới tính khi sinh tại Hải Dương và Hà Nam 16
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến LCGTTS 17
1.3.1 Các yếu tố cơ bản 17
1.3.2 Các yếu tố phụ trợ 18
1.3.3 Các yếu tố trực tiếp 19
1.4 Những hậu quả của lựa chọn giới tính trước sinh 20
1.4.1 Thừa nam thiếu nữ 20
1.4.2 Tác động tới thị trường hôn nhân 21
1.4.3 Ảnh hưởng xã hội 22
Trang 6iv
1.5 Các giải pháp can thiệp phòng chống LCGTTS nhằm kiểm soát
MCBTSGTKS ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 23
1.5.1 Nhóm giải pháp 1: Tuyên truyền vận động, truyền thông chuyển đổi hành vi 24
1.5.2 Nhóm giải pháp 2: Các giải pháp tăng cường tuân thủ pháp luật 26
1.5.3 Nhóm giải pháp 3: Các giải pháp nâng cao vị thế của phụ nữ và bé gái 30
1.6 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi về LCGTTS 32
1.7 Khung lý thuyết đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi về LCGTTS 33
1.8 Thông tin tóm tắt về dự án triển khai tại Hải Dương giai đoạn 2013-2016 37
1.9 Vai trò của nghiên cứu sinh trong nghiên cứu 39
1.10 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 40
1.10.1 Thông tin chung về địa bàn can thiệp 40
1.10.2 Thông tin chung về địa bàn đối chứng 42
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1 Đối tượng nghiên cứu 44
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 44
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 45
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 45
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 45
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 45
2.3 Thiết kế nghiên cứu 46
2.3.1 Giai đoạn 1: Đánh giá trước can thiệp (2013) 47
2.3.2 Giai đoạn 2: Triển khai các hoạt động can thiệp (2013-2016) 47
2.3.3 Giai đoạn 3: Đánh giá sau can thiệp (2016) 48
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 48
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng 48
Trang 7v
2.4.2 Chọn mẫu cho đánh giá định lượng và định tính 50
2.5 Công cụ thu thập số liệu 54
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu cho điều tra định lượng 54
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu cho điều tra định tính 54
2.5.3 Thử nghiệm công cụ thu thập số liệu 55
2.6 Các biến số nghiên cứu 55
2.7 Điều tra viên, giám sát viên 57
2.7.1 Điều tra viên 57
2.7.2 Giám sát viên 57
2.7.3 Người dẫn đường 57
2.8 Quy trình thu thập số liệu 57
2.8.1 Chuẩn bị cho nghiên cứu tại địa phương 57
2.8.2 Một số quy định 58
2.8.3 Các bước tiến hành thu thập 58
2.8.4 Quy trình giám sát 60
2.9 Chương trình can thiệp 60
2.9.1 Tuyên truyền vận động, truyền thông chuyển đổi hành vi 61
2.9.2 Tăng cường tuân thủ pháp luật 63
2.9.3 Nâng cao vị thế của phụ nữ và bé gái 65
2.10 Đảm bảo chất lượng nghiên cứu 67
2.10.1 Đảm bảo chất lượng nghiên cứu định lượng 67
2.10.2 Đảm bảo chất lượng nghiên cứu định tính 67
2.10.3 Theo dõi, giám sát và đánh giá 68
2.11 Xử lý và phân tích thông tin, số liệu 68
2.11.1 Xử lý và phân tích dữ liệu định lượng 68
2.11.2 Xử lý và phân tích dữ liệu định tính 70
2.12 Đạo đức trong nghiên cứu 70
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 72
Trang 8vi
3.1 Thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi trong đánh giá trước can thiệp về
LCGTTS tại Hải Dương và Hà Nam năm 2013 72
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu trong đánh giá trước can thiệp 72
3.1.2 Sinh con và mong muốn có con trai trong đánh giá trước can thiệp 77
3.1.3 Kiến thức về LCGTTS và MCBTSGTKS trong đánh giá trước can thiệp 79
3.1.4 Nguồn thông tin về LCGTTS và MCBTSGTKS trong đánh giá trước can thiệp 82
3.1.5 Thái độ về LCGTTS trong đánh giá trước can thiệp 83
3.1.6 Hành vi LCGTTS trong đánh giá trước can thiệp 88
3.2 Đánh giá thay đổi về kiến thức, thái độ và hành vi của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ về LCGTTS tại Hải Dương sau can thiệp 89
3.2.1 Thực trạng tỷ số giới tính khi sinh trước và sau can thiệp tại Hải Dương và tỉnh đối chứng Hà Nam 89
3.2.2 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu trong đánh giá sau can thiệp 90
3.2.3 Sinh con và mong muốn có con trai 98
3.2.4 Thay đổi kiến thức về LCGTTS và MCBTSGTKS trong đánh giá sau can thiệp (2016) 103
3.2.5 Tăng cường nguồn thông tin về vấn đề LCGTTS và MCBTSGTKS 106
3.2.6 Chuyển biến thái độ về BĐG và LCGTTS trong đánh giá sau can thiệp (2016) 109
3.2.7 Hành vi LCGTTS 119
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 121
4.1 Đặc điểm của các đối tượng tham gia nghiên cứu 121
Trang 9vii
4.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ về LCGTTS trong đánh giá trước can thiệp tại Hải Dương và
Hà Nam 122
4.2.1 Người quyết định chính về KHHGĐ và các vấn đề SKSS 122
4.2.2 Mong muốn có con trai/con gái 124
4.2.3 Lý do cần có con trai 125
4.2.4 Kiến thức về LCGTTS và MCBGTSGKS 129
4.2.5 Thái độ về LCGTTS 130
4.2.6 Hành vi LCGTTS 131
4.3 Thay đổi kiến thức, thái độ, hành vi của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sau can thiệp 132
4.3.1 Thay đổi kiến thức về LCGTTS 132
4.3.2 Thay đổi thái độ về LCGTTS 133
4.3.3 Thay đổi hành vi về LCGTTS 135
4.4 Hiệu quả của chương trình can thiệp 138
4.4.1 Về khung lý thuyết của nghiên cứu 138
4.4.2 Về hoạt động can thiệp 139
4.4.3 Về hiệu quả của chương trình can thiệp 143
4.5 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 145
4.5.1 Những điểm mới và ưu điểm của nghiên cứu 145
4.5.2 Hạn chế của nghiên cứu 146
KẾT LUẬN 148
1 Kiến thức, thái độ, hành vi về LCGTTS của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ trước can thiệp 148
1.1 Kiến thức về LCGTTS và MCBTSGTKS trong đánh giá trước can thiệp 148
1.2 Thái độ về LCGTTS 148
1.3 Hành vi LCGTTS trong đánh giá trước can thiệp 149
Trang 10viii
2 Kiến thức, thái độ, hành vi về LCGTTS của các cặp vợ chồng trong độ tuổi
sinh đẻ sau can thiệp 149
2.1 Thay đổi kiến thức về LCGTTS 149
2.2 Thay đổi thái độ về LCGTTS 149
2.3 Thay đổi hành vi về LCGTTS 150
KHUYẾN NGHỊ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 164
Phụ lục 1: BẢNG HỎI PHỎNG VẤN CẶP VỢ CHỒNG TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ (18-40) 165
Phụ lục 2: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 175
Phụ lục 3: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 180
Phụ lục 4: TỔNG HỢP CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU VỀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI LIÊN QUAN ĐẾN LCGTTS 183
Phụ lục 5: KẾT QUẢ CÁC CAN THIỆP TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG 187
Trang 11Hôi người cao tuổi Hội Nông dân
MCBTSGTKS Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh
Trang 12x
MOH Bộ Y tế (Ministry of Health)
MTTQ Mặt trận Tổ quốc
NFHS Điều tra sức khỏe gia đình quốc gia (National Family Health
TT
Tỷ số giới tính khi sinh Truyền thông
TTGDTT Thông tin-giáo dục-truyền thông
TTCĐHV Truyền thông chuyển đổi hành vi
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 13xi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Ước lượng số phụ nữ bị thiếu tính đến năm 2010 21
Bảng 1.2 Tóm tắt số liệu nhân khẩu học của thành phố Hải Dương và huyện Thanh Miện 40
Bảng 1.3 Tóm tắt số liệu nhân khẩu học của thành phố Phủ Lý và huyện Duy Tiên 42
Bảng 2.1 Các xã, phường được chọn vào nghiên cứu 50
Bảng 2.2 Các đối tượng của điều tra phỏng vấn sâu 52
Bảng 2.3 Mẫu điều tra thảo luận nhóm 53
Bảng 3.1 Thông tin cơ bản của đối tượng nghiên cứu 72
Bảng 3.2 Mong muốn có con trai tại Hải Dương và Hà Nam trong đánh giá trước can thiệp (2013) 78
Bảng 3.3 Kiến thức đúng về phòng chống LCGTTS và MCBTSGTKS trong đánh giá trước can thiệp (2013) 79
Bảng 3.4 Hồi quy logistic về Kiến thức tốt về vấn đề LCGTTS trong đánh giá trước can thiệp (2013) 81
Bảng 3.5 Khả năng tiếp cận các nguồn thông tin 82
Bảng 3.6 Tỷ lệ đồng ý với các nhận định thái độ về bình đẳng giới của đối tượng trong đánh giá trước can thiệp (2013) 83
Bảng 3.7 Tỷ lệ đồng ý với các nhận định thái độ về vai trò, trách nhiệm của con trai, con gái trong gia đình của đối tượng trong đánh giá trước can thiệp (2013) 84
Bảng 3.8 Hồi quy logistic về thái độ phản đối với hành vi LCGTTS trong đánh giá trước can thiệp (2013) 87
Bảng 3.9 Phá thai lựa chọn giới tính trong đánh giá trước can thiệp (2013) 88
Bảng 3.10 Tỷ số giới tính khi sinh trước và sau can thiệp 89
Trang 14xii
Bảng 3.11 Phân bổ của các đối tượng trước và sau can thiệp theo phường/xã tại hai tỉnh 91Bảng 3.12 Thông tin cơ bản của đối tượng nghiên cứu trong đánh giá sau can thiệp (2016) 92Bảng 3.13 Người ra quyết định chính liên quan đến vấn đề sinh đẻ và kế hoạch hóa gia đình trong đánh giá sau can thiệp (2016) 100Bảng 3.14 Lý do chọn con trai trong đánh giá sau can thiệp (2016) 102Bảng 3.15 Kiến thức tốt về LCGTTS và MCBTSGTKS trong đánh giá sau can thiệp (2016) 105Bảng 3.16 Phân tích khác biệt kép (DID) để kiểm soát tương tác của hai biến phụ thuộc tác động tới Kiến thức về vấn đề LCGTTS và MCBTSGTKS 106Bảng 3.17 Nguồn thông tin về MCBTSGTKS trong đánh giá sau can thiệp (2016) 108Bảng 3.18 Phân tích khác biệt kép (DID) để kiểm soát tương tác của hai biến phụ thuộc tác động tới Điểm thái độ phản đối với hành vi LCGTTS 109Bảng 3.19 So sánh thay đổi thái độ về BĐG trong đánh giá sau can thiệp (2016) 112Bảng 3.20 So sánh thái độ về vai trò và trách nhiệm của con trai và con gái trong gia đình của đối tượng 115Bảng 3.21 So sánh thái độ với người sinh con một bề của đối tượng 118Bảng 3.22 Hành vi về lựa chọn giới tính của đối tượng nghiên cứu 119
Trang 15xiii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Tỉ số giới tính khi sinh tại các quốc gia năm 2011 5
Hình 1.2 TSGTKS tại Việt Nam qua các năm 1999-2016 12
Hình 1.3 TSGTKS của tỉnh Hải Dương và Hà Nam qua các năm 2009-2016 16
Hình 1.4 Khung lý thuyết của Christope Z Guilmoto về điều kiện tiên quyết dẫn đến LCGTTS 35
Hình 1.5 Khung lý thuyết đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi về LCGTTS 36
Hình 1.6 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương 41
Hình 1.7 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Nam 43
Hình 2.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu 47
Hình 2.2 Sơ đồ mô tả kết quả theo 3 giai đoạn của nghiên cứu đánh giá KT-TĐ-TH về LCGTTS 66
Hình 3.1 Phân bổ trình độ học vấn theo giới tính tại Hải Dương và Hà Nam 74
Hình 3.2 Phân bổ nghề nghiệp theo giới tính tại Hải Dương và Hà Nam 75
Hình 3.3 Phân bổ người đóng góp thu nhập chính trong gia đình tại Hải Dương và Hà Nam 76
Hình 3.4 Phân bổ người quyết định chính trong sử dụng BPTT và dịch vụ SKSS trong gia đình tại Hải Dương và Hà Nam 77
Hình 3.5 TSGTKS giai đoạn 2013-2016 tại Hải Dương và Hà Nam 90
Hình 3.6 Phân bổ độ tuổi theo giới tính tại tại Hải Dương và Hà Nam trong đánh giá sau can thiệp (2016) 94
Hình 3.7 Phân bổ trình độ học vấn theo giới tính tại Hải Dương và Hà Nam trong đánh giá sau can thiệp (2016) 95
Hình 3.8 Phân bổ dân tộc theo giới tính tại Hải Dương và Hà Nam trong đánh giá sau can thiệp (2016) 96
Trang 16xiv
Hình 3.9 Phân bổ tôn giáo theo giới tính tại Hải Dương và Hà Nam trong đánh giá sau can thiệp (2016) 96Hình 3.10 Phân bổ nghề nghiệp theo giới tính tại Hải Dương và Hà Nam trong đánh giá sau can thiệp (2016) 97Hình 3.11 Phân bổ người đóng góp thu nhập chính trong gia đình tại Hải Dương và
Hà Nam trong đánh giá sau can thiệp (2016) 98Hình 3.12 Thay đổi điểm thái độ phản đối với hành vi LCGTTS của đối tượng tại từng tỉnh 110Hình 4.1 TSGTKS qua các năm 2013-2016 138
Trang 171
ĐẶT VẤN ĐỀ
MCBTSGTKS xảy ra chủ yếu là do các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện hành vi lựa chọn giới tính trước sinh (LCGTTS) để có được đứa con theo giới tính mong muốn [37], [81] Nguyên nhân của các hành vi này khá phức tạp, song nhiều nghiên cứu cho rằng có thể phân thành ba nhóm chính: Nhóm “các yếu tố cơ bản” liên quan đến những phong tục tập quán, quan niệm văn hóa truyền thống, ưu thích con trai ; nhóm “các yếu tố phụ trợ” như áp lực giảm sinh, chế độ an sinh xã hội, một số loại hình công việc đòi hỏi sức lao động cơ bắp của con trai ; và nhóm “các yếu tố trực tiếp” là sự tiếp cận dễ dàng tới công nghệ lựa chọn giới tính [82], [83]
Xu hướng gia tăng TSGTKS cũng được quan sát thấy ở Việt Nam trong hơn thập kỷ qua Qua 3 cuộc Tổng điều tra Dân số, TSGTKS của Việt Nam đã tăng từ 105 (năm 1979) lên 106 (năm 1989) và 107 (năm 1999) Như vậy, cứ 10 năm TSGTKS lại tăng 1 điểm Vấn đề MCBTSGTKS thực sự trở thành thách thức với Việt Nam từ năm
2006 khi TSGTKS tăng lên 110 và liên tục tăng qua các năm lên 112,2 vào năm 2016 [35], [44], [53], [54] Trong số các địa phương phải đối mặt với tình trạng MCBTSGTKS nghiêm trọng có tỉnh Hải Dương nằm ở vùng Đồng bằng sông Hồng thuộc phía Bắc Việt Nam Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/4/2009, TSGTKS toàn quốc là 110,8 trong khi đó tỷ số này ở Hải Dương là 120,3 - cao thứ hai trên toàn quốc và năm 2013 là 118,9 [39]
Các dự báo nhân khẩu học cho thấy rằng nếu TSGTKS tiếp tục tăng sau năm
2010 thì Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do mất cân bằng cơ cấu giới tính (MCBCCGT) Đến năm 2050 sẽ có 2,3 đến 4,3 triệu nam giới không thể kết hôn [44] Nếu hành vi LCGTTS ở Việt Nam nói chung và Hải Dương nói riêng không được ngăn chặn thì các tác động tiêu cực sẽ nảy sinh MCBCCGT có thể làm tăng nguy cơ xung đột xã hội giữa người nghèo và người giàu, làm gia tăng bất bình đẳng giới (BĐG),
Trang 182
phát triển các tệ nạn xã hội, tác động tiêu cực đến sự ổn định xã hội, phát triển kinh tế,
đe dọa cho sự phát triển bền vững của xã hội và thậm chí an ninh quốc tế [27], [59]
Trong thời gian qua, ở Việt Nam nói chung và Hải Dương nói riêng một số can thiệp phòng chống LCGTTS nhằm kiểm soát tình trạng MCBTSGTKS đã được triển khai Tuy nhiên, do tính chất khó khăn và phức tạp của việc kiểm soát MCBTSGTKS trong bối cảnh của một xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề của các giá trị Nho giáo, nhận thức của nhân dân còn hạn chế, các vi phạm về LCGTTS có xu hướng lan rộng, những biện pháp can thiệp còn lẻ tẻ, chưa đủ mạnh, thiếu đồng bộ, đặc biệt nguồn lực thiếu nên kết quả còn rất hạn chế Tình trạng MCBTSGTKS chưa được kiềm chế, vẫn tiếp tục tăng [9], [16], [25], [40]
Để giảm nhanh tốc độ gia tăng TSGTKS và dần đưa tỷ số này trở lại mức cân bằng tự nhiên càng sớm càng tốt là một đòi hỏi cấp thiết, cần được thực hiện bằng hệ thống các giải pháp phòng chống LCGTTS đồng bộ, hiệu quả Tỉnh Hải Dương với sự trợ giúp của Quỹ Dân số Liên Hợp quốc (UNFPA) tiến hành chương trình can thiệp đồng bộ phòng chống LCGTTS nhằm giải quyết vấn đề MCBTSGTKS trong giai đoạn 2013-2016 trong khuôn khổ Dự án VNM8P08 "Phòng chống bạo lực gia đình, giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tinh khi sinh và chăm sóc người cao tuổi tại tỉnh Hải Dương" [9]
Nghiên cứu sinh tham gia trong tất cả các giai đoạn triển khai can thiệp tại Hải Dương và được phép của Chi cục DS-KHHGĐ Hải Dương sử dụng các số liệu thu thập
phục vụ cho đề tài nghiên cứu: “Can thiệp thay đổi kiến thức, thái độ, hành vi về lựa
chọn giới tính trước sinh tại tỉnh Hải Dương giai đoạn 2013-2016” Nghiên cứu này
được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả các can thiệp thông qua phân tích, đánh giá các thay đổi về kiến thức, thái độ, hành vi về LCGTTS trước và sau khi triển khai can thiệp tại tỉnh Hải Dương và so sánh với địa bàn không can thiệp là tỉnh Hà Nam để rút ra các bài học và kinh nghiệm cho việc triển khai các can thiệp tương tự tại các địa phương có
tình trạng MCBTSGTKS khác trên toàn quốc
Trang 193
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (18-40) về lựa chọn giới tính trước sinh và một số yếu tố liên quan tại 2 huyện thuộc tỉnh Hải Dương và 2 huyện thuộc Hà Nam năm 2013
2 Đánh giá thay đổi về kiến thức, thái độ và hành vi của các cặp vợ chồng trong
độ tuổi sinh đẻ (18-40) về lựa chọn giới tính trước sinh tại 2 huyện thuộc tỉnh Hải Dương sau can thiệp
Trang 202 Tỷ số giới tính khi sinh là một chỉ số thống kê được xác định bằng số bé trai
được sinh ra còn sống so với 100 bé gái được sinh ra còn sống trong thời gian nhất định, thường là một năm tại một quốc gia hay địa phương cụ thể TSGTKS chỉ tin cậy cao khi tính với mẫu từ 10.000 trẻ sinh sống trở lên [36]
3 Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh là số trẻ em trai sinh ra còn sống cao
hơn hoặc thấp hơn ngưỡng sinh học tự nhiên so với 100 trẻ em gái Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh xảy ra khi số trẻ nam sinh ra còn sống lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103
so với 100 trẻ em gái [36]
4 Lựa chọn giới tính trước sinh là hành vi bao gồm việc áp dụng các biện pháp
áp dụng ngay từ trước lúc thụ thai như chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn…; trong lúc thụ thai như chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y…; hoặc khi đã có thai như sử dụng siêu
âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối… để chẩn đoán giới tính và phá bỏ thai có giới tính không mong muốn Hành vi lựa chọn giới tính sẽ dẫn tới mất cân bằng giới tính khi sinh [80]
5 Khủng hoảng hôn nhân là hiện tượng mất cân bằng nhân khẩu học khi mà số
lượng các cô dâu tiềm năng không xấp xỉ bằng với số của chú rể tương lai Khi không phải ai cũng có cơ hội lập gia đình, một số sẽ bị đẩy ra khỏi thị trường hôn nhân [86]
6 Cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ là cặp vợ chồng đã kết hôn có vợ trong độ
tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi) [95]
Trang 211.2.1 Tỷ số giới tính khi sinh trên thế giới
Tỷ số giới tính của dân số trên thế giới khoảng 101 nam trên 100 nữ Năm 2012, thư viện của cơ quan tình báo Hoa Kỳ (CIA) đã bổ sung TSGTKS vào các chỉ số về con người và Chartbin đã sử dụng số liệu này để mô tả khái quát bức tranh về TSGTKS trên toàn thế giới với số liệu tại các quốc gia từ những năm 2011 trở về trước (Hình 1.1) Theo đó, đa số các quốc gia ở Châu Phi, Mỹ La Tinh có TSGTKS thấp ở mức dưới 103 trong khi đó các quốc gia Châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ có TSGTKS ở mức trên 106 [70]
Hình 1.1 Tỉ số giới tính khi sinh tại các quốc gia năm 2011 [70]
Số liệu của các cuộc điều tra về dân số của các nước cho thấy trong mấy thập kỷ qua đã chứng kiến MCBCCGT, bé trai nhiều hơn bé gái ở các nước khu vực Nam Á, Đông Á và Trung Á Xu thế này ngày càng lan rộng, bắt đầu từ các nước Châu Á như
Trang 226
Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc vào thập niên 80 của thế kỷ 20, sau đến các nước vùng Cáp-ca (Gruzia, Azerbaijan và Armenia) vào thập niên 90 của thế kỷ 20 và sau đó là Montenegro, Albania và Việt Nam [71], [83], [88], [89], [96]
Năm 1950 TSGTKS của 3 vùng Tây Á, Đông Nam Á và Nam-Trung Á ở mức tự nhiên, còn ở vùng Đông Á thì TSGTKS đã ở mức 109 TSGTKS ở các khu vực này không đổi đến giữa những năm 80 thế kỷ 20 Sau đó, bắt đầu có sự gia tăng TSGTKS ở khu vực Đông Á vào những năm 1980-85 và ở Nam-Trung Á vào những năm 1985-90, trong khi tình hình vẫn bình thường ở những nơi khác ở Châu Á [86], [104]
Ở khu vực Đông Á, TSGTKS lên tới 114 vào những năm 2000-2005 do ảnh hưởng MCBTSGTKS của Trung Quốc và Hàn Quốc Vào những năm 60 và 70 thế kỷ
20, TSGTKS ở Trung Quốc vẫn ở mức bình thường 106/100 Tuy nhiên, số lượng các bé trai đã tăng nhiều từ thập niên 80 cùng với chính sách KHHGĐ, sử phổ biến rộng rãi công nghệ có thể xác định giới tính thai nhi và văn hóa truyền thống Trung Quốc “ưa thích con trai” đã làm cho TSGTKS tăng nhanh và cao bất thường [99], [105], [117] Suốt từ những năm1990 cho đến nay, TSGTKS ở Trung Quốc luôn ở mức cao và rất cao: Năm 1990 là 111,3, năm 1995 là 116,8, năm 2000 là 119,9, năm 2005 là 120,5 và giai đoạn 2009-2011vẫn ở mức118,1 Đỉnh cao của MCBTSGTKS ở Trung Quốc dường như đã đạt vào năm 2005, ở ngưỡng 120,5 TSGTKS ở một số tỉnh của Trung Quốc vẫn cao hơn nhiều so với mức trung bình của quốc gia Ở các vùng phía Tây, TSGTKS ở mức bình thường, trong khi đó các tỉnh ở phía Đông như tỉnh như Hà Nam, Quảng Đông
và An Huy tỷ số này thậm chí vượt xa mức 130 [116], [119]
Ở khu vực Đông Á có Hàn Quốc là trường hợp duy nhất thành công trong việc đưa TSGTKS về đúng với quy luật sinh sản tự nhiên Vào thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ
20, Hàn Quốc bị MCBTSGTKS nghiêm trọng, có lúc lên cao nhất là 116 năm 1990 Đến năm 2007, TSGTKS đã trở về mức 107 [72], [75] Dường như tập hợp nhiều yếu
tố tạo nên sự chuyển biến tích cực này Đó là sự phát triển kinh tế nhanh chóng, quy
mô gia đình nhỏ trở lên phổ biến, đô thị hóa nhanh, sự tham gia của phụ nữ nhiều hơn
Trang 237
vào lực lượng lao động, cha mẹ có lương hưu, vị trí của phụ nữ được cải thiện đáng kể, một số luật được sửa đổi đảm bảo sự BĐG, việc xử phạt nghiêm khắc cán bộ y tế sử dụng công nghệ vào xác định giới tính thai nhi [81], [89]
Ở khu vực Nam Á, quốc gia bị ảnh hưởng MCBTSGTKS nhất là Ấn Độ Tuy nhiên, mức độ MCBCCGT còn thấp hơn nhiều so với Trung Quốc Tại Ấn Độ, TSGTKS ở mức 107 vào những năm 1960 và tăng lên đến 113,3 vào năm 2001–2006,
tỷ số này cũng có xu hướng giảm khi giai đoạn 2007-2009 là 110,5 TSGTKS của Ấn
Độ bắt đầu tăng ngay khi công nghệ và thiết bị chẩn đoán giới tính thai nhi được đưa vào sử dụng vào những năm 80 của thế kỷ 20 tạo điều kiện cho hành vi LCGTTS được thực hiện dễ dàng [89], [94], [105], [110] Cũng tương tự như ở Trung Quốc, sự khác biệt giữa các vùng cũng xảy ra tại Ấn Độ Ở các vùng phía Tây của Ấn Độ thuộc các bang như Gujarat, Punjab và Haryana TSGTKS ở mức 120 hoặc cao hơn Từ năm
2001, MCBTSGTKS đã lan ra các khu vực mới ở phía Bắc và miền trung Ấn Độ như Uttar Pradesh [74], [110]
Ở khu vực Đông Nam châu Âu và Tây Á, MCBTSGTKS cũng xảy ra ở một số nước như Albania, Montenegro, Azerbaijan, Armenia và Georgia với mức trên 110 Tại Nam Caucasus (Azerbaijan và Armenia), TSGTKS có thời điểm lên tới 118 trong thập kỷ trước TSGTKS ở Georgia duy trì ở mức bình thường cho đến năm 1991, sau
đó tăng lên 111 vào cuối thế kỷ 20 [83], [104]
1.2.2 Sự khác biệt về TSGTKS theo một số đặc trưng
Ngay trong một quốc gia, TSGTKS cũng khác biệt đáng kể tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội của từng nhóm dân số Phân tích thống kê sự khác biệt này tạo nên một bức tranh phức tạp và khó phiên giải nhưng vẫn cần thực hiện để tập trung can thiệp vào nhóm có TSGTKS cao hơn và xác định những yếu tố ảnh hưởng đến TSGTKS
Trang 248
1.2.2.1 Thứ tự sinh và giới tính của trẻ sinh trước đó
Shuzhuo Li nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy TSGTKS ở mức bình thường đối với con đầu lòng, nhưng tăng tới 146 đối với con thứ hai Tại các tỉnh nông thôn Trung Quốc, nơi cho phép có con thứ hai nếu đứa con đầu là gái, TSGTKS tăng tới 160 [113]
Theo kết quả Điều tra sức khỏe gia đình quốc gia (NFHS) của Ấn Độ, TSGTKS của con đầu lòng đã cao hơn mức bình thường ở cả ba cuộc đánh giá NFHS và đã tăng đều kể từ NFHS-1 Điều này cũng đúng cho những đứa con thứ hai TSGTKS của những đứa con thứ hai cao nhất, cao hơn đứa con thứ nhất và các con sinh sau đó Điều này cho thấy tỉ lệ đáng kể các cặp vợ chồng có hai hoặc ba con, họ dừng lại khi sinh được con trai Việc xem xét TSGTKS của lần sinh cuối cùng cho phép biết được có hiện tượng ưu thích con trai hay không Nếu cặp vợ chồng muốn có con trai thì họ sẽ sinh con cho đến khi sinh được con trai, như vậy TSGTKS của lần sinh cuối sẽ cao hơn các lần sinh trước [76], [88], [105], [110] Trong cả ba cuộc điều tra, TSGTKS của lần sinh cuối cùng cao hơn nhiều so với TSGTKS chung Trong NFHS-1, TSGTKS chênh lệch 12,5%, trong NFHS-2 là 17,7% và trong NFHS-3 sự chênh lệch lên tới 24,3% Trong hầu hết mọi trường hợp, các số liệu thống kê cho thấy TSGTKS tăng theo số lần sinh Giới tính của những lần sinh trước, nếu có, trở thành một chỉ báo thuyết phục hơn về TSGTKS của lần sinh sau: Những cha mẹ chưa có con trai thường
có xu hướng tìm cách tác động tới giới tính hay sự sinh tồn của đứa con tiếp theo nhiều nhất Không có gì đáng ngạc nhiên khi tỉ số giới tính của lần sinh cuối ở Ấn Độ năm
2005 tăng cao tới 132 [83], [89], [110]
Tại Trung Quốc, phân tích theo thứ tự số sinh cho thấy rất rõ tâm lý thích sinh con trai, tỉ lệ giới tính khi sinh của lần sinh thứ nhất là 108,41 Tác động của chính sách hạn chế sinh đẻ được thể hiện sau lần sinh con đầu, cũng như số ca sinh con trai tăng mạnh trong lần sinh con thứ hai TSGTKS của con thứ hai đã tăng lên 143,22, đây là mức MCBTSGTKS nghiêm trọng, cao hơn mức TSGTKS chung là 122,49 TSGTKS rất cao ở đứa con thứ hai ở An Huy - 190, Giang Tô - 192, Thượng Hải - 175 và ở Bắc
Trang 259
Kinh là 149 Đối với lần sinh thứ ba, TSGTKS đã tăng vọt lên hơn 200 ở bốn tỉnh, trong đó tại Bắc Kinh lên tới gần 300 Riêng ở vùng Tây Tạng không có hiện tượng MCBTSGTKS xảy ra [86], [88], [119]
Tại Hàn Quốc, có thể quan sát thấy mối quan hệ tương quan thuận rõ rệt giữa TSGTKS và thứ tự sinh Giống như ở các nước khác, TSGTKS đã luôn duy trì ở mức bình thường ở các lần sinh con đầu, sau đó tăng dần lên tới 200-240 ở các ca sinh con thứ hai, đặc biệt con thứ ba trở lên [71], [75]
1.2.2.2 Vùng miền, khu vực thành thị-nông thôn
Ấn Độ là một trong số những quốc gia xảy ra hiện tượng MCBTSGTKS nghiêm trọng trong khu vực Nam Á TSGTKS tại Ấn Độ có sự khác biệt giữa các bang, khoảng từ 113 lên tới 137 và sự chênh lệch này vẫn đang tiếp tục tăng Mức TSGTKS khoảng 120 là khá phổ biến ở các bang Punjab, Haryana và Gujarat Từ năm 2001, chênh lệch về TSGTKS đã lan sang những khu vực mới ở phía Bắc và miền trung Ấn
Độ như bang Uttar Pradesh [74], [110] Sự phân biệt đối xử đối với các bé gái nặng nề hơn ở dân cư đô thị, ở cha mẹ có học vấn và gia đình khá giả tại Ấn Độ Theo kết quả đánh giá NFHS 2000-2004 cho thấy TSGTKS rất khác nhau giữa các bang ở Ấn Độ,
cụ thể tại bang Punjab là 137 và Haryana - 132, trong khi đó tại bang Jharkhand chỉ là
91 Chỉ có 5 bang Chhattisgarh, Madhya Pradesh, Uttar Pradesh, West Bengal và Nagaland là có TSGTKS nằm trong giới hạn bình thường (103-106) và 6 bang có TSGTKS thấp hơn bình thường - Sikkim, Assam, Arunachal Pradesh, Manipur, Nagaland, Jharkhand, Madhya Pradesh [85], [105] Tất cả ngoại trừ bang Jharkhand đều nằm ở phía Đông Bắc của Ấn Độ Như vậy, có 18/29 bang ở Ấn Độ có TSGTKS cao hơn mức bình thường Đáng chú ý, tất cả 4 bang miền Nam, bao gồm cả Kerala đều có TSGTKS cao [74], [82], [110]
Trong khi đó, kết quả phân tích dữ liệu tương tự tại Trung Quốc cho thấy LCGTTS xuất hiện rõ hơn ở những người sống ở nông thôn, tuy nhiên, theo thời gian, TSGTKS ở tất cả các vùng đều có xu hướng tăng lên Năm 2005, TSGTKS ở vùng
Trang 2610
nông thôn là 122,9, khu vực thị trấn - 119,9 và ở các thành phố là 115,2 Cả các tỉnh có thu nhập cao và thu nhập thấp đều có TSGTKS tăng Ba thành phố Thượng Hải, Bắc Kinh và Thiên Tân có GDP cao nhất thì có TSGTKS tương ứng là 115,5, 114,5 and
113 và ba tỉnh có GDP thấp nhất là Quý Châu, Cam Túc và Quảng Tây có TSGTKS tương ứng là 105,7, 114,4 and 117,8 [103], [113], [114]
Tại Hàn Quốc, theo kết quả đánh giá năm 1991 cho thấy hơn 30% phụ nữ Hàn Quốc ủng hộ hành vi lựa chọn sinh con trai đặc biệt là ở các vùng nông thôn và có tới
66 ca phá thai trên 100 trẻ đẻ sống Kết quả này cho thấy phần lớn phụ nữ mang thai thực hiện xác định giới tính trước khi sinh và nhiều trong số đó lựa chọn phá thai lựa chọn giới tính [71]
1.2.2.3 Dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo
Sự khác biệt đáng kể về TSGTKS cũng được quan sát thấy giữa các nhóm tôn giáo, sắc tộc Tại Hàn Quốc, chênh lệch trong TSGTKS quan sát được trong thập niên
1990 giữa các tỉnh gắn liền với những đặc điểm vùng miền và sự phân bố của các nhóm tôn giáo Một số vùng có TSGTKS cao được cho là do các phong tục tập quán văn hóa bảo thủ của họ và việc gia tăng phá thai gái [72]
Ở Trung Quốc, tại các vùng tập trung đông dân tộc thiểu số thì TSGTKS ở mức khá bình thường Sáu tỉnh Xizang, Tân Cương, Nội Mông Cổ, Quảng Tây và Ninh Hạ
có nhiều người dân tộc thiểu số tập trung nhưng TSGTKS ở ngưỡng 110, chỉ cao hơn mức bình thường một chút Mặc dù TSGTKS ở các vùng tập trung đông dân tộc thiểu
số không cao như đối với nhóm dân tộc chiếm đa số là người Hán, nhưng vẫn tồn tại sự khác biệt lớn về TSGTKS giữa các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau Trong số 36 dân tộc thiểu số lớn nhất của Trung Quốc thì có các dân tộc Choang, Đồng, Yao, Tujia là
có TSGTKS cao hơn 120 [88], [113], [114]
Trang 2711
1.2.2.4 Mức sống
Tại Ấn Độ, TSGTKS có sự khác biệt đáng kể theo điều kiện kinh tế hộ gia đình TSGTKS ở 5 năm trước NFHS-3 của nhóm nghèo nhất là 105 TSGTKS ở nhóm có điều kiện kinh tế trên nhóm nghèo nhất vẫn trong phạm vi bình thường là 106 Tuy nhiên, TSGTKS của các nhóm giàu hơn càng tăng dần và ở nhóm giàu nhất là 117 [80] Phân tích 250,000 trường hợp sinh tại Ấn Độ trong thời gian 1990 - 2005 cho thấy phá thai lựa chọn giới tính phổ biến hơn ở những gia đình giàu và trình độ học vấn cao hơn Điều này có thể do nhóm này dễ tiếp cận với thông tin và kỹ thuật lựa chọn giới tính trước khi sinh hơn [88], [105]
Ở Trung Quốc, TSGTKS cao được quan sát ở cả nhóm có thu nhập cao nhất và nhóm có thu thập thấp nhất Các ước tính từ đánh giá dân số giữa kỳ năm 2005 cho thấy những tầng lớp có học thức và giàu có nhất thường có TSGTKS thấp (111) so với mức bình quân cả nước (120) Tuy những gia đình giàu nhất có mức sinh thấp và dễ dàng tiếp cận với công nghệ là những yếu tố dẫn tới tăng tỉ lệ sinh con trai, nhưng lý do khiến TSGTKS giảm có thể do mức độ định kiến đối với con gái thấp hơn [97], [103]
Tại Hàn Quốc, TSGTKS lúc đầu cao ở nhóm có địa vị xã hội tốt hơn vào giữa những năm 1980, sau đó chuyển sang ở nhóm có thu nhập thấp hơn và nhóm lao động chân tay [71], [75]
1.2.3 Tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam
Năm 2017, dân số Việt Nam hơn 93 triệu với 54 nhóm dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số, khoảng 85,8% tổng dân số Tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam là 73,6 Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh là 12 trên 1.000 trẻ đẻ sống [54]
Xã hội Việt Nam được xây dựng trên nền tảng văn hóa, truyền thống làng xã, tổ tiên Các giá trị của gia đình và cộng đồng được đánh giá cao Một số yếu tố của văn hóa dân tộc có nguồn gốc Trung Quốc, dựa trên các yếu tố của Nho giáo và Đạo giáo trong triết học và hệ thống chính trị truyền thống [79], [99]
Trang 2812
MCBTSGTKS ở Việt Nam xuất hiện muộn nhưng tốc độ gia tăng nhanh hơn so với một số nước Châu Á Theo kết quả của các cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở và Điều tra biến động Dân số và KHHGĐ hàng năm, TSGTKS năm 1999 ở mức 107 và
có sự biến động qua từng năm (Hình 1.2)
Hình 1.2 TSGTKS tại Việt Nam qua các năm 1999-2016 [44], [45], [46],
[47], [48], [49], [50], [51], [52], [53], [54]
Như vậy, TSGTKS của Việt Nam bắt đầu gia tăng sau các nước nói trên khoảng
20 năm, nhưng tốc độ gia tăng lại nhanh hơn TSGTKS đã có dấu hiệu gia tăng từ năm
1999, nhưng bắt đầu từ 2006 TSGTKS bắt đầu tăng và trở thành thách thức lớn với công tác dân số Trong những năm gần đây, TSGTKS vẫn tiếp tục tăng và ở mức cao (từ 110,5 năm 2009 đến 112,2 năm 2016) [54], [84]
1.2.3.1 TSGTKS khác biệt giữa các vùng, miền
Sự khác biệt TSGTKS theo khu vực địa lý là khá lớn Giá trị trung bình TSGTKS trong giai đoạn 2010-2014 là 111,6 Ba vùng Trung du và vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long có TSGTKS ở mức cân bằng tự nhiên là 105 Riêng Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có mức TSGTKS tăng nhẹ Trong khi đó, vùng
1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
TSGTKS tại Việt Nam qua các năm 1999-2016
Trang 2913
Đồng bằng sông Hồng có TSGTKS cao nhất ở mức 117,4 trong giai đoạn 2010-2014 Ở
hai vùng khác là Đông Nam Bộ (110,7) và Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung
(111) có TSGTKS gần với mức trung bình cả nước (111,6) [86], [87]
TSGTKS trung bình của cả nước tăng từ 109,3 giai đoạn 2005-2009 lên 111,6
giai đoạn 2010-2014 So sánh sự khác biệt của TSGTKS trung bình giữa các vùng trong
cả nước của 2 giai đoạn 2005-2009 và 2010-2014 có thể thấy sự gia tăng TSTGKS có
thể quan sát thấy ở hầu hết các vùng Phân bố địa lý của tình trạng MCBTSGTKS tại
Việt Nam hầu như không thay đổi đáng kể trong giai đoạn này Vùng Đồng bằng sông
Hồng có TSGTKS cao nhất từ trước năm 2009 trong khi vùng Đồng bằng sông Cửu
Long và vùng miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung của Việt Nam
đều duy trì mức TSGTKS thấp nhất trong cả nước [43], [117]
1.2.3.2 TSGTKS khác biệt giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị
Ở Việt Nam TSGTKS không khác biệt lớn giữa khu vực nông thôn và khu vực
thành thị TSGTKS tại khu vực thành thị cao hơn một chút so với khu vực nông thôn,
trong giai đoạn 2010-2014, tương ứng là 112,2 và 111,2 Tuy nhiên, điều này không có
nghĩa là hiện tượng MCBTSGTKS ở khu vực nông thôn và thành thị là tương tự nhau
Có sự khác biệt về TSGTKS giữa khu vực thành thị và nông thôn tại mỗi vùng
TSGTKS tại khu vực thành thị cao hơn so với khu vực nông thôn tại các vùng Trung du
và miền núi phía Bắc (111,9 > 109,2), vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung
(113,5 > 110,2), Tây Nguyên (113,4 > 105,8) và Đông Nam Bộ (112,8 > 110,7) Trong
khi đó TSGTKS ở khu vực nông thôn lại cao hơn khu vực thành thị tại vùng Đồng bằng
sông Hồng (119,4 >113,2) và Đồng bằng sông Cửu Long (109,3 >107,7) [43], [86]
1.2.3.3 TSGTKS khác biệt theo thứ tự sinh và giới tính của trẻ sinh trước đó
TSGTKS cao ngay từ lần sinh thứ nhất
Kết quả Đánh tra biến động DS-KHHGĐ năm 2011 cho thấy TSGTKS qua các
lần sinh ở Việt Nam như sau: Lần sinh thứ nhất 109,7; lần sinh thứ hai 111,9; lần sinh
Trang 3014
thứ 3 trở lên là 119,7 Như vậy, ngay từ lần sinh thứ nhất đã xẩy ra MCBTSGTKS ở mức khá cao Nhiều chuyên gia nghiên cứu nhân khẩu học khi xem xét TSGTKS qua các lần sinh ở Việt Nam cho rằng một số cặp vợ chồng có thể đã thực hiện LCGTTS ngay trong lần mang thai đầu [84], [85] Điều này ít khi được ghi nhận ở các quốc gia
có hiện tượng MCBTSGTKS khác Thông thường ở các quốc gia này, TSGTKS bình thường ở lần sinh thứ nhất, tăng cao dần trong những lần sinh tiếp theo [83]
TSGTKS cao ở lần sinh cuối cùng
Trước đây, muốn có con trai chỉ có cách đẻ nhiều cho tới khi có con trai mới thôi,
do vậy TSGTKS ở lần sinh cuối cùng rất cao Đây chính là “quy luật dừng” trong nhân khẩu học hay nói một cách khác là yếu tố giới tính đã quyết định việc dừng sinh đẻ hơn
là số con đã có Khi mức sinh cao, với tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ
nữ trong độ tuổi sinh đẻ - TFR) khoảng 6 con, chỉ có khoảng 1,5% phụ nữ không có con trai Chính vì thế ở Việt Nam giai đoạn 1988-1997, mặc dù TSGTKS ở lần sinh cuối cùng lên tới 134,2 nhưng TSGTKS chung cũng chỉ lên tới 107 [109], [117]
Từ đầu những năm 2000, do mức sinh giảm nhanh cùng với việc tiếp cận dễ dàng các kỹ thuật lựa chọn giới tính, “quy luật dừng” ở Việt Nam cũng đã có những sự thay đổi: Một số cặp vợ chồng đã chủ động tìm kiếm các phương pháp lựa chọn giới tính ngay từ lần sinh thứ nhất [109]
TSGTKS trung bình cho giai đoạn 2010-2014 cho thấy TSGTKS của lần sinh thứ nhất đã khá cao (110,2), cao hơn nhiều so mức sinh học tự nhiên là 105 TSGTKS không tăng đối với những ca sinh ở lần sinh thứ 2 và chỉ tăng mạnh ở lần sinh thứ 3 trở
đi TSGTKS ở lần sinh thứ 3 trở đi trong giai đoạn 2010-2014 đã vượt ngưỡng 120, cao hơn nhiều so với TSGTKS trung bình của cả nước (111,6) [80], [84]
TSGTKS cao ở nhóm trẻ có chị gái trước đó
Kết quả các cuộc điều tra về biến động DS-KHHGĐ trong giai đoạn 2010-2014 cho thấy TSGTKS ở lần sinh thứ hai sau khi đã có một con trai ở mức hoàn toàn bình
Trang 31TSGTKS khác biệt theo mức sống
Các nghiên cứu và điều tra trước đây cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa mức sống và TSGTKS Theo số liệu Đánh giá biến động dân số và KHHGĐ năm 2014, TSGTKS của nhóm nghèo nhất có ở mức 107,3, gần với mức sinh học tự nhiên TSGTKS tăng rõ rệt theo mức tăng của mức sống, từ mức 107,3 ở nhóm nghèo nhất lên tới 109,9 ở nhóm nghèo, 111,5 ở nhóm trung bình và đạt đỉnh điểm gần 113 ở nhóm giàu và rất giàu [51]
TSGTKS khác biệt theo trình độ học vấn
Trình độ học vấn thường là một trong những nhân tố quyết định đến hành vi nhân khẩu học TSGTKS phân theo trình độ giáo dục của người mẹ có sự khác biệt đáng kể Các nghiên cứu và điều tra trước đây cũng cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa trình độ học vấn của phụ nữ và TSGTKS TSGTKS ở nhóm phụ nữ không biết chữ là thấp nhất - 106 Khi trình độ học vấn của phụ nữ tăng lên, TSGTKS cũng tăng lên, từ mức 106 đến 111 ở bậc tiểu học, đến mức 113 ở bậc trung học phổ thông và cuối cùng
là 114,6 ở bậc đại học [79], [108]
Nhóm những bà mẹ với thời gian đi học ít hơn 3 năm, TSGTKS ở mức sinh học
tự nhiên là 105 Tuy nhiên, TSGTKS tăng theo số năm đi học của bà mẹ, lên mức 108,1 nếu bà mẹ có số năm đi học từ 3-5 năm, lên 111,1 với số năm đi học là 6-8 năm, 112,3 với 9-10 năm đi học và 113 với hơn 12 năm đi học hoặc hơn Học vấn càng cao, mức sinh càng giảm, lựa chọn giới tính thai nhi càng nhiều TSGTKS tăng theo số năm
đi học của người mẹ có thể lý giải là những phụ nữ có trình độ giáo dục cao hơn
Trang 3216
thường sinh sống ở các khu vực thành thị, có mức sinh thấp hơn, tiếp cận dễ dàng hơn với công nghệ chẩn đoán trước sinh, vì vậy họ dễ dàng thực hiện LCGTTS [87], [108]
1.2.4 Tỷ số giới tính khi sinh tại Hải Dương và Hà Nam
Hải Dương là một trong những tỉnh ở vùng Đồng bằng sông Hồng có tình trạng MCBTSGTKS nghiêm trọng
Hình 1.3 TSGTKS của tỉnh Hải Dương và Hà Nam qua các năm
2009-2016 [9], [43]
Theo kết quả của Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, TSGTKS ở Hải Dương lên tới 120,3, đứng thứ 2 trong toàn quốc, cao hơn 10 điểm phần trăm so với cả nước (120,2/110,5) Liên tục từ năm 2009 đến 2012, TSGTKS của Hải Dương luôn ở mức trên 121 Bắt đầu từ 2013, TSGTKS của Hải Dương đã có xu hướng giảm từ mức 118,9 và xuống còn 116,8 năm 2016 Còn tỉnh Hà Nam là tỉnh chứng có TSGTKS nhìn chung thấp Hải Dương có xu thế giảm từ 115 năm 2009 xuống 109 năm 2013, nhưng từ năm 2014 (111,7) lại tăng liên tục lên 112,7 năm 2016 Giai đoạn này trùng với giai
Trang 331.3.1 Các yếu tố cơ bản
Ở các nước có hiện tượng LCGTTS thường quan sát thấy là các giá trị truyền thống bắt nguồn từ hệ tư tưởng đề cao con trai hơn con gái và tâm lý ưa thích con trai phổ biến trong xã hội Chỉ con trai được quyền nối dõi và có vai trò quan trọng trong việc thờ cúng, ma chay Tại các quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam, tư tưởng Nho giáo và các nguyên tắc Khổng giáo… càng làm cho tâm lý ưa thích con trai mãnh mẽ hơn Các quan niệm xã hội và tôn giáo đòi hỏi con trai phải gánh vác việc thờ cúng tổ tiên và thực hiện các nghi lễ tôn giáo và tâm linh quan trọng khác Con trai giúp củng cố địa vị của cha mẹ trong cộng đồng, xã hội Đứa con sinh ra phải mang họ của bố Người chồng thường là chủ hộ trong gia đình, có quyền quyết định những việc lớn Theo phong tục truyền thống ở nhiều địa phương chỉ có con trai được thừa kế tài sản của cha mẹ Tất cả những điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân, các cặp vợ chồng, gia đình và dòng họ [67], [71], [77], [103] Trong cuộc sống hiện đại ngày nay hệ tư tưởng truyền thống bắt nguồn từ Nho giáo và tầm quan trọng của việc thờ cúng tổ tiên thông qua sự nối dõi của con trai vẫn là chủ đạo trong cuộc sống ở cấp
độ gia đình Ngay cả khi sống riêng, các cặp vợ chồng trẻ vẫn giữ mối liên lạc chặt chẽ
Trang 3418
với các thành viên của gia đình lớn của mình, nhất là với gia đình bên chồng Đồng thời việc giúp đỡ, hỗ trợ người cao tuổi trong gia đình vẫn được coi là trách nhiệm của các cặp vợ chồng trẻ Do vậy, vẫn tồn tại áp lực về việc phải sinh được con trai, kể cả khi không sống cùng với bố mẹ chồng [79], [99]
Ở Việt Nam, gia đình và cộng đồng vẫn đặc biệt thích có con trai vì những giá trị của con trai đem lại như con trai giúp nâng cao vị thế, danh dự của gia đình; nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình nếu sinh được con trai; và xác định vị thế của người đàn ông trong cộng đồng Các cặp vợ chồng thường chịu áp lực phải sinh con trai rất lớn từ người chồng, gia đình nhà chồng và dòng họ [108]
Tại một số nước Nam Á như Ấn Độ, tục thách cưới trở thành gánh nặng kinh tế cho những gia đình có con gái Tại Ấn Độ, mặc dù sự ưa thích con trai không bắt nguồn từ việc thờ cúng tổ tiên nhưng lại nằm trong cội rễ của hệ thống gia trưởng, hôn nhân và đặc biệt là thừa kế Trong xã hội Ấn Độ danh dự của gia đình phụ thuộc nhiều vào hành vi của người phụ nữ, do đó, có con gái sẽ đem lại nhiều rủi ro hơn Như vậy,
sự ưa thích có con trai là sự chấp nhận mang tính xã hội hơn là sự áp đặt hay ngăn cấm bởi những quan niệm đạo đức xuất phát từ tôn giáo, tín ngưỡng [88], [105], [110]
1.3.2 Các yếu tố phụ trợ
Áp lực sinh ít con, do tự nhiên hay do chính sách dân số có tác động lớn đến mất cân bằng TSGTKS trong xã hội có tâm lý thích con trai và dễ dàng tiếp cận với dịch vụ phá thai Số lượng con mong muốn giảm và các gia đình cố gắng có bằng được con trai trong số con mong muốn Người ta cho rằng chính sách DS-KHHGĐ là nguyên nhân dẫn tới TSGTKS cao tại Trung Quốc và Việt Nam [87], [96], [112]
Ở Hàn Quốc và đặc biệt là Trung Quốc, Việt Nam việc ban hành chính sách hạn chế nghiêm ngặt quy mô gia đình đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc giảm mức sinh, nhưng cũng ảnh hưởng tới quá trình quyết định LCGTTS như một công cụ để đạt được
cả hai mục tiêu, đó là sinh ít con và có con trai Mức sinh giảm do tác động của những thay đổi trong xã hội và sự hỗ trợ của chính sách KHHGĐ đã làm tăng xác suất không
Trang 3519
có con trai Các cặp vợ chồng không sẵn sàng chấp nhận mang thai thêm để sinh được con trai Kết quả các nghiên cứu cho thấy có những cặp vợ chồng đã thực hiện hành vi LCGTTS ngay ở lần mang thai đầu tiên để lựa chọn giới tính của đứa con đầu lòng [72], [85], [114]
Tâm lý chuộng con trai còn gắn liền với một số lý do khác như việc cha mẹ phải chi trả các chi phí học hành và chăm sóc cho con gái để rồi lớn lên con gái lại đi lấy chồng, phục vụ nhà chồng, còn con trai sau khi lấy vợ vẫn cùng chung sống và phụng dưỡng cha mẹ đẻ [99] Hiện nay khoảng 70% dân số Việt Nam còn sống ở nông thôn, hầu hết không có lương hưu khi về già, chế độ an sinh xã hội chưa đảm bảo, do vậy, họ cần sự chăm sóc của con cái Theo quan niệm của xã hội hiện nay, trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai Họ sẽ cảm thấy lo lắng và rất không an tâm cho tương lai khi chưa có con trai [58], [108]
Ở nhiều vùng nông thôn, vùng mỏ, duyên hải và hải đảo , các công việc nặng nhọc, đặc biệt là công việc trong các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng, khai thác khoáng sản, đi biển đánh bắt thuỷ hải sản xa bờ đều đòi hỏi sức lao động cơ bắp của nam giới Chính vì vậy con trai ngoài việc là trụ cột về tinh thần còn
là chỗ dựa về kinh tế cho cả gia đình [67], [90]
Ngoài ra, những chính sách giải quyết các vấn đề liên quan đến bất BĐG chưa thật thỏa đáng, do vậy, các gia đình vẫn muốn có con trai [99], [112]
1.3.3 Các yếu tố trực tiếp
Ở Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Việt Nam và một số quốc gia có TSGTKS cao, những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến MCBTSGTKS liên quan đến việc lạm dụng tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện LCGTTS như: Các biện pháp áp dụng ngay từ trước lúc thụ thai như chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn…; trong lúc thụ thai như chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y…; hoặc khi đã có thai như sử dụng siêu âm, chọc hút dịch ối… để chẩn đoán giới tính và phá thai nếu là thai gái [24], [58], [59], [75], [89]
Trang 3620
Các tài liệu và dữ liệu được công bố cho thấy việc tiếp cận ngày càng dễ dàng tới công nghệ lựa chọn giới tính đang cho phép nhiều cặp vợ chồng điều chỉnh hành vi sinh sản để có thể sinh con trai như mong ước Để đạt được mục tiêu sinh sản của mình
là có gia đình quy mô nhỏ nhưng có ít nhất một con trai, các cặp vợ chồng chủ động tìm kiếm và sử dụng công nghệ lựa chọn giới tính vì mục đích LCGTTN Ngoài ra, dịch vụ xác định giới tính thai nhi và phá thai thường dễ tiếp cận do sẵn có với chi phí chấp nhận được [30], [96] Ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc đã phát hiện mối tương quan mạnh mẽ giữa sự xuất hiện lần đầu tiên của thiết bị siêu âm hiện đại và sự bắt đầu gia tăng TSGTKS [80], [96], [105] Tư nhân hóa và thương mại hóa hệ thống chăm sóc y tế đã dẫn đến việc lạm dụng các thiết bị công nghệ để lựa chọn giới tính Việc này kết hợp với thực tế rằng việc phá thai ba tháng giữa là hợp pháp đã tạo ra áp lực cho phụ nữ phải đạt được đầu ra “đúng” cho việc mang thai của mình là có con trai [93], [112]
1.4 Những hậu quả của lựa chọn giới tính trước sinh
Việc LCGTTS dẫn đến MCBTSGTKS sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc dân số của các quốc gia Các mô hình tác động đến cấu trúc dân số cũng như các ảnh hưởng kinh
tế, xã hội do hiện tượng nam giới hóa xã hội có thể rất đa dạng và vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu
1.4.1 Thừa nam thiếu nữ
Mặc dù sự ưa thích con trai không phải tình trạng chung ở nhiều xã hội, nhưng
nó xuất hiện ở các nước mà đóng góp tới gần nửa dân số trên thế giới, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ v.v LCGTTS dẫn đến tình trạng giảm phụ nữ ở tất cả các độ tuổi trong tương lai Đàn ông trẻ sẽ khó khăn khi tìm vợ Kết quả như tại Bảng 1.1 cho thấy tổng
số có 116,8 triệu nam giới dư thừa so với nữ giới tại 13 quốc gia nghiên cứu năm 2010, trong số đó, 90% tại Trung Quốc và Ấn Độ [3], [7], [24], [88]
Trang 371.4.2 Tác động tới thị trường hôn nhân
Một số nghiên cứu trong lĩnh vực này thường tập trung vào tỷ số giới tính trong
độ tuổi trưởng thành và cơ chế hình thành gia đình Tác động tới thị trường hôn nhân được tính toán dựa trên giả thuyết cơ bản về kết hôn khác giới Các ước lượng cho thấy nếu TSGTKS không đổi, tại Trung Quốc sẽ có khoảng 20% nam giới bị dư thừa và Ấn
Độ là 15% [88], [119] Xu hướng kết hôn muộn và sống độc thân ngày càng phổ biến như tại Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ khiến tình trạng mất cần bằng giới trở lên nghiêm trọng hơn Càng ít phụ nữ được sinh ra thì số người được sinh ra cũng giảm Nếu tính
cả tỉ lệ sống độc thân và số lượng phụ nữ giảm theo mỗi thế hệ thì ước tính đến năm
Trang 3822
2050, số lượng nam giới cần kết hôn cao hơn khoảng 50% so với phụ nữ cần kết hôn tại Trung Quốc và Ấn Độ Dưới đây là một vài kết quả dự báo đáng lưu ý khi phân tích các kịch bản dân số trong tương lai [3], [36], [38], [66], [91], [103]:
- MCBTSGTKS tác động tích lũy tới thị trường hôn nhân Do tác động tích lũy, mất cân bằng thị trường hôn nhân nhiều hơn đáng kể so với phân tích mất cân bằng theo cấu trúc tuổi
- Thị trường hôn nhân vẫn bất ổn sau khi TSGTKS quay trở về mức cân bằng do thực trạng kết hôn muộn, kết hôn phụ nữ ở nhóm trẻ tuổi hơn
- Tăng khoảng cách tuổi kết hôn giữa nam giới và phụ nữ có thể giúp cân bằng thị trường hôn nhân nhưng tỉ lệ phụ nữ lựa chọn sống độc thân tăng có tác động ngược lại
- Số lượng nam giới độc thân dư thừa ở Trung Quốc và Ấn Độ quá lớn, kể cả di dân quốc tế cũng khó có thể giải quyết được thực trạng MCBCCGT tại hai nước này
Tâm lý thích con trai là bằng chứng sự tồn tại của bất BĐG trong xã hội Tìm mọi cách để có được con trai, phá thai vì lý do giới tính hay lơ là không chăm sóc, thậm chí giết trẻ em gái là bạo lực chống lại phụ nữ Đó là vi phạm BĐG và vi phạm quyền con người đã được quy định trong rất nhiều các văn kiện quốc tế Phá thai lựa chọn giới tính thường được coi là vi phạm đạo đức và không được luật pháp cho phép
Trang 3923
Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Nepal đã cấm phá thai vì lý do lựa chọn giới tính Tuy nhiên, dường như hiệu quả của những chính sách này rất hạn chế Xiết chặt luật phá thai có thể làm tăng tỉ lệ phá thai bất hợp pháp, dẫn đến phá thai không an toàn, tăng tỉ lệ các em gái bị ngược đãi và bị giết [32], [76], [88], [97], [101]
Nam giới Trung Quốc không thể kết hôn là do nghèo và phụ nữ tại địa phương
đa số đi lấy chồng ở thành phố Họ cảm thấy thiếu mục đích sống, cô đơn, buồn và tức giận Một số nghiên cứu cũng đưa ra giả thuyết “dư thừa” số lượng lớn nam giới có thể khiến công nghiệp tình dục phát triển, tình trạng bạo lực và buôn bán phụ nữ có thể tăng cao Đa phần nam giới không lấy được vợ ở nhóm có địa vị kinh tế xã hội thấp Không thể kết hôn có thể dẫn tới các hành vi chống đối xã hội và bạo lực như cưỡng hiếp phụ nữ, trẻ em gái Nạn nhân là từ các bé gái dưới 6 tuổi đến những phụ nữ trên
60 tuổi, trong đó, phụ nữ trong độ tuổi 18-30 chiếm đa số [32], [76], [88]
Như vậy, MCBCCGT trong xã hội sẽ có những tác động rất tiêu cực tới sự phát triển xã hội MCBCCGT tác động tiêu cực đến sự ổn định xã hội, phát triển kinh tế, đe dọa cho sự phát triển bền vững của xã hội, làm tăng nguy cơ xung đột xã hội giữa người nghèo và người giàu, làm gia tăng bất BĐG và phát triển các tệ nạn xã hội [81], [91]
1.5 Các giải pháp can thiệp phòng chống LCGTTS nhằm kiểm soát MCBTSGTKS ở một số nước trên thế giới và Việt Nam
Ở các nước có TSGTKS cao hơn mức bình thường, chính phủ đều đã có những chính sách can thiệp tích cực nhằm phòng chống LCGTTS và đưa TSGTKS trở lại mức cân bằng tự nhiên Nói chung, các giải pháp can thiệp có thể được đưa về ba nhóm chính Nhóm giải pháp thứ nhất là đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức của mọi người về hậu quả của LCGTTS Nhóm giải pháp thứ hai là thực hiện các điều luật nghiêm cấm sử dụng công nghệ trong xác định giới tính thai nhi và đình chỉ thai nghén Nhóm giải pháp thứ ba là thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội nhằm vào việc cải thiện vấn đề BĐG, nâng cao địa vị phụ nữ, trẻ em gái trong xã hội, từng bước khắc phục tư tưởng trong nam, khinh nữ Xây dựng và ban hành các hệ thống an sinh
Trang 4024
xã hội, đề án phúc lợi kinh tế có chú trọng đến đối tượng là phụ nữ và trẻ em gái [1], [26], [72], [74], [96]
Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu về các giải pháp phòng chống LCGTTS
và kiểm soát MCBTSGTKS tại Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Việt Nam
1.5.1 Nhóm giải pháp 1: Tuyên truyền vận động, truyền thông chuyển đổi hành vi
Tại các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và cả Việt Nam đều coi trọng biện pháp tuyên truyền, giáo dục về các vấn đề liên quan đến LCGTTS và MCBTSGTKS
Tại Trung Quốc các nỗ lực tập trung vào việc truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt đã triển khai chiến dịch “Chăm sóc trẻ em gái” ban đầu được thí điểm tại 24 hạt có TSGTKS cao, sau đó được nhân rộng ra các vùng khác có TSGTKS cao trong cả nước vào năm 2006 với mục tiêu đề ra là đưa TSGTKS về mức bình thường trong vòng 15 năm Chiến dịch tập trung vào tuyên truyền nhằm thay đổi tâm lý và tư tưởng chuộng con trai, tuyên truyền ngăn chặn các hành vi LCGTTS và phá thai vì mục đích LCGTTN; sử dụng các chính sách khuyến khích khen thưởng cho các gia đình thực hiện tốt KHHGĐ; phổ biến các thông điệp tích cực về trẻ em gái [96], [103], [114] Các can thiệp ở Trung Quốc, đặc biệt là các can thiệp về truyền thông đã đóng góp đáng kể vào việc nâng cao hiểu biết, kiến thức của người dân về các vấn đề liên quan đến LCGTTS và MCBTSGTKS
Tại Ấn Độ, đặc biệt ở các bang có TSGTKS cao đã triển khai các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức phòng chống LCGTTS và kiểm soát MCBTSGTKS
và huy động sự tham gia của cộng đồng, sử dụng truyền thông đại chúng như truyền hình, đài, báo, internet, huy động sự ủng hộ các chức sắc tôn giáo, vận động các nhóm đối tượng liên quan, tổ chức các hoạt động kỷ niệm những ngày đặc biệt dành cho trẻ
em gái, các chiến dịch nâng cao nhận thức, các hoạt động truyền thông thực hiện thông