1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LÝ LUẬN CƠ BẢN Y HỌC CỔ TRUYỀN CÁC BÀI GIẢNG VÀ THU HOẠCH CÁC KHÓA HỌC LÝ LUẬN CƠ BẢN DO LƢƠNG Y NGUYỄN HỮU ĐỨC GIẢNG

131 35 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Mạch nha: mang tính Giáp Mộc vào Can, trong ngũ hành thì Can khắc chế được Tỳ, Mạch nha vào Can để thay đổi cái khí vốn trì trệ của Tỳ, làm sinh ra Tỳ khí mới: mạnh mẽ, thăng phát.. Ứn

Trang 2

MỤC LỤC

VẤN ĐỀ CON SỐ VÀ THỜI GIAN 1

HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG 5

HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH 11

NGŨ ÂM KIẾN VẬN & THÁI THIẾU TƯƠNG SINH 18

XẾP LẠI THẬN-KHÍ THEO NGŨ HÀNH 20

HỌC THUYẾT KINH MẠCH 21

HỌC THUYẾT TAM TÀI 26

HỌC THUYẾT NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH 51

HỌC THUYẾT NGOẠI CẢM LỤC DÂM 57

HỌC THUYẾT NGOẠI CẢM THƯƠNG HÀN 62

HỌC THUYẾT NGOẠI CẢM ÔN BỆNH 66

HỘI CHỨNG BỆNH CỦA NGŨ TẠNG 73

TỨ CHẨN 81

MƯỜI MẠCH CƠ BẢN 101

BÁT CƯƠNG 106

HỌC THUYẾT NGŨ VẬN LỤC KHÍ 108

Trang 3

VẤN ĐỀ CON SỐ VÀ THỜI GIAN

I CON SỐ:

HÌNH HÀ ĐỒ:

Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi

Địa nhị sinh hỏa , thiên thất thành chi

Thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi

Địa tứ sinh kim, thiên cữu thành chi

Thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi

Thứ tự vận hành của Hà đồ là “Ngũ hành sinh và thành”, cũng là “Ngũ hành TIÊN

THIÊN”, chưa có tương sinh- tương khắc Có sinh- khắc là “ngũ hành hậu thiên”

Nam (Mặt trời giữa trưa)

Đông (Mặt trời mọc)

Tây (Mặt trời lặn)

MẶT TRỜI MỌC

PHƯƠNG TÂY

MẶT TRỜI LẶN

HÌNH MÔ TẢ PHƯƠNG TRIẾT HỌC

Trang 4

 “Sinh” là sinh khí : thuốc về khí thường dùng liều thấp (bổ khí, hành khí,…)

 “Thành” là thành hình: thuốc về hình thường dùng liều cao (bổ huyết, hoạt huyết,…)

 Muốn thành hình, bổ hình thì chú ý lý khí trước (sinh khí trước) và thông qua Tỳ

thổ (cần chú ý: Thực dưỡng, thức ăn hằng ngày,…) vì số 5 ứng với Tỳ thổ

Tiểu trường

Bàng quang Thận Tâm

bào

Tam tiêu Đởm Can

5 hành Mộc + Thổ Hoả - Thổ Kim - Thổ Thuỵ + Thổ

Tý Thủy

Hỏa Ngọ

Mão Mộc

Dậu Kim

Trang 5

 Giờ thức dậy (khởi) 4h: giờ Dần (thuộc mộc: sinh khởi)

 Giờ đi ngủ (cư) 21h: trước giờ Hợi (thuộc thủy: bế tàng)

Để ứng dụng vào câu: “Khởi cư hữu thường”  Thức ngủ theo lẽ thường trong dưỡng sinh

 Giờ đi cầu đúng 6h: giờ Mão (giờ Đại trường truyền tống)

 Giờ ăn sáng tốt nhất: giờ Thìn ( 7h, giờ của Vỳ nạp)

 Giờ làm việc hiệu quả 9- 13h: giờ Tỳ + Ngọ (thuộc hỏa : tỏa sáng, trưởng)

 Giờ bệnh nhân dễ vọp bẻ, giật mình thức dậy 1-3h: giờ Sửu (bệnh lý Can khí thực, uất)

 Giờ hay lên cơn khái suyễn, ho tống đàm nhớt 3-5h: giờ Dần (Phế khí vượng)

Trang 6

THÁI CỰC ĐỒ THUYẾT (CHU LIÊM KHÊ)

VÔ CỰC CHI CHÂN, NHỊ NGŨ CHI TINH, DIỆU HỢP NHI NGƢNG KIỀN ĐẠO THÀNH NAM, KHÔN ĐẠO

THÀNH NỮ, NHỊ KHÍ GIAO CẢM, HOÁ SINH VẠN VẬT, VẠN VẬT SINH SINH NHI BIẾN HOÁ VÔ CÙNG YÊN

“THÁI HƯ LÝ KHÍ THIÊN ĐỊA ÂM DƯƠNG CA”

(Y TÔNG KIM GIÁM)

無極太虛氣中理 VÔ CỰC THÁI HƯ, KHÍ TRUNG LÝ.

太極太虛理中氣 THÁI CỰC THÁI HƯ, LÝ TRUNG KHÍ.

乘氣動靜生陰陽 THỪA KHÍ ĐỘNG TĨNH, SINH ÂM DƯƠNG.

陰陽之分為天地 ÂM DƯƠNG CHI PHÂN VI THIÊN ĐỊA.

未有天地氣生形 VỊ HỮU THIÊN ĐỊA, KHÍ SINH HÌNH.

已有天地形寓氣 DĨ HỮU THIÊN ĐỊA, HÌNH NGỤ KHÍ.

從形究氣曰陰陽 TÙNG HÌNH CỨU KHÍ, VIẾT ÂM DƯƠNG.

即氣觀理曰太極 TỨC KHÍ QUAN LÝ, VIẾT THÁI CỰC.

Trang 7

HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG

I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ÂM DƯƠNG QUA PHÉP QUY NẠP VÀ DIỄN DỊCH

1 QUY NẠP:

Khi chưa có quá trình quy nạp thì chỉ đề cập riêng lẻ từng trường hợp như: Thiên Địa,

Cương Nhu, Động Tĩnh, Thượng Hạ, Âm Dương,…

Một số ý nghĩa của Dương và Âm qua Kinh Thi, Thư, Dịch:

 陽 Dương: nơi để dựng cờ dưới ánh nắng mới lên, mặt trời mọc, ánh sáng rực rỡ,

chính diện, nam diện (mặt hướng nam) của con sông hay quả núi

陰 Âm: mây che mặt trời, sự che khuất, u ám, kín đáo

Quá trình quy nạp đã „khái quát hoá‟ Âm và Dương thành „thông số‟ tổng quát dùng

để đại biểu cho nhiều sự vật khác nhau cùng mang chung tính chất

2 DIỄN DỊCH:

Sau quy nạp: Âm và Dương mang vai trò mới, tất cả các khí, hình, vật… đều có thể dùng

Âm Dương để thay thế, như: „cương nhu‟, „động tĩnh‟ đều có thể gọi chung là Âm Dương

ÂM DƯƠNG

Lý Biểu Hữu Tả

Can Đởm

Hàn Nhiệt

……

……

Tạng Phủ

Kiền Cửu Cương Thượng Phu Quân tử Nam Động Dương

Khôn Lục Nhu

Hạ Thê Tiểu nhân

Nữ Tĩnh

Âm

Trang 8

Học thuyết Âm Dương mô tả mối quan hệ của hai hiện tượng, trạng thái, sự việc,… theo

nhau từng cặp và thoả 4 quy luật: đối lập, bình hành, tiêu trưởng và hỗ căn

III BỐN QUY LUẬT:

1 ĐỐI LẬP: ngược nhau (đối) và xác định lẫn nhau (lập: nhờ cái này có mà cái kia

2 TIÊU TRƯỞNG: Xét trong một chu kỳ của vòng tròn âm dương,

khi phần đối diện lớn lên (trưởng) thì phần kia nhỏ lại (tiêu)  Tiên

đoán diễn tiến của bệnh

Ví dụ:

 Chính khí thịnh lên → tà khí sẽ lui dần

 Dương khí vượng, uất → Âm huyết bị đè nén, suy hư

 Chu kỳ kinh nguyệt là theo quy luật tiêu trưởng

3 BÌNH HÀNH: bằng nhau (bình) theo tính chất động

(hành) khi xét cả quá trình hay cả một chu kì  Ứng

dụng trong điều trị

Ví dụ: Ban ngày hoạt động nhiều (dương càng lên cao),

đến tối giấc ngủ càng sâu (âm càng xuống sâu) giống như

Trang 9

lạc)

 Bổ khí không quên bổ âm (bổ khí tiếp âm) Bổ âm không quên lý khí (bổ âm tiếp khí)

IV HỆ QUẢ

1 DƯƠNG SINH ÂM TRƯỞNG

 Sinh: thuộc về khí, từ cái chưa có thành ra có, từ cái vô hình

thành cái hữu hình thay đổi, sinh ra cái mới

Ví dụ: Hiện tượng hạt giống nảy mầm, cây nảy chồi: mang tính

Giáp Mộc Mầm tuy mềm, nhỏ bé nhưng xuyên thủng lớp vỏ dầy

để xuất ra ngoài góp mặt vào Thiên Địa

 Trưởng: lớn lên, nhờ vào chất (vật chất, âm, hình)

Ví dụ:

Bài Cốm bổ Tỳ: Mạch nha, Hoài sơn, Kê nội kim, Cam thảo, Đường

- Mạch nha: mang tính Giáp Mộc vào Can, trong ngũ hành thì Can khắc chế được Tỳ, Mạch nha vào Can để thay đổi cái khí vốn trì trệ của Tỳ, làm sinh ra Tỳ khí mới: mạnh

mẽ, thăng phát

- Các vị còn lại có tác dụng trưởng Tỳ hình (âm)

 Bài thuốc có tác dụng: trị chứng Cam tích, Tỳ cam, Suy dinh dưỡng

Ứng dụng:

Trong phương pháp không dùng thuốc:

 Tác động lên kinh Dương để sinh khí Cứu ấm để bổ khí

 Trưởng dựa vào chất: thức ăn hằng ngày (thực dưỡng)

Trong dùng Thuốc:

 Tả chất (âm, hình, huyết): dùng liều mạnh, thuốc loại hình thể

 Trưởng hình: âm dược, huyết dược có tính vị hòa hoãn, liều cao

 Sinh khí (bổ khí): thường không dùng liều cao, chú ý đến khí của vị thuốc

Ví dụ:

Trang 10

đặc trị cho khớp gối: dùng liều cao

o A giao (keo da lừa): thuộc về hình thể  bổ huyết, chỉ huyết: dùng liều cao

o Trong bài Bát vị: Quế chi và Phụ tử dùng liều thấp, lấy khí ôn nhiệt của chúng để bổ dương tiên thiên

2 CÔ DƯƠNG BẤT SINH CÔ ÂM BẤT TRƯỞNG

 Phương pháp không dùng thuốc: bổ tả đi kèm, kết hợp Âm -Dương trong điều trị

Ví dụ: Khi xoa bóp trị đau vùng cột sống cổ do cứng cơ: xoa nhẹ nhàng trước (bổ), sau đó mạnh lên, làm thủ thuật dứt khoát (tả)

Trong châm cứu: sử dụng cặp Nguyên- Lạc là kết hợp 2 kinh có quan hệ biểu- lý Âm)

(Dương- Dùng thuốc: có “nhất dương sinh” và “nhất âm trưởng” trong đội ngũ bài thuốc

Ví dụ:

 Bổ trung ích khí thang (Tỳ vị luận): Hoàng kỳ, Chích thảo, Nhân sâm, Trần bì, Thăng

ma, Sài hồ, Đương quy  Trong đội ngũ khí dược duy chỉ có Đương quy là huyết

dược: nó là vị nhất âm trưởng

 Tứ vật thang (Hoà tễ cục phương): Đương quy, Bạch thược, Thục địa, Xuyên khung

Trong bài có Xuyên khung có tác dụng hành khí để hoạt huyết: nó là vị nhất

dương sinh

 Trong bài cốm bổ Tỳ chúng ta phân tích ở trên: vị Mạch nha là vị nhất dương sinh

V ỨNG DỤNG:

1 QUAN ĐIỂM:

Bệnh tật: do mất cân bằng Âm Dương trong cơ thể

o Mất cân bằng vừa phải  bệnh

o Mất cân bằng quá mức  tử vong

Điều trị: cân bằng lại Âm Dương

2 CHẨN ĐOÁN:

Dương có 3 thuộc tính lớn: Động, Cương, Nhiệt

Trang 11

 Dựa vào 3 thuộc tính này mà chẩn đoán nhanh và chính xác rối loạn của Âm Dương:

Âm thịnh

Dương suy

Âm suy

- Hiện tượng: Âm Dương có Thịnh (thực, vượng, thái quá) và có Suy (hư, bất cập)

- Nguyên nhân: Âm – Dương

o Nguyên nhân là Âm: làm cho tĩnh quá mức (ức chế), mềm nhão, lạnh,…

o Nguyên nhân là Dương: làm cho động quá mức (hưng phấn), khô cứng, nóng,…

Ví dụ: Một BN than: khát nước, uống nhiều Mất ngủ khi trời nóng, huyết áp cao khi tức giận Uống Nước dừa, Bồ ngót thì tiểu nhiều mà khoẻ

Phân tích:

Khát uống nhiều, mất ngủ khi nóng  Nhiệt tăng

Huyết áp cao khi giận  Động tăng

Uống Nước dừa, Bồ ngót thì tiểu nhiều mà khoẻ  Đưa Âm dược vào cơ thể thấy dễ chịu

 Vậy, BN này thuộc Dương chứng (động tăng + nhiệt tăng) Điều trị bằng Âm dược

3 ĐIỀU TRỊ:

 Thực chứng: triệu chứng bệnh rõ ràng  Tả pháp (Dương pháp, Cương pháp)

 Hư chứng: triệu chứng bệnh không rõ ràng  Bổ pháp (Âm pháp, Nhu pháp)

4 LƯƠNG TÂM THẦY THUỐC:

 Thầy thuốc phải biết: bệnh – không bệnh

 Thầy thuốc phải biết: thuốc – những thứ không phải thuốc (thuốc mốc, dơ, rác…)

 Thầy thuốc phải biết: bệnh trị được – bệnh không trị được

 Thầy thuốc phải quyết đoán (đúng hoặc sai): chấp nhận thử thách thì mới giỏi lên được

Trang 12

DƯƠNG ÂM DƯƠNG ÂM

Nhẹ Nặng Quá trình khử Quá trình oxi hoá

Phân Loại Âm Dược – Dương Dược

Tân ôn giải biểu Tân lương giải biểu

Bổ dương, Bổ khí Bổ âm, Bổ huyết

Trang 13

金 Kim: hình tượng là kim khí (kim loại, đá), táo, khô, cứng, sự khuôn phép, định hình

水 Thuỵ: hình tượng là dòng nước chảy từ cao xuống thấp, vô định hình, hàn Thuỵ khí

có ở mọi nơi (độ ẩm) Dòng nước: chảy không dứt (chí), tuần hoàn, về nguồn

II QUY LUẬT:

Trang 14

Sinh khắc dưới mức hay trên mức bình thường thì sinh bệnh lý:

 Tương thừa: khắc quá mức bình thường (Mộc vượng thừa Thổ, làm Thổ suy)

 Tương vũ: phản khắc (tấn công ngược lại cái khắc nó), chỉ gặp trong Ngoại

cảm vì Khí nội tại không thể hùng mạnh để phản khắc Chỉ có khí thái quá

của Thiên Địa (lục tà) mới gây phản khắc

Thuộc tính của Ngũ hành có trong Ngũ tạng (xem Học thuyết Tạng tượng)

a Quy luật tương khắc trong ngũ tạng

 Ứng dụng luật Cương khắc Cương:

Cương khắc Cương

Cương không khắc Nhu

 Can dương khắc Tỳ dương

 Tỳ dương khắc Thận dương

 Thận dương khắc Tâm dương

 Tâm dương khắc Phế dương

 Phế dương khắc Can dương

Ví dụ:

Can dương khắc Tỳ dương (không khắc Tỳ âm)

Đây là hội chứng Can Tỳ bất hòa: Can khí vượng

Trang 15

Phương: Tiêu dao tán

(Tuy nhiên còn nguyên nhân tại sao Can khí vượng: có thể nó tự vượng lên hay do Can Âm hư không kiềm nổi Can khí, ta phải tìm nguyên nhân để trị và gia giảm bài thuốc cho thích hợp Vì thế ta thấy trong bài Tiêu dao có Quy, Thược để dưỡng Can âm)

Vị thuốc sơ Can khí Vị thuốc kiện Tỳ khí Vị thuốc dưỡng Can âm

Sài hồ Phục linh, Bạch truật, Cam thảo Đương quy, Bạch thược

 Ứng dụng luật Nhu tòng cương:

Nhu tòng cương - Nhu hóa cương

Ví dụ: Tỳ âm tòng theo Can dương, hóa cái động

của Can dương thành động của Tỳ, giúp Tỳ thực

hiện chức năng vận hóa, vận động của cơ nhục tứ

chi,…

b Tương sinh trong ngũ tạng: giải thích theo 2 quy luật

 Quy luật Thái - Thiếu tương sinh* (xem thêm phần sau trang 18)

* Thái Giốc sinh

Thiếu Chủy  Thái Cung  Thiếu

Thương Thái Vũ  Thiếu Giốc  Thái Chủy  Thiếu

Cung  Thái Thương  Thiếu Vũ 

(Thái = Dương ; Thiếu = Âm)

(Giốc, Chủy, Cung, Thương, Vũ: ngũ âm của ngũ hành)

 Vật cùng tắc biến- Vật cực tất phản**:

** “Âm cực sinh Dương – Dương cực sinh Âm”

 Tương sinh của ngũ tạng theo đường chéo

Trang 16

Mẫu dương sinh tử âm Mẫu âm sinh tử dương

 Can dương sinh Tâm âm

 Tâm dương sinh Tỳ âm

 Tỳ dương sinh Phế âm

 Phế dương sinh Thận âm

 Thận dương sinh Can âm

 Can âm sinh Tâm dương

 Tâm âm sinh Tỳ dương

 Tỳ âm sinh Phế dương

 Phế âm sinh Thận dương

 Thận âm sinh Can dương

- Theo hệ quả: “Dươn g

Tử dương

- Mẫu âm là phần hình thể nên ảnh hưởng bệnh lý liên quan đến tạng con thường chậm, triệu chứng không rõ

- Mẫu bị mê thì cho con luôn cả phần xấu

2 Chẩn đoán:

a Bệnh nội thương:

 Tìm Tạng bất thường (thịnh, suy về hình thể hay công năng) ứng với Hành và gọi tên ra

Ví dụ: Can dương vượng (Can phong động)

Tâm khí hư (Tâm hoả suy)

 Khi có hai tạng bệnh: tìm mối quan hệ các

tạng theo luật tương sinh hay tương khắc

Xét theo thời gian để kết luận nguyên nhân

Tạng Chủ

+

Tạng Mẫu

Tạng Mẫu

Trang 17

theo thời gian mà kết luận nguyên nhân và hậu quả

* Phế chủ bì mao nên ngoài Táo, Phế dễ dàng thọ mọi tà khác

Khi xác định có ngoại tà ta xét: Tân cảm hay Phục tà

o Tân cảm: tà mới xâm nhập vào

o Phục tà: sau một đợt nhiễm tà khí, do chính khí suy không giải hết ra ngoài, nó ở lại nơi đồng khí chờ thời gây bệnh ( khi chính khí suy thêm hay đợt tân cảm mới)

Luật đối khí: tà dễ dàng tấn công vào tạng bị nó khắc (bất chấp Tạng khí thực hay hƣ)

Trang 18

o Thầy thuốc có lúc hoà với BN: tạo sự đồng cảm, khuyên bảo, dặn dò BN

Ví dụ: BN bị hội chứng Tỳ thấp trệ Thầy thuốc phải ứng với hành Mộc: động lên, nói rõ

và chặn những lời nói, hành động sai lầm, cố chấp, trì trệ Ra chỉ định: BN phải vận động, thay đổi thói quen củ: tránh ăn nhiều tinh bột, béo, ngọt; hướng dẫn BN những thói quen mới: ăn cháo buổi chiều Cho BN những ý tưởng mới, cách thức mới (sinh ra cái mới), đổi mới tư duy của họ, loại trừ ý thấp

BẢNG PHÂN LOẠI NGŨ HÀNH

19-21; 1-3 15 - 19 21-1 Hoạt động Thức dậy Làm việc Mở rộng Tổng kết Nghỉ ngơi Một đề tài Ý tưởng Thực hiện Điều chỉnh Thu thập Kết luận Chu trình

Bộ phận làm

thuốc

Chồi, hạt mầm

Cây sắp ra

Đời người Sinh ra Lớn-Dậy thì Trưởng thành Già Chết

Dụng Khúc –trực Thiêu nóng Phân cao thấp Tản lạc Thấm nhuận

Trang 19

Phủ Đởm Tiểu trường,

Tam tiêu Vỳ Đại trường Bàng quang Lục kinh Quyết âm Thiếu âm

Thiếu dương Thái âm Dương minh Thái dương

Tính tốt Sinh động

Khiêm cung

Sáng suốt Lạc quan Đôn hậu Bền bỉ Thanh liêm Kỵ luật

Tuần hoàn Thẳng thắng Tính xấu Thuận tùng Đổi thay Độc đoán Nông cạn Mê tín, trì trệ Cố chấp Cứng nhắc Giáo điều Lạnh lùng

Quanh co Tình chí Nộ

(giận)

Hỉ (ái, ố)

Tư (suy nghĩ)

Ưu (buồn)

Khủng (thất chí)

Chính

thường Phát tán Sáng rực An tỉnh Tiêu sát Chảy không dứt Hoá Sinh, vinh Sum sê Phong phú Thu liễm Ngưng động Cốc Ma (mè) Lúa mạch Lúa tắc (tẻ) Lúa đạo (nếp) Đậu

Sâu trùng Có lông Lông vũ Trơn loã Có vảy cứng Vảy dưới nước

Vật Rắn ở giữa Rổng trong Da Vỏ cứng Chất lỏng

Trang 20

NGŨ ÂM KIẾN VẬN & THÁI THIẾU TƯƠNG SINH

Ngũ âm kiến vận:

Sách Tố vấn thường dùng Ngũ âm để làm đơn vị tính toán về Ngũ vận thiên “Âm dương

ứng tượng đại luận” viết:

Khí ở tại địa gọi là MỘC, ở tại âm gọi là GIỐC (角)

Khí ở tại địa gọi là HOẢ, ở tại âm gọi là CHUỴ (徵)

Khí ở tại địa gọi là THỔ, ở tại âm gọi là CUNG (宮)

Khí ở tại địa gọi là KIM, ở tại âm gọi là THƯƠNG (商)

Khí ở tại địa gọi là THUỴ, ở tại âm gọi là VŨ (羽)

Thái thiếu tương sinh:

Thập can trong ngũ vận đều có tính Âm Dương Gọi Dương can là Thái, Âm can là Thiếu

(+) Thái : hữu dư (-) Thiếu: bất túc

Nhâm: thái giốc

Đinh: thiếu giốc

Mậu: thái chuỵ

Quý: thiếu chuỵ

Giáp: thái cung

Kỵ: thiếu cung Canh: thái thương Ất: thiếu thương Bính: thái vũ Tân: thiếu vũ

Dựa vào thập can để phân biệt Âm và Dương, dựa vào ngũ âm để phân biệt Thái và

Thiếu Do đó Thái Thiếu tương sinh cũng là Âm Dương tương sinh

Chủy

Cung

Thương

Vũ Giốc

Trang 21

Thái giốc sinh Thiếu chuỵ

Thiếu chuỵ sinh Thái cung

Thái cung sinh Thiếu thương

Thiếu thương sinh Thái vũ

Thái vũ sinh Thiếu giốc

Thiếu giốc sinh Thái chuỵ

Thái chuỵ sinh Thiếu cung

Thiếu cung sinh Thái thương

Thái thương sinh Thiếu vũ

Thiếu vũ sinh Thái giốc

Như vậy, Thái và Thiếu cứ phản phúc tương sinh, Thái (Dương) sinh ra từ Thiếu (Âm), Thiếu sinh ra từ Thái,…cứ như thế mà phát triển không ngừng

 TỪ ĐÂY TA CÓ THỂ BIẾT ĐƯỢC LUẬT TƯƠNG SINH TRONG NGŨ TẠNG (ỨNG VỚI NGŨ HÀNH) CŨNG NHƯ THẾ: CAN DƯƠNG SINH TÂM ÂM, TÂM

ÂM SINH TỲ DƯƠNG,…

CAN MỘC

TÂM HOẢ

+

-

+

-

Trang 22

c) Theo luật tương khắc:

 Cương khắc Cương (Dương khắc Dương)

 Dương Thuỵ khắc Dương Hoả: Hàn khí khắc Hoả khí

 Thận hàn (Thận- khí) khắc chế Tâm hoả: nhờ vậy mà hoả không thái quá

 Thận- khí chủ Hàn

2 Triệu chứng của Thận-khí suy:

 Ù tai: Thận khí thăng lên khai khiếu ra nhĩ để nghe điều tốt đẹp của Thiên, khi Thận khí hư thì nghe không rõ, nghe âm thanh lạ

- Xuất nhị âm bất thường: rối loạn sự xuất của đại tiện, tiểu tiện, kinh nguyệt, xuất tinh,…(Thận chủ xuất nhị âm)

 Hai chân đi đứng khó khăn: Thận chủ hạ tiêu, chủ lưỡng túc

 Triệu chứng phụ:

Khí thái dương Bàng-Quang hư (quan hệ biểu lý với Thận)

Tâm hoả vượng (Thận- khí hư không khắc chế Tâm hoả)

3 Thuốc mang tính Dương Thuỷ:

 Hàn: khí lương, hàn (mát, lạnh)

 Thuỵ: sản phẩm từ thủy, sắc đen, giai đoạn tàng (hột, rễ, củ)

Ví dụ: Lục bình, Gương sen, Hột sen, Hột súng, Củ sen, Ngó sen, Râu bắp,…

 bổ Thận khí – an Tâm hoả

+

Thận Thuỷ

Tâm Hoả

+

Hàn

Trang 23

Ví dụ 1: Kinh Thủ thái âm Phế quan hệ với tạng Phế

 Kinh thực hiện chức năng của Tạng, Phủ mà nó mang tên

 Mỗi huyệt có một chức năng, chính là chức năng của tạng phủ

 Khí của tạng phủ là khí của kinh

Ví dụ 2: Túc thái dương Bàng quang kinh

Có hệ thống Du huyệt liên hệ với tất cả tạng phủ

Khí Thái dương Bàng quang bao trùm ngoài cơ thể Trong Thương hàn luận: tà tấn công vào Thái dương kinh biểu hiện bệnh lý đầu tiên

Ngũ du huyệt:

- Sở xuất vi Tỉnh (nơi bắt đầu)

- Sở lưu vi Huỳnh (chảy vòng quanh)

- Sở chú vi Du (các nhánh nhỏ rót vào một)

- Sở hành vi Kinh (chảy nhanh, mạnh)

- Sở nhập vi Hợp (nơi vào trong tạng phủ)

 Khí lưu hành trong kinh lạc như dòng nước

Bổ huyệt Tỉnh (xuất), Tả huyệt Kinh (hành)

Tà khí qua huyệt Hợp (nhập) là vào đến tạng phủ

Nguyên tắc trong châm trị:

 Án nhi đắc (ấn vào kinh huyệt để biết khí hư, thực, đến, đi)

 Nghênh nhi đoạt chi, (đón tà để tả)

 Tuỳ nhi bổ chi (rượt theo để bổ)

Trang 24

Bổ: khi khí hư, án thấy huyệt lỏng lẻo

Tả: khi khí và tà thực, án thấy huyệt co cứng, súc tích

II ỨNG DỤNG

1 Khí của tạng phủ thịnh hay suy biểu lộ qua kinh:

 Tạng phủ khí thịnh  Kinh khí thịnh

 Tạng phủ khí suy  Kinh khí suy

- Khám : Kinh dương chắc (súc tích) hơn Kinh âm

o Vùng đường kinh qua án thấy Nhão  Hư

o Vùng đường kinh qua án thấy Chắc  Thực

Giờ thịnh và suy của Tạng phủ khí, Kinh khí tương ứng:

Bàng quang Thận Tâm

bào

Tam tiêu Đởm Can

Suy Bàng

quang Thận Tâm

bào

Tam tiêu Đởm Can Phế Đại

trường Vỳ Tỳ Tâm

Tiểu trường

Giờ kinh vượng: là giờ khí tạng phủ vượng (khí của kinh cũng là khí của tạng phủ thực

hiện các công năng)

- Nếu bệnh do ngoại tà: triệu chứng sẽ rõ nhất trong ngày (chính khí mạnh lên sẽ tranh đấu và đẩy tà ra ngoài theo đường kinh hay phủ, khiếu,… để truyền tống ra ngoài mà

có triệu chứng tại đó vậy) Khi điều trị thầy thuốc phải để ý để tránh rối loạn với triệu chứng mới của bệnh nhân (kiểu xuất tà ra ngoài, sau đó BN khỏe hơn)

Ví dụ: Chứng tọa cốt phong thể Hàn tà vào Túc thái dương Bàng quang kinh

Nếu điều trị đúng bệnh sẽ được giải theo thứ tự: “Từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới” Do vậy, trong những ngày đầu BN sẽ giảm đau lưng trước, nhưng chân có thể tăng đau hơn do hàn tà bị đẩy dồn xuống chân và từ từ xuất ra ngoài

- Nếu bệnh nội thương chính khí hư: là giờ lui bệnh

- Nếu bệnh nội thương thực chứng: giờ bệnh nặng lên, có thể có những đột biến xảy ra

Trang 25

Giờ kinh khí suy: (giờ khí tạng phủ suy)

- Bệnh ngoại tà: triệu chứng bệnh lui (do chính khí suy không còn sức đấu tranh), nhưng cũng là giờ truyền biến vào sâu (tà mặc sức tung hoành), nếu nặng thì là giờ tử vong

- Bệnh nội thương chính khí hư: là giờ bệnh tăng lên, nặng là giờ tử vong

- Bệnh nội thương thực chứng: là giờ lui bệnh

2 Ngoại cảm mượn đường kinh để xâm nhập vào tạng phủ

Sử dụng trong kinh lạc chẩn (thuộc thiết chẩn) để chẩn đoán và điều trị

3 Châm – cứu để điều chỉnh lại kinh khí hay tạng phủ khí trong nội thương lẫn ngoại cảm

4 Tính vị quy kinh:

Thái dương hàn thuỵ

Dương minh táo kim

Thiếu dương tướng hoả

Thái âm thấp thổ

Thiếu âm quân hoả

Quyết âm phong mộc

Cây sắp ra

Phủ Đởm Tiểu trường Vỳ Đại trường Bàng quang

Lục kinh Quyết âm

Thiếu âm Thiếu dương

Thái âm Dương

minh Thái dương

Trang 26

Thiên “Lục vi chỉ đại luận” (Tố vấn 68) viết:

Thiếu dương chi thượng, hoả khí trị chi, trung hiện Quyết âm

Dương minh chi thượng, táo khí trị chi, trung hiện Thái âm

Thái dương chi thượng, hàn khí trị chi, trung hiện Thiếu âm

Quyết âm chi thượng, phong khí trị chi, trung hiện Thiếu dương

Thiếu âm chi thượng, nhiệt khí trị chi, trung hiện Thái dương

Thái âm chi thượng, thấp khí trị chi, trung hiện Dương minh

Cái gọi là “bản” ý nói dưới đường đi của bản là cái “hiện khí” của “trung” Dưới khí trung hiện là “tiêu” của khí Khi mà bản và tiêu bất đồng nhau, đó là khí ứng ra với những tượng khác nhau

Tiêu bản trung khí đồ:

dương

Dương minh

Thái dương Quyết âm Thiếu âm Thái âm

Trung

hiện

Quyết âm phong mộc

Thái âm thấp thổ

Thiếu âm quân hoả

Thiếu dương tướng hoả

Thái dương hàn thuỵ

Dương minh táo kim

Xét tiêu –

bản và

trung khí

Tiêu bản đồng khí

Mộc tùng hoả hóa

Thấp Thổ sinh táo kim

Tiêu và bản khác nhau

Mộc tùng hoả để hoá

Tiêu và bản khác nhau

Tiêu bản đồng khí Thổ sinh kim

Trị liệu Tùng bản Tùng

trung khí

Tùng tiêu Tùng bản

Tùng trung khí

Tùng tiêu Tùng bản Tùng bản

Trang 27

VÍ DỤ: Thuốc vào Đốc mạch:

Đốc mạch chủ quản các kinh Dương, muốn thuốc vào Đốc mạch thì phải tập hợp nhóm thuốc vào cả tam Dương kinh:

Thiếu dương kinh (tướng hỏa) Thiên niên kiện Lá lốt

Dương minh kinh (táo kim) Ngũ gia bì Lấu, Trung quân

Thái dương kinh (hàn thủy) Quế chi Quế chi, Ngũ trảo

Trang 28

HỌC THUYẾT TAM TÀI

I KHÁI QUÁT:

Học thuyết mô tả mối quan hệ giữa Thiên,

Nhân, Địa với nguyên lý: Người bẩm thụ đầy

đủ tính chất của Thiên Địa

Tố vấn, thiên Âm Dương ứng tượng đại luận:

Thượng phối thiên, dĩ dưỡng đầu

Hạ tượng địa, dĩ dưỡng túc

Trung bàng nhân sự, dĩ dưỡng ngũ tạng

- Phối: hợp với Thiên đạo, làm theo Thiên

đạo Đức của Thiên là hiếu sinh Nhờ vậy

mà dưỡng cái tư duy hướng thượng

- Tượng: bắt chước đạo của Địa để biết và xây

dựng chỗ đứng của mình Đức của Địa: hàm,

hoằng, quang, đại (chứa đựng, nuôi dưỡng,

toả sáng, rộng lớn)

- Bàng: đứng ngoài quan sát việc người để tự soi xét chính mình, rút ra bài học để cư xử với nhau trong xã hội cho đúng mực Nhờ đó mà tình chí quân bình, ngũ tạng khí bình hòa nên nói: dưỡng ngũ tạng

II ỨNG DỤNG:

1 Thiên nuôi người bằng lục khí: Phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả

o Thủ (Túc) Thái dương Tiểu trường (Bàng quang) kinh: nhận Hàn thuỵ

o Thủ (Túc) Dương minh Đại trường (Vỳ) kinh: nhận Táo kim

o Thủ (Túc) Thiếu dương Tam tiêu (Đởm) kinh : nhận Tướng hoả

o Thủ (Túc) Thái âm Phế (Tỳ) kinh : nhận Thấp thổ

o Thủ (Túc) Thiếu âm Tâm (Thận) kinh: nhận Quân hoả

o Thủ (Túc) Quyết âm Tâm bào (Can) kinh : nhận Phong mộc

THIÊN

(HIẾU SINH)

ĐỊA

(HÀM, HOẲNG, QUANG, ĐẠI)

Trang 29

Trên Kinh có huyệt làm nhiệm vụ khai (mở) và hạp (đóng) đúng thời để đón nhận Thiên khí vào đúng mức cần thiết nuôi dưỡng ngũ tạng Nếu khai và hạp rối loạn thì khí tràn ngập (lục khí trở thành lục dâm, lục tà) hay thiếu hụt (hư) mà gây bệnh

Lục tà gây bệnh ưu tiên vào kinh tương ứng: như Hàn tà dể tấn công vào Thái dương kinh

Con người sống trong vùng khí hậu nào thì khí của kinh tương ứng sẽ hùng mạnh hơn: như người sống ở vùng lạnh giá thì khí Thái dương hùng mạnh hơn người vùng ôn đới

2 Địa nuôi người bằng ngũ vị:

Nguyên nhân gây bệnh do tác động từ tiên thiên hay hậu thiên:

 Tiên thiên: do bẩm thụ thiên lệch từ Thiên, Địa, Nhân  không thay đổi được

 Hậu thiên:

Thời tiết, khí hậu (Thiên)

Vị trí ở và làm việc (Địa) Mối quan hệ giữa người – người (Nhân)

→ có thể thay đổi được

4 Xác lập luật Đồng khí tương cầu, Đồng hình tương ứng

 Giúp xếp loại và quy kinh thuốc

 Chỉ định phương pháp trị liệu thích hợp từng bệnh nhân Cần hướng dẫn và giải thích để BN hiểu mới có thể tuân thủ điều trị (quá trình Thông Cảm Ứng )

Trang 30

Ví dụ:

a Cây sống trong vùng khô hạn: có 2 trường hợp xảy ra

- Bẩm thụ táo khí nhiều hơn vùng khác mà có tác dụng trừ thấp tốt hơn

- Bẩm thụ thấp khí mạnh mẽ mà chứa nhiều tân dịch để đối kháng được với táo khí mới có thể tồn tại được

b Huyết nhục hữu hình  bổ huyết tốt hơn: Tử hà sa, A giao, Lộc giao, Quy giao

c Phụ nữ mang thai ăn những thứ khác thường

d Bệnh nhân tự nhiên thấy thích một vị thuốc nào đó  uống thì bệnh giảm

 Thầy thuốc giỏi là đưa ra liệu pháp đúng

Trang 31

HỌC THUYẾT TẠNG TƯỢNG

Mục tiêu bài viết:

 Hiểu tường tận khái niệm „Tạng Tượng‟

 Nêu được nội dung quan trọng của các học thuyết ứng dụng vào Học thuyết Tạng tượng

 Giải thích được các thuật ngữ hay gặp trong Học thuyết Tạng tượng

 Liệt kê và giải thích được từng chức năng của mỗi tạng

 Phân biệt chức năng (dụng) và hình thể (thể) của tạng

(Danh từ) con voi, dáng bề ngoài của một vật

Chương 1 Hệ từ thượng truyện viết: “Tại thiên thành tượng, tại địa thành hình”

= Khí hóa biểu hiện rõ dưới đất gọi là „hình‟, trên trời gọi là „tượng‟ [1]

„Tượng‟ là những vật được thành ở trời, „hình‟ là vật được hình thành ở đất Trong thân thể con người, chúng ta có đủ thiên địa Ngũ tạng là những vật bên trong người thuộc „tượng‟ Tượng như vậy là những vật chỉ „có‟ chứ ta không thể sợ mó được, khi chúng ta sờ mó được thì nó không còn là „tượng‟ nữa Ta gọi môn học về ngũ tạng lục phủ là „Tạng tượng học‟ là thế Trong thiên nhiên, „hình‟ có núi sông, cây cỏ, chim muông… thì trong con người chúng ta hình là tay chân, da thịt, tóc tai,…[2]

Chương 12 Hệ từ thượng truyện viết: [2]

“Thánh nhân lập tượng dĩ tận ý”

Trang 32

= Thánh nhân lập nên tượng để diễn tả hết cái ý của mình

Sách Chu dịch lƣợc lệ đã giảng giải câu trên: [2]

“Tƣợng giả, xuất ý giả dã Ngôn giả, minh tƣợng giả dã Tận ý mạc nhƣợc tƣợng,

tận tƣợng mạc nhƣợc ngôn Ngôn sinh ƣ tƣợng, cố dĩ tầm ngôn dĩ quan tƣợng”

= Tượng là cái dùng để biểu lộ cái ý vậy Lời nói là cái dùng để làm sáng tỏ cái tượng vậy Diễn tả hết ý không gì bằng tượng, diễn tả hết tượng không gì bằng lời nói Lời nói sinh ra từ tượng, cho nên có thể tìm hiểu ở lời nói để xem thấy tượng

Câu trên ý nói rằng khi chúng ta chƣa hiểu đƣợc tƣợng thì phải dùng lời nói, nhƣng đừng quên lời nói không phải là tƣợng Khi chúng ta chƣa hiểu đƣợc ý thì phải dùng tƣợng, nhƣng đừng quên rằng tƣợng không phải là ý Do đó, chúng ta phải quên tƣợng mới hiểu đƣợc ý, phải quên lời nói mới hiểu đƣợc tƣợng Chúng ta phải phá bỏ cái chấp về tƣợng,

về lời nói,… thì mới đắc đƣợc ý [2]

 „Tƣợng‟ trong „Tạng tƣợng‟ là Ý tƣợng - lấy một hình ảnh hay vật để nói đến một cái khác có ý nghĩa sâu rộng hơn rất nhiều

Tố vấn 9, thiên Lục tiết tạng tƣợng luận viết: [2]

帝曰:藏象何如?

Đế viết: Tạng tượng hà như?

歧伯曰:心者,生之本,神之變也,其華在面,其充在血脈,為陽中之太陽,通於夏氣。肺者,氣之本,魄之處也,其華在毛,其充在皮,為陽中之太陰,通於秋氣。腎者,主蟄,封藏之本,精之處也,其華在髮,其充在骨,為陰中之少陰,通於冬氣。肝者,罷極之本,魂之居也,其華在爪

,其充在筋,以生血氣,其味酸,其色蒼,為陽中之少陽,通於春氣。脾胃大腸小腸三焦膀胱者,倉稟之本,營之居也,名曰器,能化糟粕,轉味而入出者也,其華在唇四白,其充在

肌,其味甘,其色黃,此至陰之類,通於土氣。

Minh TƢỢNG Ý

Trang 33

Kỳ Bá viết: Tâm giả, sinh chi bản, thần chi biến dã, kỳ hoa tại diện, kỳ sung tại huyết mạch, vi dương trung chi thái dương, thông ư hạ khí Phế giả, khí chi bản, phách chi

xứ dã, kỳ hoa tại mao, kỳ sung tại bì, vi dương trung thái âm, thông ư thu khí Thận

giả, chủ trập, phong tàng chi bản, tinh chi xứ dã, kỳ hoa tại phát, kỳ sung tại cốt, vi âm

trung chi thiếu âm, thông ư đông khí Can giả, bãi cực chi bản, hồn chi cư dã, kỳ hoa

tại trão, kỳ sung tại cân, dĩ sinh huyết khí, kỳ vị toan, kỳ sắc thương, vi dương trung chi

thiếu dương, thông ư xuân khí Tỳ- vỵ- đại trường- tiểu trường- tam tiêu- bàng quang

giả, thương lẫm chi bản, doanh chi cư dã, danh viết khí, năng hóa tao phách, truyền vị nhi nhập xuất giả dã, kỳ hoa tại thần tứ bạch, kỳ sung tại cơ, kỳ vị cam, kỳ sắc hoàng, thử chí âm chi loại, thông ư thổ khí

o Phế là cái gốc của khí, là nơi ở của phách, hoa của nó ở lông, sung ở bì, thuộc thái

âm trong dương, thông với thu khí

o Thận là nơi chân khí nhất dương ẩn tàng, là cái gốc của bế tàng, là nơi của tinh khí, hoa ở tóc, sung ở cốt, thuộc thiếu âm trong âm, thông với đông khí

o Can là gốc của công tác lao động, là chỗ của hồn, hoa ở móng, sung ở cân, sinh ra huyết khí, vị của nó chua, sắc của nó là xanh, thuộc thiếu dương trong dương, thông với xuân khí

o Tỳ, Vỳ, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang là gốc của kho lúa gạo, là chỗ của doanh, gọi tên là Khí (dụng cụ để chứa), hóa được chất bã, chuyển hóa ngũ vị và chủ về xuất nhập, hoa ở vùng tứ bạch của môi, sung ở cơ, vị cam, sắc hoàng Thuộc vùng chí âm, thông với thổ khí [2]

Trang 34

 HT tạng tượng là học thuyết dựa vào biểu lộ (tượng) mà người ta biết được chức

năng tạng phủ (tạng) theo quy ước tương ứng Quy ước này là kết quả từ các học thuyết căn bản: Âm dương, Ngũ hành, Thiên nhân hợp nhất, Kinh lạc

CÁC HỌC THUYẾT ỨNG DỤNG VÀO HỌC THUYẾT TẠNG TƯỢNG

THEO HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG:

Mỗi tạng đều phân ra Dương - Âm, Khí - Huyết, Công dụng và Hình thể

Ví dụ: Tạng Can chia ra Can dương (Can khí) và Can âm (Can huyết, Can hình)

- Can dương (Can khí): là những chức năng vô hình của tạng Can (chủ động, chủ sinh

ra cái mới, sơ tiết, tàng hồn, chủ mưu lự, )

- Can âm (Can huyết, Can hình): là phần hữu hình của Can (mắt, bào cung, cân, móng, )

Mối quan hệ âm dương trong một tạng: Là mối quan hệ phu thê, phần dương thực hiện

công năng (dụng), phần âm là nền tảng (thể) để thực hiện công năng,

 Thường gặp: Dương khí rối loạn trước sẽ làm Âm huyết thay đổi sau đó

 Khi Âm huyết tổn thương thì phần Dương khí sẽ mất công năng

THEO HỌC THUYẾT THIÊN NHÂN HỢP NHẤT:

Xác lập luật Đồng khí tương cầu, Đồng hình tương ứng

Hiểu được quá trình “Thông- Cảm- Ứng” giữa Thiên- Địa và Tạng phủ trong Nhân thân

 Ngũ tạng ứng với Ngũ hành nên mỗi tạng dễ cảm ứng với hành nó thuộc vào

Ví dụ: Thận thuộc Thủy Thận dễ cảm ứng với Hàn khí, thủy dịch, tàng,…của Thủy

Vấn đề khai khiếu:

Tố vấn, thiên Âm dương ứng tượng đại luận viết: “Thanh dương xuất thượng

khiếu” và “Thượng phối thiên dĩ dưỡng đầu” [6], phần tốt đẹp (thanh khí) của tạng

Trang 35

xuất (trao) lên trên thượng khiếu để tham với thiên và cũng để đón nhận những điều tốt đẹp từ thiên đễ nuôi dưỡng tinh thần hướng thượng trong người

Ví dụ: Can khai khiếu ra mắt có 2 ý nghĩa:

 Biểu hiện sự sinh động, sức sống của tạng Can và toàn cơ thể qua mắt

 Nhìn thấy những điều tốt đẹp bên ngoài để học tập nuôi dưỡng tinh thần

THEO HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH

Ngũ tạng được quy nạp vào ngũ hành: Tạng sẽ mang đặc tính của hành tương ứng

ĐẶC TÍNH Chủ động,

Chủ sinh

Chủ nhiệt, Tỏa sáng

Chủ thấp, Nuôi dưỡng

Chủ táo, Khuôn phép

Chủ hàn, Chủ thủy

PHỦ Đởm Tiểu trường Vỳ Đại trường Bàng quang

Tương sinh trong ngũ tạng: quy tắc đường chéo

Luật „Thái thiếu tương sinh‟ [4] và „Vật cùng tắc biến - Vật cực tắc phản‟  Can âm sinh Tâm dương, Can dương sinh Tâm âm,…

Tương khắc trong ngũ tạng: khí khắc khí.

„Âm tại nội, dương chi thủ giả; dương tại ngoại, âm chi sứ giả.‟ [6]  Can khí khắc Tỳ khí, Tỳ khí khắc Thận khí,…

THEO HỌC THUYẾT KINH LẠC:

Hệ kinh lạc là con đường để tạng phủ liên lạc và thực hiện chức năng, đồng thời trao đổi với Thiên qua huyệt

Trang 36

Kinh thực hiện chức năng của Tạng, Phủ mà nó mang tên Kinh túc thái âm Tỳ thực hiện công năng của tạng Tỳ,

Các vùng liên quan với lộ trình đường kinh tương ứng: [3]

Túc quyết âm

Can

Góc ngoài móng ngón chân cái Cẳng chân: đi phía sau kinh Thái âm, Lên mép trong kheo chân, dọc theo mặt trong đùi,

Vòng quanh bộ sinh dục, lên đến thiếu phúc,

Đi theo với kinh Vị để thuộc vào Can và lạc với Đởm,

Xuyên qua hoành cách, bố tán ở cạnh hông sườn, Dọc theo phía sau cổ họng, lên trên nhập vào vùng vòm họng, Liên hệ với mục hệ rồi lên trên đến trán,

Xuất lên hội với Đốc mạch ở đỉnh đầu

Xuống phía trong má, vòng quanh môi trong

Xuyên qua hoành cách lên trên chú vào Phế

Thủ thiếu âm

Tâm

Khởi lên từ trong Tâm, xuất ra để thuộc vào tâm hệ,

Đi xuống dưới hoành cách, lạc với Tiểu trường

Tựa vào yết, buộc vào mục hệ

Từ Tâm hệ đi trở lên Phế, xuất ra dưới nách,

Đi dọc theo mép sau cánh tay trong, trong khuỵu tay-cẳng tay,

Đi dọc theo bên trong ngón tay út, rồi xuất ra đầu ngón tay

Khởi lên ở Trung tiêu, đi xuống dưới “lạc” với Đại trường,

Tuần hành theo vị khẩu, lên trên đến “hoành cách” thuộc vào Phế

Từ Phế hệ rẽ ngang xuất ra dưới hố nách

Đi trong cánh tay, giữa khuỵu tay, trên xương quay của cẳng tay Nhập vào mạch Thốn khẩu, lên đến phần “ngư” của tay, tuần hành đến huyệt Ngư tế, xuất ra ở đầu ngón tay cái

Chi mạch của nó đi từ phía sau cổ tay (uyển) đi thẳng ra ở đầu ngón tay trõ ở mép trong

Trang 37

Túc thiếu âm

Thận

Giữa ngón chân út, đi lệch hướng về giữa lòng bàn chân,

Đi dọc theo phía sau mắt cá trong, nhập vào giữa gót chân,

Đi lên đến bên trong bắp chuối, mép trong của kheo chân,

Đi lên đến mép sau của đùi trong, xuyên qua cột sống để thuộc vào

Thận và lạc với Bàng quang

Lên trên xuyên qua Can, cách (mô), nhập vào giữa Phế, đi dọc theo cuống họng rồi vào cuống lưỡi

Chi mạch của nó đi từ Phế ra để lạc với Tâm, rót ra ở giữa ngực

CÁC THUẬT NGỮ HAY GẶP TRONG HỌC THUYẾT TẠNG TƯỢNG:

主 Chủ: (danh từ) người lãnh đạo, chịu trách nhiệm về một việc nào đó; (động từ) đóng vai chính [1]  toàn quyền quyết định

藏 Tàng (động từ): tàng chứa, giữ lại, không cho mất đi.[1]

合 Hợp: (động từ) các vật gặp nhau chung nơi nào đó gọi là hợp [1]

鋪 Phô: bày ra, trưng bày, phô diễn.[7]

榮 Vinh: (tĩnh từ) cây tươi tốt, người vẻ vang [1], hiện tượng nở tối đa của một bông hoa

潤 Nhuận : nhuần, thấm [7], hình ảnh ruộng đã cày bừa, phả nước vừa đủ ráo để chuẩn bị gieo: không quá ướt, không quá khô, không quá nóng, không quá lạnh, nơi lý tưởng để sự sống bắt đầu sinh ra và nuôi dưỡng sự sống

 Phô vinh: trưng bày ra những cái tốt đẹp nhất

 Vinh nhuận: biểu hiện ra vẻ tươi thắm, có sức sống

華 Hoa: tốt đẹp, rực rỡ [7]

充 Sung: đầy đủ, tràn đầy [7]

通 Thông: Hai vật, hai khí nối tiếp nhau không bị ngăn trở gọi là „Thông‟ [1]

感 Cảm: Vạn vật trong trời đất, trong số đó có một hay nhiều vật „thông khí với nhau‟

Sự thông khí đó được gọi là 'Cảm' [1]

應 Ứng: Nếu Cảm là quá trình để hai khí thông nhau, thì Ứng là một tư thế chờ đón nhận

để được thông nhau Ứng là đón nhận giữa hai khí: „Đồng khí tương cầu‟ Khi nào đón nhận được mới gọi là „Ứng‟, ngược lại thì sẽ „Bất ứng‟ [1]

Trang 38

TẠNG CAN

1 Can chủ động:

Bẩm thụ Mộc khí của Thiên Địa vào giờ Sửu mà kinh Can vƣợng, Tạng Can dễ cảm ứng với Phong của vạn vật, thuộc tính này giúp cho quá trình Động ở toàn thân.[5]

- “Kỳ tại thiên vi Phong, tại địa vi Mộc, tại thể vi Cân, tại tạng vi Can, ……” [6]

→ Trong Đông y thì Mộc - Phong - Động - Mùa xuân - Phương đông - Tạng Can - Cân,… chỉ là một mà thôi: đó gọi là đồng khí, mà đồng khí thì dễ cảm ứng (đồng khí tương cầu, đồng thanh tương ứng)

Nói thêm để làm rõ ý trên:

Một vật luôn có Tính và Tình của nó:

性 Tính: Khí Thái cực và Âm Dương đã tạo hóa ra vạn vật Mỗi vật hiện diện hữu hình

và kéo dài sự sống của mình với khí mà mình đang có, đó gọi là „Tính‟ [1] bản tính bên trong

情 Tình: Khi tiếp xúc với vật khác, tính được bộc lộ ra dưới dạng nào đó: vui, buồn,

thương, ghét,…đó là „Tình‟ [1] tình là biểu lộ của tính ra bên ngoài

- Hiện tượng A bộc lộ tình của mình với

B: gọi là tạo đường Thông

- Hiện tượng B bày tỏ tình của mình

phản hồi lại cho A : gọi là Cảm

- Khi tiếp nhận sự phản hồi, A động lên

phù hợp với sự Cảm đó: gọi là Ứng

→ để có Cảm Ứng thì phải có Thông trước

Trong cơ thể thì Hệ Kinh Lạc làm nhiệm vụ Thông: ngoài việc liên lạc Tạng - Phủ - Thể với nhau, nó còn là con đường thông giữa Tạng phủ với khí của Thiên - Địa Như vậy nhờ kinh Túc quyết âm Can mà tạng Can thông với Thiên - Địa - vạn vật, lại thêm Tạng Can bẩm thụ Mộc khí, do đồng khí với Phong của vạn vật mà cảm được tính động, Can động lên để Ứng thành thuộc tính Động của toàn thân

Trang 39

- Can chủ các tiết (khớp), chủ cân là hệ quả Can chủ động giúp vận động cơ thể

- Can chủ sinh: Phong khí khởi đầu cho chu kỳ mới, tư tưởng mới (động trong tư duy)

- Động là thuộc tính lớn nhất của Can, do Can khí làm chủ

2 Can chủ sơ tiết:

Là hệ quả của tính Động, khí được làm nhẹ và phân bố mọi nơi để thi hành công dụng của khí Do Can khí làm chủ.[5]

-Sơ: làm thông suốt, thấu tỏ, làm cho tán nhỏ về mọi hướng [7]

- 泄 Tiết: tuôn ra, trút ra, phát tiết ra [7]

Vậy Can chủ sơ tiết:

- Làm cho khí thông sướng, điều đạt (về: tình chí, vận hóa Tỳ vỵ, tiết Đởm trấp, vận

- Theo luật tương sinh: Thận khí sinh Can âm, bẩm thụ được đặc

tính Tàng của Thận khí mà Can âm có khả năng Tàng huyết

- Tàng huyết ở đây là điều tiết cho huyết lượng phù hợp với hoạt

động của cơ thể; tàng huyết không có nghĩa là huyết không lưu

thông mà là lưu thông chậm lại khi ngủ nghỉ

4 Can chủ bào cung:

Là nơi tàng huyết đặc biệt, để sinh nở, truyền giống cho thế hệ sau

Đường kinh túc quyết âm Can đi qua bộ phận sinh dục ngoài, lạc vào trong bào hệ [5]

- Bào hệ: tử cung, hai phần phụ do Can Âm làm chủ

- Chu kỳ kinh do Can Khí làm chủ

Trang 40

5 Can cùng Thận làm chủ hạ tiêu:

Kinh Thủy đúng hẹn, Nguyệt Tín, là do Can khí làm chủ (qua chức năng sơ tiết)

Sự xuất của nhị âm do Thận khí làm chủ [5]

- Hạ tiêu liên quan tới sự bài xuất của tiền âm và hậu âm: kinh nguyệt, sinh nở, xuất tinh,

tiểu tiện, đại tiện

6 Can chủ cân:

Giải thích Động toàn thân thực hiện bởi cân hình, chức năng cân động được là do Can khí làm chủ Tông cân (gốc của cân) là dương vật [5], [9]

- Hình của cân (gân, cơ vân, cơ trơn) do Can âm làm chủ

- Chức năng động của Cân do Can khí làm chủ

7 Can khai khiếu ở nhãn, tàng hồn:

Can khí thăng lên trên bằng kinh túc quyết âm Can tới Mục hệ mà nhìn rõ, cấu trúc mắt hữu hình do Can âm làm chủ, thị lực do Can khí làm chủ

Thích nhìn gì bộc lộ Can khí bởi Cách nhìn, Hồn ở Nhãn quang [5]

- Cách nhìn = nhãn quang = quan điểm sống

- Hồn = sự sinh động = sức sống biểu hiện qua ánh mắt (qua cách nhìn, quan điểm sống)

8 Can hợp trão:

Móng tay, đầu ngón linh động do Can khí làm cho nhanh mà Can âm làm nhuận [5]

- Hình của móng thuộc Can âm Động của móng thuộc Can khí

Ngày đăng: 28/04/2021, 00:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w