1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE ĐỐI VỚI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI XÃ KIẾN THIẾT VÀ KIỀN BÁI. LUẬN ÁN TIẾN SĨ

213 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại xã Kiến Thiết và Kiền Bái
Tác giả Nguyễn Đức Thọ
Người hướng dẫn PGS.TS. Đào Quang Minh, PGS.TS. Trần Quang Phục
Trường học Trường Đại Học Y Dược Hải Phòng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 3,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Lịch sử và định nghĩa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (18)
  • 1.2. Dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (19)
    • 1.2.1. Nghiên cứu dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên thế giới (20)
    • 1.2.2. Nghiên cứu dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Việt Nam (24)
    • 1.2.3. Tỷ lệ tử vong và gánh nặng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (26)
  • 1.3. Các yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (28)
    • 1.3.1. Các yếu tố ngoại sinh (yếu tố môi trường) (29)
    • 1.3.2. Các yếu tố nội sinh (yếu tố cơ địa) (34)
  • 1.4. Triệu chứng lâm sàng, thăm dò chức năng thông khí và chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (35)
    • 1.4.1. Triệu chứng lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (35)
    • 1.4.2. Thăm dò chức năng thông khí (36)
    • 1.4.3. Chẩn đoán và đánh giá mức độ của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (36)
  • 1.5. Kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (38)
  • 1.6. Can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (41)
    • 1.6.1. Khái niệm và khía cạnh của truyền thông giáo dục sức khỏe (41)
    • 1.6.2. Truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (42)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (18)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu (48)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (48)
      • 2.1.2. Địa điểm nghiên cứu (49)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (50)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu (51)
      • 2.2.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu (53)
    • 2.3. Triển khai nghiên cứu, kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin (55)
      • 2.3.1. Cán bộ tham gia nghiên cứu (55)
      • 2.3.2. Bộ câu hỏi (56)
      • 2.3.3. Nghiên cứu dịch tễ và kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (56)
      • 2.3.4. Nghiên cứu can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (60)
    • 2.4. Sai số và khống chế sai số (63)
    • 2.5. Xử lý số liệu (64)
    • 2.6. Đạo đức nghiên cứu (65)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (48)
    • 3.1. Tỷ lệ mắc và các yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 52 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (67)
      • 3.1.2. Tỷ lệ mắc và một số yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (72)
      • 3.1.3. Đặc điểm của người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (80)
    • 3.2. Kiến thức, thái độ và thực hành của đối tượng nghiên cứu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước can thiệp (83)
    • 3.3. Hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sau 1 năm can thiệp (91)
      • 3.3.3. Hiệu quả can thiệp đối với sức khoẻ và chức năng thông khí của người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (100)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (67)
    • 4.1. Tỷ lệ mắc và các yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 87 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (102)
      • 4.1.2. Tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (104)
      • 4.1.3. Các yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (106)
      • 4.1.4. Đặc điểm của người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (114)
    • 4.2. Kiến thức, thái độ và thực hành về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (116)
    • 4.3. Hiệu quả truyền thông giáo dục sức khỏe đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sau 1 năm can thiệp (121)
      • 4.3.1. Hiệu quả truyền thông giáo dục sức khỏe tới cải thiện kiến thức, thái độ của người dân với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (121)
      • 4.3.2. Hiệu quả truyền thông giáo dục sức khỏe tới thực hành của người bệnh với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (126)
      • 4.3.3. Hiệu quả truyền thông tới sức khỏe và chức năng hô hấp của người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (130)
    • 4.4. Kết quả đạt được và hạn chế của nghiên cứu (133)
  • KẾT LUẬN (137)
    • 1. Tỷ lệ mắc và các yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính . 122 2. Kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước can thiệp (137)

Nội dung

Lịch sử và định nghĩa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Khí phế thũng, được mô tả từ những tài liệu sớm nhất như Bonet (1679) và Morgagni (1769) là sự căng phồng của phổi Badham (1814) đã sử dụng thuật ngữ bệnh nhiều đờm (Catarrh) để chỉ ho mạn tính và đờm nhầy là triệu chứng chính Laennec (1821) đã liên kết khí phế thũng với viêm phế quản mạn tính John Hutchinson phát minh ra máy hô hấp ký, mở ra khả năng chẩn đoán BPTNMT, nhưng phải đến 100 năm sau, Tiffeneau mới giới thiệu khái niệm đo luồng khí thở theo thời gian Gaensler đã đề xuất các chỉ số FEV1 và FEV1/FVC phần trăm (1950, 1951) Barach và Bickerman (1956) xuất bản cuốn sách đầu tiên về khí phế thũng và phương pháp điều trị thời bấy giờ Hai hội nghị quan trọng, CIBA (1959) và ATS (1962), đã thống nhất định nghĩa về viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng, trong khi William Briscoe được ghi nhận là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này.

"COPD" tại hội nghị khí phế thũng Aspen lần thứ 9 [169]

Viêm phế quản mạn tính là tình trạng ho có đờm kéo dài liên tục ít nhất 3 tháng trong một năm và phải xảy ra ít nhất trong hai năm liên tiếp.

Khí phế thũng (Emphysema) là tình trạng phình to bất thường và vĩnh viễn của các khoang khí ở cuối tiểu phế quản, đi kèm với sự hủy hoại các vách ngăn của phế nang.

Viện Huyết học, Tim mạch, Hô hấp Hoa Kỳ (NHLBI) phối hợp với WHO đã khởi động chương trình toàn cầu GOLD nhằm phòng chống BPTNMT Theo định nghĩa của GOLD 2001, BPTNMT là tình trạng bệnh lý với sự giảm lưu lượng thở không hồi phục, thường tiến triển kèm theo phản ứng viêm bất thường của phổi do tiếp xúc với chất và khí độc hại GOLD 2014 đã cập nhật định nghĩa BPTNMT là bệnh thường gặp, có thể phòng ngừa và điều trị, đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở và phản ứng viêm bất thường Đến GOLD 2017, BPTNMT được định nghĩa là bệnh có triệu chứng hô hấp và hạn chế luồng khí dai dẳng, thường do phơi nhiễm với các phân tử hoặc khí độc.

Dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Nghiên cứu dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên thế giới

R.J Halbert (2006) đã tiến hành tổng hợp các nghiên cứu về dịch tễ học BPTNMT dựa trên những bài báo đã được đăng tải trong giai đoạn từ năm

Từ năm 1990 đến 2004, có 37 nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) tại 28 quốc gia trên toàn thế giới Phân tích cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT thay đổi theo địa lý và phương pháp chẩn đoán, với tỷ lệ trung bình là 8,9%, dao động từ 2,1% đến 26,4%.

Nghiên cứu về gánh nặng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) đã được thực hiện tại 11 quốc gia, bao gồm Úc, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ Trong tổng số 2.838 bài báo được thống kê, có 299 bài báo toàn văn và dữ liệu được trích từ 133 bài viết Tỷ lệ hiện mắc BPTNMT dao động từ 0,2% đến 37%, với sự khác biệt rõ rệt giữa các quốc gia và khu vực dân cư, phụ thuộc vào phương pháp chẩn đoán và phân loại Đặc biệt, tỷ lệ tử vong do BPTNMT đã tăng lên trong vòng 30 năm qua.

40 năm qua Gần đây tỷ lệ tử vong ở một số nước có xu hướng nam giới giảm, nữ giới ổn định hoặc tăng [42]

Johan Buffels (2004) đã chỉ ra rằng đo chức năng thông khí (CNTK) có khả năng phát hiện bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) gấp đôi so với việc chỉ dựa vào bộ câu hỏi phỏng vấn Nghiên cứu của Graciane Laender Moreira tại São Paulo – Brazil trong 9 năm với 613 người tham gia cho thấy tỷ lệ BPTNMT mới mắc dao động từ 1,4% đến 4%, với sự phù hợp giữa các tiêu chí chẩn đoán chỉ đạt từ 35 - 60% Trong khi đó, nghiên cứu của Davis Wilson (2005) trên 2.501 người từ 18 tuổi trở lên có tiền sử hút thuốc tại Miền Nam Châu Úc cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT thay đổi tùy thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán, cụ thể là ATS (5,4%), BTS (3,5%), ERS (5,0%) và GOLD (5,4%).

Sarah H Landis ước tính tỷ lệ mắc BPTNMT tại 12 quốc gia thông qua việc sàng lọc hệ thống mẫu dân số, với tỷ lệ mắc dao động từ 7% đến 12% Đặc biệt, hầu hết các quốc gia có tỷ lệ mắc nằm trong khoảng từ 7% đến 9% Kokuvi Atsou cũng đã thực hiện thống kê liên quan đến vấn đề này.

65 bài báo ở 21 quốc gia Châu Âu cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT dao động từ 2,1% đến 26,1% tùy theo từng nước [93]

Nghiên cứu của Andrea S Gershon tại Ontario, Canada cho thấy tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) tăng 64,8% từ năm 1996 đến 2007 Michael E Green đã thu thập dữ liệu từ 444 bác sĩ tại 8 tỉnh của Canada, cho biết tỷ lệ mắc BPTNMT ở người từ 18 tuổi trở lên là 4% Tại New Brunswick, trong giai đoạn 2013-2014, có 4.450 trường hợp mới mắc BPTNMT ở người từ 35 tuổi trở lên, so với 4.320 ca mới trong giai đoạn 2003-2004 Sự gia tăng tuổi thọ đã dẫn đến tổng số ca mắc BPTNMT tiếp tục tăng, hiện tại có khoảng 57.340 trường hợp từ 35 tuổi trở lên, tăng 45% so với thập kỷ trước.

Nghiên cứu thuần tập tương lai của Natalie Terzikhan (2016) tại Hà Lan đã khảo sát 14.619 người từ 45 tuổi trở lên, phát hiện 1.993 trường hợp mắc BPTNMT Trong số đó, có 689 trường hợp đã được chẩn đoán trước và 1.304 trường hợp mới được chẩn đoán, với tỷ lệ mới mắc khoảng 8,9/1.000 dân mỗi năm.

Nghiên cứu của Vanfleteren LE tại Maastricht, Hà Lan cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở người từ 40 tuổi trở lên là 24%, trong đó nam giới chiếm 28,5% và nữ giới chiếm 19,5% Tương tự, nghiên cứu của Elena Adreeva (2015) về tỷ lệ mắc BPTNMT ở Tây Bắc Liên Bang Nga, bao gồm Saint Petersburg và Arkhangelsk, đã khảo sát 3.133 người trong độ tuổi từ 35 trở lên.

Trong một nghiên cứu về sức khỏe hô hấp, có 2.974 người được đo chỉ số CNTK, trong đó 2.388 người thực hiện bài test hồi phục phế quản Kết quả cho thấy 162 người bị tắc nghẽn đường thở và 130 người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) Một nghiên cứu khác do Ivan P Artyukhov thực hiện ở vùng Krasnoyarsk, Nga vào năm 2011, cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở đối tượng từ 18 tuổi trở lên là 10,6 trên 1.000 dân.

Luis Verde-Remeseiro đã tiến hành nghiên cứu tại Tây Ban Nha, thu thập thông tin từ những người mắc BPTNMT qua máy hô hấp ký tại các đơn vị chăm sóc ban đầu, cho thấy có 8.444 người trên 39 tuổi mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 2,6% Nghiên cứu của Bruscas Alijarde trên 1.185 người từ 40 đến 75 tuổi cũng tại Tây Ban Nha cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 10,4%, trong đó tỷ lệ mắc ở nam giới là 16,9% và nữ giới là 5,7%, đáng chú ý có đến 78,9% trường hợp mắc BPTNMT chưa được chẩn đoán trước đó.

C Bárbara nghiên cứu 710 người 40 tuổi trở lên ở Bồ Đào Nha cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 14,2%; tỷ lệ BPTNMT ở người hút thuốc trên 20 bao - năm (B-N) chiếm 27,4%; trong số người mắc bệnh có tới 86,8% chưa được chẩn đoán trước đó [41] J Cardoso khảo sát 17/18 tỉnh ở Bồ Đào Nha, tỷ lệ mắc BPTNMT ở người từ 40 tuổi trở lên là 8,96% (năm 1995-1997); ở người 35-69 tuổi là 5,34% [81]

Theo nghiên cứu của Danielsson P tại Uppsala, Thụy Điển, tỷ lệ mắc BPTNMT ở người từ 40 tuổi trở lên là 16,2%, trong đó 29% đã được chẩn đoán trước đó Tương tự, nghiên cứu cắt ngang của Mirna Waked trên toàn lãnh thổ Lebanon cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT trong cùng nhóm tuổi này là 9,7%.

Theo nghiên cứu của Peder Fabricius (2011) trên 5.299 người từ 35 tuổi trở lên ở Copenhagen, Đan Mạch, tỷ lệ mắc bệnh PTTNMT đạt 17,4%, với tỷ lệ gia tăng theo độ tuổi và giới tính nam Tương tự, Jan Zejda (2016) chỉ ra rằng tại Ba Lan, tỷ lệ mắc bệnh PTTNMT ở người từ 40 tuổi trở lên là 10%.

L.J Finney (2013) thống kê 688 nghiên cứu ở Châu Phi cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở 4 nước vùng cận Sahara từ 4% đến 25% [96] M.Sh Badway (2016) nghiên cứu ở vùng Qena Governorate - Ai Cập trên 2.400 đối tượng 40 tuổi trở lên thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 6,6% [100] Sundeep Salvi (2015) phân tích tổng hợp 9 nghiên cứu mô tả cắt ngang ở Nam Phi, hai nghiên cứu ở Nigeria, một nghiên cứu ở Malawi và một nghiên cứu ở Cape Verde cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT từ 4,1% đến 24,8% [165] Adeloye D (2015) nghiên cứu từ 243 đề tài ở Châu Phi trong đó có 13 nghiên cứu đạt tiêu chuẩn lựa chọn và chỉ có 5 nghiên cứu sử dụng máy đo hô hấp ký cho biết, tỷ lệ trung bình của người 40 tuổi trở lên mắc BPTNMT có đo hô hấp ký là 13,4%; không sử dụng hô hấp ký là 4% Năm 2010 dân số Châu Phi từ 40 tuổi trở lên khoảng 196,4 triệu người, số người mắc BPTNMT khoảng 26,3 triệu (18,5 – 43,4 triệu); so với năm 2000 số người mắc khoảng 20 triệu người thì sau một thập kỷ đã tăng 31,5% [50]

Frederik Van Gemert (2015) đã tiến hành nghiên cứu trên 620 người trên 30 tuổi tại vùng nông thôn Uganda, trong đó có 588 người được đo chỉ số CNTK, và phát hiện tỷ lệ mắc BPTNMT là 16,2% Tương tự, Devan Jaganath cũng nghiên cứu về BPTNMT tại Peru và ghi nhận tỷ lệ mắc ở những người từ 35 tuổi trở lên khoảng 6%.

Trung Quốc là nước có tỷ lệ mắc BPTNMT cao nhất so với các vùng khác trong cùng khu vực Một nghiên cứu tiến hành trên 20.245 đối tượng từ

Tỷ lệ mắc bệnh Parkinson ở người từ 40 tuổi trở lên tại 7 tỉnh và thành phố ở Trung Quốc đạt 8,2%, trong đó nam giới chiếm 12,4% và nữ giới 5,1% Xiaocong Fang (2011) cho biết tỷ lệ này dao động từ 5 đến 13% tùy theo từng tỉnh thành Nghiên cứu của Yipeng Ding tại Hải Nam cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở người trên 40 tuổi là 5,1% Tương tự, nghiên cứu của Shih-Lung Cheng (2015) tại Đài Loan ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh này khoảng 6,1% trong nhóm tuổi tương ứng.

Nghiên cứu dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Việt Nam

Theo thống kê các công trình nghiên cứu của Lê Thị Tuyết Lan, vào năm

Năm 2003, nhóm nghiên cứu của Hội Hô Hấp Châu Á Thái Bình Dương đã xác định tần suất mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) trung bình và nặng ở người Việt Nam trên 35 tuổi là 6,7%, cao nhất trong khu vực Từ năm 1996, Bệnh Viện Bạch Mai đã tiếp nhận 3.606 bệnh nhân điều trị tại khoa Hô Hấp.

2000 có 904 mắc BPTNMT chiếm 25,1%; tỷ lệ nam/nữ là 2,13 [2]

Theo Ngô Quý Châu (2005) tỷ lệ mắc BPTNMT ở người trên 35 tuổi của phường Khương Mai, Hà Nội là 1,53% [3]; ở Đống Đa và Thanh Xuân,

Hà Nội là 3,2% (nam 5,5% và nữ 1,06%) [4] Ngô Quý Châu (2006) nghiên cứu đối tượng trên 40 tuổi tại Hải Phòng, tỷ lệ mắc BPTNMT chiếm 5,65%

Nghiên cứu của Phạm Huy Quyến về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) ở người từ 40 tuổi trở lên tại Tiên Lãng, Hải Phòng cho thấy tỷ lệ mắc chung là 6,1%, trong đó tỷ lệ mắc ở nam giới là 7,34% và ở nữ giới là 4,91%.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuyên (2010) về bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chung ở người trên 15 tuổi là 2,2%, trong đó nam giới chiếm 3,4% và nữ giới 1,1% Đặc biệt, tỷ lệ mắc bệnh ở đối tượng từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, và cao nhất ở khu vực Miền Bắc với tỷ lệ 5,7%.

Nghiên cứu cắt ngang của Nhung Nguyen Viet (2015) trên 1.506 người không hút thuốc từ 40 tuổi trở lên tại Việt Nam và Indonesia cho thấy tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là 6,9%, trong đó tỷ lệ mắc ở nam giới là 12,9% và ở nữ giới là 4,4%.

Tỷ lệ mắc tại Việt Nam là 8,1%; Indonesia là 6,3% Chỉ có 6% số người bệnh đã được chẩn đoán mắc BPTNMT từ trước [127]

Nghiên cứu của Phan Thu Phương ở người từ 40 tuổi trở lên tại Lạng Giang, Bắc Giang, tỷ lệ mắc BPTNMT là 3,85% (nam 6,92%; nữ 1,42%)

[16] Chu Thị Hạnh nghiên cứu BPTNMT ở một số nhà máy công nghiệp tại

Tại Hà Nội, tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) ở công nhân từ 40 tuổi trở lên là 3% Nghiên cứu của Hoàng Thị Lâm về tỷ lệ mắc BPTNMT ở các quận Hoàn Kiếm và Ba Vì cho thấy tỷ lệ này ở người từ 23 đến 72 tuổi là 7,1%, trong đó nam giới chiếm 10,9% và nữ giới 3,9% Tỷ lệ mắc bệnh tăng theo độ tuổi và có liên quan đến thói quen hút thuốc Ngoài ra, nghiên cứu của Phùng Chí Lĩnh vào năm 2014 tại Hưng Yên cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở đối tượng từ 40 tuổi trở lên là 3,6% tại huyện Ân Thi và 3,4% tại thành phố Hưng Yên.

Tỷ lệ tử vong và gánh nặng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Để đánh giá thiệt hại do tàn phế và tử vong của bệnh tật, các chuyên gia sử dụng chỉ số DALYs (Năm sống điều chỉnh theo khuyết tật) DALYs đo lường số năm sống còn lại của người bệnh trong tình trạng tàn phế và số năm tử vong sớm do bệnh Năm 1990, chỉ số DALYs do BPTNMT xếp thứ 12 và dự báo sẽ tăng lên trong năm 2030.

17 Tỷ lệ tử vong do BPTNMT đứng thứ 6 và dự báo đến năm 2020 sẽ đứng thứ 3 trong các nguyên nhân gây chết [89]

Davies Adeloye (2015) thu thập 37.472 ấn bản từ năm 1990 đến năm

Theo nghiên cứu năm 2014, trong tổng số 132 nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), phương pháp phân tích hồi quy cho thấy vào năm 1990, ước tính có khoảng 227,3 triệu người từ 30 tuổi trở lên mắc BPTNMT, chiếm 10,7% tổng dân số Đến năm 2010, số người mắc BPTNMT tăng lên 284 triệu, chiếm 11,7% Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất được ghi nhận ở châu Mỹ với 13,3% vào năm 1990 và 15,2% vào năm 2010, trong khi đó, tỷ lệ thấp nhất thuộc về khu vực Đông Nam Á với 7,9% vào năm 1990 và 9,7% vào năm 2010.

Từ năm 2010, tỷ lệ mắc bệnh tăng nhanh nhất ở khu vực Địa Trung Hải với 118,7%, tiếp theo là Châu Phi với 102,1%, trong khi Châu Âu có tỷ lệ thấp nhất là 22,5% So với năm 1990, tỷ lệ mắc bệnh ở khu vực thành thị là 13,2% và nông thôn là 8,8% Đến năm 2010, tỷ lệ mắc ở thành thị tăng nhẹ lên 13,6% và ở nông thôn là 9,7% Tổng thể, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới là 14,3% và ở nữ giới là 8,2%.

Tam Dang-Tan đã tổng hợp các nghiên cứu từ năm 2000 đến 2012 cho thấy gánh nặng bệnh Parkinson và các rối loạn liên quan (BPTNMT) tại Canada là rất lớn, và việc áp dụng các chương trình tự chăm sóc, hỗ trợ qua điện thoại cùng với chăm sóc tích hợp có thể giúp giảm bớt gánh nặng cho bệnh nhân và xã hội Mehdi Najafzadeh ước tính chi phí hàng năm cho BPTNMT ở Canada đạt 4,52 tỷ đô la Canada vào năm 2011 và sẽ tăng thêm 3,6 tỷ mỗi năm đến năm 2035 Tại Mỹ, theo Anthony J Guarasico (2013), BPTNMT đứng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong, với chi phí khoảng 50 tỷ USD trong năm 2010, trong đó chi phí trực tiếp là 20 tỷ và gián tiếp là 30 tỷ Các chi phí này tiếp tục gia tăng do sự tiến triển của bệnh, với tình trạng bệnh nặng hơn và thời gian nằm viện là nguyên nhân chính dẫn đến sự tăng chi phí.

Theo Xiaocong Fang (2011), năm 2008, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 ở khu vực thành thị và thứ 3 ở nông thôn Trung Quốc Trong năm đó, tỷ lệ mắc BPTNMT chiếm tới 1,6% tổng số bệnh nhân nhập viện Chi phí y tế trực tiếp cho một bệnh nhân mắc BPTNMT ở thành phố vào năm 2006 ước tính khoảng 1.732,24 USD.

Nghiên cứu của Lewis A (2016) cho thấy chi phí sử dụng thuốc giãn phế quản cho người mắc hen phế quản và BPTNMT tại Châu Âu vào năm 2015 ước tính khoảng 813 triệu euro, với các mức chi phí cụ thể là 560 triệu euro tại Tây Ban Nha, 774 triệu euro tại Thụy Điển và 774 triệu euro tại Vương quốc Anh.

Theo nghiên cứu của Earl S Ford (2015), tỷ lệ tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) ở người lớn tại Mỹ đã tăng từ 29,4/100.000 người vào năm 1968 lên 67/100.000 người vào năm 1999, sau đó giảm xuống còn 63,7/100.000 người vào năm 2011 Cụ thể, tỷ lệ tử vong ở nam giới từ 56,4/100.000 dân năm 1968 đã đạt đỉnh 88,2/100.000 dân vào năm 1999, tăng 60% trước khi giảm 16,6% xuống 73,5/100.000 dân vào năm 2011 Đối với nữ giới, tỷ lệ tử vong do BPTNMT bắt đầu từ 9,4/100.000 dân năm 1968, đạt mức cao nhất 59,1/100.000 dân vào năm 2008, tương ứng với mức tăng 530%.

Nghiên cứu của Jeetvan G Patel (2014) cho thấy từ năm 1987 đến 2009, 13-18% người mắc bệnh BPTNMT tại Mỹ gặp phải hạn chế trong việc làm, và hơn 1/3 số người bị hạn chế hoạt động chung Họ thường phải chịu đựng từ 27 đến 63 ngày hạn chế hoạt động trong năm, với số ngày ốm trung bình dao động từ 1,3 đến 19,4 ngày, gây ra chi phí trung bình từ 893 đến 2.234 USD cho mỗi bệnh nhân.

Nghiên cứu của Kim J (2015) tại Hàn Quốc chỉ ra rằng tổng chi phí xã hội cho bệnh Parkinson và các rối loạn liên quan trong năm 2013 ước tính lên đến 439,9 triệu USD, phục vụ cho 1.419.914 bệnh nhân Trong đó, chi phí y tế trực tiếp cho bệnh này đạt 214,3 triệu USD, bao gồm chi phí nằm viện 96,3 triệu USD và chi phí điều trị ngoại trú 76,4 triệu USD.

Tổng chi phí dược phẩm là 41,6 triệu USD, trong khi chi phí ngoài y tế trực tiếp ước tính đạt 43,5 triệu USD Đặc biệt, tổng chi phí gián tiếp liên quan đến tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) trong năm 2013 lên tới 182,2 triệu USD.

Wheaton AG (2013) so sánh khả năng làm việc và các vấn đề liên quan tới sức khoẻ của người trưởng thành tại 50 bang, tỉnh Columbia và 2 địa hạt ở

Tại Mỹ, có khoảng 6,4% (tương đương 15,7 triệu người trưởng thành) được báo cáo mắc BPTNMT Những người lớn mắc BPTNMT thường gặp khó khăn trong việc làm việc (24,3% so với 5,3% ở người không mắc), có hạn chế trong hoạt động do vấn đề sức khỏe (49,6% so với 16,9%), gặp khó khăn khi đi bộ hoặc leo cầu thang (38,4% so với 11,3%), và cần sử dụng thiết bị đặc biệt để quản lý các vấn đề sức khỏe (22,1% so với 6,7%).

Một cuộc khảo sát của Georgia Kourlaba trên 3.414 người từ 40 tuổi trở lên tại Hy Lạp cho thấy 10,6% trong số đó, tương đương 362 người, đã được chẩn đoán mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) Trong số 351 người tham gia khảo sát, 61,5% cho biết tình trạng hô hấp của họ ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các hoạt động thể lực Gần 25% người tham gia cho biết họ đã bỏ lỡ trung bình 10 ngày làm việc trong một năm.

Các yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Các yếu tố ngoại sinh (yếu tố môi trường)

Khói thuốc lá là nguyên nhân chính gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) Nhiều nghiên cứu trên toàn cầu đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa việc hút thuốc và sự phát triển của BPTNMT Theo Bill B Brashier (2012), những người hút thuốc có nguy cơ cao mắc bệnh này.

10 B-N thì 50% phát triển thành BPTNMT [39]

Yong Liu (2015) nghiên cứu ở Miền Nam Carolina trên 4.135 người hút thuốc từ 45 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ mắc tỷ lệ mắc BPTNMT ở người hút từ

Tỷ lệ mắc BPTNMT ở những người bỏ thuốc lá trên 10 năm là 6,8% cho độ tuổi từ 1 đến 9 năm, 9,1% cho từ 10 đến 19 năm, 11,6% cho từ 20 đến 29 năm, và cao nhất là 25,6% cho những người hút thuốc trên 30 năm Các triệu chứng liên quan cũng thấp hơn ở nhóm đã bỏ thuốc lá trên 10 năm và tăng cao ở những người hút thuốc lâu dài, cả nam và nữ.

Toni Kiljander (2015) đã nghiên cứu 190 người mắc hen phế quản chưa được chẩn đoán BPTNMT tại Phần Lan, trong đó 52 người (27,4%) được xác định mắc BPTNMT Rachel E Jordan (2012) phân tích dữ liệu từ khảo sát sức khỏe ở Anh trong các năm 1995, 1996 và 2001, cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT theo tiêu chuẩn GOLD là 16,1%, theo NICE là 7% và theo LLN là 9%, không có sự khác biệt về nguy cơ giữa nam và nữ hút thuốc Ane Johannessen (2012) đã thực hiện một nghiên cứu thuần tập tại Bergen, Na Uy.

2006 đến năm 2009 cho thấy phụ nữ phơi nhiễm với khói thuốc từ thời niên thiếu thì nguy cơ mắc BPTNMT cao hơn so với nhóm không phơi nhiễm, OR

= 1,9 (1,0 – 3,7) Mặt khác phơi nhiễm khói thuốc thời niên thiếu có liên quan tới các triệu chứng về hô hấp ở nam giới [31]

Nghiên cứu của Naseh Sigari (2013) cho thấy hút thuốc là yếu tố nguy cơ chính gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT), với 32,5% phụ nữ và 85,5% nam giới có tiền sử hút thuốc Mohammed Al Ghobain (2011) ghi nhận tỷ lệ mắc BPTNMT là 14,2% trong nhóm 501 người từ 40 tuổi trở lên có hút thuốc Kristin A Guertin (2015) cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở 6.108 người nghiện thuốc tại Mỹ là 19%, và thời gian hút điếu thuốc đầu tiên sau khi thức dậy càng ngắn càng làm tăng nguy cơ mắc bệnh Nicholas T Vozoris (2011) phát hiện 32,8% trong số 134.072 người ở Canada mắc BPTNMT đang hút thuốc Al Mousa Al Omari (2014) báo cáo rằng trong số 512 nam giới hút thuốc ở miền Bắc Jordan, có 8,2% mắc BPTNMT Nghiên cứu của Phan Thu Phương cho thấy người hút thuốc từ 15 bao/năm trở lên có nguy cơ mắc BPTNMT cao gấp 4,3 lần so với người không hút.

Ô nhiễm không khí, cả trong và ngoài nhà, có ảnh hưởng khác nhau đến bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) Nghiên cứu của RW Atkinson (2015) trên 16.034 người ở Anh không tìm thấy mối liên quan rõ ràng giữa ô nhiễm không khí ngoài trời và tỷ lệ mắc BPTNMT Ngược lại, nghiên cứu của Nadia N Hasel (2016) chỉ ra rằng ô nhiễm không khí ngoài trời có liên quan đến giảm chức năng phổi, tăng triệu chứng hô hấp, và làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân BPTNMT Tuy nhiên, ô nhiễm không khí trong nhà không có mối liên hệ đáng kể với BPTNMT, đặc biệt ở các nước phát triển không sử dụng năng lượng sinh khối.

Nhiều nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy ô nhiễm không khí ngoài trời ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng phổi của cả trẻ em và người lớn, dẫn đến triệu chứng cấp tính của bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) và làm tăng nguy cơ tử vong cũng như tỷ lệ mắc bệnh Các nghiên cứu cắt ngang cũng chỉ ra rằng phơi nhiễm với nguyên liệu sinh khối là yếu tố nguy cơ đối với BPTNMT; việc giảm tiếp xúc với nguyên liệu này có thể làm chậm sự suy giảm chỉ số FEV1 và giảm nguy cơ mắc bệnh Một nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy trong số 2.868 phụ nữ trên 40 tuổi tiếp xúc với khí biogas trong hơn 10 năm, tỷ lệ mắc BPTNMT đạt 18,4%, với nguy cơ mắc bệnh tăng lên theo thời gian tiếp xúc.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa nghề nghiệp và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT), nhưng gặp khó khăn do nhiều yếu tố như khói thuốc, khói bếp củi, và bếp than Nghiên cứu cắt ngang có thể không phản ánh chính xác do đối tượng nghiên cứu có thể thay đổi nghề nghiệp hoặc nơi ở Trong khi đó, nghiên cứu dọc mặc dù cung cấp phương pháp đánh giá tốt hơn nhưng lại tốn nhiều thời gian và chi phí Các nghiên cứu đã khẳng định tác hại của khói bụi đối với chức năng hô hấp ở một số nghề nghiệp.

Theo nghiên cứu của Santo Tomas LH (2011), việc tiếp xúc với bụi than có thể gây nguy hiểm cho sự phát triển của bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT), với những công nhân mỏ có nguy cơ xuất hiện triệu chứng phế quản và suy giảm chức năng phổi chỉ sau hai năm làm việc Hơn nữa, Paul Cullinan (2012) đã tổng hợp nhiều nghiên cứu cho thấy các yếu tố phơi nhiễm như bụi mỏ than, silica, khí hàn, bụi dệt, và đặc biệt là bụi trong chế biến hạt ngũ cốc có thể làm gia tăng nguy cơ tắc nghẽn đường thở tương tự như tác động của việc hút thuốc.

D Fishwick (2015) cho biết một số nghề làm tăng tỷ lệ mắc BPTNMT như: dịch vụ xây dựng và công nhân bán hàng, công nhân đường cao tốc và đường hầm nhân viên sửa chữa dịch vụ, nhân viên trạm xăng, công nhân xi măng, công nhân sắt, thép và ferô, công nhân cao su, nhựa và sản xuất da, công nhân bụi tiếp xúc vô cơ, công nhân nhà máy luyện silicon carbide, công nhân lò than cốc, công nhân phun sơn và hàn, công nhân xây dựng và thương mại, công nhân cơ khí chế tạo và sửa chữa, lực lượng vũ trang, công nhân dệt may, thợ gốm, nghề giao thông vận tải, chế biến thực phẩm, công nhân gỗ…[47] Priscilla Johnson (2011) nghiên cứu trên 900 phụ nữ trên 30 tuổi không hút thuốc ở 45 vùng nông thôn ở Miền Nam Ấn Độ năm 2007 cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 2,44%; tỷ lệ mắc ở những người sử dụng chất đốt biomass là 2,5% trong đó những người sử dụng trên 2 giờ 1 ngày mắc 3% [145] ỉistein Svanes (2015) nghiờn cứu ở Bắc Âu, những người làm việc tiếp xỳc chất tẩy rửa nghề nghiệp tăng nguy cơ mắc hen phế quản và BPTNMT [130] Shuo Liu (2015) nghiên cứu ở những nông dân làm việc trong nhà kính ở Trung Quốc cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT khá cao tới 17,5%; gặp nhiều ở những người tiếp xúc với nấm, hoa, gia cầm, hút thuốc, những người sống ở miền núi và ven biển [163] Marie Kraim Leleu nghiên cứu liên quan 7 loại nghề nghiệp với sự tiếp xúc các yếu tố nguy cơ khác nhau, sau khi phân tích đa biến tác giả thấy công nhân lò luyện có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 7,6 (4,5-12,9) lần các nghề khác [107]

Nhiễm khuẩn trong thời kỳ niên thiếu có mối liên hệ chặt chẽ với suy giảm chức năng phổi và gia tăng triệu chứng hô hấp ở người trưởng thành Nghiên cứu của Byrne AL (2015) đã tổng hợp 9 nghiên cứu về BPTNMT và 2 nghiên cứu về bệnh phế quản co thắt, cho thấy người trên 40 tuổi có tiền sử điều trị lao phổi có nguy cơ mắc BPTNMT cao hơn, với tỷ lệ Odds Ratio là 3,05 (2,42-3,85).

Khí hậu có mối liên quan chặt chẽ với các bệnh hô hấp, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay Theo Gennaro D’Amato (2014), sự gia tăng nhiệt độ và độ ẩm đã làm tăng tần suất các cơn hen suyễn, trong khi thời tiết lạnh lại làm gia tăng các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, đặc biệt ở những người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) Việc hiểu rõ ảnh hưởng của khí hậu đến sức khỏe hô hấp là rất quan trọng để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Gavin C Donaldson (2014) đã thực hiện một nghiên cứu TORCH trong 3 năm, so sánh đợt cấp của BPTNMT giữa Bắc và Nam Bán Cầu Kết quả cho thấy, ở Bắc Bán Cầu, tỷ lệ xuất hiện đợt cấp của BPTNMT là 9% từ tháng 12 đến tháng 2 và 5% từ tháng 6 đến tháng 8 Trong khi đó, Nam Bán Cầu ghi nhận 12% vào mùa đông (tháng 8) và 7% vào mùa hè (tháng 2) Ngoài ra, trong mùa đông, tần suất nhập viện và thời gian nằm viện của bệnh nhân mắc BPTNMT cũng tăng lên Tại Anh và Xứ Wales, khoảng 15% ca tử vong liên quan đến bệnh đường hô hấp, trong đó có 36% do BPTNMT, với tỷ lệ tử vong gia tăng vào mùa đông.

Nghiên cứu của Ching-Min Tseng về 16.254 ca mắc BPTNMT ở Đài Loan cho thấy rằng sự giảm nhiệt độ trung bình xuống 5°C kéo dài đợt cấp của bệnh, đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi hoặc không sử dụng thuốc hít Các yếu tố như áp suất khí quyển cao, độ ẩm thấp và thời gian nắng kéo dài cũng góp phần làm gia tăng đợt cấp Tương tự, nghiên cứu của Pere Almagro (2015) tại Barcelona cho thấy số bệnh nhân BPTNMT nhập viện cao nhất vào mùa đông (37,2%), tiếp theo là mùa thu (24,1%) và mùa xuân (23,9%), cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ môi trường và sự xuất hiện đợt cấp của bệnh.

Nguy cơ xuất hiện BPTNMT không hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, nhưng nghiên cứu cho thấy rằng những người có tình trạng kinh tế xã hội thấp có nguy cơ mắc bệnh cao hơn Điều này có thể do họ thường gặp phải tình trạng dinh dưỡng kém và sống trong môi trường ẩm thấp, ô nhiễm, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm khuẩn hô hấp và sự phát triển của BPTNMT.

Nghiên cứu của Ji Ye Jung (2015) và Mekov E (2015) chỉ ra rằng thiếu hụt Vitamin D có liên quan đến mức độ nặng và hạn chế luồng khí ở bệnh nhân mắc BPTNMT Theo Roy A Pleasants (2013), tỷ lệ mắc BPTNMT tự báo cáo ở North Carolina năm 2009 là 5,6%, với tỷ lệ cao nhất ở người già sống đơn độc, hút thuốc, và có trình độ giáo dục cùng thu nhập thấp.

Các yếu tố nội sinh (yếu tố cơ địa)

Thiếu hụt α1-antitrypsin và hen suyễn là những yếu tố nguy cơ đã được xác định liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) Tăng đáp ứng đường thở cũng góp phần vào nguy cơ phát triển BPTNMT.

BPTNMT thường gặp ở người cao tuổi, chủ yếu là nam giới, nhưng tỷ lệ mắc ở nữ giới đang tăng nhanh, kèm theo tỷ lệ tử vong cũng gia tăng Nghiên cứu của Mireia Raluy-Callado (2013) cho thấy 51% bệnh nhân BPTNMT từ 40 tuổi trở lên ở Vương quốc Anh là nam giới Nhiều nghiên cứu toàn cầu khẳng định rằng tỷ lệ mắc BPTNMT tăng theo độ tuổi, với nam giới có tỷ lệ cao hơn nữ giới.

Triệu chứng lâm sàng, thăm dò chức năng thông khí và chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Triệu chứng lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Các triệu chứng chính của BPTNMT bao gồm ho, khạc đờm, khó thở, nặng ngực và tiếng thở rít Ở giai đoạn nặng, bệnh nhân có thể suy kiệt, nói ngắn hơi, và gặp khó khăn trong việc hô hấp Biểu hiện lồng ngực căng giãn cả chiều ngang và chiều dọc, xương sườn nằm ngang, hạn chế di động khoang liên sườn Thời gian thở ra kéo dài hơn bình thường, tiếng thở giảm đều, và tiếng tim có thể mờ Trong đợt cấp, có thể nghe thấy ran rít và ran ngáy.

R Graham Barr (2009) khảo sát qua điện thoại 1.003 người mắc BPTNMT ở Mỹ cho thấy 61% trong số họ có khó thở vừa hoặc nặng; 63% có ho kéo dài; 55% có khạc đờm kéo dài; 41% phải nhập viện; 30% khám bác sĩ 3-5 lần trong năm qua [148] Peter Kjeldgaard (2015) nghiên cứu ở Đan Mạch trên 4.049 người 35 tuổi trở lên có các yếu tố nguy cơ mắc BPTNMT như hút thuốc, yếu tố nghề nghiệp, có ít nhất một triệu chứng như ho, khó thở, khò khè, khạc đờm, nhiễm trùng đường hô hấp và chưa được đo CNTK phổi hoặc chẩn đoán BPTNMT thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 17% Biểu hiện các triệu chứng trong số người bệnh là: ho chiếm 73%; khó thở 58%; thở khò khè 27%; khạc đờm 41% [143] M.Sh Badway nghiên cứu ở Ai Cập cho thấy những người mắc BPTNMT có triệu chứng khó thở chiếm 93,7%; ho khạc đờm 67,8%; thở khò khè 52,5% [100].

Thăm dò chức năng thông khí

Đo chức năng hô hấp (CNTK) là phương pháp quan trọng để chẩn đoán và theo dõi bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) Để phát hiện bệnh sớm, cần thực hiện đo CNTK cho những người có triệu chứng như ho, khạc đờm mạn tính, khó thở hoặc có tiền sử tiếp xúc với yếu tố nguy cơ Ở bệnh nhân BPTNMT, kết quả đo CNTK cho thấy chỉ số FEV1 giảm, mức độ giảm tương ứng với mức độ nặng của bệnh; FVC có thể bình thường ở giai đoạn đầu nhưng sẽ giảm khi bệnh tiến triển, trong khi thể tích khí cặn (RV) lại tăng lên.

Chỉ số FEV1/FVC dưới 70% là yếu tố quan trọng trong chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) Việc khảo sát đường cong lưu lượng thể tích giúp phân biệt giữa rối loạn thông khí tắc nghẽn và hạn chế Đường cong này cho phép xác định vị trí tắc nghẽn trong đường thở: nếu phần xa của đường biểu diễn thở ra giảm, điều này chỉ ra tắc nghẽn ở đường thở nhỏ; trong khi nếu toàn bộ đường biểu diễn thở ra giảm, có thể xác định tắc nghẽn ở cả đường thở lớn và nhỏ.

Chẩn đoán và đánh giá mức độ của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chẩn đoán lâm sàng BPTNMT được áp dụng cho những người có triệu chứng khó thở, ho hoặc khạc đờm mạn tính, đặc biệt khi có tiền sử phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ Để xác định BPTNMT, cần đo chỉ số CNTK, trong đó chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) phải nhỏ hơn 70% sau khi thực hiện test hồi phục phế quản Mức độ tắc nghẽn đường thở được đánh giá qua chỉ số FEV1% so với trị số lý thuyết Việc phân loại giai đoạn BPTNMT giúp xác định mức độ nặng, tình trạng sức khỏe và các nguy cơ trong tương lai của bệnh nhân Các công cụ như thang điểm CAT (COPD Assessment Test) và bảng câu hỏi mMRC (Modified British Medical Research Council) thường được sử dụng để đánh giá tình trạng lâm sàng của BPTNMT, giúp bác sĩ đưa ra quyết định và quản lý điều trị hiệu quả.

Bảng 1.1 Đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở theo GOLD [70] [72]

Người mắc BPTNMT: FEV1/FVC < 0,70

GOLD 1 Mức độ nhẹ FEV1 ≥ 80% chỉ số lý thuyết

GOLD 2 Mức độ trung bình 50% ≤ FEV1 < 80% chỉ số lý thuyết GOLD 3 Mức độ nặng 30% ≤ FEV1 < 50% chỉ số lý thuyết GOLD 4 Mức độ rất nặng FEV1 < 30% chỉ số lý thuyết

Ngô Quý Châu (2015) đã nghiên cứu sự khác biệt trong phân loại giai đoạn BPTNMT giữa GOLD 2006 và GOLD 2011, và nhận thấy rằng phân loại theo GOLD 2011 cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về tình trạng sức khỏe và nguy cơ tương lai của người bệnh Đồng thời, Jordan Minov (2015) cũng chỉ ra rằng CAT là một công cụ hữu ích để đánh giá tình trạng sức khỏe của những người mắc BPTNMT.

Theo nghiên cứu của Kourtney J Davis (2015) về chẩn đoán BPTNMT, 100% bác sĩ hô hấp và 82% bác sĩ nội khoa sử dụng máy đo CNTK để chẩn đoán Đợt cấp của BPTNMT được thể hiện qua tình trạng xấu đi của triệu chứng hô hấp, dẫn đến mức độ tắc nghẽn nghiêm trọng hơn Việc nhập viện do đợt cấp này có liên quan đến tiên lượng và nguy cơ tử vong cao.

Các bệnh đồng mắc phổ biến bao gồm bệnh tim mạch, loãng xương, trầm cảm, lo âu, rối loạn chuyển hóa và ung thư phổi Những bệnh này có thể làm tăng nguy cơ nhập viện và tử vong, do đó cần thiết phải áp dụng các biện pháp điều trị phù hợp.

John R Hurst đã phân tích 2.138 bệnh nhân mắc BPTNMT trong 3 năm và phát hiện rằng các đợt cấp xảy ra thường xuyên hơn và nghiêm trọng hơn khi mức độ bệnh tăng lên Tiền sử mắc đợt cấp là yếu tố tiên lượng tốt nhất cho tất cả các giai đoạn của BPTNMT Trong một nghiên cứu khác, Dauglas W Mapel (2015) đã thu thập dữ liệu từ 83 trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu và nhận thấy sự khác biệt rõ rệt trong phân loại ABCD theo mMRC và CAT.

Nghiên cứu của Eirini Misiki (2015) về 6.125 người mắc BPTNMT tại Hy Lạp cho thấy tỷ lệ tắc nghẽn đường thở theo phân loại GOLD là 19,3% (GOLD 1), 35,4% (GOLD 2), 25,6% (GOLD 3) và 19,6% (GOLD 4), với số đợt cấp trung bình trong năm trước là 2 (0,0 – 3,0) P.W Jones (2011) phân tích 1.817 người mắc BPTNMT tại các trung tâm chăm sóc ban đầu ở 7 quốc gia Châu Âu, cho thấy điểm CAT trung bình ở Tây Ban Nha là 15,9 ± 8,7; Hà Lan 14,6 ± 7,7; Pháp 18,5 ± 8,5; Đức 18,8 ± 7,8; Bỉ 18,8 ± 9,2; và Italy 18,9 ± 8,2 Nghiên cứu của Jose Luis Lopez – Campos (2015) trên 1.212 người mắc BPTNMT với độ tuổi trung bình là 66,4 (9,7) cho thấy điểm mMRC trung bình là 1,5 (0,8) và điểm CAT trung bình là 18,3 (7,6) Eva Balcells nghiên cứu 342 người mắc BPTNMT nhập viện lần đầu do đợt cấp, cho thấy 34% chưa được chẩn đoán trước đó, thường trẻ tuổi hơn, ít triệu chứng hơn và điểm mMRC thấp hơn so với nhóm đã được chẩn đoán.

Phân loại giai đoạn BPTNMT theo hệ thống ABCD đã được cải tiến từ năm 2017, kết hợp đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở, số đợt cấp trong năm, điểm CAT và mMRC, nhằm khắc phục những hạn chế của phân loại trước đây.

Kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) được định nghĩa chính thức bởi GOLD vào năm 2001 và đã được cập nhật thường xuyên, mang lại hướng dẫn quý giá cho các bác sĩ lâm sàng BPTNMT đang gia tăng trên toàn cầu, thường xuất hiện sau 40 tuổi, vì vậy việc phát hiện và điều trị sớm là rất quan trọng Tuy nhiên, phòng ngừa bệnh vẫn là vấn đề then chốt, liên quan mật thiết đến kiến thức về BPTNMT không chỉ của nhân viên y tế mà còn của toàn dân Kiến thức đúng giúp tạo ra thái độ phòng chống hiệu quả và các biện pháp thực hành đúng đắn về bệnh.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức của người dân về bệnh BPTNMT còn rất hạn chế, với 95,7% người tham gia chưa từng nghe đến tên bệnh Trong số 4,3% đã biết, hiểu biết về nguyên nhân và biện pháp phòng chống vẫn rất kém, với 45,2% cho rằng triệu chứng bệnh có ho, 32,7% có khạc đờm, và 42,7% có khó thở Đặc biệt, 61,3% cho rằng hút thuốc là nguyên nhân gây bệnh Nghiên cứu của Stalia SL Wong (2014) tại Malaysia cũng cho thấy bác sĩ và bệnh nhân đều thiếu hiểu biết về BPTNMT, thường nhầm lẫn với hen phế quản và không nhận thức được nguy cơ từ thuốc lá Sự phức tạp của thuật ngữ BPTNMT cũng góp phần vào sự thiếu hiểu biết và sai lầm trong nhận thức về bệnh và phương pháp điều trị.

BPTNMT là một bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng, gây khó thở và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe thể chất lẫn tâm lý, tạo ra rào cản trong việc giao tiếp xã hội Nhiều bệnh nhân và bác sĩ vẫn chưa nhận thức đầy đủ về việc tự quản lý bệnh và những lợi ích mà phương pháp này có thể mang lại.

Người mắc BPTNMT thường có kiến thức hạn chế về bệnh, điều này ảnh hưởng lớn đến thái độ và hành vi của họ Nghiên cứu của Peian Lou (2012) trên 8.217 người mắc BPTNMT tại Trung Quốc cho thấy 96,4% chưa từng nghe về BPTNMT, trong khi 32,1% không nhận thức được rằng hút thuốc là yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Một nghiên cứu của Menezes AM (2015) với 4.343 bệnh nhân và 1.307 bác sĩ chăm sóc người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) ở 12 quốc gia cho thấy 79% bác sĩ nhận định sức khỏe của bệnh nhân đã cải thiện trong thập kỷ qua, chủ yếu nhờ vào sự phát triển của các loại thuốc tốt hơn Tuy nhiên, việc tiếp cận thuốc vẫn là một thách thức ở nhiều quốc gia, với 39% bác sĩ và 46% bệnh nhân cho rằng "không có phương pháp điều trị nào thực sự hiệu quả cho BPTNMT" Đặc biệt, 78% bác sĩ và 38% bệnh nhân đồng tình rằng "hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ra hầu hết các trường hợp BPTNMT".

Hút thuốc là nguyên nhân chính gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), nhưng nhiều người hút thuốc chưa nhận thức được điều này Một nghiên cứu của Jae Yong Seo (2015) trên 289 người tại ba trung tâm cai thuốc ở Hàn Quốc cho thấy chỉ 1,0% biết BPTNMT là bệnh hô hấp và 2,4% đã được chẩn đoán và điều trị Nhận thức về BPTNMT trong cộng đồng người hút thuốc rất thấp, nhiều người vẫn cho rằng sức khỏe của họ tốt mặc dù có triệu chứng liên quan Do đó, việc nâng cao nhận thức về BPTNMT và khuyến khích người nghiện cai thuốc là rất cần thiết.

Nhiều biện pháp thực hành cho người mắc BPTNMT bao gồm phục hồi chức năng hô hấp, cai thuốc, chế độ rèn luyện sức khỏe, chế độ ăn hợp lý và thực hành sử dụng thuốc Thuốc điều trị chủ yếu là thuốc giãn phế quản, cần sử dụng liên tục trong suốt quá trình bệnh, ngay cả khi ổn định Việc thực hành đúng các bước sử dụng thuốc dạng hít không chỉ tăng hiệu quả điều trị mà còn tiết kiệm chi phí Nghiên cứu của Souza ML trên 120 bệnh nhân cho thấy 94,2% người mắc hen phế quản và BPTNMT thực hành sai ít nhất một lỗi khi sử dụng thuốc GPQ dạng hít.

Mục đích của can thiệp trong BPTNMT là giảm nguy cơ bệnh tật, ngăn ngừa tình trạng bệnh nặng hơn, hạn chế đợt cấp và tối thiểu hóa việc nhập viện cùng chi phí điều trị, đồng thời nâng cao chất lượng sống cho người bệnh và quan trọng nhất là giảm tỷ lệ mắc bệnh.

Clare Gardiner (2010) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân mắc BPTNMT, đồng thời kêu gọi cần có giáo dục và đào tạo cho các chuyên gia y tế Bà cũng đề xuất tiếp tục nghiên cứu để phát triển các biện pháp chăm sóc hiệu quả nhất.

Trước tình hình kiến thức của người dân về bệnh phẩm bảo vệ môi trường chưa đầy đủ, việc truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh trở nên cấp thiết Đây cũng là trọng tâm chính trong nghiên cứu can thiệp của đề tài này.

Can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Khái niệm và khía cạnh của truyền thông giáo dục sức khỏe

Truyền thông là quá trình chia sẻ thông tin giữa bên truyền và bên nhận Giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao kiến thức và thay đổi thái độ, cảm xúc của con người, từ đó phát triển thực hành và thay đổi hành vi, góp phần mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất.

Kiến thức vững về sức khỏe giúp con người có thái độ và hành vi đúng đắn để bảo vệ sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật Theo Frederik Van Gemert, sự thiếu hụt thông tin có thể dẫn đến niềm tin và thái độ khác nhau liên quan đến các triệu chứng hô hấp.

Để nâng cao KAP, cần thực hiện truyền thông liên tục và đa dạng nhằm thay đổi và duy trì hành vi có lợi cho sức khỏe, đòi hỏi nguồn lực thực hiện Trung tâm GDSK bao gồm cả truyền thông gián tiếp và trực tiếp.

Truyền thông gián tiếp sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như ti vi, radio, loa phóng thanh, sách báo, tranh ảnh, pano, áp phích, băng rôn, tờ rơi, sổ tay hướng dẫn, điện thoại và mạng internet để truyền tải thông điệp đến công chúng.

Truyền thông trực tiếp bao gồm các hoạt động như tổ chức họp mặt, tư vấn, thăm hộ gia đình, tập huấn, hội thảo, mít tinh, tuần hành tọa đàm, sinh hoạt câu lạc bộ, hội trại, hội thi và lễ phát động Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Thủy (2014) về truyền thông trực tiếp cho người mắc lao điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hải Phòng cho thấy rằng kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) của người bệnh đã cải thiện rõ rệt chỉ sau 10 ngày điều trị tại bệnh viện.

Để đạt hiệu quả cao, cần sự phối hợp và chỉ đạo chặt chẽ giữa các cấp, ngành và đoàn thể từ tỉnh, thành phố đến quận, huyện, xã, phường.

Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) không chỉ mang lại lợi ích cho người dân mà còn giúp nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành cho cán bộ y tế Nhờ đó, cán bộ y tế có khả năng tác động lâu dài đến cộng đồng, thúc đẩy sự thay đổi hành vi nhằm cải thiện hiệu quả trong công tác phòng và chữa bệnh.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện với đối tượng là 5.220 người dân từ 40 tuổi trở lên, trong đó có 310 người bệnh, nhằm xác định tỷ lệ mắc và kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về bảo vệ tài nguyên môi trường (BPTNMT) tại hai xã.

+ Xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng gồm 2.540 người trong đó có 177 người bệnh

+ Xã Kiền Bái huyện Thuỷ Nguyên gồm 2.680 người trong đó có 133 người bệnh

- Đối tượng nghiên cứu can thiệp: trên cùng đối tượng nghiên cứu tại xã Kiến Thiết bao gồm 2206 người dân trong đó có 139 người bệnh

- Người dân từ 40 tuổi trở lên sống trên 5 năm tại Kiến Thiết và Kiền Bái

- Đủ sức khỏe tinh thần trả lời bộ câu hỏi điều tra

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu

Chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo GOLD

- Chẩn đoán lâm sàng được xem xét ở những trường hợp sau:

+ Khó thở tiến triển nặng dần, tăng khi gắng sức

+ Ho mạn tính, có thể không thường xuyên

+ Tiền sử phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ: hút thuốc, khói bếp, tiếp xúc với bụi và hoá chất nghề nghiệp

+ Tiền sử gia đình có người mắc BPTNMT

- Đo chức năng thông khí bằng máy Spirometry và làm test hồi phục phế quản cho các trường hợp có rối loạn thông khí tắc nghẽn [10] [12] [18] [48]

- Chẩn đoán xác định BPTNMT khi FEV1/FVC < 0,7 sau test phục hồi phế quản âm tính (FEV1 lần 2 tăng hơn lần 1 < 200ml và/hoặc tăng < 12% hoặc không tăng)

Chẩn đoán viêm phế quản mạn tính được xác định khi bệnh nhân có triệu chứng ho khạc đờm kéo dài liên tục ít nhất 3 tháng trong 1 năm và kéo dài trong ít nhất hai năm liên tiếp, đồng thời không có rối loạn thông khí tắc nghẽn.

Chẩn đoán hen phế quản được xác định dựa trên tiền sử bệnh nhân mắc hen phế quản và sự hiện diện của rối loạn thông khí tắc nghẽn, có thể phục hồi sau khi thực hiện test hồi phục phế quản Cụ thể, nếu FEV1 lần 2 tăng hơn lần 1 trên 200ml và/hoặc tăng ≥ 12%, cùng với chỉ số Gaensler đạt ≥ 70%, thì có thể khẳng định chẩn đoán hen phế quản.

- Những người rối loạn tâm thần, tạm trú, tạm vắng, sống tại xã dưới 5 năm

- Không đo được CNTK do dị tật vòm họng, suy tim, bướu cổ độ III…

- Người dân hoặc người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu là xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng và xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

Hải Phòng, nằm ở miền Duyên Hải Bắc Bộ, bao gồm 7 quận và 8 huyện, trong đó có 2 huyện đảo Trong số các huyện, có 5 huyện vẫn duy trì trồng thuốc lào, trong khi 7 quận và 3 huyện còn lại, bao gồm cả 2 huyện đảo, không trồng loại cây này.

Huyện Tiên Lãng, với 22 xã và 01 thị trấn, nổi tiếng với truyền thống trồng thuốc lào lâu đời Mặc dù diện tích trồng thuốc lào đã giảm, xã Kiến Thiết vẫn giữ vị trí hàng đầu về sản xuất thuốc lào, trở thành nguồn thu nhập chính cho người dân địa phương.

+ Huyện Thủy Nguyên có 35 xã, 02 thị trấn, là huyện trên đất liền không trồng thuốc lào Kiền Bái là xã thuần nông, người dân chuyên canh cây lúa

Hệ thống y tế của 2 huyện đều có bệnh viện, trung tâm y tế huyện và các trạm y tế xã đều hoạt động tốt

Từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 12 năm 2016 được chia làm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn điều tra cắt ngang về dịch tễ và KAP về BPTNMT tại hai xã được tiến hành từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 4 năm 2015

Giai đoạn can thiệp cộng đồng về BPTNMT tại xã Kiến Thiết diễn ra từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016, bao gồm việc thành lập và hoạt động của câu lạc bộ BPTNMT dành cho những người mắc bệnh.

Nghiên cứu kết hợp 2 loại thiết kế là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích và nghiên cứu can thiệp cộng đồng đánh giá trước sau

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại xã Kiến Thiết và Kiền Bái từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 4 năm 2015, nhằm điều tra dịch tễ và KAP về bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) cho 5.220 người dân từ 40 tuổi trở lên Nghiên cứu cũng bao gồm việc khám và đo chỉ số chức năng hô hấp để chẩn đoán BPTNMT, từ đó đưa ra tỷ lệ mắc bệnh và đánh giá thực hành của cộng đồng trước khi tiến hành can thiệp cho những người mắc bệnh.

Nghiên cứu can thiệp được thực hiện tại xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng trong thời gian từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016, sau khi hoàn thành giai đoạn nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Mục đích của can thiệp TTGDSK là nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) cho người dân, đặc biệt thông qua việc thành lập và duy trì các câu lạc bộ BPTNMT Điều này nhằm cải thiện thực hành, tình trạng sức khỏe và chức năng hô hấp cho những người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT).

- Thiết kế nghiên cứu can thiệp được tiến hành theo 3 bước:

Bước đầu tiên là tiến hành điều tra kiến thức và thái độ của người dân từ 40 tuổi trở lên, đồng thời đánh giá thực hành, kết quả đo chỉ số CNTK và tình trạng sức khỏe của những người mắc BPTNMT, điều này đã được thực hiện trong nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Trong bước 2, chúng ta sẽ thực hiện can thiệp giáo dục về kiến thức và thái độ đối với bảo vệ môi trường tại cộng đồng, nhằm nâng cao nhận thức cho người dân Hoạt động này sẽ bao gồm tư vấn và tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ cho những người mắc bệnh tật liên quan đến môi trường tại xã Kiến Thiết, kéo dài trong vòng 1 năm.

+ Bước 3: điều tra cắt ngang (như thực hiện ở bước 1) để đánh giá hiệu quả sau 1 năm can thiệp

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu

2.2.2.1 Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu nghiên cứu xác định một tỷ lệ tính theo công thức [22]: n = Z 2 (1- /2) p(1-p) (p.) 2

Z 2 (1- /2) là hệ số tin cậy, lấy giá trị 1,96 (tương ứng với độ tin cậy là 95%) p = 0,057: dựa trên tỷ lệ mắc BPTNMT của nghiên cứu trước đó [5] [25]

 = 0,2: mức độ sai khác của nghiên cứu so với thực tế 20%

Hệ số thiết kế (DE): để xác định tỷ lệ mắc BPTNMT trong cộng đồng 2 xã chúng tôi lấy hệ số thiết kế là 2

Cỡ mẫu tính được: n = 5.196 người từ 40 tuổi trở lên cho hai xã

Thực tế chúng tôi điều tra dịch tễ, KAP và khám phát hiện BPTNMT cho 5.220 người, đảm bảo cỡ mẫu yêu cầu

- Chọn chủ đích 2 huyện có và không trồng thuốc lào là huyện Tiên Lãng và huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

Xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, nổi bật với việc trồng thuốc lào nhiều nhất, trong khi xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, chuyên trồng lúa Nghiên cứu này tập trung vào tỷ lệ mắc bệnh và kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) liên quan đến bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (BPTNMT) tại hai xã này.

- Theo số liệu báo cáo của ban quản lý dân số của xã, đối tượng từ 40 tuổi trở lên ở 2 xã là 7.296 người (Kiến Thiết 3.318 người và Kiền Bái 3.978 người)

Dự kiến có khoảng 15% đến 20% người dân có thể không tham gia nghiên cứu do không có mặt, không đủ tiêu chuẩn hoặc không đồng thuận Do đó, chúng tôi tiến hành điều tra để xác định tỷ lệ mắc BPTNMT cho tất cả các đối tượng.

40 tuổi trở lên tại 2 xã

Cỡ mẫu can thiệp được xác định dựa trên công thức, trong đó p1 đại diện cho tỷ lệ kiến thức tốt về bảo vệ tài nguyên nước trước can thiệp, ước lượng là 5%, và p2 là tỷ lệ kiến thức tốt về bảo vệ tài nguyên nước mong đợi đạt 20% sau can thiệp.

Chúng tôi đã chọn xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng để nghiên cứu can thiệp về bảo vệ môi trường, vì đây là địa phương có truyền thống lâu đời trong việc trồng, chế biến, buôn bán và sử dụng thuốc lào.

- Chọn mẫu: chọn toàn bộ 2206 người dân, trong đó có 139 người bệnh đã được đánh giá trước can thiệp (do sau 1 năm các đối tượng già yếu không đủ

Triển khai nghiên cứu, kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin

2.3.1 Cán bộ tham gia nghiên cứu

Học viên và cán bộ y tế từ Bộ môn Lao và Bệnh phổi, Khoa Y tế công cộng, cùng với Bộ môn Sinh lý của Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, đã hợp tác với các bác sĩ chuyên khoa hô hấp và nhân viên y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hải Phòng, cũng như các bác sĩ chuyên khoa Tim mạch và Tai mũi họng của Bệnh viện Việt.

Tiệp Hải Phòng, các cán bộ y tế tại Trạm y tế xã Kiến Thiết và Kiền Bái, cùng với đội ngũ của Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Hải Phòng, đang nỗ lực nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Học viên chuyên khoa lao và bệnh phổi với gần 20 năm kinh nghiệm trong khám chữa bệnh, đã được thầy hướng dẫn trực tiếp tham gia và chỉ đạo các hoạt động phỏng vấn dịch tễ, KAP, khám bệnh và truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh phổi và tác động của môi trường.

Bộ câu hỏi điều tra dịch tễ về bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) được xây dựng dựa trên các bảng câu hỏi nổi bật như bảng câu hỏi triệu chứng hô hấp của Cộng đồng Than Thép Châu Âu (ECSC – 1978), bảng hỏi của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1986, và bảng câu hỏi về bệnh hô hấp dành cho người trưởng thành của Hội lồng ngực Mỹ (ATS – 1987).

- Bộ câu hỏi điều tra kiến thức, thái độ: áp dụng bộ câu hỏi điều tra KAP của Đinh Ngọc Sỹ trong đề tài cấp nhà nước [18]

Bộ câu hỏi thực hành được phát triển dựa trên chương trình quốc gia PCBPTNMT, tập trung vào các biện pháp sử dụng thuốc dạng hít, phục hồi chức năng hô hấp và hỗ trợ cai thuốc lá.

2.3.3 Nghiên cứu dịch tễ và kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Tập huấn cán bộ điều tra bằng phương pháp đóng vai theo bộ câu hỏi điều tra dịch tễ và KAP, sau đó tiến hành điều tra thử để đánh giá và rút kinh nghiệm, từ đó điều chỉnh trước khi thực hiện điều tra chính thức.

Chúng tôi đã lập danh sách người dân từ 40 tuổi trở lên tại hai xã và tiến hành điều tra dịch tễ cũng như KAP theo hộ gia đình Để thu thập dữ liệu tối đa, nếu không tiếp cận được trong lần đầu, chúng tôi sẽ tiếp tục điều tra trong các lần sau Qua ba lần điều tra, sau khi loại trừ những người không hợp tác, không đủ tiêu chuẩn hoặc không thể tiếp cận, chúng tôi đã phỏng vấn và hoàn thành phiếu điều tra cho 5.220 đối tượng Đồng thời, chúng tôi cũng đã triển khai khám bệnh và đo chỉ số CNTK tại trạm y tế của hai xã.

Đo lưu lượng đỉnh cho toàn bộ ĐTNC là một phương pháp quan trọng trong chẩn đoán BPTNMT, theo Đinh Ngọc Sỹ Mô hình chẩn đoán này sử dụng ngưỡng lâm sàng và PEF dưới 70% giá trị ước tính, với điểm 210 cho độ nhạy 89% và độ đặc hiệu 97% [18].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi đã tiến hành sàng lọc các đối tượng có nguy cơ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), bao gồm những người có triệu chứng hô hấp như ho, khó thở, khạc đờm mạn tính, có tiền sử hút thuốc, hoặc có chỉ số PEF dưới 70% Tất cả các đối tượng này đều được thăm khám lâm sàng và đo chức năng hô hấp.

- Khám lâm sàng cho đối tượng có nguy cơ: khám toàn trạng, đo chiều cao, cân nặng Khám chuyên khoa hô hấp, tim mạch, Tai - Mũi - Họng

- Đo chức năng thông khí bằng máy Chest HI 801 xuất xứ Nhật Bản

Trước khi tiến hành đo, cần chuẩn bị máy một cách kỹ lưỡng, đảm bảo máy được định chuẩn chính xác và kiểm tra đầy đủ các điều kiện kỹ thuật cần thiết Các thông số của máy cần được cài đặt theo chế độ phù hợp với người Việt Nam.

Để đảm bảo kết quả đo chính xác, đối tượng cần nghỉ ngơi ít nhất 15 phút trước khi tiến hành đo Cần ghi rõ họ tên, tuổi, giới tính, chiều cao, cân nặng và nhập trực tiếp các chỉ số này vào máy để tính chỉ số CNTK chuẩn Đối tượng nên ngồi trong tư thế thoải mái và được giải thích rõ ràng về quy trình đo theo một trình tự thống nhất, sau đó tiến hành đo các chỉ tiêu cần thiết.

Đo dung tích sống thở chậm (SVC) yêu cầu đối tượng kẹp mũi và ngậm ống thổi, sau đó thực hiện hít vào và thở ra bằng miệng trong khoảng 3 chu kỳ Người bệnh cần hít vào từ từ đến hết khả năng và thở ra từ từ tối đa, đảm bảo không thở nhanh hay ngắt quãng Quá trình đo được thực hiện 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 đến 2 phút, và kết quả cuối cùng được lấy từ lần đo có kỹ thuật chính xác nhất và giá trị cao nhất.

Đo dung tích sống thở mạnh (FVC) là quy trình mà người tham gia được hướng dẫn hít vào và thở ra bình thường khoảng 3 chu kỳ Sau đó, họ hít vào từ từ đến mức tối đa, rồi thở ra thật nhanh, mạnh và liên tục cho đến khi hết khả năng Quá trình này được thực hiện ba lần, và kết quả cuối cùng sẽ là lần đo có kỹ thuật đúng nhất và giá trị cao nhất.

Kỹ thuật test hồi phục phế quản là phương pháp quan trọng để phân biệt giữa tắc nghẽn đường thở không hồi phục hoàn toàn trong bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) và tắc nghẽn hồi phục hoàn toàn trong hen phế quản Phương pháp này được áp dụng cho tất cả các đối tượng có rối loạn thông khí tắc nghẽn, đặc biệt khi chỉ số Tiffeneau (FEV1/SVC) hoặc Gaensler cho thấy sự bất thường.

(FEV1/FVC) < 70% [10] [12] [18] [48] Những đối tượng này được hít thở qua buồng đệm với thuốc GPQ kích thích 2 là Salbutamol liều 400 g trong

6 phút, sau đó 20 phút đo lại FEV1 Test hồi phục phế quản dương tính: nếu FEV1 lần 2 tăng hơn lần 1 > 200ml và/hoặc tăng  12%; chỉ số Gaensler ≥

70% Test hồi phục phế quản âm tính: nếu FEV1 lần 2 tăng hơn lần 1 < 200ml và/hoặc tăng < 12%; chỉ số Gaensler < 70%

+ Chẩn đoán xác định BPTNMT khi FEV1/FVC < 0,7 sau test hồi phục phế quản âm tính

- Đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở theo GOLD: dựa vào chỉ số FEV1% so với trị số lý thuyết [70] [71] [72]

+ GOLD 1 (mức độ nhẹ) khi FEV1 ≥ 80% giá trị lý thuyết

+ GOLD 2 (mức độ trung bình): 50% ≤ FEV1 < 80% giá trị lý thuyết

+ GOLD 3 (mức độ nặng): 30% ≤ FEV1 < 50% giá trị lý thuyết

+ GOLD 4 (mức độ rất nặng): FEV1 < 30 % giá trị lý thuyết

Đánh giá mức độ khó thở của bệnh nhân theo thang điểm mMRC bao gồm 5 mức độ, với điểm số từ 0 đến 4 Thang điểm này được chia thành 2 giai đoạn để phân loại bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT): mMRC từ 0 đến 1 và mMRC lớn hơn hoặc bằng 2.

Sai số và khống chế sai số

Trong nghiên cứu, sai số có thể phát sinh từ nhiều nguồn như quá trình điều tra, thu thập số liệu, tiêu chuẩn đánh giá và chẩn đoán, cũng như từ việc đo lường không chính xác Ngoài ra, thông tin từ các đối tượng cung cấp cũng có thể chưa chính xác hoặc đầy đủ, và sai số cũng có thể đến từ phân tích và xử lý số liệu Để khống chế sai số, có thể áp dụng các biện pháp phù hợp.

- Lấy cỡ mẫu của ĐTNC đủ lớn cho nghiên cứu tỷ lệ và can thiệp

Bộ câu hỏi điều tra dịch tễ về BPTNMT đã được sử dụng phổ biến toàn cầu Bộ câu hỏi KAP và bảng kiểm được phát triển dựa trên các nghiên cứu trước đây, chương trình phòng chống BPTNMT và tiêu chuẩn GOLD.

- Tập huấn kỹ cán bộ điều tra, tiến hành điều tra thử, đánh giá và rút kinh nghiệm trước khi triển khai điều tra thực tế trong cộng đồng

- Máy đo CNTK Chest HI 801 do Nhật Bản sản xuất

Khám bệnh và đo chức năng hô hấp được thực hiện bởi đội ngũ y tế giàu kinh nghiệm từ Trường Đại học Y-Dược Hải Phòng và Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng, với việc đọc và đánh giá kết quả theo tiêu chuẩn GOLD.

Cán bộ y tế tham gia thu thập thông tin và can thiệp đều là những người có kinh nghiệm phong phú, trình độ chuyên môn cao và nhiệt huyết trong công việc Họ đã được tập huấn một cách kỹ lưỡng và thống nhất về phương pháp làm việc, đảm bảo hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

- Đánh giá can thiệp theo đúng bộ câu hỏi, bảng kiểm, máy đo CNTK theo các tiêu chuẩn trên.

Xử lý số liệu

- Nhập số liệu trên phần mềm Epi-data 3.1

- Số liệu được quản lý, làm sạch và xử lý trên phần mềm spss 21.0

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã áp dụng các thuật toán thống kê như tính tỷ lệ phần trăm, so sánh hai tỷ lệ thông qua kiểm định Chi bình phương ( 2), và so sánh hai trị số trung bình bằng T-test Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm kiếm mối liên quan giữa các biến bằng cách tính Odds Ratio (OR) với khoảng tin cậy 95% (95%CI) hoặc thực hiện phân tích xu hướng.

Để xác định các yếu tố nguy cơ, chúng tôi thực hiện phân tích hồi quy logistic đơn biến Những yếu tố có giá trị p nhỏ hơn 0,02 sẽ được đưa vào mô hình phân tích logistic đa biến nhằm xác định yếu tố nguy cơ độc lập.

- Mức thống kê có ý nghĩa khi p < 0,05.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 28/04/2021, 00:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm