1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SO SÁNH QUY ĐỊNH VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM, ANH, HOA KỲ VÀ LUẬT MẪU UNCITRAL LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

76 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh quy định về thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam, Anh, Hoa Kỳ và luật mẫu uncitral
Tác giả Vũ Thị Anh
Người hướng dẫn TS. Phan Ngọc Tâm
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 675,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số lượng các vụ tranh chấp được giải quyết bởi các Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam chưa nhiều, bình quân mỗi năm một trọng tài viên chỉ phải giải quyết 0,5 vụ kiện, trong khi đó, ở

Trang 1

VŨ THỊ ANH

SO SÁNH QUY ĐỊNH VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM, ANH, HOA KỲ VÀ LUẬT MẪU UNCITRAL

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC CHUYÊN NGÀNH LUẬT QUỐC TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 10, NĂM 2016

Trang 2

SO SÁNH QUY ĐỊNH VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM, ANH, HOA KỲ VÀ LUẬT MẪU UNCITRAL

Chuyên ngành: Luật quốc tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn là công trình nghiên cứu của chính tác giả Các nội dung được đề cập và trình bày trong luận văn là kết quả của quá trình tác giả nghiên cứu các quy định của pháp luật về thỏa thuận trọng tài trong pháp luật của Việt Nam, Anh, Hoa

Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL Đồng thời, luận văn cũng là kết quả của quá trình nghiên cứu, tham khảo các nguồn tài liệu như sách báo, ấn phẩm, tư liệu, công trình nghiên cứu có liên quan của các tổ chức, chuyên gia, các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước cùng với sự định hướng và hỗ trợ của giảng viên hướng dẫn Qua đó, tác giả xây dựng nên công trình khoa học của bản thân mình Tác giả cam kết danh dự không sao chép bất kỳ ý tưởng nào của các nhà khoa học khác, nếu sai trái xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Người cam đoan

Vũ Thị Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Phần mở đầu 1

Chương 1 Tổng quan về thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL 8

1.1 Khái quát về trọng tài thương mại 8

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển trọng tài thương mại 8

1.1.2 Khái niệm trọng tài thương mại 11

1.1.3 Đặc điểm trọng tài thương mại 13

1.1.4 Các hình thức tổ chức trọng tài 15

1.2 Khái quát về thỏa thuận trọng tài 17

1.2.1 Khái niệm về thỏa thuận trọng tài 17

1.2.2 Đặc điểm của thỏa thuận trọng tài 18

1.2.3 Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài 20

1.3 Quy định về thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL 21

1.3.1 Thỏa thuận trọng tài trong Luật mẫu UNCITRAL 21

1.3.2 Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Anh 27

1.3.3 Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Hoa Kỳ 31

Kết luận Chương 1 35

Chương 2 Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam – So sánh với pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL 36

2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Trọng tài thương mại và pháp luật trọng tài tại Việt Nam 37

2.2 Quy địn về điều kiện về thỏa thuận trọng tài theo pháp luật Việt Nam – Đánh giá, so sánh với pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL 42

2.2.1 Quy định về điều kiện hình thức của thỏa thuận trọng tài 42

2.2.2 Quy định về điều kiện chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài 46

Trang 5

2.2.3 Quy định về điều kiện nội dung của thỏa thuận trọng tài 52

2.3 Một số vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài 58

2.3.1 Hiệu lực pháp lý của thỏa thuận trọng tài 59

2.3.2 Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được 60

2.3.3 Vấn đề kế thừa thỏa thuận trọng tài 62

Kết luận Chương 2 64

Kết luận 65 Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với sự phát triển của thương mại quốc tế, các doanh nhân phải tiếp xúc với các đối tác, quốc gia, nền văn hóa và tập quán thương mại mới Cơ hội mới đồng thời cũng mang đến cho các doanh nhân những rủi ro mới Trong giao dịch thương mại tất yếu dẫn đến tranh chấp, nhưng nếu đó là các giao dịch thương mại quốc tế thì khó khăn càng tăng thêm do liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật, thủ tục tố tụng và ngôn ngữ khác nhau1 Thực tế hiện nay cho thấy các vụ kiện tranh chấp thương mại ngày càng gia tăng, phức tạp và cần phải được giải quyết Giải quyết các tranh chấp bằng trọng tài đang ngày càng được các danh nhân lựa chọn và được coi là nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, bởi ưu điểm của

nó là thủ tục giải quyết tranh chấp linh hoạt, bí mật và phù hợp với tính chất của hoạt động kinh doanh thương mại Tổng thư ký Tòa án trọng tài Quốc tế (ICC)

Jason Fry đã khẳng định: “Trọng tài là phương thức giải quyết chấp lựa chọn, có

nhiều ưu thế trong đó nổi bật là tính nhanh gọn, bí mật và phán quyết của trọng tài

có giá trị chung thẩm”2 Nhưng để các tranh chấp thương mại được giải quyết bằng

trọng tài thì cần phải có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài được xem là “nền

móng” cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, với nguyên tắc vàng là không

thể tiến hành tố tụng trọng tài mà không có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ tiến tiến trình tố tụng trọng tài, kể

từ khi bắt đầu trọng tài, cho đến khi công nhận và thi hành phán quyết trọng tài

Kinh tế Việt Nam đang từng bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, mở rộng giao lưu thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới Nhất là sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức

thì các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều

Trang 7

cơ hội mở rộng hợp tác, liên doanh, liên kết và tự do hợp đồng với các đối tác nước ngoài Đi cùng với đó là các tranh chấp thương mại đang ngày càng gia tăng và có tính phức tạp cao Thực tế cho thấy rất nhiều các vụ kiện tranh chấp thương mại quốc tế được giải quyết bởi trọng tài và số lượng các phán quyết, quyết định của trọng tài nước ngoài được yêu cầu thi hành tại Việt Nam cũng ngày một tăng lên

Ở Việt Nam, Trọng tài thương mại đã được biết đến như là một phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh ngay từ thập niên 60 Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau khiến cho pháp luật về trọng tài vẫn chưa được nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí của nó trong một thời gian dài Trọng tài và pháp luật về trọng tài mới chỉ thực sự được quan tâm và hoàn thiện trong những năm gần đây, cụ thể là kể từ khi Pháp lệnh trọng tài thương mại được Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI thông qua ngày 25/2/2003, đã tạo khung pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài tại Việt Nam Nhưng với hơn 06 năm thực hiện, Pháp lệnh trọng tài năm 2003 đã có những hạn chế và bất cập như: Phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài; chủ thể các tranh chấp giải quyết bằng trọng tài, việc hủy quyết định trọng tài Nhất là các vấn đề giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài về mặt nội dung và hình thức, luật áp dụng thỏa thuận trọng tài v.v nên Pháp lệnh trọng tài năm 2003 vẫn chưa tạo được

cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện chủ trương của Nhà nước khuyến khích các bên sử dụng trọng tài trong giải quyết các tranh chấp thuơng mại Vì vậy, Luật trọng tài thương mại 2010 đã ra đời để thay thế Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Luật trọng tài thương mại ra đời đã phần nào giải quyết được những hạn chế nêu trên song trên thực tế vẫn chưa thật sự hoàn chỉnh và tương thích với các văn bản pháp luật quốc tế về trọng tài

Thực tiễn pháp luật hiện hành về thỏa thuận trọng tài tại Việt Nam còn có nhiều hạn chế, bất cập đã gây trở ngại cho việc đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài Đặc biệt, khi xuất hiện việc xung đột pháp luật trong việc xác định luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài khi mà các bên tranh chấp không có thỏa thuận về luật

áp dụng cho thỏa thuận trọng tài hay khi một bên khiếu nại Hội đồng trọng tài về

Trang 8

năng lực chủ thể khi ký kết thỏa thuận trọng tài thì hiện chưa có chưa có một phương pháp xác định có tính thống nhất trong xét xử trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam Vì thế dẫn đến việc trong mỗi vụ việc, trọng tài có các cách hành xử khác nhau trong xét xử Hơn nữa, hoạt động giải quyết tranh chấp của các Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam trong thời gian qua cũng chưa có hiệu quả và gây được uy tín đối với các doanh nghiệp trong nước và quốc tế Số lượng các vụ tranh chấp được giải quyết bởi các Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam chưa nhiều, bình quân mỗi năm một trọng tài viên chỉ phải giải quyết 0,5 vụ kiện, trong khi đó,

ở Tòa án hiện có tới 98,5% vụ kiện ra Tòa là các tranh chấp thương mại có thể giải quyết bằng Trọng tài.4

Sự hiểu biết về vai trò, ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế, chưa đáng giá và nhận thức đúng vai trò, giá trị hiệu lực của thỏa thuận trọng tài nên trong quá trình soạn thảo, ký kết thỏa thuận trọng tài còn có thiếu sót, đẫn đến những tranh chấp phát sinh không đáng có về thỏa thuận trọng tài

Trên thế giới, để thống nhất cách hiểu và vận dụng về trọng tài, Hội đồng UNCITRAL đã ban hành ra Luật mẫu UNCITRAL để các quốc gia trên thế giới học tập và xây dựng pháp luật quốc nội của mình Chính điều này đã tạo nên sự hài hòa hóa pháp luật trên thế giới Ngoài ra, có thể kể đến 02 quốc gia là Anh và Hoa Kỳ vốn được xem là có lịch sử phát triển về trọng tài lâu đời, đã hình thành nên hệ thống pháp luật điều chỉnh về thỏa thuận trọng tài từ khá sớm và được đánh giá là những quy định về thỏa thuận trọng tài đã phát triển, đi xa hơn so với Luật mẫu UNCITRAL Mặc dù, đây đều là những quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thông luật nhưng để đảm bảo sự phát triển của hoạt động tố tụng trọng tài, Anh và Hoa Kỳ

đã ban hành những đạo luật về trọng tài Những quy định này nhằm đảm bảo hành lang pháp lý cho sự phát triển của các tổ chức trọng tài, trong đó Hoa Kỳ được coi

là nơi có số lượng trọng tài viên lớn nhất thế giới

4

Nguồn số liệu:

Trang 9

Do vậy, việc nghiên cứu so sánh pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL với pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài sẽ tạo cơ sở để từ đó đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện chế định thỏa thuận trọng tài ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới Đồng thời, góp phần mang đến cho các doanh nghiệp Việt Nam một cái nhìn hệ thống và rõ ràng hơn về trọng tài và thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế khi tham gia giao dịch trong thương mại quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện đã có một số công trình khoa học của các tác giả nghiên cứu về chế định trọng tài thương mại dưới nhiều góc độ khác nhau, như luận văn tốt nghiệp:

“Hiệu lực của quyết định trọng tài đối với vấn đề thi hành trong pháp luật và thực

tiễn” của tác giả Trần Dự Yên (Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2007); “Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài tại Việt Nam và Thụy Điển” của tác giả Phan Hoài Nam (Luận

Văn thạc sĩ Luật học năm 2009); “ Mối quan hệ giữa trọng tài thương mại và tòa án

trong quá trình tố tụng trọng tài” của tác giả Phan Thông Anh( Luật văn thạc sĩ

Luật học năm 2006); “Thực tiễn áp dụng pháp lệnh trọng tài thương mại 2003

trong giải quyết tranh chấp của các doanh nghiệp Việt Nam” của tác giả Nguyễn

Thị Việt Hà (Luận văn cử nhân năm 2005)

Trong công trình nghiên cứu của các tác giả này đã đưa ra được cái nhìn khái quát về vai trò và tính chất hoạt động của trọng tài thương mại nhưng chưa có sự phân tích chuyên sâu hay có sự so sánh với thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu hay chỉ ra được những bất cập trong quy định của pháp luật về trọng tài Hơn nữa, các giải pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về trọng tài trong các đề tài nghiên cứu của các tác giả nêu trên hiện đã cũ và không còn thực sự phù hợp với thực tiễn hiện nay

Ngoài ra, còn một số đề tài như: “Những điểm mới của luật trọng tài thương

mại 2010 về thỏa thuận trọng tài và những vấn đề đặt ra” của tác giả Mỵ Duy

Thanh (Luận văn cử nhân năm 2010) Các tác giả của những đề tài này cũng chỉ dừng ở góc độ nêu ra các điểm mới quy định pháp luật về trọng tài thỏa thuận trọng

Trang 10

tài theo Luật trọng tài Việt Nam mà chưa có sự phân tích so sánh giữa pháp luật trọng tài Việt Nam với pháp luật trọng tài quốc tế để chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế trong pháp luật trọng tài Việt Nam Ngoài ra, một số sách chuyên khảo như

“Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài của trọng tài thương mại tại Việt

Nam” của Nguyễn Trung Tín, “Giáo trình luật hợp đồng thương mại quốc tế” của

khoa Khoa Kinh tế - trường đại học quốc gia Tp.Hồ Chí Minh và các bài viết nghiên cứu của các học giả đăng trên tạp chí nghiên cứu pháp luật như: Luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế - Tạp chí nghiên cứu pháp luật điện tử số ra tháng 9/2011, Soạn thảo điều khoản trọng tài quốc tế - những điểm doanh nghiệp cần lưu ý được đề cập tại website: www.dddn.com.vn Các công trình này, bước đầu cũng đã có những đóng góp đáng kể vào việc nhìn nhận và đánh giá được vai trò, tính chất của trọng tài thương mại, hoạt động tố tụng trọng tài, cũng như vấn đề thỏa thuận trọng tài trong thương mại quốc tế song hầu hết chỉ dừng lại ở việc đặt vấn đề một cách khái quát chung Đáng lưu ý là vấn đề Lý luận

và thực tiễn áp dụng thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng thương mại quốc tế thì vẫn chưa được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện, hệ thống và có tính thực tiễn về vấn đề này Trong khi đó, thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng thương mại quốc tế là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các bên khi giao kết hợp đồng thương mại, góp phần quyết định vào việc các bên kiểm soát, hạn chế được rủi ro và tranh chấp trong kinh doanh

Quan trọng nhất, hầu hết các tác giả trên trong công trình của mình mặc dù đều có đề cập đến thỏa thuận trọng tài, những điều kiện của thỏa thuận trọng tài nhưng chưa tiến hành hoạt động so sánh luật giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước cũng như Luật mẫu UNCITRAL để tạo cơ sở đánh giá và hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong vấn đề này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn được thực hiện với mục đích làm rõ những căn cứ về lịch sử hình thành, lý luận, thực tiễn về vấn đề thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam và

Trang 11

pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL Trên cơ sở so sánh luật giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL để đưa ra đánh giá và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện được những nhiệm vụ như: tiến hành hoạt động nghiên cứu, phân tích lịch sử, lý luận chung về thỏa thuận trọng tài; tìm hiểu, phân tích pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL về thỏa thuận trọng tài; đồng thời, tiến hành hoạt động so sánh pháp luật về thỏa thuận trọng tài giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Anh, Hoa Kỳ, Luật mẫu UNCITRAL, đưa ra ưu điểm, nhược điểm của pháp luật Việt Nam, đề xuất giải pháp khắc phục nhược điểm trên cơ sở học tập có chọn lọc pháp luật Anh, Hoa Kỳ

và Luật mẫu UNCITRAL

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Với những mục đích, nhiệm vụ chính được nêu trên và những vấn đề nghiên cứu chưa được đầy đủ trong các công trình của các học giả pháp lý khác, trong điều kiện về thời gian nghiên cứu, tài liệu tham khảo và trong khuôn khổ của một luận văn cao học, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của Luận văn là thỏa thuận trọng tài và những vấn đề pháp lý liên quan đến thỏa thuận trọng tài mà không đề cập đến những vấn đề khác như thẩm quyền trọng tài hay tố tụng tọng tài… Trên cơ

sở đó và tương thích với đối tượng nghiên cứu được xác đinh, phạm vi nghiên cứu của Luận văn tập trung vào các góc độ tiếp cận dưới đây:

Thứ nhất, luận văn chủ yếu nghiên cứu chế định thỏa thuận trọng tài dưới góc độ cơ sở lịch sử hình thành, lý luận, pháp luật thực định của pháp luật Anh

(Luật về trọng tài), Pháp luật Hoa Kỳ (Đạo luật trọng tài liên bang), Luật mẫu

UNCITRAL và pháp luật thực định Việt Nam

Thứ hai, Luận văn chủ yếu nghiên cứu về điều kiện phát sinh hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo quy định của pháp luật Anh, Hoa Kỳ, Luật mẫu UNCITRAL và pháp luật Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 12

Luận văn được nghiên cứu và thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, đối chiếu và

thống kê để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu Đặc biệt, là một công trình

nghiên cứu về so sánh luật, luận văn được nghiên cứu chủ yếu dựa trên 03 phương pháp so sánh cơ bản của luật học so sánh là so sánh lịch sử, so sánh chức năng, so

sánh quy phạm Từ đó luận văn đưa ra một số kết luận, kiến nghị góp phần hoàn

thiện những điểm bất cập được nêu trong luận văn

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu nêu trên, kết quả của luận văn là góp phần làm phong phú nền khoa học pháp lý Việt Nam về vấn đề thỏa thuận trọng tài Đồng thời, luận văn là tài liệu tham khảo cho các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Anh, Hoa Kỳ, Luật mẫu UNCITRAL hoặc Việt Nam Bên cạnh đó, các nội dung nghiên cứu, đánh giá được đề cập trong luận văn cũng hướng tới việc đưa ra những ý kiến xây dựng mang tính tham khảo, góp phần hoàn thiện quy định về thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam phù hợp với

xu thế phát triển và hội nhập của đất nước

7 Bố cục của luận văn

Luận văn bao gồm những phần sau

Phần mở đầu

Chương 1: Tổng quan về thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Anh, Hoa Kỳ

và Luật mẫu UNCITRAL

Chương 2: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam – So sánh với pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG PHÁP

LUẬT ANH, MỸ VÀ LUẬT MẪU UNCITRAL 1.1 Khái quát về trọng tài thương mại

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển trọng tài thương mại

Mặc dù hiện nay khoa học pháp lý chưa thể xác định chính xác trọng tài bắt đầu xuất hiện khi nào, nhưng có thể khẳng định rằng đây chính là hình thức tiền thân của việc hình thành Tòa án sau này Trọng tài là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp lâu đời nhất được sử dụng để giải quyết tranh chấp hoặc mối quan hệ bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia Hình thái đầu tiên về trọng tài rất có thể bắt nguồn từ các quốc gia thành bang Hy Lạp, La Mã và Trung Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc Trong lịch sử của mình, người Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại đã sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp Việc sử dụng phương thức trọng tài trong giải quyết tranh chấp được quy định sơ khai trong Luật mua bán hàng hóa, theo đó cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình mà không cần có sự can thiệp của Nhà nước Tiếp sau đó, Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa cũng cho phép các lái buôn tự phân xử những tranh chấp phát sinh Điều này có nghĩa là quy định này được áp dụng trải

Xét về bình diện lịch sử thì hòa giải và trọng tài là hai phương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm hơn so với sự ra đời của tòa án Lịch sử hình thành

và phát triển của các hình thức giải quyết tranh chấp này ra đời cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hóa Vì vậy trọng tài thương mại cũng

có quá trình phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ ít hình thức đến hình thức hơn,

từ chưa chặt chẽ đến chặt chẽ hơn Mặc dù vậy, phải đến nửa sau thế kỉ 20 thì trọng

5Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật La Mã, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 185 –

186

Trang 14

tài mới phát triển một cách mạnh mẽ Trong thời kỳ đầu sơ khai, chế độ trọng tài

Ngay cả các nước có nền kinh tế hàng hải phát triển lâu đời như Vương quốc Anh cũng phải mất một khoảng thời gian dài mới đặt trọng tài vào đúng vị trí của

nó Trong hệ thống pháp luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải

kể đến Luật Trọng tài 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã là một phương thức được sử dụng phổ biến Phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa ra vào năm 1610 Tuy nhiên, các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống thông luật thể hiện một hạn chế cơ bản

là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697 Luật trọng tài của nước Anh liên tiếp được sửa đổi,

Hoa Kỳ là quốc gia mà hiệp hội trọng tài được thành lập với số lượng lớn và

Đặc biệt, trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Hoa Kỳ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài Từ đầu thế kỷ

20, các nước bắt đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử

ở cấp trọng tài thay cho kiện tụng ở tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn Năm

1925, Hoa Kỳ cũng đã đưa hoạt động trọng tài vào phạm vi điều chỉnh của pháp luật bằng Luật trọng tài liên bang nhằm thúc đẩy hoạt động giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài.9

6

Earl S Wolaver (1934), “The Historical Background of Commercial Arbitration”, University of

Pennsylvania law review, (December 1934), tr 132 – 133

7

Kyriaki Noussia (2010), Confidentiality in International Commercial Arbitration A Comparative

Analysis of the Position under English, US, German and French Law, Springer-Verlag Berlin Heidelberg,

Robert V Massey, Jr (2003), History of Arbitration and Grievance Arbitration in the United States, West

Virginia University Extension Service Institute for Labor Studies and Research, Virginia, tr 1 – 2

Trang 15

Các quốc gia khác thuộc Châu Âu lục địa thì lại có những tổ chức trọng tài truyền thống như tòa án trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế (ICC), hoặc đặc thù như Viện trọng tài bên cạnh phòng Thương mại quốc tế Stockhom (Thụy Điển) Bên cạnh đó, Châu Âu cũng đã và đang có những nỗ lực để thành lập mới nhiều tổ chức trọng tài quốc gia nhằm đáp ứng các đòi hỏi của nền kinh tế phát triển theo xu thế hội nhập toàn cầu, đồng thời thúc đẩy hoạt động tố tụng trọng tài được phát triển.10

Bên cạnh sự phát triển của các tổ chức trọng tài quốc gia và ở các khu vực lớn, trong những năm gần đây các tổ chức này đang ngày càng phát triển mạnh mẽ

ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Trong hơn 30 năm trở lại đây, các quốc gia

có nền kinh tế thị trường năng động trong khu vực này đã tổ chức lại các trung tâm trọng tài quốc gia hoặc thành lập các tổ chức trọng tài mới như: Hiệp hội trọng tài Nhật Bản (Tokyo, Osaka, Koby…) Tại các nước xung quanh Việt Nam, các tổ chức trọng tài liên tiếp ra đời như: Trọng tài thuộc Phòng thương mại Thái Lan (1990), Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Koong (1987), Trung tâm trọng tài

Có thể thấy tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần đây Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực tế; các điều ước quốc tế về trọng tài có thêm những thành viên mới xin gia nhập; trọng tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật; các doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới Hơn nữa, trọng tài hiện nay

còn giải quyết tranh chấp “trực tuyến” (thường được biết đến với thuật ngữ ODR –

10

Kyriaki Noussia (2010), Confidentiality in International Commercial Arbitration A Comparative

Analysis of the Position under English, US, German and French Law, Springer-Verlag Berlin Heidelberg,

Berlin , tr.14 - 15

11

Jack Wright Nelson (2014), “International Commercial Arbitration in Asia: Hong Kong, Australia and

India Compared”, Asian International Arbitration Journal, Vol.10 No.2, pp 105 -107

Trang 16

online dispute resolution) Trọng tài trực tuyến tiến hành các thủ tục tố tụng thông qua internet.12

Như vậy, hoạt động trọng tài ở các quốc gia trên thế giới đã có lịch sử phát triển lâu đời và đều có các quy định cụ thể nhằm thúc đẩy hoạt động trọng tài Hầu hết các nước theo hệ thống Thông luật đều có Luật Trọng tài như: Hoa Kỳ có Luật Trọng tài liên bang năm 1925; nước Anh trước khi có luật trọng tài năm 1996 đã có Luật Trọng tài các năm 1959, 1975, 1979; Australia có Luật liên bang về Trọng tài Thương mại quốc tế và các Luật Trọng tài của các bang; Brazil, Trung Quốc và rất nhiều các quốc gia khác ở các hệ thống pháp luật khác nhau từ lâu đều đã có Luật Trọng tài Ở các nước theo truyền thống luật Dân luật, một số nước đưa các quy định của pháp luật về Trọng tài vào trong Bộ luật Tố tụng Dân sự như Áo, Đức, Pháp, Ý… Tuy nhiên có một số nước lại ban hành Luật Trọng tài riêng như Phần Lan, Đan Mạch…

Như vậy, Trọng tài thương mại đã được hình thành trước khi Tòa án hình thành và được nhiều quốc gia trên thế giới khuyến khích sử dụng để giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tổ chức với nhau; thậm chí cả giữa các quốc gia với nhau

1.1.2 Khái niệm trọng tài thương mại

Hầu hết các nước trên thế giới, các tranh chấp dân sự dù có hay không có yếu

tố nước ngoài đều được giải quyết không chỉ bằng toà án mà bằng cả trọng tài Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn xét xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế Cuối thế kỷ XIX, người ta đã cố gắng hợp thức hoá tính cách pháp lý cho hình thức trọng tài qua hai Hội nghị Quốc tế Đó là hội nghị Hoà bình tổ chức tại LaHaye, Hà Lan vào năm 1899 và 1907 Hai hội nghị này đã tạo tiền đề đi đến việc soạn thảo các quy chế, thủ tục và nỗ lực hướng dẫn các quốc gia áp dụng triệt để

12

Joseph W Goodman (2003), “The Pros and Cons of Online Dispute Resolution an assessment of

Cybermediation Websites”, Duke Law & Technology Review, vol 2, tr 1-2

Trang 17

các hiệp ước trọng tài Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm

“Trọng tài” được đề cập nhiều trong luật quốc tế Trong khoa học pháp lý, trọng tài

được nghiên cứu dưới nhiều bình diện khác nhau và do đó hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về trọng tài.13

Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu trong Công ước LaHaye năm

1899 Theo đó, trọng tài là nhằm để giải quyết những bất đồng giữa các bên thông

Công ước La Haye năm 1907 lại quy định, trọng tài quốc tế có đối tượng giải quyết

là những tranh chấp giữa các quốc gia qua sự can thiệp của những trọng tài viên do các quốc gia tranh chấp tự chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng luật pháp.15

Theo Hội đồng trọng tài Hoa Kỳ thì Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành.16

Tại Việt Nam, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đã định nghĩa trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do

Mới nhất, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật trọng tài thương mại

17

Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003

Trang 18

Mặc dù có khá nhiều khái niệm khác nhau về trọng tài thương mại, song nhìn chung hiện nay trọng tài thương mại được nhìn nhận dưới hai góc độ:

(1) Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi nhà nước (phi chính phủ) do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp thương mại Trọng tài chính là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp chọn ra để giúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên Phương thức trọng tài bắt nguồn

từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện Để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết, các bên phải có thỏa thuận trọng tài Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khá giống với phương pháp giải quyết tranh chấp bằng hòa giải Cả hai phương thức này đều có sự xuất hiện của người thứ ba Tuy nhiên, trong hình thức hòa giải, vai trò của người thứ ba chỉ mang tính hỗ trợ, giúp đỡ các bên thỏa thuận với nhau Còn trong phương thức trọng tài, sau khi xem xét sự việc, trọng tài có thể đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.18

(2) Trọng tài thương mại là một cơ quan giải quyết tranh chấp để giải quyết những bất đồng ngoài tòa án, theo đó các bên tranh chấp thỏa thuận đưa tranh chấp của mình đến một trọng tài viên hay một hội đồng trọng tài để giải quyết theo quy định của Luật trọng tài thương mại và chấp nhận chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý, tuân thủ phán quyết của trọng tài viên hay của hội đồng trọng tài Trọng tài thường được sử dụng để giải quyết các bất đồng trong hoạt động thương mại, và chủ yếu là thương mại quốc tế.19

1.1.3 Đặc điểm của trọng tài thương mại

Dưới góc độ tiếp cận là cơ quan giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại được tổ chức dưới một hình thức rõ ràng Thẩm quyền của trọng tài thương mại không tự phát sinh mà phải phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các chủ thể tranh chấp

18

Nguyễn Ngọc Lâm (2010), Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế nhận dạng tranh chấp,

biện pháp ngăn ngừa và phương pháp giải quyết, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 288

19

Trần Thị Lan Hương, “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thực tiễn tại Việt Nam”,

trong-tai-thuc-tien-tai-viet-nam-49610.html , truy cập ngày 05 tháng 8 năm 2016

Trang 19

http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-luat/phap-luat-kinh-doanh/giai-quyet-tranh-chap-thuong-mai-bang-và theo pháp luật của quốc gia nơi tổ chức trọng tài đặt trụ sở Phán quyết trọng tài vừa có tính tài phán của cơ quan có thẩm quyền xét xử, vừa thể hiện ý chí, sự thỏa thuận của các bên

Dưới góc độ tiếp cận là một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại thì Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba - một Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất Đây là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua chủ thể thứ ba với một thủ tục tố tụng chặt chẽ Đối với trọng tài thường trực trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định Còn đối với trọng tài vụ việc (ADHOC), các bên có thể thỏa thuận thủ tục tố tụng riêng, đồng thời, các trọng tài viên và các bên cũng phải tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trọng tài mà mình đặt ra Kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết do trọng tài tuyên đối với các bên đương sự của vụ tranh chấp, phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm, vừa kết hợp yếu tố thỏa thuận (các bên đương sự có thể thỏa thuận về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp, luật áp dụng đối với vụ tranh chấp…), vừa kết hợp yếu tố tài phán (có giá trị bắt buộc đối với các bên)

Như vậy, trọng tài thương mại có những đặc điểm sau:

đó khi các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết Tuy nhiên khi giữa các bên đã có một thỏa thuận trọng tài hợp pháp theo quy định của pháp luật áp dụng thì việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trở thành một yêu cầu bắt buộc Khi đó tòa án sẽ được coi là không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó

bên thứ ba khách quan để giúp giải quyết bất đồng Tuy nhiên, khác với bên thứ ba làm trung gian hòa giải – người không có quyền đưa ra quyết định giải quyết tranh chấp có tính chất ràng buộc các bên, quyết định của trọng tài viên hoặc hội đồng

Trang 20

trọng tài là chung thẩm và có tính chất ràng buộc pháp lý đối với các bên tranh chấp tương tự như một bản án của tòa án

tài không mang trong mình quyền lực nhà nước như tòa án Tuy nhiên, do phán quyết của trọng tài là chung thẩm và ràng buộc các bên như một bản án của tòa án nên khác với phương thức thương lượng hoặc hòa giải, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật cụ thể Nhiều quốc gia ban hành những quy định pháp luật về tổ chức và hoạt đọng của trọng tài Ngoài ra Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hiệp quốc (UNCITRAL) cũng ban hành Luật mẫu về trọng tài thương mại được rất nhiều quốc gia trên thế giới dựa vào để ban hành để ban hành luật về trọng tài của quốc gia mình

Thứ tư, so với tố tụng tòa án, tố tụng trọng tài linh hoạt, mềm dẻo hơn Các bên tranh chấp được quyền lựa chọn trọng tài viên, được quyền quyết định ngôn ngữ, địa điểm và thời gian xét xử

nước trong quá trình tố tụng như các hỗ trợ của Tòa án trong việc ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hỗ trợ cho trọng tài viên đối với hình thức trọng tài vụ việc hay sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án đối với việc thi hành quyết định của trọng tài.20

1.1.4 Các hình thức tổ chức trọng tài

Với tư cách là tổ chức giải quyết tranh chấp trọng tài thường được biết đến với hai hình thức phổ biến là trọng tài vụ việc (trọng tài ADHOC) và trọng tài thường trực (trọng tài quy chế)

2&p_p_col_count=1&_EXT_ARTICLEVIEW_struts_action=%2Fext%2Farticleview%2Fview&_EXT_AR TICLEVIEW_groupId=10217&_EXT_ARTICLEVIEW_articleId=34155&_EXT_ARTICLEVIEW_version

=1.0&_EXT_ARTICLEVIEW_i=2&_EXT_ARTICLEVIEW_curValue=1&_EXT_ARTICLEVIEW_redirec

Trang 21

Trọng tài vụ việc (trọng tài ADHOC) là hình thức trọng tài được lập ra theo yêu cầu của các đương sự để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi tranh chấp đó đã được giải quyết Trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên riêng Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được chỉ định có thể là người có tên hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình, mà quy tắc tố tụng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng Ưu điểm của hình thức Trọng tài vụ việc so với trọng tài quy chế là là quyền tự định đoạt của các bên lớn hơn, chi phí cho tố tụng trọng tài thấp và thời gian giải quyết nhanh Tuy nhiên, trọng tài vụ việc cũng có những hạn chế nhất định, hạn chế lớn nhất là phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên Nếu một bên không có thiện chí quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ bị trì hoãn, và nhiều khi không thể thành lập được Hội đồng Trọng tài bởi vì không có quy tắc tố

Trang 22

1.2 Khái quát về thỏa thuận trọng tài

1.2.1 Khái niệm về thỏa thuận trọng tài

Cũng như khái niệm về trọng tài thì mỗi quốc gia lại có những cách định nghĩa khác nhau về thỏa thuận trọng tài

Luật Mẫu UNCITRAL định nghĩa thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa ra trọng tài mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng Thoả thuận trọng tài có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng.23

Công ước châu Âu về Trọng tài thương mại quốc tế năm 1961 cũng đưa ra định nghĩa tương tự Theo đó, thỏa thuận trọng tài là một điều khoản về trọng tài được đề cập trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận trọng tài Hợp đồng hoặc thoả thuận trọng tài được ký kết giữa các bên, hoặc được trao đổi qua thư từ, điện tín, hoặc các hình thức liên lạc bằng điện toán khác, và trong mối quan hệ giữa các quốc gia mà pháp luật không yêu cầu rằng một thoả thuận trọng tài phải được lập thành văn bản, bất kỳ thỏa thuận trọng tài nào cũng phải được ký kết theo đúng hình thức

Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, Hiệp hội trọng tài nước này đưa ra khái niệm: thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận được ký kết giữa các bên nhằm đưa tranh chấp phát sinh giữa các bên ra giải quyết tại Hiệp hội trọng tài Hoa

Kỳ.25

Còn theo Pháp luật Việt Nam, thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên

về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.26

Như vậy, tuy có sự khác nhau về câu chữ, các khái niệm về thỏa thuận trọng tài đều thống nhất về bản chất rằng: Thỏa thuận trọng tài thương mại là một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên kí kết nhất trí đưa tất cả hoặc một số tranh chấp

Trang 23

đã hoặc sẽ có thể phát sinh từ giao dịch thương mại có khả năng được áp dụng trọng tài ra giải quyết bằng con đường trọng tài

1.2.2 Đặc điểm của thỏa thuận trọng tài

Với bản chất là cơ sở làm phát sinh căn cứ cho hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, thỏa thuận trọng tài có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về nội dung của thỏa thuận trọng tài: là việc xác định cách thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của các bên liên quan khi cần giải quyết những tranh chấp, bất đồng phát sinh hay liên quan đến hợp đồng chính Một thỏa thuận trọng tài chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng được những yêu cầu của pháp luật về nội dung Những yếu tố cần có trong một thỏa thuận trọng tài sẽ do pháp luật quốc gia nơi trọng tài hoạt động điều chỉnh.27

Thứ hai, về hình thức của thỏa thuận trọng tài: được thể hiện dưới hình thức văn bản, tuy nhiên thời điểm thỏa thuận xác lập văn bản có thể khác nhau: (1) các bên dự đoán trước và thỏa thuận ngay từ khi bắt đầu quan hệ thương mại việc sẽ đưa ra trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh trong tương lai Sự thỏa thuận này thường được thể hiện thành một điều khoản trọng tài trong hợp đồng xác lập quan hệ thương mại giữa hai bên; (2) sau khi tranh chấp phát sinh, các bên mới thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài Thỏa thuận này thường dưới hình thức một văn bản thỏa thuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính hay còn gọi là thỏa thuận đưa các tranh chấp hiện thời ra giải quyết theo phương thức trọng tài

Mặt khác, thỏa thuận trọng tài thương mại không thể tồn tại dưới hình thức lời nói hoặc hành vi mà phải được xác lập dưới hình thức văn bản, bao gồm cả: thỏa thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử

và các hình thức khác theo quy định của pháp luật; thỏa thuận được xác lập qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên; thỏa thuận được luật sư, công chứng viên

27

Trần Ngọc Minh, Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài trong trọng tài thương mại quốc tế Nguồn:

Trang 24

hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên; trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác; qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận

Thứ ba, thỏa thuận trọng tài được hình thành dựa trên ý chí tự nguyện của các bên, có sự thống nhất giữa ý chí (mong muốn bên trong) và sự thể hiện ý chí (hình thức bên ngoài) về việc sử dụng hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp Điều này được đưa ra xuất phát từ bản chất của sự thỏa thuận Các bên có thể thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi phát sinh tranh chấp Các bên có quyền lựa chọn hình thức của thỏa thuận Nó có thể là điều khoản trong hợp đồng- các bên kí kết hợp đồng đồng thời ghi nhận luôn về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là một điều khoản trong hợp đồng đó, hoặc là một thỏa thuận riêng- các bên kí kết hợp đồng không ghi nhận việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thành một điều khoản của hợp đồng mà ghi nhận thỏa thuận này trong một văn bản hoàn toàn tách biệt với tên gọi thỏa thuận giải quyết tranh

Thứ tư, mối quan hệ giữa thỏa thuận trọng tài và hợp đồng chính: Dù thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thỏa thuận trọng tài thực chất chính là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và giá trị độc lập với hợp đồng chính Như vậy, ngay cả khi hợp đồng bị thay đổi, hủy bỏ, bị hết hiệu lực thì thỏa thuận trọng tài vẫn có giá trị Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực độc lập với hợp đồng, cả trong trường hợp thỏa thuận trọng tài là một điều khoản của hợp đồng.30

Trang 25

Thứ năm, về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài: một thỏa thuận trọng tài muốn phát sinh hiệu lực phải đảm bảo các quy định về điều kiện phát sinh hiệu lực Thường thì các điều kiện để một thỏa thuận trọng tài phát sinh hiệu lực bao gồm: (1) về hình thức, thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện ra bên ngoài sự thống

; (2) về thẩm quyền của trọng tài, không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết được bằng trọng tài, ngay cả khi giữa các bên tranh chấp thỏa mãn điều kiện về sự tự nguyện thỏa thuận Đó là khi pháp luật nơi diễn ra trọng tài không cho phép giải quyết loại tranh chấp đó thông qua hình thức trọng tài32; (3) về năng lực chủ thể, đây là vấn đề đầu tiên mà các bên cần quan tâm khi tiến hành đàm phán thỏa thuận trọng tài vì nếu một bên

; (4) về ý chí tự nguyện của chủ thể, thỏa thuận trọng tài sẽ không có giá trị pháp lý nếu nó không phải là kết quả của sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể hay là sự áp đặt ý chí của bất kì cơ quan, tổ chức, cá nhân nào34

1.2.3 Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài:

Thỏa thuận trọng tài là yếu tố không thể thiếu trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, bởi lẽ không có thỏa thuận trọng tài thì không có giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Như vậy, thỏa thuận trọng tài mang một số ý nghĩa pháp

Trang 26

Thứ hai, thỏa thuận trọng tài ràng buộc trách nhiệm của các bên Thỏa thuận này giúp các bên nâng cao ý thức trong việc thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết,

là một biện pháp định hướng tích cực để phòng ngừa các tranh chấp

Thứ ba, thỏa thuận trọng tài là cơ sở pháp lý để thực hiện phán quyết của trọng tài, phán quyết của trọng tài là kết luận cuối cùng của trọng tài về giải quyết tranh chấp

1.3 Quy định về thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Anh, Hoa Kỳ và luật mẫu UNCITRAL

1.3.1 Thỏa thuận trọng tài trong luật mẫu UNCITRAL

UNCITRAL là một ủy ban của Liên Hợp quốc về thương mại quốc tế, là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình của Liên Hợp quốc về hài hòa hóa và hiện đại hóa luật thương mại quốc tế Các quốc gia thành viên cũng như các quốc gia không phải là thành viên của UNCITRAL tiến hành họp hàng năm nếu muốn, mỗi lần họp kéo dài khoảng 3 tuần, để thông qua các văn bản, văn kiện quốc tế và xác định chương trình làm việc trong lĩnh vực luật thương mại quốc tế Chương trình làm việc này sau đó được thực hiện trong khuôn khổ nhóm công tác được lập

ra vì mục đích đó Nhóm công tác này họp một năm 2 lần, các thành viên của nhóm

là các chuyên gia do Chính phủ các nước cử UNCITRAL được thành lập vào năm

1965, bằng một Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp quốc Đại hội đồng cho rằng cần thiết phải tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương mại quốc tế vì lợi ích của các dân tộc Đại hội đồng tin rằng những sự khác biệt trong luật pháp của các quốc gia cản trở sự phát triển của thương mại thế giới và do vậy, Đại hội đồng đã xác định rằng Liên hiệp Quốc cần phải hoạt động tích cực hơn để giảm bớt hoặc xóa bỏ các trở ngại pháp lý tạo nên rào cản đối với thương mại quốc

tế Các văn bản pháp lý của UNCITRAL được soạn thảo trong khuôn khổ các cuộc đàm phán quốc tế tại đó, tất cả các nước không phân biệt truyền thống pháp lý và trình độ phát triển, được tham gia một cách bình đẳng Các văn bản của UNCITRAL như Luật mẫu về trọng tài, được soạn bằng các ngôn ngữ: Anh, Pháp,

Trang 27

Trung Quốc, Ả Rập, Tây Ban Nha, Nga Ngoài ra, tham gia vào các cuộc họp của UNCITRAL còn có các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ và nhiều trung tâm trọng tài.35

Các lĩnh vực hoạt động của UNCITRAL, trong đó có soạn thảo văn bản, bao gồm giải quyết tranh chấp, trọng tài, hòa giải, thực tiễn về hợp đồng thương mại quốc tế, vận chuyển, khả năng thanh toán, thương mại điện tử, thanh toán quốc tế, hoạt động bảo lãnh, hợp đồng công chính, thương mại điện tử, mua bán hàng hóa Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL cho tới nay được hơn 80 quốc gia thông qua Mục đích của Luật mẫu là hài hòa hóa pháp luật của các quốc gia về trọng tài Luật mẫu này được thông qua (vào năm 1985) để khắc phục những sự khác biệt rất lớn trong luật pháp quốc gia về trọng tài, khẳng định sự cần thiết phải cải thiện và hài hòa hóa pháp luật quốc gia khi chúng ta nhận thấy rằng pháp luật quốc gia thường không thích hợp với lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế, và pháp luật quốc gia thường có những quy định đồng hóa tố tụng trọng tài với tố tụng tòa án, cũng như các quy định rải rác không điều chỉnh việc xử lý các tình huống cụ thể một cách thích hợp Trong khi đó Luật mẫu có thuận lợi là được biết đến rộng rãi, được bình luận rộng rãi trên bình diện quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của trọng tài quốc tế, cũng như được nhiều nước chấp nhận Tại châu Á, có nhiều nước đã thông qua Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế như Singapore, Malaisia, Thái Lan, Nhật Bản Các quốc gia này đã phát triển các trung tâm trọng tài có quy mô khu vực Các nguyên tắc lớn mà Luật mẫu đặt ra bao gồm: (1) tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, sự kiểm tra và hỗ trợ rất hạn chế của tòa án (dù sự phối hợp giữa các tòa án và trọng tài là cần thiết đối với một số chủ thể nhưng sự phối hợp đó phải rất hạn chế) Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ nếu các bên đã lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì có nghĩa là họ không muốn tranh chấp sau đó sẽ được đưa ra tòa án giải quyết, không muốn tòa án can thiệp vào quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; (2) quyền của các bên được đối xử bình đẳng trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; (3) sự thống nhất của hợp đồng chính không làm

35

https://www.uncitral.org/ , truy cập ngày 05 tháng 8 năm 2016

Trang 28

thỏa thuận trọng tài của hợp đồng đó vô hiệu; (4) nguyên tắc “thẩm quyền về thẩm quyền”

Luật mẫu của UNCITRAL được sửa đổi vào năm 2006 về hai khía cạnh Khía cạnh thứ nhất là về thỏa thuận trọng tài, đặc biệt về hình thức của thỏa thuận trọng tài – Luật mẫu, phỏng theo Công ước New York, quy định rằng thỏa thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản Định nghĩa này được coi là phù hợp hơn với các thực tiễn thương mại quốc tế và sự tiến bộ về công nghệ Nội dung thứ hai được sửa đổi liên quan đến các biện pháp khẩn cấp tạm thời do các biện pháp này được

áp dụng ngày càng nhiều trong thực tiễn thương mại quốc tế Toàn bộ các văn bản của UNCITRAL về trọng tài gắn bó chặt chẽ với nhau Khi một quốc gia thông qua Luật mẫu về trọng tài thì sự gắn bó chặt chẽ của luật này với Công ước New York

là một vấn đề cốt yếu cần tính đến

Như vậy, Luật mẫu UNCITRAL đã đưa ra những quy định cơ bản đối với hoạt động trọng tài trong đó có những quy định về thỏa thuận trọng tài Theo đó, một thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa ra trọng tài mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp

lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải quan hệ hợp đồng Thỏa thuận trọng tài có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.36

Theo các quy định của Luật mẫu UNCITRAL thì có thể thấy rằng, thỏa thuận trọng tài muốn phát sinh hiệu lực phải đảm bảo những điều kiện sau đây:

Thứ nhất, về hình thức của thỏa thuận Theo quy định của Luật mẫu

Hình thức văn bản có thể là một điều khoản trong hợp đồng hoặc dưới một hình thức thỏa thuận

văn bản Theo đó, một thỏa thuận được coi là xác lập bằng văn bản nếu nó nằm

Trang 29

trong một văn bản được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, Telex, telegrams hoặc các hình thức trao đổi viễn thông khác mà ghi nhận thoả thuận đó hoặc qua trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận Việc dẫn chiếu trong hợp đồng tới một văn bản ghi nhận điều khoản trọng tài lập nên thoả thuận trọng tài với điều kiện hợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó là một bộ phận của hợp đồng này.39

Đối với các hình thức trao đổi viễn thông khác mà có ghi nhận thỏa thuận có thể kể đến như email Năm 2006 tại cuộc họp thứ 39 của UNCITRAL thì

đã đưa ra hướng sửa đổi điều này theo đó một thỏa thuận trọng tài được thực hiện bằng một giao dịch điện tử được coi là văn bản nếu thông tin chứa trong đó có thể truy cập để sử dụng được, để tham khảo tiếp theo; "Thông tin liên lạc điện tử" có nghĩa là bất kỳ thông tin liên lạc mà các bên thực hiện bằng phương tiện của thông điệp dữ liệu; "Thông điệp dữ liệu" là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận hoặc được lưu trữ bằng điện tử, từ, quang học hoặc tương tự như phương tiện, bao gồm, nhưng không giới hạn, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, telex hoặc telecopy.40

Ngoài ra, Luật mẫu UNCITRAL cũng cho phép sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài trong việc được một bên trong tranh chấp viễn dẫn trong đơn

Theo quy định này thì có thể hiểu thỏa thuận trọng tài có thể đươc lập ra bất kỳ ở giai đoạn nào của quá trình ký kết, thực hiện hoặc giải quyết tranh chấp giữa các bên, khi một bên đưa

ra lời đề nghị rằng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mà bên kia không phản đối đều có thể được xem là giữa các bên có tồn tại thỏa thuận trọng tài Mặt khác, theo quy định của Luật mẫu UNCITRAL thì trong một hợp đồng bằng văn bản có sự dẫn chiếu tới một tài liệu có ghi nhận điều khoản trọng tài và sự dẫn chiếu đó là một bộ phận của hợp đồng này.42

Đây cũng là hình thức văn bản nhưng không phải trực tiếp trong hợp đồng mà gián tiếp Theo đó, điều khoản trọng tài có thể tồn tại trong

Trang 30

phụ lục hợp đồng không tách rời khỏi hợp đồng chính Tuy nhiên hình thức tài liệu ghi nhận điều khoản trọng tài cũng không giới hạn chỉ là văn bản ký kết mà có thể

là các hình thức tương đương khác Như vậy, thông qua quy định này ta cũng xác định được thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài theo Luật mẫu UNCITRAL là trước hoặc sau thời điểm phát sinh tranh chấp Tức là các bên không bắt buộc phải xác lập thỏa thuận trọng tài trước khi phát sinh tranh chấp

Thứ hai, năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài Mặc dù Luật mẫu UNCITRAL không quy định trực tiếp rằng các bên khi tham gia ký kết phải có năng lực nhưng gián tiếp thông qua quy định về vấn đề từ chối công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài Theo đó, nếu các bên tham gia thỏa thuận trọng tài không có đủ năng lực ký kết thỏa thuận thì việc yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết trọng tài sẽ

bị từ chối hoặc phán quyết trọng tài có thể bị hủy.43

Về nguyên tác thì việc xác định năng lực chủ thể ký kết hợp đồng và năng lực chủ thể ký thỏa thuận trọng tài là giống nhau bởi vì thỏa thuận trọng tài cũng là một hợp đồng Vì vậy năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài đối với thể nhân sẽ áp dụng theo luật nhân thân còn pháp nhân

Như vậy, khi thực hiện thỏa thuận trọng tài thì các bên phải đảm bảo đủ năng lực ký kết theo quy định của pháp luật các quốc gia có liên quan

Thứ ba, phạm vi thỏa thuận trọng tài Theo quy định của Luật mẫu UNCITRAL thì thỏa thuận trọng tài thì phạm vi quan hệ mà các bên được phép thỏa

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng trong trường hợp theo luật nước nơi phải công nhận và thi hành phán quyết mối quan hệ tranh chấp không được phép giải quyết bằng trọng tài thì phán quyết trọng tài sẽ không được công nhận và thi hành hoặc phán quyết trọng tài có thể bị hủy bởi Tòa án.46

Như vậy, theo quy định của Luật mẫu

43

Khoản 1 Điều 34, Điều 36 Luật mẫu UNCITRAL năm 1985

44

Nguyễn Ngọc Lâm (2010), Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế nhận dạng tranh chấp,

biện pháp ngăn ngừa và phương pháp giải quyết, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 305

Trang 31

UNCITRAL thì thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập với mọi quan hệ mà không nhất thiết phải là quan hệ hợp đồng, tuy nhiên khi các bên tham gia thỏa thuận trọng tài cần lưu ý đến việc những tranh chấp nào không được giải quyết bằng trọng tài theo pháp luật các quốc gia liên quan vì nó có thể dẫn đến việc không thể công nhận

và thi hành phán quyết

Luật mẫu UNCITRAL không quy định nội dung của thỏa thuận trọng tài phải bao gồm những yếu tố nhất định gì bởi lẽ trong các phần quy định của mình về ngôn ngữ tố tụng trọng tài, số lượng trọng tài viên, địa điểm tiến hành trọng tài, nguyên tắc tố tụng trọng tài đều có dự phòng trường hợp các bên không thỏa thuận.47

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, nội dung thỏa thuận trọng tài phải thể hiện

rõ phạm vi của thỏa thuận trọng tài để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp sau này Bởi lẽ, nếu phán quyết trọng tài nằm ngoài phạm vi của thỏa thuận sẽ là nguyên nhân dẫn đến việc không công nhận và thi hành phán quyết trọng tài hoặc hủy phán quyết trọng tài.48

Thỏa thuận trọng tài khi đã đảm bảo các điều kiện thì sẽ phát sinh hiệu lực, ràng buộc các bên Theo quy định của Luật mẫu UNCITRAL thì trước khi việc kiện

về vấn đề đối tượng của thỏa thuận được đưa ra, nếu một bên yêu cầu không muộn hơn thời gian khi nộp bản tường trình đầu tiên của mình về nội dung tranh chấp, toà

án sẽ chuyển các bên cho trọng tài trừ khi toà án thấy rằng thoả thuận đó là vô hiệu

Điều này có thấy rằng, thỏa thuận trọng tài sẽ có hiệu lực loại trừ thẩm quyền của Tòa án trừ khi Tòa án nơi nhận được đơn khởi kiện nhận thấy thỏa thuận trọng tài là vô hiệu, không có hiệu lực hoặc không tiến hành được và không có khả năng thực hiện Theo Luật mẫu UNCITRAL không tồn tại quy định thế nào là thỏa thuận trọng tài không thể tiến hành được và không có khả năng thực hiện Thế nhưng cần hiểu rằng trong trường hợp này thỏa thuận trọng tài là có hiệu lực nhưng vì một lý do nào đó

Trang 32

mà thỏa thuận trọng tài không thể tiến hành được, ví dụ như: trọng tài viên mà các bên lựa chọn đã chết hoặc trung tâm trọng tài đã giải thể thì các bên vẫn phải tuân thủ thỏa thuận trọng tài vì thỏa thuận này đã có hiệu lực

Tóm lại, Luật mẫu UNCITRAL đã có những quy định nền tảng về thỏa thuận trọng tài mà hầu hết các quốc gia đều dựa vào quy định này để xem xét soạn thảo luật về trọng tài của quốc gia mình.50

1.3.2 Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Anh

Các thương nhân ở Anh đã dùng đến phương thức trọng tài từ khi có sự phát triển của thương mại trong nước và quốc tế Trong thời kỳ trung cổ, các thương nhân sử dụng trọng tài nhằm giải quyết những vấn đề giữa chủ nợ và con nợ trong mối quan hệ mua bán hàng hóa có kèm điều kiện tín dụng, mặc dù có những bước phát triển chậm trong việc ghi nhận và pháp điển hóa hoạt động trọng tài nhưng có thể thấy rằng Luật trọng tài Anh đã có những bước phát triển nhất định Khởi đầu bằng Luật trọng tài năm 1697, sau đó Luật trọng tài Anh đã có những sửa đổi để phù hợp với phù hợp với thay đổi của thực tiễn Từ năm 1900, một vụ tranh chấp thương mại có thể được giải quyết một nhanh chóng và hiệu quả thông qua các cơ chế tòa án và trọng tài Hai cơ chế tài phán này “thực sự là hỗ trợ nhau chứ không phải là đối thủ của nhau”.51

Tuy nhiên trước thực tiễn lạm dụng cơ chế tòa án để giải quyết tranh chấp, các Luật Trọng tài năm 1950, 1975, 1979 và 1996 đã ra đời,

bổ sung, điều chỉnh để khuyến khích và giành lại vai trò của trọng tài trước sự can thiệp của Tòa án như trước đây Luật Trọng tài năm 1996 là sự kết hợp giữa củng cố

và cải cách những nguyên tắc pháp lý của hệ thống thông luật vàcác Công ước quốc

50

Hội luật gia Việt Nam (2009), Giới thiệu tóm tắt Luật trọng tài của một số nước trên thế giới, Hội Luật gia

Việt Nam, Hà Nội, tr.1

51

Kyriaki Noussia (2010), Confidentiality in International Commercial Arbitration A Comparative

Analysis of the Position under English, US, German and French Law, Springer-Verlag Berlin Heidelberg,

Berlin , tr.11

Trang 33

tế về trọng tài mà Anh đã tham gia Nó đã đưa luật pháp Anh đến gần với Luật Mẫu

Thỏa thuận trọng tài là nền tảng cho hoạt động tố tụng trọng tài sau này Do

đó, Luật trọng tài năm 1996 cũng đã có những quy định về điều kiện để một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực Theo Luật trọng tài Anh năm 1996 thì thỏa thuận trọng tài một thỏa thuận để trình ra trước trọng tài những tranh chấp hiện tại hoặc trong

Để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực thì thỏa thuận này phải đảm bảo những quy định sau:

Yêu cầu này được hiểu theo nghĩa rộng, nó không chỉ là một thỏa thuận bằng văn bản nhất định mà còn có thể được xem là văn bản nếu thỏa thuận này được chứa trong một trao đổi thông tin liên lạc bằng văn bản, hoặc nếu thỏa thuận được chỉ rõ trong văn bản hoặc đạt được bằng cách khác hơn trong văn bản, nhưng bằng cách tham khảo các điều khoản bằng văn bản (ví dụ như điều khoản và điều kiện chung) Yêu cầu về hình thức phải bằng văn bản cũng được đáp ứng nếu trong quá trình tố tụng trọng tài hoặc quy phạm pháp luật, trong đó sự tồn tại của một thỏa thuận trọng tài bị cáo buộc là do một bên và không bị từ chối bởi bên kia Việc trao đổi đệ trình bằng văn bản giữa các bên sau đó tạo thành các thỏa thuận trọng tài bằng văn bản Cuối cùng, một thỏa thuận được coi là bằng văn bản, ngay cả khi nó được ghi lại

Như vậy, một thỏa thuận trọng tài được xem là tồn tại bằng văn bản theo pháp luật Anh sẽ bao gồm những hình thức sau: (1) nếu thỏa thuận được thực hiện bằng văn bản Không nhất thiết phải có chữ ký của các bên; (2) nếu thỏa thuận được thực hiện bởi trao đổi thông tin liên lạc bằng văn bản; (3)

52

Kyriaki Noussia (2010), Confidentiality in International Commercial Arbitration A Comparative

Analysis of the Position under English, US, German and French Law, Springer-Verlag Berlin Heidelberg,

Trang 34

nếu thỏa thuận này được chứng minh bằng văn bản; (4) trường hợp các bên có thỏa thuận khác văn bản nhưng được tham chiếu đến các điều khoản viết thành văn bản; (5) nếu một thỏa thuận khác văn bản được ghi lại bởi một trong các bên tham gia thỏa thuận, hoặc bởi một bên thứ ba có liên quan; (6) một trao đổi, đệ trình bằng văn bản của một bên đưa ra trong tố tụng trọng tài mà trong đó đề cập đến sự tồn tại của một thỏa thuận khác văn bản mà trao đổi, đệ trình này không bị bên kia phản đối; (7) nếu phụ lục, tài liệu tham khảo của thỏa thuận bằng văn bản hoặc được viết, được ghi lại dưới bất kỳ hình thức lưu trữ nào Yêu cầu đối với các tài liệu tham

Thứ hai, về nội dung của thỏa thuận trọng tài Luật trọng tài Anh quy định bắt buộc một số nội dung trong thỏa thuận trọng tài phải theo quy định của Luật, các bên không thể làm khác hoặc thỏa thuận khác như nhiệm vụ của các bên tham

Các nội dung này được quy định tại phụ lục I của Luật trọng tài Anh năm 1996 Tất cả các quy định khác không nằm trong phụ lục I của Luật Trọng tài Anh là không bắt buộc và các bên được tự do thỏa thuận Do đó, khi thỏa thuận trọng tài các bên cần chú ý những nội dung gì được tự do thỏa thuận khác so với Luật trọng tài quy định và những nội

Thứ ba, về phạm vi thỏa thuận Theo luật trọng tài Anh, một số loại tranh chấp không thể đưa ra trọng tài Chúng bao gồm các vụ án hình sự, ly thân, ly hôn, trong đó hạn chế quyền của chủ đất để phát triển tài sản của họ Thông thường, các tòa án sẽ xác định xem liệu các tranh chấp có thể được gửi tới trọng tài, nhưng trong điều kiện nhất định Toà án có thể quyết định Các câu hỏi liệu đối tượng của vụ tranh chấp có thể được phân xử ở trọng tài có thể phát sinh ở các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng Việc xác định nội dung tranh chấp có thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài hay không có thể được các bên tranh chấp yêu cầu xem xét

56

Điều 6.2 Luật trọng tài Anh năm 1996

57

Phụ lục I Luật trọng tài Anh năm 1996

58Guy Pendell and David Bridge (2012), “Arbitration in England and Wales”, CMS Guide to Arbitration, Vol

I, tr 304

Trang 35

Ngoài ra, trong quá trình trọng tài, một bên có thể đưa ra yêu cầu cho các tòa án, hoặc (với thỏa thuận tất cả các bên, hoặc sự cho phép của tòa án) đến tòa án, phản đối về việc hội đồng trọng tài không có thẩm quyền Cuối cùng, một bên có thể chống lại phán quyết của trọng tài tại toà án hoặc chống lại việc thi hành phán quyết của trọng tài trên cơ sở là các trọng tài đã thiếu thẩm quyền đối với nội dung phán quyết.59

Thứ tư, về năng lực chủ thể Mặc dù Luật trọng tài Anh không quy định trực tiếp nhưng có viện dẫn đến Công ước New York 1958 đối với hoạt động thi hành phán quyết trọng tài.60

Theo đó, việc thi hành phán quyết trọng tài phải được thực hiện phù hợp với Công ước New York 1958 Theo Công ước New York 1958 thì Tòa án có quyền từ chối công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nếu theo luật áp

Do đó, năng lực ký kết của các bên phải được đảm bảo khi ký kết thỏa thuận trọng tài theo quy định của pháp luật của các bên tham gia ký kết

Thứ năm, về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, Luật trọng tài năm 1996 quy định rằng trừ khi có thoả thuận của các bên, một thỏa thuận trọng tài hoàn toàn có

Như vậy thỏa thuận trọng tài được coi là riêng biệt, độc lập từ các thỏa thuận thương mại chính mà nó đã được tích hợp Điều khoản trọng tài do đó vẫn có hiệu lực ngay cả khi thỏa thuận chính là vô hiệu, không tồn tại hoặc bị hủy bỏ Mặt khác, trong trường hợp một bên trong thỏa thuận trọng tài chết thì trừ khi có thoả thuận của các bên, thoả thuận trọng tài không mất hiệu lực khi một bên chết và lúc này thỏa thuận trọng tài sẽ được tiếp tục thi hành bởi cá nhân đại diện của bên chết đó.63

Thoả thuận trọng tài gắn bó với một người tự xưng dưới hoặc thông qua một bên để thỏa thuận trọng tài, ví dụ người được chuyển giao hoặc người thế quyền theo hợp

Trang 36

đồng của bên đó Một người thụ hưởng bên thứ ba quyền theo hợp đồng cũng có thể

bị ràng buộc bởi một điều khoản trọng tài theo luật pháp Anh Nếu không, các thỏa

Một khi thỏa thuận trọng tài có hiệu lực thì Tòa án Anh ủng hộ thỏa thuận trọng tài

và sẽ nỗ lực để duy trì thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, thỏa thuận trọng tài sẽ bị Tòa án từ chối không thi hành nếu nó được coi là “không thể thực hiện được” trong trường hợp Tòa án cho rằng thỏa thuận trọng tài là không tương đồng, không “hiểu”

Như vậy, Luật Trọng tài Anh năm 1996 đòi hỏi rằng một thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản hoặc hình thức khác chứng minh bằng văn bản Cái gì tạo nên bằng văn bản hoặc bằng chứng bằng văn bản, được định nghĩa rộng và bao gồm một thỏa thuận bằng miệng để phân xử bằng cách tham khảo các điều khoản mà là bằng văn bản Một thỏa thuận trọng tài hoàn toàn bằng miệng sẽ chỉ được công nhận bởi các luật và quy định của Luật Trọng tài sẽ không được áp dụng Phương tiện “Viết” ghi lại bằng bất kỳ phương tiện, và do đó bao gồm hồ sơ điện tử hoặc truyền thông Nội dung thỏa thuận phải đảm bảo những nội dung không được khác so với quy định của Luật trọng tài năm 1996 tại phụ lục I Phạm vi thỏa thuận phải đáp ứng được yêu cầu của pháp luật rằng tranh chấp có thể được xem xét giải quyết bằng trọng tài và cuối cùng chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài phải có năng lực chủ thể theo pháp luật của mỗi bên

1.3.3 Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, từ thời thuộc địa, trọng tài đã được các thương nhân sử dụng phổ biến vì nó chứng minh được sự hiệu quả hơn so với Tòa án trong thời kỳ này Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ là George Washington cũng đã thực hiện trách nhiệm của một trọng tài viên trước khi xảy cuộc cách mạng Hoa Kỳ từ 1775-1783 Tuy nhiên, trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trọng tài đã có những bất lợi nhất định xuất phát từ một số ngờ vực từ các quy định về năng lực

Trang 37

trọng tài để tạo ra kết quả công bằng Hơn nữa hoạt động trọng tài cũng gây ra nỗi

lo rằng nếu trọng tài quá thành công, có thể gây nguy hiểm cho cuộc sống của tất cả những người phụ thuộc vào hệ thống tòa án Hiện nay, trọng tài được chấp nhận như một sự thay thế hữu hiệu đối với các tranh chấp tranh tụng Các mối quan hệ mâu thuẫn đối với trọng tài được bắt đầu với việc ban hành các Luật trọng tài của tiểu bang và liên bang và sự ra đời của Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ Năm 1920, New York cải cách pháp luật trọng tài của mình để thực thi các hiệp định phân xử tranh chấp trong tương lai Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ vào năm 1921 đã phát triển một dự thảo về một Đạo luật trọng tài liên bang theo mô hình luật của New York Dự thảo được Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ giới thiệu trong Quốc hội vào năm 1922, với sửa đổi nhỏ, trở thành luật vào năm 1925 Trong cùng thập niên, Hiệp hội trọng tài Hoa

Kỳ cũng đã thực hiện các công cuộc cho việc thúc đẩy cơ chế tài phán trọng tài Đạo luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ năm 1925 sau khi được thông qua đã có hiệu lực áp dụng cho tất cả các bang về vấn đề trọng tài.66

Cũng như các nước trên thế giới, Đạo luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ cũng đưa ra những quy định về thỏa thuận trọng tài nhằm cho các bên thực hiện đúng quy định của pháp luật để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, từ đó tạo cơ sở cho việc thực hiện tố tụng trọng tài sau này Tuy nhiên, theo Đạo luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ thì ngoài việc tuân thủ quy định của Đạo luật thì thỏa thuận trọng tài được đặt tương

Như vậy, theo nội dung quy

66

Kyriaki Noussia (2010), Confidentiality in International Commercial Arbitration A Comparative

Analysis of the Position under English, US, German and French Law, Springer-Verlag Berlin Heidelberg,

Berlin , tr.13 – 14

67

Mục 202 Đạo luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ năm 1925, sửa đổi năm 1990: “An arbitration agreement or arbitral award rising out of a legal elationship,whether contractual or not, which is considered as commercial, including a ransaction, contract, or agreement described in section 2 of this title, falls under the Convention

An agreement or award arising out of such a relationship which is entirely between citizens of the United States shall be deemed not to fall under the Convention unless that relationship involves property located abroad, envisages performance or enforcement abroad, or has some other reasonable relation with one or more foreign states For the purpose of this section a corporation is a citizen of the United States if it is incorporated or has its principal place of business in the United States.”

Trang 38

định của cả Đạo luật trọng tài liên bang và Công ước New York 1958 thì thỏa thuận trọng tài muốn phát sinh hiệu lực phải đảm bảo những điều kiện sau:

Thứ nhất, về hình thức của thỏa thuận trọng tài Giống như quy định trong pháp luật hầu hết các quốc gia, luật Hoa Kỳ cũng quy định thỏa thuận trọng tài phải

Thoả thuận bằng văn bản bao gồm điều khoản trọng tài trong một hợp đồng hoặc một thoả thuận trọng tài được các bên ký kết hoặc được ghi trong thư tín trao đổi.69

Như vậy, theo quy định của Đạo luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ thì thỏa thuận trọng tài chỉ được phép tồn tại dưới hình thức là văn bản riêng hoặc một điều khoản trong hợp đồng hoặc được ghi trong thư tín trao đổi Nhưng điều đặc biệt lưu ý rằng, thỏa thuận này phải được các bên ký kết Việc một bên không ký kết vào thỏa thuận trọng tài có làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Thứ hai, về năng lực chủ thể Mặc dù Đạo luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ không quy định trực tiếp nhưng theo quy định thì việc các bên tuân thủ Đạo luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ phải kèm theo việc xem xét và tuân thủ Công ước New York đối với hoạt động thi hành phán quyết trọng tài.71

Theo đó, việc thi hành phán quyết trọng tài phải được thực hiện phù hợp với Công ước New York 1958 Mà theo Công ước New York 1958 thì Tòa án có quyền từ chối công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nếu theo luật áp dụng đối với các bên, họ không có đủ năng lực.72

Do đó, năng lực ký kết của các bên phải được đảm bảo khi ký kết thỏa thuận trọng tài theo quy định của pháp luật của các bên tham gia ký kết

Thứ ba, phạm vi thỏa thuận trọng tài Theo quy định của Đạo luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ thì các bên được quyền thỏa thuận những tranh chấp phát sinh từ một quan hệ pháp lý dù có quan hệ hợp đồng hay không Tuy nhiên, không phải lĩnh vực nào cũng được phép thỏa thuận Theo đó, thỏa thuận trọng tài nói chung là

Ngày đăng: 28/04/2021, 00:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
27. Đỗ Văn Đại (2007), “Giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (6), tr. 34 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Năm: 2007
28. Đỗ Văn Đại (2008), “Về thỏa thuận chọn trọng tài nước ngoài”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (01), tr. 49 – 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thỏa thuận chọn trọng tài nước ngoài”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Năm: 2008
29. Đỗ Văn Đại, Trần Hoàng Hải (2011), Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại
Tác giả: Đỗ Văn Đại, Trần Hoàng Hải
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
30. Lê Thị Nam Giang (2010), Tư pháp quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp quốc tế
Tác giả: Lê Thị Nam Giang
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
31. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương (2013), Trọng tài thương mại và pháp luật trọng tài thương mại, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài thương mại và pháp luật trọng tài thương mại
Tác giả: Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương
Năm: 2013
32. Hội luật gia Việt Nam (2009), Giới thiệu tóm tắt Luật trọng tài của một số nước trên thế giới, Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu tóm tắt Luật trọng tài của một số nước trên thế giới
Tác giả: Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2009
21. Nghị định số 75-CP ngày 14/04/1975 của Chính phủ ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế Khác
22. Nghị định số 62/HĐBT ngày 17/04/1984 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế bộ, tỉnh, huyện Khác
23. Nghị định số 116-CP ngày 05/9/1994 của Chính phủ Về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế Khác
24. Nghị định số 39/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh Khác
25. Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 3 năm 2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định Luật trọng tài thương mại Khác
26. Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ Về tổ chức trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.C. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w