1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM VÀO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG NỘI KHỐI ASEAN LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

213 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN
Tác giả Đào Thị Thu Trang
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Duy Dũng, GS.TS Phan Huy Đường
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 3,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, vấn đề đặt ra cho Việt Nam hiện nay cần phải xem xét lại triển vọng phát triển của thị trường lao động nội khối ASEAN, những tác động tích cực và tiêu cực khi tham gia vào di chu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

- -

ĐÀO THỊ THU TRANG

SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM VÀO

DI CHUYỂN LAO ĐỘNG NỘI KHỐI ASEAN

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÃ SỐ: 62 31 01 01

Hà Nội, 08/2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

- -

ĐÀO THỊ THU TRANG

SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM VÀO

DI CHUYỂN LAO ĐỘNG NỘI KHỐI ASEAN

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÃ SỐ: 62 31 01 01

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS NGUYỄN DUY DŨNG 2.GS.TS PHAN HUY ĐƯỜNG

Hà Nội, 08/2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được bảo vệ

ở bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Đào Thị Thu Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng gửi lời cảm

ơn tới Ban lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy

cô giáo tham gia giảng dạy đã cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc và đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập nghiên cứu

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Duy Dũng và GS.TS Phan Huy Đường – những người thầy hướng dẫn khoa học đã tận tâm giúp đỡ

và chỉ dẫn cho tôi những kiến thức cũng như phương pháp luận trong suốt thời gian hướng dẫn nghiên cứu, hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn các Sở, Ban, Ngành có liên quan đã cung cấp tài liệu, các bạn đồng nghiệp, những người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2016

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Câu hỏi nghiên cứu 11

6 Giả thuyết nghiên cứu 11

7 Dự kiến những đóng góp mới của luận án 11

8 Kết cấu luận án 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 13

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 13

1.1.1 Các lý thuyết về liên kết kinh tế quốc tế và khối kinh tế khu vực 13

1.1.2 Các nghiên cứu về di chuyển lao động quốc tế và di chuyển lao động nội khối 15

1.1.3 Những nghiên cứu về di chuyển lao động nội khối ASEAN 20

1.2 Nhận xét về tổng quan nghiên cứu 26

1.2.1 Những giá trị đạt được 26

1.2.2 Những hạn chế còn tồn tại 28

Kết luận chương 1 29

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA VÀO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG NỘI KHỐI CỦA CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN 30

2.1 Một số khái niệm cơ bản 30

2.1.1 Lao động 30

2.1.2 Di chuyển lao động quốc tế 31

2.1.3 Khối kinh tế khu vực 33

2.2 Di chuyển lao động nội khối 38

Trang 6

2.2.1 Khái niệm di chuyển lao động nội khối 38

2.2.2 Nguồn gốc và nguyên nhân của di chuyển lao động nội khối 38

2.2.3 Mục tiêu tham gia vào di chuyển lao động nội khối của các nước thành viên 46

2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào di chuyển lao động nội khối của các nước thành viên 47

2.2.5 Tiêu chí đánh giá mức độ tham gia vào di chuyển lao động nội khối của các nước thành viên 54

2.3 Tác động của di chuyển lao động nội khối 60

2.3.1 Tiêu chí đánh giá tác động của di chuyển lao động nội khối 60

2.3.2 Tác động của di chuyển lao động nội khối tới các nước gửi lao động 62

2.3.3 Tác động của di chuyển lao động nội khối tới các nước nhận lao động 66

2.3.4 Tác động của di chuyển lao động nội khối tới khối kinh tế khu vực 70

2.4 Kinh nghiệm một số nước tham gia vào di chuyển lao động nội khối 71

2.4.1 Kinh nghiệm thực hiện di chuyển lao động nội khối EU 72

2.4.2 Kinh nghiệm của một số nước ASEAN 74

2.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc tham gia vào di chuyển lao động nội khối 76

Kết luận chương 2 78

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VIỆT NAM THAM GIA VÀO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG NỘI KHỐI ASEAN 79

3.1 Thị trường lao động nội khối ASEAN 79

3.1.1 Tổng quan về Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) 79

3.1.2 Sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN 83

3.1.3 Khuôn khổ chính sách chung về di chuyển lao động nội khối ASEAN 86

3.1.4 Đặc điểm thị trường lao động ASEAN trong bối cảnh hiện nay 91

3.2 Phân tích sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN 100

3.2.1 Chiều vận động của dòng di chuyển lao động Việt Nam trong nội khối ASEAN 100

3.2.2 Quy mô tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN 101

3.2.3 Cơ cấu tham gia di chuyển lao động nội khối ASEAN 106

3.2.4 Các hình thức di chuyển lao động 114

3.2.5 Sự hợp tác trong di chuyển lao động 117

Trang 7

3.3 Tác động của di chuyển lao động nội khối ASEAN tới Việt Nam 119

3.3.1 Tác động tích cực 119

3.3.2 Tác động tiêu cực 123

3.4 Đánh giá sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN 126

3.4.1 Thành tựu đạt được 126

3.4.2 Hạn chế 128

3.4.3 Nguyên nhân hạn chế 130

Kết luận chương 3 132

CHƯƠNG 4: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP THAM GIA VÀO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG NỘI KHỐI ASEAN CỦA VIỆT NAM 134

4.1 Triển vọng thị trường lao động nội khối ASEAN đến năm 2025 134

4.1.1 Bối cảnh tham gia vào thị trường lao động nội khối ASEAN của Việt Nam 134

4.1.2 Xu hướng phát triển thị trường lao động ASEAN 141

4.2 Quan điểm, định hướng tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN 148

4.2.1 Quan điểm tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN của Việt Nam 148

4.2.2 Định hướng tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN của Việt Nam 148

4.3.1 Đa dạng hóa các dòng di chuyển lao động Việt Nam trong nội khối ASEAN 153

4.3.2 Xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phù hợp 157

4.3.3 Tích cực hợp tác lao động với các nước thành viên 164

4.3.4 Nâng cao hiệu quả quản lý và điều tiết dòng di chuyển lao động Việt Nam trong nội khối ASEAN 169

4.3.5 Tăng cường bảo vệ người lao động di chuyển 178

Kết luận chương 4 181

KẾT LUẬN 183

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 185

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 185

TÀI LIỆU THAM KHẢO 186

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Các công ước được phê chuẩn liên quan đến lao động di chuyển trong

ASEAN 89

Bảng 3.2: Lực lượng lao động của các nước thành viên ASEAN 93

Bảng 3.3: Lực lượng lao động Nam và Nữ của các nước thành viên ASEAN 94

Bảng 3.4: Năng suất lao đô ̣ng thời kỳ 2007-2013 95

Bảng 3.5: Chỉ số về trình độ người lao động các nước ASEAN những năm gần đây 97

Bảng 3.6: Tỷ lệ nhận/gửi lao động trong di chuyển lao động nội khối ASEAN 100

Bảng 3.7: Di chuyển lao động nội khối ASEAN năm 2013 101

Bảng 3.8: Quy mô di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài 106

Bảng 3.9: Các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng nhiều lao động ở các nước thành viên ASEAN giai đoạn 2003 - 2013 107

Bảng 3.10: Số lao động di chuyển nội khối ASEAN trong ngành nghề dịch vụ kỹ thuật cao được MRA công nhận 108

Bảng 3.11: Tỷ lệ năng suất lao động theo tiểu ngạch so với nông nghiệp các nước ASEAN năm 2012 114

Bảng 3.12: Số lượng người nhập cư và lao động nhập cư được thuê làm việc nội khối ASEAN những năm gần đây 115

Bảng 4.1: Số lao động thiếu việc làm và số lao động thất nghiệp 15+theo quý, 2014 và 2015 136

Bảng 4.2: Tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp trong tuổi lao động theo quý, 2014 và 2015 137

Bảng 4.3: Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo, năm 2014 139

Bảng 4.4: Năng suất lao đô ̣ng thời kỳ 2007-2013 (USD, PPP2005) 140

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ

Hình 3.1: Dân số theo giới tính và tuổi tác trong ASEAN giai đoạn 2010 - 2025 92Hình 3.2: Mức độ kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp THCS, đại học và dạy nghề đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp ở ASEAN năm 2013 98Hình 3.3: Tỉ lệ tham gia xuất khẩu lao động trong nội khối ASEAN, giai đoạn 1990

- 2013 102Hình 3.4: Tỷ lệ lao động nước ngoài ở các nước điểm đến chủ yếucủa khối ASEAN năm 2013 103Hình 3.5: Tỷ lệ di chuyển lao động Việt Nam sang các nước thành viên ASEAN 103Hình 3.6: Tổng số người lao động di chuyển của Việt Nam sang Malaysiagiai đoạn

2003 - 2015 104Hình 3.7: Khảo sát số lao động Việt Nam di chuyển ra nước ngoài tháng 7/2015 105Hình 3.8: Tỷ lệ làm việc trong các ngành nghề của lao động Việt Nam tại Malaysia 108Hình 3.9: Khảo sát các ngành nghề người lao động Việt Nam làm việc tại Thái Lan năm 2015 109Hình 3.10: Tỷ lệ lao động nữ Việt Nam di chuyển sang Malaysia 110Hình 3.11: Cơ cấu di chuyển lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN theo giới tính và độ tuổi 111Hình 3.12: Mức độ không đáp ứng yêu cầu về kỹ năng, trình độ giáo dục trong các ngành nghề kỹ năng cao, dự đoán đến năm 2025 112Hình 3.13: Ước tính thay đổi lao động di chuyển nội khối theo trình độ kỹ năng ở Việt Nam giai đoạn 2010-2025 112Hình 3.14: Mức độ dễ dàng tìm kiếm việc làm có chuyên môn trong ASEAN 113Hình 3.15: Khảo sát tại Thanh Hoá: Sự gia tăng của người lao động sang làm việc tại Thái Lan và Trung Quốc 118Hình 3.16: Tổng số người lao động di chuyển trong ASEAN của Việt Nam giai đoạn

2011 - 2015 119Hình 4.1: Dân số và lực lượng lao động Việt Nam giai đoạn 2011 - 2014 134

Trang 10

Hình 4.2: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam 135Hình 4.3: Cơ cấu độ tuổi tham gia lao động ở Việt Nam quý I/2015 135Hình 4.4: Phân bổ phần trăm lao động thất nghiệp 15+ và thanh niên thất nghiệp đã qua đào tạo từ 3 tháng trở lên chia theo trình độ đào tạo, quý 1 năm 2015 137Hình 4.5: Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo theo thành thị/nông thôn và giới tính, năm 2014 139Hình 4.6: Triển vọng dân số theo giới tính, độ tuổi của ASEAN vào năm 2025 142Hình 4.7: Thay đổi trong GDP theo kịch bản AEC với kịch bản cơ sởvào năm 2010,

2020, 2025 143Hình 4.8: Thay đổi việc làm theo kịch bản AEC với kịch bản cơ sở vào năm 2010,

2020, 2025 143Hình 4.9: Tỷ lệ việc làm dễ bị tổn thương trong tổng số việc làm được tạo thêm theo kịch bản AEC so với kịch bản cơ sở năm 2025 144

Trang 11

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Danh mục chữ viết tắt Tiếng Anh

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

Agreement

Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc

- ASEAN

Danh mục chữ viết tắt tiếng Việt

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển và quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở các nơi trên thế giới, việc di chuyển lao động giữa các quốc gia

đã và đang trở thành phổ biến Giống như việc di chuyển các nguồn lực khác của nền kinh tế như vốn, công nghệ…, các dòng di chuyển lao động được hình thành chủ yếu

từ sự chênh lệch điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia Hay nói cách khác, xuất phát từ vấn đề lợi ích Đặc biệt, ở các nước đang phát triển, di chuyển lao động đang là một vấn đề tất yếu mà hầu hết các chính phủ phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế bởi những nước này đang cần nhiều điều kiện để bứt phá trong quá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế

Cùng với xu hướng khu vực hóa, những động thái của di chuyển lao động nội khối đang trở thành một vấn đề nổi trội trong việc thúc đẩy liên kết và tăng trưởng kinh tế khu vực Sự gần gũi về khoảng cách địa lý, tương đồng về kinh tế - xã hội và những cam kết hợp tác thống nhất giữa các quốc gia thành viên trong một khối kinh tế

là điều kiện tốt nhất cho tự do hóa di chuyển nguồn lực trong đó có di chuyển lao động nội khối nhằm phát triển kinh tế hiệu quả hơn

Trong nhiều năm qua, các quốc gia thành viên ASEAN đã hợp tác với nhau nhằm tăng cường công tác quản lý lao động di chuyển, bảo vệ quyền lợi cho người lao động Những điều này được đề cập trong Tuyên bố ASEAN về bảo vệ quyền của Lao động di chuyển, Diễn đàn ASEAN về di chuyển lao động – nơi mà các nước thành viên có thể chia sẻ kinh nghiệm về quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài Điều này đã thúc đẩy sự tăng lên của di chuyển lao động nội khối ASEAN Năm 2015, việc ra đời Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) tạo ra nhiều cơ hội cho tăng trưởng trong khu vực Xu hướng hợp tác để phát triển khi hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN vẽ ra những lợi ích mà các quốc gia có thể đạt được khi xây dựng thị trường lao động chung và các nước thành viên cùng tham gia vào di chuyển lao động nội khối

Tuy nhiên, vấn đề về di chuyển lao động nội khối lại có nhiều quan điểm khác nhau Nhiều người cho rằng di chuyển lao động nội khối ASEAN sẽ hướng tới tự do hóa như ở EU Tuy nhiên, trên thực tế, di chuyển lao động tự do của EU cũng vấp phải khá nhiều vấn đề và không hoàn toàn mang lại lợi ích Các quốc gia thành viên cũng phả đối mặt với rất nhiều mất mát về kinh tế - xã hội Chính vì vậy, cho đến nay, các quốc gia ASEAN mới bước đầu tập trung cho phép di chuyển lao động có kỹ năng

Trang 13

thông qua các Thỏa thuận về công ước chuyên môn tương đương (MRA), tạo thuận lợi cho việc tự do hóa và làm việc tại các nước trong khu vực đối với 8 nhóm ngành nghề dịch vụ chuyên môn cao Việc di chuyển lao động có chuyên môn đang và sẽ chỉ đại diện cho một số lượng rất nhỏ người lao động di chuyển trong khu vực Đông Nam Á, việc đóng góp của những người có trình độ chuyên môn thấp và chuyên môn trung bình cũng cần phải được ghi nhận do trình độ kinh tế - xã hội hiện nay ở tất cả các nước thành viên nhìn chung vẫn còn thấp Các nhà lãnh đạo của AEC phải đối mặt với việc giải quyết đầy đủ các vấn đề xã hội trong đó có di chuyển lao động an toàn, bảo

vệ người lao động khỏi nạn bóc lột, tiếp cận đào tạo chuyên môn và đảm bảo các điều khoản về phúc lợi cho người lao động di chuyển Trong khi đó, để từng quốc gia thành viên tích cực tham gia vào di chuyển lao động nội khối, vấn đề lợi ích phải được làm sáng tỏ Đây là một vấn đề cần phải bàn luận rất nhiều

Với số dân chiếm 15% toàn khu vực, Việt Nam cũng có những đóng góp quan trọng để hình thành thị trường khu vực mới này Trong những năm qua, với tư cách là một thành viên tích cực xây dựng Cộng đồng, Việt Nam luôn thực hiện đúng các nguyên tắc mà ASEAN đặt ra thông qua những ký kết song phương, đa phương về hợp tác lao động Bằng lợi thế lao động giá rẻ, dồi dào, sự khéo léo và chịu khó, người lao động Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các nước ASEAN, tập trung nhiều trong các thị trường lao động của Malaysia, Singapore, Thái Lan, Lào Điều đó phần nào đã minh chứng cho tính tất yếu khách quan của việc tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN của Việt Nam Mặc dù Việt Nam luôn cố gắng thực hiện đúng các nguyên tắc

mà ASEAN đặt ra thông qua những ký kết song phương, đa phương về hợp tác lao động, tích cực hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài nhưng trên thực tế, lực lượng lao động di chuyển của Việt Nam sang các nước ASEAN vẫn bị đánh giá là nhiều hạn chế, sự di chuyển lao động tự phát từ Việt Nam sang các nước nội khối ASEAN là tình trạng không tránh khỏi Đặc biệt, các dòng di chuyển lao động của Việt Nam quá ít lao động có kỹ năng lành nghề mà chỉ tập trung trong các lĩnh vực thuê mướn lao động phổ thông Vì thế, vấn đề đặt ra cho Việt Nam hiện nay cần phải xem xét lại triển vọng phát triển của thị trường lao động nội khối ASEAN, những tác động tích cực và tiêu cực khi tham gia vào di chuyển lao động nội khối trong mối tương quan với các dòng di chuyển lao động sang các nước khác để có những biện pháp phù hợp giải quyết các vấn đề với tư cách là một thành viên của AEC

Trang 14

Việt Nam hiện đang có chủ trương đưa lao động ra nước ngoài làm việc để giải quyết nhiều vấn đề kinh tế của đất nước Tuy nhiên, hiện nay, các thị trường lao động quan trọng mà Việt Nam hướng tới vẫn chủ yếu nằm ở khu vực Đông Bắc Á, Trung Đông và sự tham gia của Việt Nam trong di chuyển lao động chính thức nội khối ASEAN còn khá hạn chế Lý giải được vấn đề này, Việt Nam mới xác định được mức

độ tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN như thế nào là phù hợp với bối cảnh hiện tại, với xu hướng phát triển của AEC trong tương lai Theo ký kết ra đời Cộng đồng kinh tế ASEAN, để chung tay xây dựng cộng đồng các nước Đông Nam Á

và thị trường lao động chung một cách hiệu quả, Việt Nam cần chỉ ra những biện pháp giải quyết các vấn đề về di chuyển lao động nội khối với những định hướng cụ thể để vừa đảm bảo quyền lợi quốc gia, vừa thúc đẩy tăng trưởng cả khối

Trong môi trường AEC, di chuyển lao động nội khối ASEAN là một tất yếu khách quan Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức bởi những chính sách, thể chế và lực lượng lao động còn nhiều hạn chế cả về chất và lượng Sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và của nền kinh tế khu vực nói riêng cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ bùng nổ mạnh mẽ đã làm nhu cầu về lao động có nhiều thay đổi Điều đó có nghĩa là: trong một thị trường lao động chung ASEAN, người lao động Việt Nam không chỉ phải cạnh tranh để tìm kiếm việc làm ở nước ngoài mà còn phải cạnh tranh để tìm kiếm công việc ngay trên đất nước của mình, họ phải đối diện với

nhiều thách thức hơn nếu năng lực cạnh tranh thấp Việt Nam buộc phải chủ động trong

việc khai thác những lợi ích mà AEC mang lại như giải quyết công ăn việc làm, thất nghiệp, tăng thu nhập, nâng cao năng suất lao động đồng thời hạn chế những tiêu cực bởi dù ít hay nhiều việc tham gia vào di chuyển lao động nội khối cũng trở thành vấn đề tất yếu Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng mức độ tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối, đánh giá những tác động của di chuyển lao động nội khối ASEAN tới kinh tế - xã hội Việt Nam, các nhân tố ảnh hưởng để xác định những vấn đề

và cách giải quyết hợp lý nhằm hài hòa lợi ích và trách nhiệm xây dựng AEC với tư cách là một nước thành viên Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn chính sách quản lý phù hợp vừa khuyến khích, thúc đẩy trao đổi lao động, mang lại lợi ích cho quốc gia nhưng đồng thời phải hạn chế được những tác động tiêu cực Đây cũng là lý do

khiến tác giả lựa chọn đề tài “Sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội

khối ASEAN” cho luận án tiến sĩ của mình với mong muốn đóng góp một phần vào giải

quyết những bất cập hiện nay của việc di chuyển lao động trong các nước ASEAN mà Việt Nam đang gặp phải một cách tổng thế, toàn diện

Trang 15

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Làm rõ những vấn đề liên quan đến sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN để đưa ra định hướng cho việc Việt Nam sẽ tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN như thế nào trong thời gian tới

Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá, chỉ ra những xu hướng quy luật về các yếu tố dẫn đến mức độ tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối dưới góc độ kinh tế chính trị trong mối quan hệ của lợi ích và chi phí

- Phân tích tác động của di chuyển lao động nội khối tới nền kinh tế Việt Nam trong tương quan với mục tiêu phát triển chung của kinh tế khu vực

- Làm rõ thực trạng mức độ tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN

- Chỉ ra triển vọng phát triển của di chuyển lao động nội khối ASEAN và các vấn đề khi tham gia vào di chuyển lao động nội khối của Việt Nam, định hướng tham gia cũng như các giải pháp nhằm tận dụng tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực khi tham gia trong bối cảnh AEC

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên luận án sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên

cứu sau :

• Giải quyết vấn đề khoa học: Góp phần xây dựng khung khổ lý thuyết cơ bản

về di chuyển lao động nội khối

• Giải quyết vấn đề thực tiễn: Phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng dẫn

đến thực trạng sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN trong khuôn khổ xây dựng và phát triển Cộng đồng ASEAN, xác định những tác động của di chuyển lao động nội khối tới Việt Nam Trên cơ sở đó, xác định định hướng tham gia của Việt Nam trong nội khối ASEAN và đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN (xem xét khía cạnh di chuyển lao động chính thức, chủ yếu là dòng di chuyển ra các nước

Trang 16

ASEAN trong tương quan với các dòng di chuyển lao động vào Việt Nam và các dòng

di chuyển ngoại khối)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2003 – 2015

Tháng 10/2003, lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Bali II), nhất trí đề ra mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột chính: Cộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC); Theo đó, ASEAN đã khẩn trương xúc tiến xây dựng các Kế hoạch tổng thể (Blueprints) để xây dựng Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội (ASCC), trong đó đề ra mục tiêu và thời hạn hoàn thành đối với từng biện pháp/hoạt động cụ thể Đây là thời điểm có ý nghĩa đối với quá trình phát triển của Hiệp hội, đặt nền tảng cho việc hình thành và thực hiện các mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN Từ đó, Hiệp hội các nước Đông Nam Á chuyển sang một giai đoạn mới

là xây dựng Cộng đồng ASEAN và được chính thức ra đời vào tháng 12/2015

- Nội dung nghiên cứu: Dòng di chuyển lao động chính thức giữa Việt Nam và các nước ASEAN

Hiện nay, mục tiêu tham gia vào di chuyển lao động quốc tế nói chung và nội khối ASEAN nói riêng của Việt Nam chủ yếu hướng tới dòng xuất khẩu Tuy nhiên, thị trường lao động Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề, đặc biệt là thiếu vắng lao động chuyên môn cao để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế Vì vậy, xu hướng

mở rộng “dòng vào” đang trở nên tất yếu Bên cạnh đó, Việt Nam không chỉ duy trì mối quan hệ hợp tác lao động chỉ với các nước nội khối ASEAN Vì vậy, giới hạn nội dung nghiên cứu của luận án trên cơ sở thực tiễn sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối phần lớn tập trung vào dòng gửi lao động ra các nước ASEAN nhưng đặt trong mối tương quan với các dòng di chuyển ngược lại Ngoài ra, luận án cũng xem xét sự chi phối của di chuyển lao động ngoại khối đối với di chuyển lao động nội khối ASEAN

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu

Trang 17

Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử yêu cầu việc nghiên cứu

về sự tham gia của Việt Nam trong di chuyển lao động nội khối ASEAN trước hết phải

kế thừa những kết quả nghiên cứu của những người đi trước Do vậy, tác giả đã tích cực trong việc tìm hiểu các tài liệu khoa học viết về di chuyển lao động quốc tế nói chung và

di chuyển lao động nội khối, nhất là các tài liệu khoa học viết về di chuyển lao động nội khối ASEAN và EU Trên cơ sở kế thừa các kết qủa nghiên cứu, luận án tiếp tục hoàn thiện khung lý luận để phân tích các vấn đề cơ bản ở các chương sau

Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả luận

án đã bắt đầu từ việc nghiên cứu phạm trù cơ bản về liên kết kinh tế quốc tế và sự hình thành khối kinh tế khu vực, dẫn dắt tới việc ra đời của các thị trường khu vực và sự di chuyển hàng hóa, nguồn lực giữa các quốc gia thành viên Trên cơ sở đó, luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ bản chất, nguyên nhân, nội dung, và các nhân tố ảnh hưởng đến di chuyển lao động nội khối để dẫn tới quyết định tham gia vào di chuyển lao động trong khu vực của các quốc gia thành viên Không dừng lại đó, luận án còn tiếp cận biện chứng bằng việc xem xét ngược lại sự tác động của di chuyển lao động nội khối tới kinh tế - xã hội các quốc gia thành viên Bởi lợi ích đạt được và “cái giá phải trả” sẽ quyết định tới quyết định chính sách di chuyển lao động trong tương lai của các quốc gia

Phương pháp luận đòi hỏi vừa phải xây dựng khung lý thuyết để nghiên cứu, đồng thời khung lý thuyết đó cần được kiểm chứng bằng thực tiễn Do đó, luận án đã nghiên cứu kinh nghiệm trong việc xây dựng các chính sách về di chuyển lao động nội khối của các quốc gia EU để kiểm nghiệm cho khung lý thuyết đã được xây dựng Bên cạnh đó, còn nghiên cứu với các mối quan hệ chính trị, xã hội; quan hệ giữa các nước trong khu vực ASEAN hay kinh nghiệm của các nước hiện đang tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN ở mức độ cao Các quan hệ đó luôn được xem xét trong sự vận động, biến đổi

Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đòi hỏi việc nghiên cứu về di chuyển lao động nội khối ASEAN nói chung và sự tham gia của Việt Nam phải xuất phát từ những điều kiện khách quan (sự vận động của thị trường, nhu cầu của các cá nhân, tổ chức) và chủ quan (ý chí của các Chính phủ), do các quy luật khách quan chi phối Tác giả tập trung nghiên cứu một cách toàn diện trong đó chú trọng đến nhân tố bên trong (các điều kiện đặc thù của thị trường lao động Việt Nam)

vì nhân tố này giữ vai trò quyết định

Trang 18

4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng

Luận án sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp, trong đó các phương pháp được

sử dụng chủ yếu như sau:

4.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Luận án sử dụng phương pháp phân tích trong cả 4 chương Phân tích trước hết

là phân chia sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy Điều đó giúp cho việc hiểu các vấn đề một cách thấu đáo, cặn kẽ Nhiệm vụ của phân tích sử dụng trong luận án là thông qua cái riêng để tìm cái chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ biến

Trên cơ sở đó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để có được cái nhìn tổng thể về sự vật và hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cái khái quát Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động quyết định mức độ tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN trong bối cảnh hiện nay

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu nói chung và nghiên cứu của đề tài này nói riêng, và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tính quy luật của bản thân sự vật Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy, có ý nghĩa rất quan trọng Trong tổng hợp vai trò quan trọng thuộc về khả năng liên kết các kết quả cụ thể từ sự phân tích, khả năng trìu tượng, khái quát nắm bắt được mặt định tính từ rất nhiều khía cạnh định lượng khác nhau

Phương pháp phân tích và tổng hợp là một trong những phương pháp quan trọng được dùng để nghiên cứu đề tài "Sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN" Những nội dung liên quan có sử dụng phương pháp phân tích

và tổng hợp là:

Phân tích đặc điểm thị trường lao động Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến

sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN để rút ra mức độ tham gia của Việt Nam, đánh giá được tác động của việc tham gia vào di chuyển nội khối tới kinh tế- xã hội đất nước ở từng khía cạnh (tích cực và tiêu cực), nhằm trả lời

Trang 19

các câu hỏi có liên quan: Mức độ tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN của Việt Nam hiện nay có hợp lý hay không? Trên cơ sở đó tổng hợp được thực trạng

sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN với những thành tựu và hạn chế

Trong quá trình sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, đề tài có sử dụng các số liệu thống kê đã qua xử lý, các công thức toán học đơn giản, các biểu đồ để giúp thấy rõ hơn đặc trưng, xu hướng, quy mô, tỷ trọng của hiện tượng, nội dung, vấn đề nghiên cứu

4.2.2 Phương pháp logic và lịch sử

Quan hệ logic là quan hệ tất yếu, nó nhất định xảy ra khi có những tiền đề cho quan hệ đó Lịch sử, đó là những hiện thực của logic ở một đối tượng cụ thể, trong một không gian và thời gian xác định Là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển các dòng di chuyển lao động của Việt Nam với các nước thành viên ASEAN theo một trình tự liên tục và nhiều mặt Sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải đảm bảo tính liên tục về thời gian, làm rõ điều kiện, đặc điểm phát sinh, phát triển từ thấp đến cao, làm rõ các mối quan hệ đa dạng trong di chuyển lao động quốc tế với các vấn đề khác liên quan đến nó Đồng thời đặt quá trình phát triển các dòng di chuyển lao động nội khối của Việt Nam trong mối quan hệ tương tác qua lại giữa phát triển kinh tế - xã hội thúc đẩy nhau trong quá trình phát triển, trong mối quan hệ về lợi ích với việc di chuyển lao động sang các nước ngoài khu vực

Luận án sử dụng phương pháp logic và lịch sử nhằm đạt được các mục đích nghiên cứu sau:

- Xác định được giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2015 (tập trung nghiên cứu vào những năm gần đây) là giai đoạn nghiên cứu hợp lý Đây là giai đoạn vừa đảm bảo

độ dài của một công trình nghiên cứu vừa là giai đoạn khu vực ASEAN có những bước phát triển hợp tác và chuyển mình tích cực hướng tới việc xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN ở mọi lĩnh vực, có tác động sâu sắc đến di chuyển lao động nội khối nói chung và sự tham gia của Việt Nam nói riêng

- Tìm ra được logic của thực trạng tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN của Việt Nam dưới sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng Hoạt động đó cũng xoay quanh quan hệ lợi ích, được – mất với phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, đây là vấn đề trọng tâm của kinh tế chính trị

Khi trình bày các sự việc luận án đã chú ý đến sự vận động "logic" của hoạt động di chuyển lao động nội khối, chỉ ra xu hướng vận động có tính chất quy luật của

Trang 20

chúng, loại bỏ các chi tiết không cơ bản Luận án sử dụng phương pháp logic để nghiên cứu, xem xét các các sự kiện lịch sử của di chuyển lao động nội khối dưới dạng tổng quát, nhằm chỉ ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động, nắm lấy bước phát triển tất yếu, cốt lõi Phương pháp logic sử dụng các luận điểm khoa học trong tư duy nhằm lý giải, đánh giá và rút ra những kết luận về sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN

4.2.3 Phương pháp quy nạp và diễn giải

Phương pháp quy nạp là phương pháp đi từ những hiện tượng riêng lẻ, rời rạc, độc lập ngẫu nhiên rồi liên kết các hiện tượng ấy với nhau để tìm ra bản chất của một đối tượng nào đó

Từ những kinh nghiệm về di chuyển lao động nội khối EU, ASEAN, hiểu biết

về liên kết kinh tế quốc tế, sự hình thành khối kinh tế khu vực, sự di chuyển nguồn lực giữa các quốc gia, luận án tổng kết quy nạp thành những nguyên lý chung về di chuyển lao động nội khối Phương pháp quy nạp đi sâu vào mối quan hệ giữa bản chất

và hiện tượng Một hiện tượng bộc lộ nhiều bản chất Nhiệm vụ của khoa học là thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, cuối cùng đưa ra giải pháp Phương pháp quy nạp đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra các quy luật, rút ra từ những kết luận tổng quát đưa ra các giả thuyết Phương pháp quy nạp được luận án sử dụng ở từng chương để giải quyết câu hỏi nghiên cứu

Trong nghiên cứu khoa học, người ta còn có thể xuất phát từ những giả thuyết hay từ những nguyên lý chung để đi sâu nghiên cứu những hiện tượng cụ thể nhờ vậy

mà có nhận thức sâu sắc hơn từng đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp diễn giải Phương pháp diễn giải cũng được luận án sử dụng trong việc phân tích thực trạng tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN của Việt Nam trên nền tảng cơ sở lý luận được hệ thống hóa và đưa ra các giải pháp phù hợp Phương pháp diễn giải nhờ vậy có

ý nghĩa rất quan trọng đối với nghiên cứu của luận án Với những tiền đề, giả thuyết đặt ra, luận án cố gắng tìm hiểu, phân tích bằng những suy diễn lôgic để rút ra những kết luận

Quy nạp và diễn giải là hai phương pháp nghiên cứu theo chiều ngược nhau song liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nhờ có những kết quả nghiên cứu theo phương pháp quy nạp trước đó mà việc nghiên cứu có thể tiếp tục, phát triển theo phương pháp diễn giải Phương pháp diễn giải, do vậy mở rộng giá trị của những kết luận quy nạp vào việc nghiên cứu đối tượng

Trang 21

4.2.4 Phương pháp thống kê mô tả

Luận án sử dụng phương pháp này cho phép thông qua tất cả các số liệu thống

kê mô tả về thực trạng tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN, vạch ra tính quy định thuộc về tính chất của hoạt động di chuyển lao động Luận án sử dụng phương pháp này chủ yếu tại chương 3 để thống kê về thực trạng và so sánh, phân tích các chỉ tiêu đánh giá tác động và mức độ tham gia của Việt Nam trong di chuyển lao động nội khối ASEAN, từ đó tìm ra hướng cho những giải pháp tích cực trong quyết định tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN để phù hợp với bối cảnh tới

4.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

4.3.1 Nguồn số liệu thực hiện luận án

Nguồn số liệu thực hiện đề tài được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nhằm đạt mục tiêu nghiên cứu Luận án sử dụng chủ yếu nguồn dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn chủ yếu sau:

- Cục Thống kê Các niên giám thống kê, các báo cáo có liên quan đến thị trường lao động Việt Nam

- Bộ Lao động Thương binh và Xã hội: các văn bản, báo cáo, số liệu có liên quan

- Các văn bản cam kết đơn phương, song phương về vấn đề có liên quan giữa Việt Nam với các nước trong khu vực, thể chế, chính sách liên quan

- Các nghiên cứu về di chuyển lao động quốc tế, các báo cáo của tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ, báo cáo trong các hội nghị, diễn đàn thuộc khuôn khổ Cộng đồng kinh tế ASEAN

4.3.2 Phương pháp xử lý số liệu

Đề tài có hai hướng xử lý thông tin: (1) Xử lý logic đối với thông tin định tính

Đó là việc đưa ra những phán đoán về bản chất của sự kiện; và (2) Xử lý toán học đối với các thông tin định lượng Đó là việc sử dụng phương pháp thống kê toán để xác định xu hướng, diễn biến của tập hợp số liệu thu thập được

4.3.2.1 Xử lý thông tin định tính

Xử lý thông tin định tính được dùng để nghiên cứu chủ yếu các vấn đề xã hội như việc cải thiện và nâng cao đời sống người dân, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội; nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế, hợp tác trong việc di chuyển lao động quốc tế như xác định quan hệ hợp tác về lao động giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN, những chính sách về di chuyển lao động

Trang 22

Việc xử lý thông tin được thực hiện từ việc thu thập thông tin qua các phương pháp quan sát, phân tích, tổng hợp nghiên cứu tài liệu ; đưa ra các giả thiết và chứng minh cho giả thiết đó từ những sự kiện đơn lẻ được thu thập Sau đó là xử lý logic đối với các thông tin định tính, đó là việc đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện đồng thời thể hiện những logic của các sự kiện, các phân hệ trong hệ thống các sự kiện được xem xét

4.3.2.2 Xử lý thông tin định lượng

Thông qua các tài liệu thống kê, thông tin định lượng được sắp xếp lại để làm bộc lộ ra các mối liên hệ và xu hướng vận động của các dòng di chuyển lao động giữa Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN Các số liệu có thể được trình bày ở nhiều dạng khác nhau, như: Bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị…

Bằng phương pháp này, luận án có thể phân tích để hệ thống hóa những vấn đề

lý luận và thực tiễn, đánh giá tài liệu, quan sát, kiểm chứng để nghiên cứu, tổng kết, phân tích, đánh giá thực trạng các vấn đề cần nghiên cứu, xác định rõ những nguyên nhân làm cơ sở đề xuất phương hướng và giải pháp cho vấn đề di chuyển lao động của Việt Nam trong nội khối ASEAN một cách hợp lý

5 Câu hỏi nghiên cứu

Định hướng nào cho Việt Nam khi tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN và Việt Nam cần làm gì để tận dụng tác động tích cực và hạn chế tiêu cực khi tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN trong bối cảnh AEC?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Các vấn đề mà luận án đưa ra được nghiên cứu trong những giả thuyết sau:

- Sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN còn hạn chế cả về chiều rộng và chiều sâu

- Điểm đến chiến lược của các dòng di chuyển lao động Việt Nam nằm ngoài khu vực ASEAN

- Việt Nam vẫn có thể tận dụng được nhiều cơ hội thúc đẩy phát triển kinh tế -

xã hội khi tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN

7 Dự kiến những đóng góp mới của luận án

* Về lý luận:

- Hệ thống hóa lý luận về hoạt động di chuyển lao động quốc tế nội khối

- Đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ tham gia của các nước thành viên trong di chuyển lao động nội khối, bộ tiêu chí đánh giá về tác động của di chuyển lao động nội khối tới các quốc gia tham gia và những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động này

Trang 23

- Kiến nghị, đề xuất chính sách để Việt Nam giải quyết những vấn đề nảy sinh khi tham gia di chuyển lao động nội khối ASEAN trong thời gian tới

8 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 4 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận về sự tham gia vào di chuyển lao động nội khối của các nước thành viên

Chương 3: Cơ sở thực tiễn về sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN

Chương 4: Triển vọng và giải pháp tham gia di chuyển lao động nội khối ASEAN của Việt Nam trong thời gian tới

Trang 24

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu

1.1.1 Các lý thuyết về liên kết kinh tế quốc tế và khối kinh tế khu vực

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về liên kết kinh tế quốc tế như là một điều kiện để các quốc gia hợp tác cùng phát triển Phải kể đến các

tác giả như Kahnert te al (1969) trong tác phẩm “Economic Integration among development countries” đưa ra quan điểm cho rằng liên kết kinh tế quốc tế là sự thỏa

thuận, cam kết bỏ dần sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia tham gia Ở đây, tác giả

cố gắng phân tích vai trò của liên kết kinh tế quốc tế đối với tăng trưởng của các quốc gia tham gia và sự cần thiết phải thúc đẩy những quan hệ kinh tế đa phương và song phương trong khuôn khổ kinh tế toàn cầu.[103]

Các nhà nghiên cứu khác như Béla A Balassa (1973) cũng đưa ra quan điểm rất

rõ ràng về liên kết kinh tế quốc tế trong “Tariffs and trade policy in the Andean common market” nhưng cũng khá đơn giản, chỉ là những thỏa thuận xóa bỏ phân biệt đối xử về

kinh tế giữa các quốc gia tham gia Liên kết được hiểu theo nghĩa hợp tác hai bên cùng

có lợi Liên kết kinh tế quốc tế được tác giả nhấn mạnh ở sự tự do hóa di chuyển các nguồn lực trong đó thuế và các chính sách thương mại là vấn đề cần phải xem xét nhiều nhất trong tiến trình hình thành thị trường chung trên cơ sở cung – cầu [74]

Balassa cũng là người đưa ra năm hình thức liên kết và hội nhập kinh tế khu vực xét theo cấp độ cam kết tự do hóa thương mại và liên kết kinh tế từ “nông” đến

“sâu” như sau: Cấp độ thứ nhất là khu vực mậu dịch tự do (Free trade area – FTA; Cấp

độ thứ hai là liên minh thuế quan (Customs Union – CU) ; Cấp độ thứ ba là thị trường chung (Common Market - CM); Cấp độ thứ tư liên minh kinh tế (Economic Union - EU); Cấp độ thứ năm là liên minh tiền tệ (Monetary Union - MU)

Trong 5 hình thức mà Balassa đưa ra thì hai hình thức đầu tiên hình thành những liên kết ở cấp độ “nông” là khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan, mới chỉ điều tiết những vấn đề liên quan đến thương mại qua biên giới hướng tới tự do hóa thương mại thuần túy Ba hình thức còn lại có mức độ liên kết “sâu” hơn, bao gồm các nội dung điều chỉnh các chính sách biên giới quốc gia thành viên trong một khuôn khổ chung của cả khu vực, xây dựng chính sách chung cho toàn nhóm thành viên và hình thành những thể chế khu vực có tư cách pháp lý cao hơn thể chế quốc gia thành viên

Trang 25

Kế thừa tư tưởng đó, trong nghiên cứu của mình về liên kết khu vực xem xét

thực tiễn ở Châu Âu trong tác phẩm “The Economic of European Community”,

El-Agraa (1985) đã tổng kết về đặc trưng của các hình thức liên kết kinh tế quốc tế [89]

Từ đó, ông đưa ra quan điểm về sự cần thiết di chuyển các nguồn lực trong nền kinh tế chung để hướng tới sự hợp tác, loại bỏ những phân biệt đối xử về kinh tế, những cản trở thương mại giữa các quốc gia tham gia và thành lập một hệ thống quy tắc phối hợp kinh tế chung trong một khu vực kinh tế

Có thể thấy, liên kết kinh tế quốc tế là một vấn đề không hề gây tranh cãi với các nhà nghiên cứu Dù ở bất kỳ khía cạnh nào liên kết kinh tế quốc tế cũng là một khái niệm đồng nhất và mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia và được khuyến khích thúc đẩy Chính vì vậy, cho tới nay, toàn cầu hóa đã trở thành tất yếu khách quan và liên kết kinh tế quốc tế được quan tâm ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Các quốc gia trở nên phụ thuộc vào nhau nhiều hơn và cùng tham gia vào chuỗi giá trị chung của thế giới

Từ việc nghiên cứu về kinh tế quốc tế, các nhà nghiên cứu nhận ra các quốc gia

ở trong cùng một khu vực địa lý thường có xu hướng gắn bó chặt chẽ hơn do những tương đồng về văn hóa, kinh tế - chính trị và dần hình thành nên những khối kinh tế

Từ đó, rất nhiều nhà kinh tế học khi nghiên cứu về liên kết kinh tế quốc tế cũng đã đặt vấn đề nghiên cứu về sự hình thành và liên kết khối kinh tế khu vực

Trong số đó, Pinder J (1969) trong “Problem of European integration in Economic Integration in Europe” đã đưa vấn đề nghiên cứu về liên kết kinh tế giữa

các quốc gia Châu Âu thành chủ đề chính Ở đây, ông đã đưa ra quan điểm về khối kinh tế khu vực, về vai trò, tác động của liên kết khu vực đối với các nước thành viên Ông còn chỉ ra những vấn đề mà các chính phủ phải đối mặt khi thúc đẩy hình thành Cộng đồng kinh tế Châu Âu.[113]

Cũng nghiên cứu về khối kinh tế Châu Âu như một điển hình, Molle (1991)

trong “Economics of European integration: theory, practice and policy” đã đưa ra

khung lý thuyết về liên kết kinh tế khu vực, phân tích các hình thức liên kết ở các cấp

độ khác nhau và gợi ý các chính sách phù hợp để phát triển các khối liên kết kinh tế khu vực [109]

Tương tự như vậy, cuốn“European Economic Integration: The Common Market, European Union and Beyond” của Swann (1996) cũng nghiên cứu về các cấp

độ liên kết kinh tế thông qua thực tiễn các bước đi của Cộng đồng Châu Âu từ việc hình thành thị trường chung tới nền kinh tế chung [117]

Trang 26

Như vậy, các công trình phân tích liên kết kinh tế quốc tế và khu vực trong nhiều khía cạnh khác nhau nhưng khái niệm cũng như quan điểm thúc đẩy liên kết kinh tế hầu hết khá đồng nhất Sự giống nhau về quan điểm là bởi các nhà kinh tế học đặt vấn đề nghiên cứu về liên kết kinh tế quốc tế vào thực tiễn của các nước Châu Âu

và coi đó là ví dụ điển hình cho liên kết kinh tế giữa các quốc gia

Các nhà nghiên cứu Việt Nam dù không đưa ra một lý thuyết riêng về liên kết kinh tế quốc tế và khối kinh tế khu vực nhưng họ lại có nhiều đóng góp trong việc tổng hợp và cố gắng đưa ra một khung lý thuyết rõ ràng hơn về vấn đề này

Cuốn “Kinh tế quốc tế” của Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2002) đã làm

rõ được đầy đủ các khái niệm cũng như phân tích về các lý thuyết mà nhà nghiên cứu nước ngoài đã đưa ra từ tân cổ điển tới hiện đại Nhờ đó, các nhà nghiên cứu những vấn đề có liên quan ở Việt Nam đều có một nền tảng vững chắc và đầy đủ làm căn cứ cho các phân tích thực tiễn của mình [6]

Cũng có thể tìm thấy những hệ thống lý thuyết được đề cập trong cuốn “Quan

hệ kinh tế quốc tế” của Võ Thanh Thu (2008) với các khái niệm, các cách tiếp cận và

quan điểm về liên kết kinh tế quốc tế, khối kinh tế khu vực Ở đây, tác giả nêu rõ ràng chính toàn cầu hóa được hình thành từ các liên kết kinh tế quốc tế dẫn đến sự tồn tại của các khối kinh tế khu vực và xu hướng phát triển của những khối kinh tế này trên thực tế hiện nay.[47]

Như vậy, có thể thấy, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam không cố gắng đưa ra những quan điểm khác về một vấn đề tất yếu khách quan Họ chỉ xây dựng một khung

lý thuyết đầy đủ để các nhà nghiên cứu khác có cái nhìn tổng quan về vấn đề

Liên kết kinh tế quốc tế nói chung và sự hình thành khối kinh tế khu vực nói riêng là nền tảng cho những hợp tác sâu rộng về mọi mặt kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững Để thực hiện điều đó, các quốc gia cần phải xóa bỏ các rào cản, tạo điều kiện cho tự hóa do di chuyển các nguồn lực Đây cũng là cơ sở để nghiên cứu về vấn đề di chuyển lao động giữa các quốc gia

1.1.2 Các nghiên cứu về di chuyển lao động quốc tế và di chuyển lao động nội khối

Một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sản xuất là lao động Cũng như các nguồn lực khác trên thế giới, hiện tượng mất cân đối cung – cầu trên thị trường lao động luôn diễn ra ở hầu hết các nền kinh tế quốc gia làm giảm hiệu quả và kìm hãm sự phát triển sản xuất Liên kết kinh tế quốc tế chính là một cách thức giải quyết vấn đề

Trang 27

trên Lao động cũng như hàng hóa và các nguồn lực khác có thể di chuyển giữa các nước từ nơi “thừa” đến nơi “thiếu” đã giúp cho năng suất lao động ở tất cả các nước tham gia vào liên kết kinh tế được nâng cao Như vậy có thể thấy, xuất phát điểm của các dòng di chuyển lao động quốc tế chính là lợi ích Sự cạnh tranh cũng tạo động lực cho lao động ngày càng phát triển và yêu cầu về chất lượng ngày càng cao hơn

Thực tế, có rất nhiều công trình nghiên cứu về di chuyển lao động quốc tế được công bố với nhiều lý thuyết khác nhau Không những đưa ra khái niệm về di chuyển lao động quốc tế, các tác giả còn cố gắng đưa các các lý thuyết giải thích về sự hình thành các dòng di chuyển lao động Tùy theo sự phát triển các giai đoạn trong lịch sử kinh tế thế giới, các lý thuyết cũng có những cách tiếp cận vấn đề rất khác nhau:

* Lý thuyết tân cổ điển

Arthur Lewis là người đầu tiên xây dựng lý luận về di chuyển lao động quốc tế với mô hình lao động dư thừa (nhưng trong kinh tế học phát triển được mang tên mô hình nền kinh tế hai khu vực) Sau đó, John Fei và Gustav Ranis đã chỉnh lý lại mô hình này vào năm 1965 và được gọi là mô hình Lewis – Ranis – Fei (LRF) Mô hình LRF giải thích hiện tượng di chuyển lao động ở điều kiện bắt đầu công nghiệp hóa và diễn

ra ở lớp lao động phổ thông [18] còn mô hình Mô hình Harris – Todaro (mô hình HT) giải thích hiện tượng di chuyển lao động trong hoàn cảnh thị trường lao động khó khăn hơn với dòng lao động chuyên môn cao từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển Mỗi mô hình mang lại một giá trị nhất định trong một thời điểm lịch sử và

có thể làm căn cứ lý thuyết để phân tích những thực trạng di chuyển lao động tại một nền kinh tế cụ thể [6]

* Lý thuyết hiện đại

Nếu như các mô hình kinh tế tân cổ điển ở trên tập trung giải thích sự di chuyển lao động dựa vào sự chênh lệch về tiền công/ thu nhập và đây là yếu tố quan trọng trong quyết định di cư thì lý thuyết “kinh tế học mới về sự di cư” lại giải thích bằng yếu tố khác Lý thuyết này cho rằng tiền công/thu nhập chỉ là yếu tố thứ yếu và thậm chí mức lương ở nơi mới tới không tốt bằng nơi cũ nhưng vẫn xảy ra hiện tượng di cư lao động

Mô hình của Oded Stark tập trung vào việc nghiên cứu phúc lợi kinh tế của hộ gia đình chứ không phải của cá nhân [107] Di chuyển lao động quốc tế trở thành một chiến lược điển hình để giúp người lao động tối thiểu hóa rủi ro và vượt qua khó khăn

về nguồn vốn [108]

Trang 28

Một lý thuyết khác, lý thuyết thị trường lao động kép của nhà kinh tế học Michael Piore được nghiên cứu trên cơ sở những khía cạnh hoàn toàn khác biệt so với các lý luận về di chuyển lao động của trường phái kinh tế học tân cổ điển hay kinh tế học mới về sự di cư là “di chuyển lao động đặt trên giác độ nhu cầu quốc gia” Lý thuyết

đã giải thích hoạt động di chuyển lao động từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển không phải do việc tìm kiếm cơ hội mới của những người lao động mà là do nhu cầu của chủ lao động ở các nước phát triển đối với lao động có tiền lương thấp Chính sách tuyển dụng của các nước tiếp nhận lao động là cơ sở hình thành sự di chuyển này.[6]

Wallerstein (1994) đưa ra “lý thuyết các hệ thống thế giới” cho rằng: sự di cư là kết quả tự nhiên và khách quan trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản Một lý

do nữa khiến di chuyển lao động quốc tế được thực hiện do tâm lý “lánh nạn” của người dân khi mà họ đang phải đối mặt với sự bất ổn định về chính trị của nước mình sinh sống [18]

Piyasiri Wickramasekara cho rằng “có cả yếu tố kinh tế và phi kinh tế ảnh hưởng đến các dòng chảy di cư” [114]

Như vậy, mỗi một lý thuyết khác nhau, các nhà nghiên cứu lại đưa ra những giải thích khác nhau về nguyên nhân của di chuyển lao động nói chung và di chuyển lao động quốc tế nói riêng Xem xét kỹ các nghiên cứu này, có thể nhận thấy rất rõ hầu hết các nhà nghiên cứu đều chỉ đặt vấn đề nghiên cứu di chuyển lao động quốc tế nói chung (di chuyển lao động giữa nước này và nước khác) hay nghiên cứu việc di chuyển lao động quốc tế giữa nước đang phát triển và nước phát triển nói riêng Các nguyên nhân của sự di chuyển lao động trước hết xuất phát từ lợi ích kinh tế hoặc được giải thích bằng sự chênh lệch về cung - cầu lao động trên thị trường hay chênh lệch thu nhập của người lao động Những nghiên cứu gần đây có nhắc đến những ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu hóa Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân “phi kinh tế” khác dẫn đến quyết định di cư của người lao động như tránh rủi ro (cho thu nhập gia đình), sở thích di chuyển và tìm kiếm cái mới hay bởi những bất ổn chính trị Mỗi

lý thuyết mang lại một giá trị nhất định trong một thời điểm lịch sử và có thể làm căn

cứ lý thuyết để phân tích những thực trạng di chuyển lao động tại một nền kinh tế cụ thể Tuy nhiên, với đối tượng nghiên cứu là “di chuyển lao động nội khối” thì những lý thuyết đó chưa có giải thích chính xác và đầy đủ về nguồn gốc hình thức di chuyển lao động này

Trang 29

Hiện đại hơn, Massey, Douglas, et al năm 1993 đã xây dựng lý thuyết về di

chuyển lao động quốc tế trong tác phẩm “Theories of International Migration: A Review and Appraisal.” Tại đây, các tác giả đã phân tích rất kỹ các quan điểm về khái

niệm, nguyên nhân hình thành cũng như tác động của di chuyển lao động quốc tế tới các nước tham gia.[107]

Hay UNISON năm 2006 cũng đưa ra những bàn luận về di chuyển lao động

quốc tế trong “International labour migration”, chủ yếu nhấn mạnh đến vai trò của di

chuyển lao động quốc tế và sự quản lý vấn đề này của chính phủ các nước hướng tới tự

do hóa trên phạm vi toàn cầu cũng như giải quyết những hạn chế, thách thức mà các nước đang phải đối mặt hiện nay [118] Tương tự như vậy, Robert E.B.Lucas trong

“International labour migration in a globalizing economy” cũng chỉ ra vai trò của di

chuyển lao động quốc tế trong toàn cầu hóa kinh tế và các vấn đề của mỗi quốc gia tham gia

Vấn đề di chuyển lao động quốc tế không chỉ hấp dẫn các nhà nghiên cứu ngoài nước mà nhiều nhà nghiên cứu trong nước cũng tham gia ở các khía cạnh khác nhau

Có thể tìm thấy các lý thuyết về di chuyển lao động quốc tế trong những tài liệu trong nước như:

Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2002) đã đưa ra khái niệm, bản chất và

nguyên nhân của di chuyển lao động quốc tế cũng như phân tích về tác động và hiệu

quả của vấn đề này trong nền kinh tế toàn cầu trong cuốn “Kinh tế quốc tế, chương 4 –

Di chuyển lao động quốc tế”, NXB Kinh tế quốc dân.[6] Tại đây, di chuyển lao động

quốc tế được giải thích là hiện tượng tất yếu, thông qua sự chênh lệch lợi ích quốc gia

Hạn chế của tài liệu nghiên cứu này là chưa tập trung vào một đối tượng cụ thể trong

lĩnh vực di chuyển lao động quốc tế Tác giả Võ Thanh Thu (2008) trong “Quan hệ kinh tế quốc tế” cũng đưa ra khung lý thuyết cơ bản về di chuyển lao động quốc tế với

tư cách là một hình thức trao đổi mua bán giữa các nước như các nguồn lực khác trong nền kinh tế [47] Mặc dù nội dung truyền tải sâu hơn giáo trình của Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng nhưng vẫn là sự tổng hợp các lý thuyết của các nhà nghiên cứu ngoài nước để hình thành một khung lý luận chung cho mọi nghiên cứu về di chuyển lao động quốc tế

Tác giả Nguyễn Bình Giang - chủ biên cuốn “Di chuyển lao động quốc tế”, (NXB Khoa học Xã hội, 2011) phân tích sâu hơn khi tập trung nghiên cứu, đánh giá

một số nét nổi bật trong di chuyển lao động quốc tế như: Những xu hướng cơ bản của

di chuyển lao động quốc tế, các chính sách quốc gia điều tiết di chuyển lao động quốc

Trang 30

tế, những tác động tích cực và tiêu cực của di chuyển lao động quốc tế tới nước nhận

và gửi lao động trong 10 năm đầu thế kỷ XXI, đồng thời dự báo những xu hướng di chuyển lao động quốc tế sẽ diễn ra trong 10 năm tới Tuy nhiên, cũng giống cuốn sách

ở trên, vấn đề nghiên cứu đặt ra chung cho hoạt động di chuyển lao động quốc tế [19]

Nhìn chung, các nghiên cứu chủ yếu đưa ra một số lý thuyết chung về di chuyển lao động quốc tế mà chưa có sự tập trung phân tích về di chuyển lao động nội khối Trên nền tảng giải thích về di chuyển lao động quốc tế nói chung ở các tài liệu trên, cần phải được phân tích sâu hơn về nguồn gốc và tính tất yếu của di chuyển lao động nội khối, những ràng buộc trong di chuyển lao động nội khối và so sánh sự khác biệt giữa di chuyển lao động nội khối với di chuyển lao động quốc tế nói chung

Ngoài những công trình nhằm đưa ra khung lý thuyết về di chuyển lao động quốc tế, còn rất nhiều nghiên cứu thực tiễn hiện đại tập trung phân tích các vấn đề liên quan để tìm ra xu hướng, quy luật vận động của các dòng di chuyển

Báo cáo của Sopemi (2011), IOM “World migration report 2010: The future of migration building capacities for change” đã đưa ra bức tranh tổng quát về di chuyển

lao động quốc tế, trong đó phân tích những xu hướng di chuyển lao động quốc tế mới hiện nay Nghiên cứu đã giải thích về nguyên nhân di chuyển lao động quốc tế là sự chênh lệch về phát triển nhân khẩu học, các hiệu ứng của sự thay đổi môi trường toàn cầu và làm nổi bật những vấn đề, thách thức hiện nay của hiện tượng này Điều đó đòi hỏi các chính sách thích hợp là hết sức quan trọng để quản lý các dòng xuất nhập khẩu lao động và cải tổ các khu vực mới của di cư Tuy nhiên, đây là bản báo cáo khá chung

về tình hình di cư quốc tế, chưa phân tích riêng về từng khu vực kinh tế [116]

Di chuyển lao động quốc tế có thể được tiếp cận theo hướng tập trung phát triển các dòng di chuyển lao động chuyên môn cao như quan điểm của Desai M.A, Kapur

D McHale J and Rogers K (2009) trong “The fiscal impact of high-skilled emigration: Flows of Indians to the US” Các tác giả đã phân tích các tác động của di

chuyển lao động chuyên môn cao từ Ấn Độ sang Mỹ và đưa ra những khuyến nghị về thúc đẩy dòng di chuyển lao động này giữa các quốc gia như một cách thức để tăng

trưởng kinh tế [86] Cùng ý tưởng trên có “The labor-market impact of high-skill immigration” của Borjas, George J (1995) [79] hay “Measuring International Skilled Migration: New Estimates Accounting for Age of Entry” của Beine, M and Docquier,

F and Rapoport (2005) [78],“International labor migration: A responsible role for bussiness” của BRS (2008) [75]

Trang 31

Caglar Ozden, Mavice Schiff, Palgrave Macmillan năm 2007 đã nghiên cứu thực tiễn di chuyển lao động quốc tế trong phát triển kinh tế trên phạm vi toàn cầu trong “International migration economic development and policy” Từ đó, các tác giả

đã đưa ra những khuyến nghị quan trọng về chính sách nhằm thúc đẩy và quản lý di chuyển lao động quốc tế.[82]

Tuy nhiên, trong các nghiên cứu thực tiễn hiện đại về di chuyển lao động thì vấn đề di chuyển lao động nội khối lại được đề cập khá nhiều ở các phạm vi khác nhau, đặc biệt là những nghiên cứu về di chuyển lao động nội khối EU

Yves Pascouau đã phân tích rất kỹ càng chính sách đối với di chuyển lao động

trong tác phẩm “Intra-EU mobility: the “second building block” of EU labour migration policy” Ông cho rằng việc xây dựng chính sách chung đối với di chuyển lao

động cho tất cả các quốc gia trong khu vực EU là một quá trình lâu dài và liên tục, bàn luận về các quy tắc di chuyển lao động nội khối đã tồn tại trong luật pháp của EU và chỉ ra những bất cập về chính sách di chuyển lao động nội khối EU cũng như các giải pháp khuyến khích thực thi quyền tự do di chuyển lao động của tất cả các quốc gia thành viên.[122]

Jennee Grace U Rubrico lại nghiên cứu vấn đề di chuyển lao động nội khối

trong sự so sánh giữa EU và ASEAN trong tài liệu “Free flow, managed movement: labour mobility policies in ASEAN and the EU” [102] Tác giả cũng nghiên cứu khía

cạnh chính sách, tập trung vào vấn đề tự do di chuyển lao động nội khối nhưng nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt rất rõ ràng giữa khu vực EU và ASEAN Với tư cách là một khu vực đi sau, mới hình thành Cộng đồng kinh tế chung, ASEAN có những bước dè dặt hơn trong việc đưa ra chính sách tự do hóa di chuyển lao động, cố gắng tránh những vấn đề mà EU mắc phải trong quá trình thực hiện trước đó

Như vậy, có thể thấy, hầu hết các nghiên cứu tập trung bàn luận khá sâu sắc về vấn đề di chuyển lao động quốc tế nói chung kể cả lý thuyết và thực tiễn Những công trình nghiên cứu về di chuyển lao động nội khối chủ yếu là các vấn đề thực tiễn Các tác giả tập trung vào việc xem xét hệ thống các chính sách phù hợp cho các Chính phủ các quốc gia thành viên Cũng có thể nhận thấy, lý thuyết về di chuyển lao động nội khối còn khá khiêm tốn và còn thiếu vắng các công trình có giá trị

1.1.3 Những nghiên cứu về di chuyển lao động nội khối ASEAN

ASEAN đang phát triển rất năng động và sẽ trở thành Cộng đồng, trong đó có Cộng đồng kinh tế ASEAN vào tháng 12/2015 Chính vì vậy, những nghiên cứu hợp

Trang 32

tác kinh tế nói chung và di chuyển lao động nội khối ASEAN nói riêng được nhiều nhà kinh tế học quan tâm và bàn luận

Có thể chia thành hai nhóm nghiên cứu về di chuyển lao động nội khối ASEAN: nhóm những nghiên cứu chung về di chuyển lao động giữa các nước thành viên và nhóm những nghiên cứu riêng về sự tham gia của một quốc gia ASEAN trong

di chuyển lao động nội khối Những nghiên cứu này đều mang tính thực tiễn cao nhưng lại ít đề cập đến các vấn đề lý luận

Về nhóm nghiên cứu di chuyển lao động nội khối ASEAN nói chung có thể kể

tới những tác phẩm: “Managing International Labor Migration in ASEAN” của Aniceto C Orbeta Jr (2011) [71], “Regional Conference on Services Trade Liberalization and Labor Migration Policies in ASEAN: Towards the ASEAN Economic Community” của ADB (2008) [68], “Nắm bắt lợi ích kinh tế và xã hội của dịch chuyển lao động: ASEAN 2015” của Martin, P.; Abella, M (2014) [36] Những

nghiên cứu này có một điểm chung là đều nghiên cứu khá đầy đủ về thực tiễn dòng di chuyển lao động giữa các nước thành viên ASEAN với số liệu phong phú, mô tả đầy

đủ quy mô, xu hướng, đặc điểm của di chuyển lao động nội khối ASEAN Bởi hầu hết những nghiên cứu này là các báo cáo định kỳ hoặc những nghiên cứu đầu vào cho việc xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN cũng như hình thành thị trường lao động chung Bên cạnh việc khắc họa thực trạng di chuyển lao động nội khối ở nhiều khía cạnh khác nhau, những tác phẩm này còn phân tích tác động của di chuyển lao động nội khối ASEAN tới sự phát triển kinh tế chung của khối mặc dù ở nhiều khía cạnh khác nhau

và đều quan tâm tới việc xây dựng và triển khai những chính sách chung trong việc thúc đẩy di chuyển lao động nội khối cũng như quản lý và bảo vệ lao động di chuyển tại các nước thành viên

Tương tự, “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng

chung và việc làm tốt hơn” của ADB, ILO cũng là một báo cáo khoa học nghiên cứu

những xu hướng việc làm và điều kiện xã hội của khu vực ASEAN từ đó xem xét những chính sách hành động của các chính phủ và rút ra bài học cho thời kỳ hậu khủng hoảng Tuy nhiên, tài liệu mới chỉ dừng lại ở báo cáo tổng thể về thị trường lao động ASEAN, chưa tập trung phân tích về các dòng di chuyển lao động nội khối Bởi

lẽ nghiên cứu được thực hiện với mục đích nhằm phát triển nguồn nhân lực của khu vực để khôi phục kinh tế sau khủng hoảng và những chính sách khuyến nghị cũng chỉ tập trung để phát triển nguồn nhân lực chứ không phải để quản lý nguồn nhân lực di

chuyển trong nội bộ các nước ASEAN.[2]

Trang 33

Piyasiri Wickramasekera đã xem xét các xu hướng và các vấn đề di cư lao động

châu Á và những thách thức phải đối mặt với các nước, phong trào công đoàn trong

việc bảo vệ người lao động di chuyển trong “Asian Labour Migration: Issues and Challenges in an Era of Globalization”- (INTERNATIONAL MIGRATION

PAPERS) Tác giả phân tích những xu hướng chính và các đặc điểm trong việc di chuyển lao động ở châu Á trong thời gian qua, và xác định các nhóm dễ bị tổn thương nhất của người lao động di chuyển, những người cần ưu tiên quan tâm Tác giả tập trung nghiên cứu về di chuyển lao động trong khu vực Châu Á với những đặc điểm riêng biệt so với các khu vực kinh tế khác trên thế giới Ông đã đưa ra lý thuyết giải thích về di chuyển lao động và những vấn đề về di chuyển lao động của khu vực Những đặc điểm và thực trạng này rất gần gũi với trường hợp Việt Nam nên có giá trị tham khảo tốt về mặt lý luận Tuy nhiên, tài liệu mới dừng lại ở những khuyến nghị chính sách điều chỉnh và vai trò của các tổ chức lao động quốc tế mà chưa đưa ra những giải pháp cụ thể cho các quốc gia tham gia vào di chuyển lao động quốc tế Tài liệu tập trung phân tích những khó khăn mà người lao động di chuyển phải chịu và đưa

ra những giải pháp mang tính bảo vệ người lao động [114]

Nhóm nghiên cứu về sự tham gia vào di chuyển lao động nội khối của các nước thành viên trong ASEAN cũng được các nhà kinh tế học ở các nước ASEAN quan tâm Những tác phẩm này không chỉ có giá trị thực tiễn rất lớn ở từng quốc gia trong việc cố gắng chủ động tham gia vào di chuyển lao động nội khối nhằm mang lại lợi ích cho nước mình mà còn thể hiện tính tích cực trong việc xây dựng thị trường lao động chung hướng tới hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN

Ismalina, P và đồng sự (2014) nghiên cứu riêng vấn đề tham gia di chuyển lao

động của Indonesia trong Cộng đồng ASEAN với tác phẩm “Nghiên cứu quốc gia về Indonesia” làm báo báo đầu vào cho Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn Ở đây, tác giả đưa ra những phân tích về thực

trạng các dòng di chuyển lao động từ Indonesia tới các nước thành viên khác trong ASEAN, những nhận định về thị trường lao động ASEAN dưới góc độ kinh tế của Indonesia Từ đó, tác giả có những khuyến nghị về chính sách để tăng cường di chuyển lao động nội khối của nước này, nhất là vấn đề bảo vệ người lao động.[27]

Tương tự, Trung tâm Phát triển và Nghiên cứu Marketing Myanmar (2014) đã

cung cấp nghiên cứu: “Cộng đồng ASEAN 2015: Tác động của hội nhập ASEAN đối với thị trường lao động của Myanmar: Đánh giá nhanh về các doanh nghiệp tại Yangon” cũng là một báo cáo đầu vào cho Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập

Trang 34

hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn Đây là báo cáo về riêng các dòng di

chuyển Myanmar trong nội bộ các nước ASEAN [38] Hay Báo cáo của Yap, J

năm (2014), “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn: Trường hợp của Philippinnes”, báo cáo đầu vào cho Cộng

đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn (Bangkok, ILO) là một báo cáo về quản lý di chuyển lao động quốc tế ở ASEAN, lấy bối cảnh nghiên cứu ở Philippines Báo cáo phân tích thực trạng di chuyển lao động ra nước ngoài của các nước trong khu vực ASEAN để đưa ra những khuyến nghị

về hệ thống quản lý người lao động ra nước ngoài để đảm bảo tăng cường số lượng người tham gia cũng như giải quyết các vấn đề nhằm bảo vệ người lao động [65]

Như vậy, những công trình trên đã tập trung nghiên cứu về di chuyển lao động của các nước thành viên tại khu vực ASEAN rất gần với đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu sinh Tuy nhiên, những nghiên cứu này tập trung vào một nước cụ thể và chỉ dừng lại ở việc phân tích thực tiễn mà chưa đưa ra những tiêu chí đánh giá thống nhất làm cơ sở nghiên cứu chung về sự tham gia vào di chuyển lao động nội khối Vì vậy, những kết quả, khuyến nghị đưa ra có thể không hoàn toàn áp dụng được trong trường hợp di chuyển lao động nội khối

Việt Nam là một trong những thành viên tích cực xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN và luôn có quan điểm tăng cường hợp tác khu vực vì sự phát triển chung của các quốc gia thành viên ASEAN cũng là nền tảng thúc đẩy sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây và sau này Chính vì vậy, với vai trò là một nước chủ yếu gửi lao động ra nước ngoài, Việt Nam luôn quan tâm tới thị trường lao động nội khối ASEAN với những điểm đến quan trọng như Thái Lan, Singapore, Malaysia Rất nhiều nghiên cứu về di chuyển lao động nội khối ASEAN cũng như thực tiễn tham gia của Việt Nam đã được các nhà kinh tế học đề cập tới

Cuốn “Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á – Kinh nghiệm và bài học” của Nguyễn Thị Hồng Bích (2007) đặt vấn đề nghiên cứu về xuất khẩu lao động

của các nước Đông Nam Á với mục đích rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng chính sách, tổ chức và quản lý xuất khẩu lao động cũng như trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình xuất khẩu lao động, nhằm phục vụ cho việc tham gia một cách có hiệu quả vào thị trường lao động quốc tế Cuốn sách đã mang tới những giá trị thực tiễn về tình hình xuất khẩu lao động ở một số nước Đông Nam Á và Việt Nam Đây là nguồn tài liệu có giá trị lớn để nghiên cứu sinh có thể tham khảo cho nghiên cứu của mình Tuy nhiên,

Trang 35

cuốn sách hướng tới việc phân tích hoạt động xuất khẩu lao động của các nước ASEAN và Việt Nam ra các nước khác trên thế giới mà chưa tập trung vào phân tích hoạt động xuất nhập khẩu lao động trong nội bộ các nước trong khu vực [8]

Cuốn “ASEAN: Từ Hiệp hội đến cộng đồng- những vấn đề nổi bật và tác động đến Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Duy Dũng (chủ biên) (2012) đặt ra vấn đề tiến

trình phát triển từ Hiệp hội tới Cộng đồng các nước Đông Nam Á Tại đây những vấn

đề nội khối được phân tích cùng với những cơ sở hình thành, xây dựng các thị trường nguồn lực chung Bên cạnh đó, tài liệu cũng chỉ ra những khó khăn thách thức, khả năng hiện thực hóa của cộng đồng tác động và sự tham gia của Việt Nam Tài liệu không chỉ đánh giá kết quả của các cam kết mà còn đưa ra các kịch bản và mô hình của cộng đồng ASEAN đồng nói chung, các cộng đồng kinh tế, chính trị an ninh, văn hóa xã hội nói riêng và là một tài liệu tham khảo có giá trị cao khi xem xét cơ sở thực tiễn tại ASEAN Tuy nhiên, tài liệu không tập trung nghiên cứu chỉ nguồn lực lao động nói riêng mà tiếp cận theo những vấn đề chung nhất.[13]

Đề tài “Cộng đồng ASEAN: Cơ sở hình thành, triển vọng và phản ứng chính sách của các nước trong khu vực” do Lê Bộ Lĩnh làm chủ nhiệm (2006-2008) chỉ rõ

sự cần thiết, tác động, kết quả hạn chế của việc mở rộng hợp tác của ASEAN với bên ngoài Nghiên cứu đã chỉ rõ quá trình hợp tác ASEAN+3, ASEAN+6 và các đối tác lớn như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU…đồng thời phân tích triển vọng của sự hợp tác này Điểm nổi bật là trong các nghiên cứu về ASEAN, Việt Nam luôn là đối tượng

mà các nhà khoa học của Viện hết sức quan tâm và nhờ đó đã chỉ rõ vị trí, vai trò của nước ta trong hội nhập nói chung, ASEAN nói riêng.[34]

Đề tài “Từ Hiệp hội đến cộng đồng: Những vấn đề đặt ra” do Nguyễn Sỹ Tuấn

là chủ nhiệm (2009-2010) chỉ rõ quá trình phát triển hợp tác nội khối trong các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị văn hóa xã hội và an ninh Điều quan trọng được rút ra là chính lợi ích của từng quốc gia và của cả khối ASEAN đã tạo nên động lực để hợp tác bên trong tiếp tục phát triển [56]

Đề tài “Những vấn đề cơ bản để hiện thực hóa cộng đồng ASEAN và tác động đến Việt Nam” do Nguyễn Sỹ Tuấn làm chủ nhiệm (2011-2012) tập trung phân tích sự

hình thành, những vấn đề đặt ra và hiện thực hóa cộng đồng ASEAN trong đó có sự hình thành và xây dựng thị trường lao động chung nội khối Đó là những đề tài cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á nghiên cứu vể ASEAN nói chung, hợp tác nội khối nói riêng trong những năm gần đây Tuy nhiên, phần nghiên cứu về hợp tác lao động

Trang 36

nói chung, sự tham gia của Việt Nam nói riêng trong lĩnh vực này vẫn chưa được nghiên cứu cụ thể và đây vẫn còn là mảng trống cấn tiếp tục phân tích và mổ xẻ.[57]

Bài nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Bình - “Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế: xu hướng và tác động” cũng đặt vấn đề về nghiên cứu di chuyển lao động

quốc tế nhưng mới chỉ ở lĩnh vực di chuyển lao động có chuyên môn cao và mới xem xét khía cạnh xu hướng và tác động Đây cũng chỉ là một tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sâu hơn về di chuyển lao động quốc tế [7]

Có thể thấy, những nghiên cứu của các tác giả Việt Nam về di chuyển lao động nội khối là không ít nhưng có thể chỉ với tư cách là một trong những vấn đề mà Cộng đồng kinh tế ASEAN quan tâm hoặc chỉ phản ánh phần nào về thực trạng di chuyển lao động nội khối trên những dữ liệu thực tiễn thu thập được mà không có một khung

lý luận làm căn cứ cơ sở Như vậy, chưa có một nghiên cứu riêng, đầy đủ về di chuyển lao động nội khối ASEAN được thực hiện

Còn về sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN,

Đặng Nguyên Anh, Lê Kim Sa, Nghiêm Thị Thủy, Phí Hải Nam đã đưa ra “Báo cáo

tổng quan về di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài” (Hà Nội, 2011) phân tích việc di cư dựa trên cơ sở sự chênh lệch về mức sống, cơ hội việc làm và thu nhập giữa các quốc gia Bảo cáo khẳng định quy luật cung-cầu về sức lao động, dịch vụ và chênh lệch về mức thu nhập giữa Việt Nam và các nước trong khu vực đã thúc đẩy các luồng

di cư Trong khuôn khổ nghiên cứu này, báo cáo tổng quan xem xét đánh giá bức tranh

di cư của công dân Việt Nam, đặt trong bối cảnh hội nhập và phát triển đất nước Tuy nhiên, tài liệu mới dừng lại ở bài báo cáo (không có giá trị về cơ sở lý thuyết) trong đó chủ yếu phân tích về thực trạng di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài Báo cáo không xem xét vấn đề nhập cảnh hay định cư của người nước ngoài ở Việt Nam mặc

dù đây cũng là một vấn đề nóng có nhiều bất cập trong công tác quản lý hiện nay [5]

Luận văn Tiến sĩ - 2010 của Lê Hồng Huyên đề cập tới vấn đề Quản lý Nhà

nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài Tác giả cho rằng: khi

là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), di chuyển quốc tế về lao động

có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Với định hướng sử dụng di chuyển lao động ra nước ngoài là công cụ để giải quyết các vấn đề kinh tế của đất nước, tác giả xây dựng hệ thống quản lý Nhà nước chặt chẽ để thúc đẩy hơn nữa di chuyển lao động ra nước ngoài và hạn chế những tiêu cực cũng như thách thức khi tham gia vào thị trường lao động quốc tế Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung vào vấn đề quản lý nhà nước đối với di chuyển lao động của Việt Nam ra nước ngoài nói chung

Trang 37

Những số liệu đưa ra bao gồm mọi hoạt động xuất khẩu của Việt Nam tới tất cả các nước trên thế giới chứ không tập trung vào một khu vực cụ thể [23]

“Báo cáo Phát triển Việt Nam 2014: Nâng cao kỹ năng Việt Nam: Chuẩn bị nguồn nhân lực cho nền kinh tế thị trường hiện đại” của World Bank (2014) cũng

phân tích về các dòng di chuyển lao động của Việt Nam tới các nước thành viên của ASEAN nhưng khá chung chung chứ không tập trung vào vai trò cũng như mức độ tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN của Việt Nam.[64]

Tác giả Lưu Văn Hưng là người đã trực tiếp nghiên cứu “Di chuyển lao động

nội khối ASEAN thời gian gần đây và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” năm 2008 Tuy

nhiên những nghiên cứu của tác giả đã khá xa thời điểm hiện tại nên chưa có sự cập nhật thông tin về sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN trong bối cảnh mới.[24]

Như vậy, vấn đề di chuyển lao động nội khối ASEAN và sự tham gia của Việt Nam cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra phân tích nhưng vẫn chưa có một nghiên cứu trực tiếp và đầy đủ về vấn đề này mà thường được lồng ghép trong các nghiên cứu hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước thành viên ASEAN

1.2 Nhận xét về tổng quan nghiên cứu

Di chuyển lao động quốc tế không phải là vấn đề quá mới mẻ trong kinh tế học Đặc biệt, hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự trao đổi nguồn lực diễn ra mạnh mẽ giữa các quốc gia thì càng nảy sinh nhiều vấn đề quan tâm Đây là một vấn đề rộng và phức tạp với tầm ảnh hưởng lớn, đòi hỏi phải kết hợp sử dụng nhiều cách tiếp cận Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu riêng về di chuyển lao động nội khối và sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động ASEAN thì số lượng những nghiên cứu trực tiếp còn khá hạn hẹp Phần lớn những tài liệu tìm thấy là các khía cạnh nghiên cứu, hay báo cáo lồng ghép trong các vấn đề nghiên cứu lớn hơn ở trong và ngoài nước Có thể nhận xét chung về tổng quan nghiên cứu như sau:

1.2.1 Những giá trị đạt được

Các nghiên cứu trên đây là nguồn tham khảo quý giá cho nghiên cứu sinh thực hiện luận án của mình Chúng giúp nghiên cứu sinh hiểu rõ hơn về các vấn đề nghiên cứu của mình, gợi ý hướng nghiên cứu và xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết toàn vẹn Các giá trị mà chúng mang lại sau khi nghiên cứu sinh tổng hợp được thể hiện như sau:

Trang 38

1.2.1.1 Các giá trị về lý luận

Thứ nhất, các tài liệu nghiên cứu đã giúp nghiên cứu sinh xác định được hệ

thống một số vấn đề lý luận cơ bản về di chuyển lao động nội khối bắt đầu từ liên kết kinh tế quốc tế, sự hình thành các khối kinh tế khu vực và di chuyển lao động quốc tế

Thứ hai, các nhà kinh tế học đã chỉ rõ lao động là một nguồn lực quan trọng

trong nền sản xuất của thế giới nói chung và của các quốc gia nói riêng Việc cân đối lại thị trường lao động là vấn đề cấp thiết của các nước nhằm tối ưu hóa nguồn lực và mang lại hiệu quả cao nhất cho sản xuất Di chuyển lao động chính là một trong những biện pháp hữu hiệu để giải quyết các vấn đề của thị trường lao động

Thứ ba, các tài liệu nghiên cứu đã đưa ra những giải thích rất rõ ràng về nguyên

nhân di chuyển lao động quốc tế trong những điều kiện khác nhau của nền kinh tế Bên cạnh đó, các lý thuyết cũng đưa ra kết luận về sự ảnh hưởng và xu hướng vận động của

di chuyển lao động quốc tế tới nền kinh tế các quốc gia tham gia

Thứ tư, các tài liệu công bố đã chỉ rõ quan điểm: các quốc gia khi tham gia vào di

chuyển lao động quốc tế và lao động nội khối đều luôn phải đối mặt với cơ hội và thách thức Vì thế các chính sách quản lý di chuyển lao động luôn là chìa khóa để giải quyết các vấn đề Tuy nhiên, những chính sách này không phải chỉ một quốc gia có thể xây dựng và thực hiện mà phải có sự đồng thuận với các quốc gia khác trong một mối quan

hệ hợp tác Di chuyển lao động nội khối là cách thức để phát huy tốt nhất những điều

đó Bởi các quốc gia thành viên trong một khối kinh tế luôn có những cam kết hướng tới hiệu quả kinh tế cho toàn khối

1.2.1.2 Các giá trị về thực tiễn

Những nghiên cứu đã có cung cấp cho nghiên cứu sinh bức tranh toàn cảnh về

di chuyển lao động quốc tế, đặc biệt là di chuyển lao động nội khối ASEAN trong thời gian qua Với mục tiêu xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN và tự do hóa di chuyển hàng hóa, nguồn lực giữa các nước thành viên để tăng trưởng kinh tế, các nước thành viên ASEAN đã nỗ lực không ngừng trong việc xây dựng các thị trường chung, quản

lý các hoạt động kinh tế hợp tác nội khối trong đó có di chuyển lao động Các nghiên cứu được công bố đã mang lại giá trị thực tiễn cho luận án như sau:

Thứ nhất, khắc họa rất đầy đủ về thực trạng các dòng di chuyển lao động giữa

các nước thành viên ASEAN về nhiều khía cạnh như quy mô, cơ cấu lao động, các hình thức di chuyển lao động, chính sách và quản lý di chuyển lao động giữa các nước trong ASEAN

Trang 39

Thứ hai, bên cạnh các chính sách, những cam kết hợp tác chung về quản lý di

chuyển lao động của Hiệp hội các nước Đông Nam Á, mỗi quốc gia trong ASEAN đều phải xây dựng những chính sách riêng để kiểm soát và bảo vệ lao động di chuyển của mình ở nước ngoài

Thứ ba, các nghiên cứu đã đưa ra nhiều khuyến nghị khả thi để thúc đẩy di chuyển

lao động nội khối ASEAN nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ kinh tế giữa các nước thành viên, đồng thời hướng tới mục tiêu chung của toàn khối

1.2.2 Những hạn chế còn tồn tại

Tuy nhiên những nghiên cứu trước đây vẫn còn rất nhiều hạn chế Cụ thể như sau:

1.3.2.1 Về cơ sở lý luận

Thứ nhất, mặc dù các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước đã hình thành

khung lý thuyết về di chuyển lao động quốc tế nhưng lại chưa có lý luận đầy đủ về di chuyển lao động nội khối Các nghiên cứu về di chuyển lao động nội khối chủ yếu là các báo cáo hoặc thực trạng các dòng di chuyển lao động giữa các nước trong một khối kinh tế như EU hay ASEAN

Thứ hai, chỉ tồn tại khái niệm về di chuyển lao động quốc tế mà chưa có khái

niệm về di chuyển lao động nội khối Bên cạnh đó, những lý thuyết về di chuyển lao động quốc tế nói chung không nêu bật được rõ ràng những đặc trưng riêng của di chuyển lao động nội khối như nguyên nhân và nguồn gốc của di chuyển lao động nội khối, các nhân tố ảnh hưởng tới di chuyển lao động nội khối và xu hướng tham gia vào

di chuyển lao động nội khối trong bối cảnh hiện nay

Thứ ba, chưa có khung lý thuyết đánh giá về mức độ tham gia của một nước

thành viên vào di chuyển lao động nội khối với các tiêu chí rõ ràng làm nền tảng nghiên cứu về thực tiễn các hoạt động di chuyển lao động nội khối ở các khu vực kinh

tế khác nhau trên thế giới

Thứ tư, chưa có lý thuyết về đánh giá tác động của di chuyển lao động nội khối

ảnh hưởng tới nền kinh tế của các nước tham gia để từ đó, các nghiên cứu thực tiễn có thể đưa ra các giải pháp phù hợp và hữu hiệu

1.2.2.2 Về cơ sở thực tiễn

Thứ nhất, các nghiên cứu đã công bố chưa có những nghiên cứu mà đối tượng

chỉ tập trung vào di chuyển lao động nội khối ASEAN với đầy đủ các đánh giá về mức

độ tham gia của các nước thành viên, tác động của nó tới nền kinh tế các nước

Thứ hai, chưa có nghiên cứu về mức độ tham gia của Việt Nam vào di chuyển

lao động nội khối ASEAN mà vấn đề này thường được nghiên cứu và lồng ghép trong

Trang 40

những nghiên cứu về các hoạt động hợp tác kinh tế của Việt Nam với tư cách là một thành viên của ASEAN

Thứ ba, chưa có những nghiên cứu đầy đủ về các giải pháp thúc đẩy Việt Nam

tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN trong đó có các chính sách tăng cường hợp tác lao động, giảm thiểu lao động di chuyển bất hợp pháp, quản lý và bảo

vệ lao động di chuyển của Việt Nam ở nước ngoài

Tóm lại, sau khi tổng hợp những nghiên cứu có liên quan được thực hiện trong thời gian qua mà NCS được tiếp cận, tác giả nhận thấy vẫn còn khía cạnh chưa được khai thác và đã lựa chọn đề tài “Sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN” để có được sự nghiên cứu một cách sâu rộng vấn đề di chuyển lao động trong phạm vi nội bộ các nước Đông Nam Á với mục đích có thể ứng dụng nghiên cứu trong quản lý và thúc đẩy hoạt động này ở Việt Nam một cách phù hợp và hiệu quả nhất Đề tài cũng không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu nào đã có Trong đề tài, tác giả sẽ kế thừa những giá trị nghiên cứu như những khảo sát, số liệu hay hệ thống cơ sở

lý luận trong phạm vi nghiên cứu của mình, đồng thời những hạn chế mà các đề tài đã công bố chưa giải quyết được chính là những gợi mở cho nghiên cứu của luận án

Kết luận chương 1

Chương 1 đã phân tích và tổng kết những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án Có thể kết luận về những vấn đề đã được nghiên cứu và thống nhất như sau:

Thứ nhất, các vấn đề về di chuyển lao động quốc tế được quan tâm rất nhiều nhưng các nhà kinh tế học chưa thật sự đặt vấn đề nghiên cứu về di chuyển lao động nội khối thành đối tượng nghiên cứu chính Đây là cơ sở quan trọng để luận án tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn

Thứ hai, mặc dù cơ sở thực tiễn về sự di chuyển lao động trong các nước ASEAN đã được đề cập tới nhưng sự tham gia của Việt Nam vào hoạt động di chuyển lao động nội bộ khối này với tư cách là thành viên tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN và thị trường lao động chung ASEAN thì còn bỏ ngỏ

Như vậy, từ các “khoảng trống” nghiên cứu, tác giả có thể xác định được hướng nghiên cứu để bổ sung những thiếu sót vẫn còn tồn tại hiện nay Cụ thể tìm hiểu sâu về

di chuyển lao động nội khối và sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN nhằm góp phần xây dựng các luận cứ lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải pháp giải quyết các vấn đề khi Việt Nam tham gia vào di chuyển lao động nội khối ASEAN

Ngày đăng: 28/04/2021, 00:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ADB (2013), “Triển vọng phát triển châu Á năm 2012: Đối diện với gia tăng bất bình đẳng trong khu vực Châu Á”, Báo cáo, Manila Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng phát triển châu Á năm 2012: Đối diện với gia tăng bất bình đẳng trong khu vực Châu Á”
Tác giả: ADB
Năm: 2013
2. ADB, ILO (2014), Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn, Báo cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn
Tác giả: ADB, ILO
Năm: 2014
3. Alcestis Abrera Mangahas (2010),“Tăng cường di cư hợp pháp và an toàn cho việc làm bền vững: Dịch vụ thông tin chất lượng tại nước phái cử, nước trung chuyển và nước đến”, Bài trình bày tại Diễn đàn lao động di chuyển ASEAN lần thứ 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường di cư hợp pháp và an toàn cho việc làm bền vững: Dịch vụ thông tin chất lượng tại nước phái cử, nước trung chuyển và nước đến
Tác giả: Alcestis Abrera Mangahas
Năm: 2010
4. PGS.TS Đặng Nguyên Anh (2006), “Di dân và mối liên hệ với các sự kiện của cuộc sống”, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di dân và mối liên hệ với các sự kiện của cuộc sống”
Tác giả: PGS.TS Đặng Nguyên Anh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
5. Đặng Nguyên Anh, Lê Kim Sa, Nghiêm Thị Thủy, Phí Hải Nam (2011), “Báo cáo tổng quan về di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng quan về di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài”
Tác giả: Đặng Nguyên Anh, Lê Kim Sa, Nghiêm Thị Thủy, Phí Hải Nam
Năm: 2011
6. TS Đỗ Đức Bình, TS Nguyễn Thường Lạng, “Giáo trình kinh tế quốc tế”, NXB Lao động xã hội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế quốc tế
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
7. TS. Phạm Thị Thanh Bình (2010), “Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế: xu hướng và tác động” ,Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới - số 6 (170) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế: xu hướng và tác động”
Tác giả: TS. Phạm Thị Thanh Bình
Năm: 2010
8. Nguyễn Thị Hồng Bích (chủ biên) (2007), “Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á: Kinh nghiệm và bài học”, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á: Kinh nghiệm và bài học”
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Bích (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2007
9. Bộ Lao động, Thương binh, Xã hội (2015), Cơ sở dữ liệu kinh tế - xã hội, http://kinhtexahoitonghop.molisa.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở dữ liệu kinh tế - xã hội
Tác giả: Bộ Lao động, Thương binh, Xã hội
Năm: 2015
10. Cộng đồng kinh tế ASEAN: Thêm cơ hội phát triển cho Viet Nam. Truy cập tại:http://www.vietnamplus.vn/cong-dong-kinh-te-asean-them-co-hoi-phattrien-cho-viet-nam/279930.vnp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thêm cơ hội phát triển cho Viet Nam
11. Diễn đàn kinh tế thế giới (2013), Khảo sát ý kiến người quản lý năm 2013 - 2014, Báo cáo nguồn nhân lực, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát ý kiến người quản lý năm 2013 -2014
Tác giả: Diễn đàn kinh tế thế giới
Năm: 2013
12. Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng (2008), “Di dân và bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường”,NXB Thế giới – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di dân và bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường”
Tác giả: Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng
Nhà XB: NXB Thế giới – Hà Nội
Năm: 2008
13. PGS.TS Nguyễn Duy Dũng (chủ biên) (2012), “ASEAN: Từ Hiệp hội đến cộng đồng- những vấn đề nổi bật và tác động đến Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ASEAN: Từ Hiệp hội đến cộng đồng- những vấn đề nổi bật và tác động đến Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Duy Dũng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2012
14. Nguyễn Tiến Dũng (2010), Phát triển xuất khẩu lao động Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Kinh tế học, Trường Đại học Quốc gia TPHCM, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển xuất khẩu lao động Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2010
15. TS Phạm Thị Hồng Điệp (2010), “Quản lý nhà nước đối với lao động di chuyển trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thủ đô Hà Nội” Tham luận trong hội thảo quốc tế: “Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với lao động di chuyển trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thủ đô Hà Nội”" Tham luận trong hội thảo quốc tế: “Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình
Tác giả: TS Phạm Thị Hồng Điệp
Năm: 2010
16. PGS.TS Phan Huy Đường (CB) (2012), Quản lý Nhà nước về lao động nước ngoài chất lượng cao ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về lao động nước ngoài chất lượng cao ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Phan Huy Đường (CB)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
18. TS Nguyễn Bình Giang, (2010), “Di chuyển lao động quốc tế: Những vấn đề nổi bật xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu”, Đề tài NCKH cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di chuyển lao động quốc tế: Những vấn đề nổi bật xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu
Tác giả: TS Nguyễn Bình Giang
Năm: 2010
19. Nguyễn Bình Giang (2011), “Di chuyển lao động quốc tế”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di chuyển lao động quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bình Giang
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2011
20. Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2011), Bảo vệ người lao động di trú ở khu vực Đông Nam Á, chuyên đề thuộc “Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và VIệt Nam”, NXB Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người lao động di trú ở khu vực Đông Nam Á", chuyên đề thuộc “Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và VIệt Nam
Tác giả: Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2011
21. Gu, K.; Zhang, Q. (2014), Triển vọng cho một Trung Quốc sẵn sàng cho CAFTA: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn, báo cáo đầu vào cho Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn (Bangkok, ILO) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng cho một Trung Quốc sẵn sàng cho CAFTA: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn", báo cáo đầu vào cho "Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn
Tác giả: Gu, K.; Zhang, Q
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w