Những yếu tố tác động tới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong phát triển kinh tế nông nghiệp 28 2.2.. Hiện nay, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông t
Trang 1HÀ NỘI - 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Nguyệt Ánh
Trang 4các công trình khoa học đã được công bố và những vấn đề đặt ra
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
2.1 Những yếu tố tác động tới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
trong phát triển kinh tế nông nghiệp 28 2.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên 42 2.3 Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp 49
Chương 3: ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
3.1 Chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp của
3.2 Chỉ đạo thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp 92
Chương 4: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 113
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
Trang 5CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa HĐND : Hội đồng nhân dân
KHKT : Khoa học kỹ thuật
KTNN : Kinh tế nông nghiệp
KT-XH : Kinh tế - xã hội
NTM : Nông thôn mới
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 6Bảng 2.3: Sản lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm 71
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ Đại hội V của Đảng (1982), nông nghiệp được xác định là mặt trận kinh tế hàng đầu, một lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đất nước Cùng với quan điểm đổi mới mạnh mẽ nền kinh tế, Đảng đã có những chính sách phát triển đúng đắn, phù hợp, tạo đà thúc đẩy kinh tế nông nghiệp (KTNN) Việt Nam phát triển với những bước tiến mạnh mẽ, điển hình là Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5-4-1988 của Bộ Chính trị (khóa VI)
về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
5-8-2008 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XII của Đảng khẳng định phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn phải gắn với xây dựng nông thôn mới, trong đó nhấn mạnh “đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, hàng hóa lớn, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm phát triển bền vững…” [57, tr.67] Từ những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ phát triển KTNN, khơi dậy những tiềm năng to lớn và đạt được những thành tựu rất quan trọng Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trong cuối những năm thập niên 70-80 (thế kỷ XX) đã đảm bảo lương thực cho quốc gia, vươn lên trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu trên thế giới
Vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã chỉ đạo tích cực, triển khai cụ thể hoá thành những chương trình, mục tiêu phù hợp với thực tế địa phương, từng bước tháo gỡ những khó khăn trong KTNN và bước đầu đạt được kết quả rõ rệt: Sản xuất nông
Trang 8nghiệp tăng trưởng với nhịp độ khá và ổn định qua nhiều năm; cơ cấu KTNN có sự chuyển dịch tích cực, phát huy lợi thế của các vùng sản xuất, các huyện trong tỉnh, bước đầu hình thành những vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung, vùng chuyên canh nông nghiệp; dịch vụ nông nghiệp ngày càng đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất, góp phần tăng năng suất, thu nhập, cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống nông dân
Mặc dù đạt được kết quả quan trọng, song KTNN của Hưng Yên còn bộc lộ nhiều hạn chế: Cơ cấu KTNN chuyển dịch chậm; quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên; nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch chưa phát triển mạnh; sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chiếm tỷ lệ chưa cao, chưa xây dựng được nhiều thương hiệu nông sản mạnh Do vậy, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa ở Hưng Yên còn thấp, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp không cao, không làm chủ được thị trường tiêu thụ hàng hoá
Hiện nay, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đang đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Hưng Yên những nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo kinh tế nông nghiệp phát triển bảo đảm nhanh và bền vững Vì vậy nghiên cứu, đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về phát triển KTNN giai đoạn 1997-2010 càng có ý nghĩa sâu sắc, góp phần dựng lại bức tranh toàn cảnh KTNN của tỉnh Hưng Yên từ khi tái lập tỉnh đến năm
2010 Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu sẽ tổng kết, đánh giá một cách đầy đủ nhất, toàn diện nhất, rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong quá trình vận dụng, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển KTNN Đồng thời, cung cấp thêm những luận cứ khoa học
để Đảng bộ tỉnh xây dựng một số giải pháp mang tính đột phá, đưa KTNN Hưng Yên phát triển một cách toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững
Với lý do đó, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010”
Trang 9làm nội dung nghiên cứu luận án tiến sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Cung cấp thêm luận cứ khoa học để Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đưa ra những đánh giá toàn diện, khách quan về KTNN và bước đầu rút ra một số kinh nghiệm có giá trị thực tiễn, có thể áp dụng trong thời gian tiếp theo
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:
Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong phát triển KTNN từ năm 1997 đến năm 2010
Phân tích một cách có hệ thống những chủ trương và các biện pháp chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về phát triển KTNN từ năm
1997 đến năm 2010, qua hai giai đoạn 1997-2005 và 2006-2010
Đánh giá ưu, khuyết điểm, làm rõ nguyên nhân và đúc rút những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển KTNN những năm 1997-2010
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong quá trình đề ra chủ trương và tổ chức, chỉ đạo thực hiện phát triển KTNN từ năm 1997 đến năm 2010
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế quốc
dân, một trong những bộ phận sản xuất chủ yếu của sản xuất vật chất, sản xuất thực phẩm cho người dân và nguyên liệu cho công nghiệp Trong nông nghiệp, việc sản xuất sản phẩm không những gắn liền với quá trình kinh tế
mà còn gắn liền với quá trình tự nhiên của tái sản xuất Do nội hàm của KTNN khá rộng, luận án tập trung làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển KTNN từ năm 1997-2010, trong đó tập trung những vấn
đề KTNN theo nghĩa hẹp, bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp Đồng thời luận án đi sâu phân tích tính hiệu quả trong quá trình phát triển nông nghiệp
Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu về sự lãnh đạo phát triển
KTNN của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trên phạm vi 9 huyện, 1 thành phố
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận án lấy mốc thời gian từ năm
1997 - năm tái lập tỉnh Hưng Yên đến năm 2010, năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội khóa XVI (2005-2010) của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Dựa vào cơ sở lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế và phát triển KTNN trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, kết hợp với một số phương pháp khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu Ngoài ra tác giả luận
án sử dụng phương pháp điền dã, thâm nhập thực tế ở một số huyện điển hình trên địa bàn tỉnh Hưng Yên để khảo sát và đưa ra những phân tích, đánh giá được khách quan, chân thực
Trang 115 Nguồn tư liệu
Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả sử dụng nguồn tư liệu sau: Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, thông tư… của Đảng, Chính phủ, của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các sở, ban, ngành có liên quan, báo cáo kết quả phát triển KTNN của các huyện trên địa bàn tỉnh Hưng Yên từ 1997 đến 2010
Một số luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của tập thể, cá nhân các nhà khoa học
Nguồn tài liệu khảo sát thực tế ở địa phương, quan sát thực địa
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng
và làm rõ quá trình quán triệt cụ thể hóa trên một địa bàn cấp tỉnh ở đây là Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về phát triển KTNN từ năm 1997 đến năm 2010
Làm rõ sự sinh động, sáng tạo của một Đảng bộ cấp tỉnh (tỉnh Hưng Yên) trong quá trình chỉ đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển KTNN
Bước đầu nêu một số nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KTNN từ năm 1997 đến năm 2010 trên địa bàn tỉnh
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Nông nghiệp là ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nhất là
ở một đất nước giàu truyền thống sản xuất nông nghiệp như ở Việt Nam Phát triển KTNN luôn được Đảng xác định là một ngành quan trọng của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước Do vậy, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng nói chung, của các đảng bộ địa phương nói riêng trong phát triển KTNN là một trong những vấn đề được nhiều nhà khoa học, các cơ quan quan tâm nghiên cứu Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này đã được công bố trên các góc độ lịch sử, lịch sử Đảng, kinh tế học, lãnh đạo học, xã hội học , có thể khái quát và phân thành các nhóm công trình khoa học sau:
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu chung về nông nghiệp và kinh
Ban Biên tập Lịch sử nông nghiệp Việt Nam với cuốn Lịch sử nông nghiệp Việt Nam [4] Tác giả tập trung vào những vấn đề: Những chặng
đường phát triển lịch sử nông nghiệp của Việt Nam đã đi qua kể từ thời
Trang 13tiền sử cho đến ngày nay; lịch sử phát triển các loại tài nguyên nông nghiệp; lịch sử các bộ phận hợp thành nền nông nghiệp Việt Nam; lịch sử phát triển các biện pháp kỹ thuật, phương thức canh tác trong nông nghiệp; lịch sử tổ chức, quản lý nông nghiệp qua các thời kỳ; những bài học rút ra được từ lịch sử phát triển KTNN Việt Nam và có những dự báo cho nông nghiệp Việt Nam trong thời gian tới
Nguyễn Văn Bích với cuốn Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại [12] Tác giả đã tổng kết toàn
diện sự phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trong thế kỷ XX, nhất là trong 20 năm đổi mới Đồng thời, làm sáng tỏ nhiều vấn
đề về lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý trong quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNN hướng tới sản xuất hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường định hướng XHCN
Lê Nghiêm, Nguyễn Đình Nam với cuốn Kinh tế nông thôn [87] Với
9 chương (tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội (KT-XH) nông thôn; KTNN; xây dựng công nghiệp nông thôn; kinh tế dịch vụ nông thôn; phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; chính sách kinh tế - xã hội ở nông thôn; đời sống của cư dân nông nghiệp; môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế nông thôn; hệ thống tổ chức quản lý cơ sở ở nông thôn) đã cung cấp những kiến thức cơ bản, có hệ thống về kinh tế nông thôn và gợi mở những vấn đề thực tiễn mà nông thôn Việt Nam đang đặt ra
Nguyễn Đình Hợi với cuốn Kinh tế nông nghiệp [61] Nội dung
chính của cuốn sách tập trung vào tìm hiểu những vấn đề: Nông nghiệp nông thôn trong hệ thống kinh tế quốc dân; các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp; quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển KTNN nông thôn; cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn; vai trò của nhà nước với sự phát triển KTNN - nông thôn
Trang 14Bên cạnh những công trình nói trên, tác giả cũng đã cố gắng khảo cứu công trình của các tác giả nước ngoài viết về nông nghiệp Việt Nam,
trong đó có cuốn sách “Economic refrom in Vietnam” (Cải cách kinh tế ở
Việt Nam) của tác giả Keith Griffin Nội dung của cuốn sách bao gồm 7 chương được viết bởi các tác giả và được lựa chọn từ các nhà nghiên cứu
khác Trong 5 chương:“Vietnam’s Rural Economy: Performance and Prospects” (KTNN Việt Nam: thực trạng và triển vọng), tác giả Azizur
RalmngalKhan đã cung cấp những kiến thức cơ bản và những số liệu cụ thể của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam trong những năm 1990, bao gồm:
Sự đóng góp của KTNN vào GDP; vai trò trung tâm của kinh tế nông thôn trong qua trình phát triển của Việt Nam; thực trạng nền KTNN Việt Nam thời kỳ đổi mới; tình trạng nghèo đói ở nông thôn; chính sách phát triển
xóa đói giảm nghèo ở nông thôn
Viện Thông tin khoa học Xã hội, Nông thôn trong bước quá độ sang kinh tế thị trường (tập 1) [167] Công trình tập trung nghiên cứu về đặc
điểm biến đổi của xã hội nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nêu lên những đánh giá về thành tựu của công cuộc đổi mới, thực chất các vấn
đề mới nảy sinh và chiến lược phát triển nông thôn Việt Nam Bên cạnh đó, công trình còn đề cập kinh nghiệm cải cách nông nghiệp, nông thôn ở một
số nước: Trung Quốc, Cu Ba… Đây là công trình có giá trị để các nhà nghiên cứu có những đối sánh về chính sách phát triển KTNN giữa các nước xã hội chủ nghĩa, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý cho Việt Nam
Lê Quốc Sử, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xu hướng phát triển kinh
tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ thế kỷ
XX đến thế kỷ XXI của thời đại kinh tế tri thức [133] Cuốn sách đã nêu ra
những lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
Trang 15CNH, HĐH trong thời đại kinh tế tri thức; những mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp xưa và nay trên thế giới, đặc biệt là chủ trương của Đảng đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1975 đến năm 2001 Đây là cơ sở quan trọng
để tác giả phân tích, đánh giá chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên và những kết quả đạt được trên địa bàn tỉnh
Về vai trò của kinh tế trang trại trong nông nghiệp, nông thôn có công
trình của Nguyễn Đình Hương: Thực trạng, giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa [70]
Công trình đã nêu lên những khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế trang trại như: vấn đề tích tụ ruộng đất, đầu ra của nông sản Do đó, để phát triển nền nông nghiệp bền vững, các tác giả nêu ra các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam [15] Cuốn sách đã
phân tích sâu sắc, cụ thể con đường Việt Nam sẽ đi trong quá trình thực hiện mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đi theo con đường đó, Việt Nam sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn và thử thách nhưng với quyết tâm của toàn dân tộc, Việt Nam nhất định sẽ hoàn thành những mục tiêu đã đề
ra Đồng thời, tác giả cũng giải thích một cách thuyết phục lý do Việt Nam phải đi theo con đường đó mà không đi theo con đường mà các nước tư bản
Trang 16đó, tác giả luận án thấy rõ hơn quá trình hình thành, phát triển chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp
Nguyễn Xuân Thảo, Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam [136] Cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản, bức xúc của nông
nghiệp, nông thôn như vấn đề sử dụng đất đai, an ninh lương thực, quy hoạch các vùng kinh tế, vấn đề việc làm ở nông thôn, lợi ích cho người lao động Tác giả đi sâu phân tích và đóng góp ý kiến cho phương hướng phát triển của những lĩnh vực, chuyên ngành lớn của nông nghiệp như vấn đề phát triển cây công nghiệp, vùng nguyên liệu, nuôi trồng thủy sản
Nguyễn Kế Tuấn, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam con đường và bước đi [162] Tác giả đã đưa ra những giải
pháp tiếp tục quá trình đổi mới, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, trong đó cần tập trung vào khâu như: Nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, năng lực cạnh tranh của hàng hóa nông sản
Nguyễn Văn Bích, Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới quá khứ và hiện tại [13] Cuốn sách đã trình bày hệ thống, khoa học
những chuyển biến của KTNN nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới Bằng những số liệu cụ thể, tác giả đã đưa ra sự so sánh và đánh giá khách quan về kinh tế nông nghiệp Việt Nam trước và sau khi đổi mới, qua đó thấy được chủ trương đổi mới của Đảng trong lĩnh vực nông nghiệp là hoàn toàn đúng đắn KTNN chuyển biến tích cực đã làm cho bộ mặt nông thôn Việt Nam có những thay đổi căn bản, đời sống của nông dân được cải thiện đáng kể
Nguyễn Hữu Khải, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam và chương trình đẩy mạnh xuất khẩu nông sản [75] Cuốn
sách đã hệ thống hóa các lý luận cơ bản về nông nghiệp, nông thôn và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về CNH, HĐH và đẩy mạnh xuất khẩu;
Trang 17tìm hiểu mô hình CNH, HĐH đặc biệt là công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn của một số nước Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn của Việt Nam; làm rõ mối quan hệ giữa CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn với xuất khẩu nông sản; phân tích và đánh giá về thực trạng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam và thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng nông sản Từ
đó chỉ ra những thuận lợi và khó khăn đối với Việt Nam những năm tới nhằm đưa ra những quan điểm định hướng và mục tiêu thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, cùng với những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XXI
Nghiên cứu về hội nhập kinh tế và kinh nghiệm quốc tế trong quá
trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, tiêu biểu như cuốn: Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn - Kinh nghiệm Việt Nam và Trung Quốc do Hội đồng Lý luận Trung ương [62]; Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp
và nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đặng Kim
Sơn [132] Các công trình trên đều đề cập đến tầm quan trọng, vai trò của KTNN và phân tích quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn ở một số nước trên thế giới và có liên hệ với thực tiễn Việt Nam, trong đó có những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc như: Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, vấn đề đất đai, thị trường nông sản, thu nhập của nông dân Đây là những vấn đề nông nghiệp Việt Nam đang trải qua và cần học tập kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước trong quá trình hội nhập quốc tế
Nguyễn Thị Tố Quyên đã viết cuốn Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020 [104]
Cuốn sách này đã chỉ ra những vấn đề tồn tại cũng như xu hướng phát triển
Trang 18của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020, đồng thời đề xuất một số chính sách nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại đang đặt ra trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Đường Hồng Dật với cuốn sách Phát triển nông nghiệp bền vững
[34] Tác giả đã khẳng định: Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nước ta, xây dựng nền nông nghiệp bền vững là bước phát triển mới của sản xuất nông nghiệp hiện đại, có nhiều ý nghĩa và thực sự cần thiết Theo tác giả, một nền nông nghiệp bền vững phải hướng tới đảm bảo
5 mục tiêu cơ bản: Năng suất cao, chất lượng tốt, sản lượng nhiều; sản phẩm nông nghiệp ngon, lành, sạch; tài nguyên thiên nhiên,tài nguyên nông nghiệp không ngừng phát triển; môi trường trong lành, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường; thu nhập và đời sống của nông dân tăng lên Tác giả đã đưa ra những biện pháp để xây dựng nền nông nghiệp bền vững ở Việt Nam Với cách hiểu mới mẻ, đây là những tổng kết đầy sáng tạo của tác giả liên quan đến sinh học, sinh thái học, nhằm đưa nông nghiệp bước vào nền kinh tế tri thức, đảm bảo cho con người phát triển ổn định, bền vững, sống hòa hợp và hài hòa với tự nhiên
Trương Thị Tiến với cuốn sách Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam [145] Tác giả đã tái hiện những bước thăng trầm của
nền nông nghiệp Việt Nam qua các giai đoạn, đặc biệt là quá trình đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong 10 năm đầu thực hiện đường lối đổi của Đảng (1986-1997) Cuốn sách giúp cho tác giả luận án những kiến thức về chủ chương phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH được thể hiện rõ từ Hội nghị Trung ương 5 khóa VII (1993), đồng thời giúp cho tác giả luận án có thêm cơ sở để phân tích sự
Trang 19vận dụng sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về phát triển kinh tế nông nghiệp vào địa phương
Những công trình trên đã cung cấp cho tác giả một bức tranh khái quát về KTNN, những mô hình, xu hướng, những vấn đề đặt ra đối với
nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, sự lãnh đạo của Đảng với kinh tế nông nghiệp ở một số tỉnh, thành phố
Phạm Thị Khanh với bài Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải pháp cơ bản phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [76] Đã bàn về thực trạng nông
nghiệp Việt Nam là sản xuất hàng hóa chưa phát triển, lạc hậu năng suất thấp thực trạng này quy định sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, coi đó là giải pháp cơ bản phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam theo hướng CNH, HĐH
Lâm Quang Huyên, Nông nghiệp, nông thôn Nam Bộ hướng tới thế
kỷ XXI [73] Trong công trình này, tác giả giới thiệu về những thành tựu
trong sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, quan hệ sản xuất mới, nông thôn mới ở Nam Bộ Ngoài ra, tác giả còn phân tích những thuận lợi, khó khăn và những xu hướng chung và riêng trong nông nghiệp khi bước vào thế kỷ XXI, đồng thời làm rõ vai trò và nhiệm vụ của nông nghiệp, nông thôn Nam Bộ trong quá trình CNH, HĐH đất nước
Phạm Hùng, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở miền Đông Nam Bộ hiện nay [69] Công
trình đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông thôn theo hướng CNH, HĐH; khái quát thực trạng phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam, nông thôn miền Đông Nam Bộ Đồng thời, tác giả trình bày những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội có ảnh hưởng đến phát triển kinh
Trang 20tế nông thôn miền Đông Nam Bộ từ sau đổi mới; những khó khăn trở ngại
có ảnh hưởng đến kinh tế nông thôn miền Đông Nam Bộ cần nghiên cứu, giải quyết như thị trường cho nông sản, giá cả vật tư, nông sản, vốn để đầu
tư sản xuất kinh doanh Từ thực trạng trên, tác giả đưa ra phương hướng và những giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế nông thôn miền Đông Nam Bộ theo hướng CNH, HĐH
Đặng Văn Thắng, Phạm Ngọc Dũng, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng - thực trạng và triển vọng [138] Công trình nghiên cứu những mặt cụ thể trong quá trình CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn ở vùng đồng bằng sông Hồng và phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn cũng như những thành tựu, hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu lao động, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng
Mai Thị Thanh Xuân, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Trung Bộ (qua khảo sát các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh)
[175] Công trình đã nêu lên những thuận lợi và khó khăn, những thành tựu
và hạn chế trong quá trình tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Qua đó, tác giả đúc rút những kinh nghiệm và đưa ra những gợi mở về các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp ở vùng Bắc Trung
Bộ trong thời kỳ CNH, HĐH
Luận án tiến sĩ lịch sử của Lê Quang Phi, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
từ 1991 đến 2000 [91] Luận án đã nghiên cứu thực trạng nông nghiệp
Việt Nam trước năm 1991, phân tích đường lối CNH, HĐH của Đảng cũng như quá trình tổ chức, chỉ đạo thực hiện và thành tựu đạt được của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong những năm 1991-2000 Qua đó, tác giả đánh giá những thành công và hạn chế về sự lãnh đạo của Đảng,
Trang 21rút ra những bài học kinh nghiệm, tạo cơ sở khoa học để Đảng, Nhà nước hoạch định các chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nông thôn trong những giai đoạn sau
Cũng về KTNN, nhưng đi sâu về quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu ngành, có Luận án tiến sĩ lịch sử của Đặng Kim Oanh về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm
1996 đến năm 2006 [90] Luận án đã trình bày có hệ thống những quan
điểm, chủ trương của Đảng Cộng sảnViệt Nam về chuyển dịch cơ cấu KTNN trong những năm 1986-2006 Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Kim Oanh góp phần làm rõ sự phát triển trong nhận thức của Đảng về chuyển dịch cơ cấu KTNN và tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Qua đó, tác giả đánh giá những ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu KTNN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
Luận án tiến sĩ lịch sử của Vũ Quang Ánh về Thực hiện đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số tỉnh, thành đồng bằng sông Hồng từ năm 1997 đến năm 2010 [1] Tác giả làm rõ quá trình đảng
bộ và nhân dân một số địa phương đồng bằng Sông Hồng (các tỉnh, thành Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng) thực hiện đường lối của Đảng về phát triển KTNN từ năm 1997 đến năm 2010 Luận án cũng đưa ra những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục và bước đầu rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ về phát triển KTNN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Luận án tiến sĩ kinh tế của Lê Anh Vũ về Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [174]
Đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và vận dụng để nghiên cứu một vùng cụ thể Tác giả phân tích đánh
Trang 22giá khách quan tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc; trên cơ sở đó làm rõ những thành công, hạn chế và các khuynh hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vùng Tây Bắc; đề xuất một số quan điểm mang tính chỉ đạo, định hướng cơ bản và giải pháp nhằm tiếp tục
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vùng Tây Bắc
Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đăng Bằng về Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Trung Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [11] Đã hệ thống hóa lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
theo hướng CNH, HĐH; phân tích những nhân tố ảnh hưởng và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vùng Bắc Trung Bộ Luận án đi sâu phân tích thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Trung Bộ giai đoạn 1986 - 2000 và đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Trung Bộ theo hướng CNH, HĐH
Làm rõ quá trình vận dụng đường lối của Đảng về phát triển nông nghiệp tại Đảng bộ các địa phương cũng có nhiều công trình đề cập một cách cụ thể, tiêu biểu như:
Luận án tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Văn Thông với đề tài Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm
2010 [139] Đã làm rõ những căn cứ để Đảng bộ thành phố Hải Phòng xác
định chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp; hệ thống hóa những chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ thành phố Hải Phòng và quá trình chỉ đạo thực hiện; luận án đã chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế, bài học kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong những năm 1996 - 2010
Luận án tiến sĩ lịch sử của Lê Thị Hồng, Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 [64]
Trang 23Làm rõ những nhân tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển KTNN (2001-2010) Luận án tập trung khái quát hệ thống, phân tích, luận giải làm rõ sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển KTNN vào thực tiễn địa phương từ năm 2001 đến năm 2010, đề ra chủ trương, sự chỉ đạo phát triển KTNN phù hợp Từ đó đưa ra nhận xét về quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển KTNN (2001-2010); đúc rút một số kinh nghiệm
để vận dụng vào hiện thực, góp phần thúc đẩy KTNN tỉnh Thái Bình phát triển mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn
Luận án tiến sĩ lịch sử của Trần Thị Thái, Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 1997 đến năm 2005 [135] Tác giả trình bày có hệ thống quan
điểm, chủ trương, các biện pháp chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Nam Định về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH từ năm 1997 đến năm 2005 Từ đó, tác giả đánh giá những ưu điểm, hạn chế của Đảng
bộ tỉnh Nam Định; bước đầu đúc rút một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh Trên cơ sở đó, luận án cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc giải quyết những vấn đề về nhận thức lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh hiện nay
Quá trình lãnh đạo thực hiện từng bước đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế nông nghiệp của Đảng bộ thành phố Hải Phòng của Nguyễn Văn Thông
[140] Đã khái quát thực trạng KTNN Hải Phòng những năm trước đổi mới
và phong trào “khoán chui” phát triển mạnh, đảng bộ Hải Phòng từng bước đổi mới cơ chế quản lý KTNN từ cơ chế quản lý tập trung, khoán việc sang khoán đến hộ xã viên…
Luận án tiến sĩ lịch sử của Ngô Thị Lan Hương, Đảng bộ Thành phố
Hà Nội lãnh đạo phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững từ năm 2001
Trang 24đến năm 2017 [71] Luận án dựng lại quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội
lãnh đạo phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững từ năm 2001 đến năm 2013, qua đó phân tích tư duy, nhận thức mới và quá trình lãnh đạo phát triển nông nghiệp của Đảng bộ qua những giai đoạn cụ thể khác nhau Luận án nêu lên các thành tựu và hạn chế, tồn tại từ đó rút ra những kinh nghiệm về lãnh đạo phát triển nông nghiệp bền vững của Đảng bộ Thành phố Những kinh nghiệm này có tính định hướng cho sự phát triển nông nghiệp ở giai đoạn tiếp theo
Luận án tiến sĩ lịch sử của Vũ Trọng Hùng, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm
2010 [68] Tác giả trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương, các biện
pháp chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH từ năm 1997 đến năm 2010 Từ đó, tác giả đánh giá những ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc; bước đầu đúc rút một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh Trên cơ sở đó, luận án cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc giải quyết những vẫn đề về nhận thức lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn đối với
sự phát triển kinh tế của tỉnh cho những giai đoạn tiếp theo
Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh
Thanh Hóa, tác giả Nguyễn Văn Vinh tiến hành đề tài Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1986 đến năm 2005 [170] Luận án đã khái quát quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong những năm
1986 - 2005 Tác giả đã chỉ ra những kết quả đạt được và đúc kết những kinh nghiệm trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ Qua đó luận án chỉ ra hướng phát triển cơ bản của Đảng bộ tỉnh
Trang 25Thanh Hóa về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển bền vững
Các Tỉnh ủy vùng Đồng bằng sông Hồng lãnh đạo đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn hiện nay của
Nguyễn Thị Tố Uyên [164] Tác giả đã đánh giá, phân tích thực trạng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng
và thực trạng các tỉnh ủy vùng Đồng bằng sông Hồng lãnh đạo đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; chỉ ra ưu, khuyết điểm, thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm Từ đó, tác giả xác định phương hướng, đề xuất giải pháp chủ yếu, có tính khả thi nhằm tăng cường lãnh đạo đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn có các công trình nghiên cứu về những vấn đề nảy sinh cần giải quyết từ quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn hiện nay Đáng chú ý là Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới của Nguyễn Văn Khánh [77]; Định hướng phát triển làng - xã đồng bằng sông Hồng ngày nay của Tô Duy Hợp [66]; Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm
2020 của Trần Thị Minh Ngọc [88]
Đây là những công trình nghiên cứu về chủ trương của Đảng, vai trò của Đảng đối với KTNN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Các công trình tập trung phân tích, làm rõ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước
về vấn đề KTNN Nghiên cứu các công trình khoa học trên đã gợi mở cho tác giả luận án hướng nghiên cứu, tiếp cận các nguồn tư liệu liên quan đến đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về KTNN và những luận cứ khoa học trong quá trình triển khai luận án
Trang 261.1.3 Những công trình nghiên cứu về nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên
Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thanh Thuỷ, Hỗ trợ của Nhà nước nhằm tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hưng Yên [142] Tác
giả đã phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xu hướng biến động lao động, cho sản xuất đất nông nghiệp và hỗ trợ việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch lao động ở nông thôn
Luận văn thạc sĩ của Đào Thị Vân, Đảng bộ Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ 1997-2003 [166] Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nói chung, trong đó có chuyển dịch
về cơ cấu nông nghiệp
Lich sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, tập 3, (1975-2005) [39] Cuốn sách
trình bày khá chi tiết quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quán triệt quan điểm, đường lối chỉ thị của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương, vào việc lãnh đạo và thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội trong suốt
30 năm từ 1975 đến 2005 Trong điều kiện đất nước vừa mới hòa bình, thống nhất còn rất nhiều khó khăn, cũng như qua 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bên cạnh các công tác khác, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên rất chú trọng công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và đã thu được những kết quả to lớn, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích, quý báu trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ địa phương
Luận án tiến sĩ tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nghiên cứu tác động của quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến phát triển nông nghiệp
Trang 27nông thôn ở huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên [59] Luận án chỉ ra được các
tác động tích cực, tiêu cực xác định được mối quan hệ và mức độ tác động của việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến nông nghiệp, nông thôn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên thông qua nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ lệ thu hồi đất với các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường trên cơ sở sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đơn giản Tù đó rút ra một số quy luật: Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm; nông dân giảm dần đầu tư cho sản xuất nông nghiệp nhưng thu nhập và mức sống của người dân ngày càng được nâng cao Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất giúp chuyển đổi cơ cấu lao động, việc làm thuần nông đang giảm dần về số lượng và được thay thế bằng các ngành nghề phi nông nghiệp là biểu hiện tích cực nhưng một bộ phận người dân bị mất sinh kế do mất đất là biểu hiện tiêu cực
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Đoàn Văn Trường, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 2001 đến năm 2013 [161] Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói chung, vấn đề phát triển KTNN chưa được đề cập Tuy nhiên, luận văn của hai tác giả đã cung cấp cho tác giả luận án tham khảo để phục dựng lại quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển KTNN từ năm 1997 đến năm 2010
Phạm Đức Kiên, Nguyễn Thị Nguyệt Ánh với cuốn Xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên một số vấn đề lý luận và thực tiễn [79] Tác giả đã
phác họa bức tranh nông thôn mới (NTM) của tỉnh Hưng Yên sau 05 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM của Chính phủ, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng NTM cũng như giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong xây dựng NTM ở tỉnh Hưng Yên
Trang 28Trần Lệ Phương, Nguyễn Thị Nguyệt Ánh với bài viết Một số kinh nghiệm và giải pháp của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong lãnh đạo xây dựng nông thôn mới (2010-2015) [96] Tác giả đã nêu ra được một số chủ trương
và kết quả đạt được trong quá trình xây dựng NTM ở Hưng Yên, từ đó tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm và giải pháp nhằm xây dựng và thực hiện đạt kết quả cao hơn trong thời gian tới
Luận án tiến sĩ của Bùi Thế Cử, Tác động của phát triển các khu công nghiệp đến nông thôn qua nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Hưng Yên
[33] Luận án đã bổ sung một vấn đề quan trọng trong khung phân tích về tác động của khu công nghiệp đến nông thôn so với khung phân tích mà các nghiên cứu trước đây thường áp dụng; đó là xem xét sự tác động qua lại của phát triển khu công nghiệp đến chính sách phát triển nông thôn nhằm làm rõ sự thay đổi của chính sách do tác động của phát triển các KCN và ngược lại Đồng thời, luận án đã nghiên cứu sâu kinh nghiệm phát triển KCN của một số nước và một số địa phương ở nước ta, từ đó khái quát bài học bổ ích về phát huy những tác động qua lại tích cực và hạn chế những tác động qua lại tiêu cực giữa phát triển KCN với phát triển KT-XH nông thôn và giữa phát triển KCN với chính sách phát triển nông thôn có thể áp dụng trong thực tiễn phát triển KCN ở nước ta
Luận án tiến sĩ của tác giả Tạ Thuyết Thái, Nghiên cứu của ảnh hưởng đất nông nghiệp sang đất công nghiệp đến sử dụng đất và kinh tế nông hộ ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên [134] Luận án hướng trọng tâm
của đề tài nghiên cứu là khi diện tích đất nông nghiệp chuyển sang đất công nghiệp người nông dân bị mất đất thì đã gây những áp lực như thế nào cho số lao động nông nghiệp, họ phải tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp ra sao Đồng thời người nông dân phải chuyển phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống sang đầu tư cho các loại hình sử dụng
Trang 29đất (các mô hình) để tăng hiệu quả kinh tế, bình ổn và phát triển kinh tế nông hộ Trên cơ sở kết quả nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp bổ sung cho cơ chế chính sách khi thu hồi đất nông nghiệp và khuyến cáo người nông dân sử dụng phần diện tích đất nông nghiệp còn lại trong tương lai đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn tại huyện Mỹ Hào nói riêng và các địa phương có điều kiện tương tự nói chung
Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên, Thực trạng Kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên sau 20 năm tái lập (1997-2016) [31] Đã tập trung thống kê, hệ thống
hóa số liệu về kinh tế - xã hội theo từng giai đoạn và có những phân tích, đánh giá về các số liệu đó; so sánh một số chỉ tiêu giữa các năm 1986, năm
1997 và năm 2011, trong đó có KTNN Công trình cũng tập trung trình bày
về sự phát triển của nông nghiệp - ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh và kết quả thực hiện chương trình xây dựng NTM Tuy nhiên, cuốn sách mới chỉ dừng lại ở những con số cụ thể, chưa phân tích được những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm cụ thể trong lĩnh vực KTNN
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Huyền, Nghiên cứu rủi ro trong chăn nuôi lợn của nông dân tỉnh Hưng Yên [74] Luận án làm rõ được lý
luận và thực tiễn về rủi ro trong chăn nuôi lợn đã được luận giải và làm sáng tỏ, các loại rủi ro trong chăn nuôi lợn của các hộ nông dân tỉnh Hưng Yên đã được nhận dạng và ước tính thiệt hại kinh tế do rủi ro gây ra gồm rủi ro dịch bệnh và rủi ro về giá
Đề tài Tổng kết các loại hình hợp tác xã dịch vụ và sản xuất nông nghiệp, đề xuất các biện pháp triển khai ra diện rộng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên của Ngô Mạnh Hùng [105], từ thực tiễn chỉ đạo điểm, tổng kết
các loại hình hợp tác xã (HTX) dịch vụ và sản xuất nông nghiệp kết hợp nghiên cứu ở các tỉnh trong vùng, đề xuất các chủ trương, giải pháp phát
Trang 30triển các hình thức hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ và sản xuất nông nghiệp trong cơ chế thị trường Khảo sát, đánh giá tình hình phát triển kinh tế hợp tác xã trong tất cả các ngành, lĩnh vực: Ngân hàng, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương mại - dịch vụ và nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn 1986-1997
Đề tài Xây dựng mô hình khoa học công nghệ, phát triển chăn nuôi gia cầm, trồng cây ăn quả vào hộ nông dân tại hai xã Tân Dân và Phan Sào Nam tỉnh Hưng Yên của Ngô Mạnh Hùng [107] Đề tài đã xây dựng:
Chăn nuôi gia cầm và trồng cây ăn quả thông qua việc tiếp nhận công nghệ mới, đưa các giống tiến bộ kỹ thuật áp dụng vào sản xuất góp phấn tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, phát triển cây ăn quả đặc sản và chăn nuôi gia cầm vào hộ nông dân phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của vùng Chuyển đổi cơ cấu giữa câu trồng và vật nuôi hợp lý, đa dạng hóa trong nông nghiệp, phá thế độc canh thuần nông, phát triển sản xuất hàng hóa tạo điều kiện cho người nông dân nâng cao thu nhập góp phần xóa đói, giảm nghèo trong tỉnh
Đề tài Xây dựng mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vũng trũng ở một số xã vùng sâu, xa hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo môi trường sinh thái ở huyện Ân Thi của Nguyễn Văn Phóng [108] Đề tài đã
Xây dựng mô hình áp dụng kỹ thuật tiến bộ về giống cây trồng, vật nuôi, thực hiện chuyển đổi diện tích úng trũng, cấy lúa bấp bênh để thâm canh có hiệu quả kinh tế cao, vững chắc, tạo lập môi trường sinh thái phù hợp, đảm bảo phát triển nông thôn bền vững
Dự án Chuyển giao công nghệ và áp dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng vùng sản xuất hoa chất lượng cao của Ngô Mạnh Hùng [106] Dự án mở
rộng mô hình trồng hoa chất lượng cao tại điểm đã triển khai từ những năm trước đây, xây dựng mô hình trồng hoa ứng dụng công nghệ cao với nhiều
Trang 31chủng loại đa dạng và phong phú Đầu tư xây dựng mô hình sản xuất hoa chất lượng cao mang tính công nghiệp bằng việc áp dụng công nghệ mới, hiện đại, những biện phát kỹ thuật tiên tiến nhằm tạo ra lượng sản phẩm hàng hóa lớn, chất lượng cao cung cấp cho thị trường, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tạo ra môi trường cảnh quan xanh sạch đẹp
Dự án Xây dựng mô hình vùng sản xuất rau an toàn của Lê Văn
Lương [109] Dự án đã xây dựng mô hình chuyển giao cho nhân dân chủ động công nghệ sản xuất rau an toàn hàng hóa khép kín từ khảo nghiệm lựa chọn và bổ sung cơ cấu giống rau mới, sản xuất giống, sản xuất và tiêu thụ rau an toàn hiệu quả kinh tế cao Mở rộng qui mô áp dụng kết quả mô hình sản xuất rau an toàn có hiệu quả kinh tế cao
Với các công trình nghiên cứu khoa học nói trên, kết quả của các công trình đã giúp tác giả luận án có thêm những hiểu biết về thực tiễn của nền KTNN Hưng Yên cũng như những tác động của nó đối với sự phát triển xã hội cho đến thời điểm mà Luận án nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu trên được tác giả chọn lọc, kế thừa trong việc nghiên cứu và trình bày trong luận án của mình; đồng thời những công trình nghiên cứu trên đây đã giúp tác giả có thêm nhiều tài liệu có giá trị khoa học
1.2 KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ MÀ LUẬN ÁN KẾ THỪA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN CẦN PHẢI GIẢI QUYẾT
1.2.1 Đánh giá khái quát những vấn đề mà luận án kế thừa từ các công trình đã công bố
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án,
có một số điểm nổi bật sau mà luận án có thể kế thừa:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu khoa học tuy không đề cập một
cách trực tiếp đến vấn đề phát triển KTNN của Hưng Yên nhưng vấn đề
Trang 32liên quan đến phát triển KTNN rất phong phú và đa dạng, với nhiều cách tiếp cận khác nhau từ góc độ lịch sử, kinh tế, chính trị Trên phạm vi cả nước, ở các vùng, miền khác nhau nhưng đều thống nhất khẳng định rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của KTNN đối với việc phát triển KT-XH của đất nước, của các vùng, miền và của từng tỉnh riêng biệt
Thứ hai, các công trình khoa học nói trên đã bước đầu khái quát quan
điểm, đường lối chủ trương của Đảng về phát triển KTNN trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Các công trình trên đã dựng lại bức tranh khá toàn diện về tình hình phát triển KTNN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới; là cơ sở để luận án soi chiếu, tìm ra những điểm chung và điểm khác biệt trong lãnh đạo phát triển KTNN ở Hưng Yên
Thứ ba, một số công trình đã nghiên cứu, tổng kết, đánh giá kết quả,
đúc rút kinh nghiệm, đề xuất được các chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển KTNN trên phạm vi cả nước, ở một số vùng và một
số địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế
Thứ tư, nhiều tư liệu về Đảng bộ Hưng Yên, trong đó có đề cập đến
sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Đảng bộ huyện trong phát triển KTNN; về
sự phát triển của nông nghiệp Hưng Yên đã được nêu ra Luận án kế thừa nhiều tư liệu về vấn đề này
Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình khoa học trình bày trong tổng quan thì chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển KTNN từ năm 1997 đến năm 2010 Do vậy, đây vẫn là một vấn đề lớn chưa được nghiên cứu, đặt ra cho tác giả luận án cần đi sâu nghiên cứu và làm rõ Các công trình nghiên cứu trên là tư liệu quan trọng cung cấp những luận cứ khoa học để tác giả tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện luận án
Trang 331.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết
Qua việc khảo sát những công trình trên, Luận án nhận thấy có những vấn đề cần làm sáng rõ hơn như:
- Luận án cầm làm rõ hơn một cách hệ thống những nhân tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển KTNN (1997-2010); bao gồm các nhân tố chủ quan, khách quan, đặc biệt là quá trình đổi mới nhận thức của Đảng bộ về nông nghiệp và phát triển KTNN
- Luận án hệ thống, phân tích, luận giải làm rõ sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển KTNN vào thực tiễn của địa phương từ năm 1997 đến năm 2010, đề ra chủ trương, sự chỉ đạo phát triển KTNN phù hợp
- Luận án đưa ra nhận xét về quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển KTNN (1997-2010); đúc rút một số kinh nghiệm để vận dụng vào hiện thực, góp phần thúc đẩy KTNN tỉnh Hưng Yên phát triển mạnh mẽ và hiệu quả hơn
Trang 34Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ 1997 ĐẾN NĂM 2000
2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tác động đến kinh tế nông nghiệp
Vị trí địa lý
Tỉnh Hưng Yên nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, giáp các tỉnh Thái Bình ở phía Nam, Hải Dương ở phía Đông, Bắc Ninh ở phía Đông Bắc, Hà Nam ở phía Tây Nam, thành phố Hà Nội ở phía Bắc và phía Tây, qua sông Hồng Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 889,9 km2 [31]
Là cửa ngõ phía Đông Nam của Hà Nội, Hưng Yên có 23 km quốc lộ 5A và trên 20 km tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy qua Ngoài ra
có quốc lộ 39A, 38 nối từ quốc lộ 5 qua Thành phố Hưng Yên đến quốc lộ 1A qua cầu Yên Lệnh và quốc lộ 10 qua cầu Triều Dương, là trục giao thông quan trọng nối các tỉnh Tây - Nam Bắc bộ (Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa…) với Hải Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh [31]
Vị trí địa lý quy định lên những đặc điểm về điều kiện tự nhiên- xã hội của tỉnh Hưng Yên Nhìn chung, vị trí địa lý của Hưng Yên vừa có những thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, vừa có điều kiện thuận lợi để các sản phẩm nông nghiệp của Hưng Yên được tiêu thụ ở các thị trường lớn, ổn định, nhất là thị trường Hà Nội, Hải Phòng, tạo sựu liên kết chuỗi sản phẩm nông nghiệp ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Khí hậu, sông ngòi
Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Bắc Bộ Một năm có bốn mùa rõ rệt, mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân,
Trang 35thu khí hậu ôn hòa Nhiệt độ trung bình 22 - 23oC, độ ẩm dao động lớn, từ
80 - 90% Đây là điều kiện thuận lợi để nông nghiệp Hưng Yên có cơ cấu mùa vụ,cơ cấu cây trồng phong phú [31]
Hưng Yên có nhiều sông ngòi, ba phía Đông, Tây, Nam đều giáp sông Phía tây có sông Hồng, phía nam có sông Luộc, phía đông là sông Cửu An, sông Đuống Chảy qua địa phận Hải Dương, sát tỉnh Hưng Yên ở phía đông là đông bắc của tỉnh Hưng Yên có hệ thống các sông nội đồng như Tân Hưng, Kim Sơn, Điện Biên, Tây Kẻ Sặt trong hệ thống Bắc - Hưng - Hải Các sông có đoạn chảy theo chiều ngang, có đoạn chảy xuôi dòng, có đoạn như ngược chiều, nhưng cuối cùng đều đổ vào dòng chính chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Bên cạnh, vai trò quan trọng đối với giao thông đường thủy, mạng lưới sông ngòi ở Hưng Yên còn bảo đảm việc tưới, tiêu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng trọt của tỉnh Hưng Yên
Nguồn nước ngầm ở Hưng Yên hết sức phong phú Theo kết quả điều tra, trong địa phận Hưng Yên có những mỏ nước ngầm rất lớn, nhất là khu vực dọc Quốc lộ 5 từ Như Quỳnh đến Quán Gỏi, không chỉ thỏa mãn cho yêu cầu phát triển công nghiệp, đô thị và đời sống của nhân dân trong tỉnh mà còn có thể cung cấp khối lượng lớn cho các khu vực lân cận Hiện nay, tại thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, Công ty nước khoáng Lavie đang hoạt động và khai thác nguồn nước này cung cấp nước khoáng tinh khiết trên thị trường và một nhà máy nước của Công ty nước và môi trường Việt Nam đang được xây dựng
Đất nông nghiệp
Nguồn tài nguyên đất của tỉnh Hưng Yên chủ yếu là đất nông nghiệp Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2003, tổng diện tích đất nông nghiệp của Hưng Yên là 62.602,89 ha, chiếm 67,82% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, trong đó: Đất trồng cây hàng năm là 55.282,16 ha (chiếm 88,31% đất nông nghiệp) Đất vườn tạp là 2.207,05 ha Đất trồng cây lâu năm là 1.020,95 ha
Trang 36Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 4.092,73 ha Cơ cấu đất nông nghiệp khá phong phú cho phép Hưng Yên vừa thâm canh quy mô lớn cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày, vừa mở rộng diện tích nuôi thuỷ sản, cây ăn quả, rau mầu [31]
Dân số, lao động
Tỉnh Hưng Yên gồm thành phố Hưng Yên trực thuộc tỉnh và 09 huyện: Khoái Châu, Kim Động, Mỹ Hào, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Giang, Văn Lâm, Yên Mỹ và Ân Thi Theo số liệu điều tra dân số năm 1999, tỉnh Hưng Yên có 1.071.973 người Mật độ dân số là 1161 người/km2, cao hơn mật độ trung bình đồng bằng sông Hồng và gấp hơn 5 lần trung bình của cả nước, 91,5% dân số Hưng Yên sống ở nông thôn, 8,5% dân số sống ở thành thị Dân số đông nhất là huyện Khoái Châu: 186.102 người Thành phố Hưng Yên có dân số ít nhất: 77.398 người và mật độ dân số cao nhất: 1.654 người/km2 Mật độ dân số thấp nhất là huyện Phù Cừ: 938 người/km2 [31]
Hưng Yên có 57 vạn lao động (năm 1999) trong độ tuổi lao động, chiếm 51% dân số của tỉnh Lao động Hưng Yên trẻ khỏe và có trình độ văn hóa cao, lao động đã qua đào tạo nghề đạt 25%, chủ yếu có trình độ đại học, cao đẳng, trung học và công nhân kỹ thuật được đào tạo cơ bản Người dân lao động ở Hưng Yên có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo [31]
Những đặc điểm về lao động ở Hưng Yên tác động đến kinh tế nông nghiệp trên cả hai chiều cạnh Một mặt, nhiều lao động từ nông thôn có điều kiện tham gia các lĩnh vực kinh tế khác ngoài nông nghiệp; mặt khác, những lao động vẫn gắn bó với nông nghiệp, có khả năng tương đối tốt với tiếp nhận kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp, nhanh nhạy với thị trường để từ đó sản xuất gắn bó với nông nghiệp địa phương
Lịch sử - Văn hóa - Xã hội
Mặc dù chỉ mới thành lập tỉnh từ năm 1831, nhưng địa bàn Hưng Yên là nơi sinh sống của người Việt từ thời Hùng Vương Trải qua các thời
Trang 37kỳ lịch sử, nơi đây là vùng đất tập trung nhiều di tích lịch sử - văn hoá nổi tiếng, trong đó có 132 di tích đã được Nhà nước xếp hạng như: Khu di tích Phố Hiến, Đa Hòa - Dạ Trạch, Bãi Sậy, khu tưởng niệm lương y Hải Thượng Lãn Ông, đền Phù Ủng, Đặc biệt, Phố Hiến là một đô thị phồn hoa xưa kia, thị xã Hưng Yên ngày nay là trung tâm kinh tế chính trị, văn hoá của tỉnh với 60 di tích kiến trúc như: Văn Miếu, Đền Mây, Đền Mẫu, Chùa Chuông Hàng năm tại nhiều di tích lịch sử - văn hoá đã diễn ra lễ hội đón tiếp nhiều khách đến thăm quan, du lịch [31]
Nhân dân Hưng Yên với truyền thống hiếu học, có nền văn hiến lâu đời, nhiều nhà hoạt động cách mạng và lãnh đạo xuất sắc Với truyền thống
đó, sau khi tái lập tỉnh, cán bộ và nhân dân trong tỉnh đã đoàn kết, nhất trí thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, đưa Hưng Yên hoà nhập với sự phát triển chung của cả nước
Với những điều kiện về tự nhiên- kinh tế xã hội, Hưng Yên có thuận lợi đồng thời cũng có nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế nông nghiệp:
Về thuận lợi: Hưng Yên có thể phát triển một nền nông nghiệp sản
xuất lớn theo hướng hàng hóa nhờ diện tích đất nông nghiệp lớn, màu mỡ tương đối tập trung; đồng thời có thể phát triển một nền nông nghiệp đa dạng nhờ vào cơ cấu đất nông nghiệp phong phú và khí hậu bốn mùa Sản xuất nông nghiệp hàng hóa cũng có những lợi thế về thị trường tiêu thụ, bao gồm: Thị trường nội tỉnh với số dân hơn 1 triệu người, các thị trường lân cận, trong đó đặc biệt là các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng và các địa bàn khác nhờ hệ thống kết nối, giao thông thuận lợi Tỉnh cũng có lợi thế phát triển nông nghiệp công nghệ cao dựa trên trình độ dân trí cao, nhanh nhạy với cái mới và thị trường
Về khó khăn: Do nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ thiên tai đe dọa
thường xuyên; áp lực gia tăng dân số và việc mở rộng diện tích đất đô thị, đất công nghiệp làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, nhất là ở những nơi
có tiềm năng thị trường tốt
Trang 382.1.2 Thực trạng kinh tế nông nghiệp trên địa bàn Hưng Yên trước năm 1997
Trước năm 1997, Hưng Yên là một tỉnh thuần nông, nông nghiệp trên địa bàn Hưng Yên nói riêng, Hải Hưng nói chung là ngành kinh tế chủ lực, hàng đầu, có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương Là địa bàn giàu truyền thống sản xuất nông nghiệp, suốt những năm 60-70 của thế kỷ XX, Hưng Yên rất nỗ lực trong phong trào hợp tác hoá, phát triển thuỷ lợi và giao thông nội đồng, đưa giống mới, kỹ thuật, công cụ mới vào sản xuất và tăng cường các biện pháp thâm canh tăng năng suất Nhờ vậy, sản suất lương thực khá ổn định với hai vụ lúa, một vụ mầu; diện tích cây công nghiệp được mở rộng; chăn nuôi phát triển cả gia súc, gia cầm
Trong những năm hợp nhất Hưng Yên và Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng, Đảng bộ tỉnh đã ra nhiều nghị quyết quan trọng nhằm thúc đẩy sản
xuất nông nghiệp, như: Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 18-10-1977 về nhiệm
vụ, chủ trương, biện pháp đưa nông nghiệp của tỉnh phát triển vượt bậc; Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 3-4-1978 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển mạnh chăn nuôi trong kế hoạch 5 năm (1976-1980); Chỉ thị số 16- NQ/TU, ngày 1-9-1981 của Tỉnh ủy Hải Hưng về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp; Nghị quyết số 41/NQ-TU ngày 12-9-1985 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về cải tiến quản lý kinh tế, xoá bỏ quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế một giá và phân phối theo lao động trong hợp tác xã nông nghiệp; Nghị quyết số 78-NQ/TU, ngày 22-5-1988 của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy về đổi mới quản lý kinh tế trong các hợp tác xã nông nghiệp Các Nghị
quyết trên đã tạo ra động lực thúc đẩy cho KTNN phát triển
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Hưng, KTNN đạt được một
số kết quả quan trọng trong nghiều lĩnh vực như: Năm 1981, năm đầu tiên tỉnh Hải Hưng đạt năng suất trên 6 tấn/ha Riêng địa bàn Hưng Yên, diện
Trang 39tích gieo trồng cả năm đạt 129.900 ha, trong đó cây lương thực là 110.400 ha; sản lượng lương thực quy thóc đạt 324.490 tấn, sản lượng thóc đạt 258.740 tấn, màu quy thóc đạt 65.750 tấn; sản lượng các loại cây công nghiệp: Đay 13.596 tấn, lạc 184 tấn, đỗ tương 3.157 tấn Trong chăn nuôi: Đàn lợn có 188.500 con, đàn trâu có 21.460 con, đàn bò 6.030 con [36, tr.30] Toàn tỉnh đã thực hiện cơ chế khoán sản phẩm đã tạo nên phong trào thâm canh, tận dụng đất đai, đầu tư phân bón, cải tiến kỹ thuật, tận dụng mùa màng Nông dân chú trọng hơn trong vận dụng khoa học kỹ thuật, chọn giống, bón phân đúng cách, thâm canh tăng vụ, phòng trừ sâu bệnh, bảo quản sản phẩm sau khi thu hoạch, phát triển phong phú các loại cây lương thực, rau màu, đất đai hoang hóa được khai thác tốt hơn
Tính đến trước thời điểm tái lập tỉnh, nông nghiệp Hưng Yên đã có bước phát triển quan trọng, thể hiện trên các mặt cụ thể sau:
Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng năm 1996 đạt 23.433 ha,
chiếm 42,1% diện tích canh tác, 1 ha gieo trồng hàng năm thu khoảng 28 triệu đồng Năng suất lúa trên 9 tấn/ha, sản lượng lương thực qui thóc đạt 50,7 vạn tấn, bình quân lương thực đầu người 460kg; trong đó diện tích cây thực phẩm là 8,8 ngàn ha trồng rau, màu [148, tr.17]; diện tích cây công nghiệp là 9,7 ngàn ha Tỉnh đã từng bước thay đổi giống lúa dài ngày, năng suất thấp bằng các giống lúa cho năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt hơn, một số giống lúa đặc sản có chất lượng cao bước đầu được khôi phục như nếp cái hoa vàng, dự, tám thơm Thay giống ngô gié địa phương bằng các giống ngô lai ngắn ngày, năng suất cao Tập đoàn cây vụ đông phong phú với giống được chọn lọc Năm 1996, lúa cao sản và siêu cao sản đã chiếm 35%, lúa đặc sản 8%, diện tích cây vụ đông đạt 41% diện tích canh tác Tổng diện tích vườn 6.720 ha, chiếm trên 11% diện tích đất nông nghiệp và 18% giá trị thu nhập Một số vùng chuyển đất bãi cao thành vườn và vùng trũng cấy một vụ bấp bênh thành ao và vườn [148, tr.64]
Trang 40Tuy nhiên, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu dần hợp lý, việc khảo nghiệm đánh giá các loại cây trồng cho từng vùng, từng vụ chưa tốt, có nơi đưa giống chưa qua khảo nghiệm, chưa gắn với quy trình kỹ thuật đã hạn chế đến kết quả sản xuất Phong trào chuyển vườn tạp còn chậm, chưa đều, một số vùng chuyển ruộng thành vườn chưa tính toán kỹ các biện pháp kỹ thuật và khả năng đầu tư nên hiệu quả thấp
Về chăn nuôi: Bước đầu cải tạo và thay đổi giống lợn, phát triển đàn
bò lai, thử nghiệm nuôi bò sữa, tăng nhanh đàn gia cầm, gà, vịt “Siêu thịt”,
“Siêu trứng”… Chăn nuôi công nghiệp tăng khá Tính đến tháng 10/1996 tổng đàn lợn đạt 312.019 con, tốc độ tăng bình quân 5 năm 9,1%/năm Tổng đàn bò 33.998 con, tăng bình quân 5 năm 13,8% [148, tr.65] Diện tích ao hồ trước đây bỏ hoang hoặc nuôi cá quảng canh, nay được các hộ tập trung đầu tư nuôi thả cá thâm canh, nuôi ba ba, lươn, ếch, trê lai…
Tuy nhiên quá trình cải tạo đàn gia súc còn chậm, toàn tỉnh mới chỉ
có 220 con lợn nái ngoại, 1.000 con lợn thịt trên 75% máu ngoại, 3 bò đực ngoại thuần, 18 bò đực lai, 902 bò lai sind, đạt tỷ lệ 3% [148, tr.66]
Về các khâu sản xuất: Trong những năm cuối thập niên 70 và đầu
thập niên 80, Hưng Yên đưa cơ giới vào nông nghiệp thuộc diện cao nhất toàn quốc Đồng ruộng được cải tạo qua nhiều năm, 80% diện tích cấy lúa
đã được cải tạo thành các lô, thuận lợi cho máy kéo lớn hoạt động, khi giao ruộng đất đến hộ nông dân thì ruộng đất bị chia nhỏ manh mún, gieo trồng xen canh đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của máy kéo lớn Toàn tỉnh còn 153 máy kéo lớn chiếm 0,45% so với cả nước, có 796 máy kéo nhỏ của các hộ [148, tr.67] 100% máy kéo đã quá thời hạn sử dụng, máy kéo nhỏ hỏng nhiều
Trong khâu phòng trừ sâu bệnh: Đảng bộ tỉnh chỉ đạo áp dụng sử
dụng lượng thuốc hóa chất trừ sâu, cỏ dại nhằm kích thích sinh trưởng cây trồng từ đó nâng cao năng suất bình quân đạt 120 tấn/năm Đồng thời đã