1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Luật hình sự đề 04 tình huống: A lập nhiều tài khoản trên mạng xã hội, kết bạn với nhiều nữ công nhân. Khi tạo được tình cảm, A hẹn các cô gái đến khu vực vắng người để tâm sự. Lợi dụng đêm tối, đường vắng, A đe dọa hoặc dùng vũ lực giao cấu với các nạn n

11 48 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 29,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi thực hiện các hành vi phạm tội nêu trên, A mới ra tù được 03 tháng sau khi chấp hành xong hình phạt 03 năm tù về tội đánh bạc khoản 2 Điều 321 BLHS, thì trường hợp phạm tội của A là

Trang 1

ĐỀ SỐ 4:

A lập nhiều tài khoản trên mạng xã hội, kết bạn với nhiều nữ công nhân Khi tạo được tình cảm, A hẹn các cô gái đến khu vực vắng người để tâm sự Lợi dụng đêm tối, đường vắng, A đe dọa hoặc dùng vũ lực giao cấu với các nạn nhân Khi

bỏ đi A còn lấy tiền, điện thoại, dây chuyền của các nạn nhân Trong khoảng 03 tháng, A đã thực hiện hành vi phạm tội với 03 cô gái và chiếm đoạt tài sản của các nạn nhân (tổng tài sản trị giá 15 triệu đồng) A bị bắt và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

Câu hỏi:

1 Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A (2,5

điểm)

2 Hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù? (1,5 điểm)

3 Giả sử, trong số 03 nạn nhân trong vụ án nêu trên có nạn nhân mới 15 tuổi

11 tháng, thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A có thay đổi không? Tại sao? (1,5 điểm)

4 Khi thực hiện các hành vi phạm tội nêu trên, A mới ra tù được 03 tháng sau

khi chấp hành xong hình phạt 03 năm tù về tội đánh bạc (khoản 2 Điều 321 BLHS), thì trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (1,5 điểm)

1

Trang 2

BÀI LÀM Câu 1: Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A?

Hành vi phạm tội của A được xác định tội danh là Cướp tài sản và Hiếp dâm Trước hết về tội danh Hiếp dâm:

Tội hiếp dâm là tội phạm xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ Pháp luật cấm những hành vi giao cấu trái ý muốn với người nữ, giao cấu với trẻ em và đưa ra mức hình phạt nghiêm khắc đối với loại tội phạm nà Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 Để hiểu rõ hơn, cùng phân tích 4 yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Hiếp dâm” theo quy định của BLHS như sau:

Mặt khách quan: Tội hiếp dâm là tội phạm có cấu thành hình thức (chỉ cần có dấu hiệu về mặt hành vi) Hành vi khách quan của tội phạm bao gồm dùng vũ lực,

đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với

ý muốn của nạn nhân

– Hành vi dùng vũ lực: Là hành vi dùng sức mạnh về thể chất, cơ thể như vật ngã, đè, giữ tay, chân, trói, bóp cổ, bịt miệng, đấm đá, xé quần áo,… của nạn nhân nhằm làm mất hoặc hạn chế khả năng phòng vệ, tự vệ, chống trả của nạn nhân – Hành vi đe dọa dùng vũ lực: Là hành vi dùng lời nói, động tác, cử chỉ nhưng chưa có hành động tác động trực tiếp vào người nạn nhân, tuy nhiên lại làm cho nạn nhân tin rằng nếu kẻ tấn công không thực hiện được hành vi giao cấu thì

sẽ sử dụng vũ lực ngay tức khắc đối với mình Ví dụ như dọa giết, đe dọa gây thương tích,…

– Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân: Là những trường hợp như nạn nhân đi một mình ở chỗ vắng, sức khỏe nạn nhân đang suy yếu, hoặc

Trang 3

đang trong tình trạng khác mà không thể tự vệ…Ví dụ: A lợi dụng B khi B đang bị ngất do sức khỏe yếu để thực hiện hành vi giao cấu Hành vi của A là hành vi lợi dụng tình trạng không thể tự về được của nạn nhân

– Dùng thủ đoạn khác:Là những trường hợp người phạm tội dùng thuốc mê, thuốc kích dục, say rượu hoặc các chất kích thích khác làm cho nạn nhân hạn chế hoặc mất khả năng chống cự Ví dụ: A lợi dụng B đay say rượu để thực hiện hành

vi giao cấu

– Giao cấu trái ý muốn của nạn nhân: Là việc thực hiện hành vi giao cấu nhưng không được sự đồng ý của nạn nhân, làm trái ý chí mong muốn của nạn nhân hoặc hành vi giao cấu xảy ra không có ý muốn của nạn nhân vì họ đang trong trạng không thể hiện và biểu lộ được ý chí của họ Ví dụ: A cố tình giao cấu với B trong khi B đã từ chối và không muốn giao cấu.1

–Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm có các hành động nhằm giao cấu mà không cần phải có căn cứ là đã giao cấu được hay chưa

– Nếu người phạm tội mới thực hiện hành vi dùng bạo lực, đe dọa dùng bạo lực hoặc sử dụng các thủ đoạn khác để giao cấu trái ý muốn của nạn nhân, nhưng chưa kịp giao cấu vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội như đã bị ngăn chặn thì phạm tội chưa đạt và họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự

về tội hiếp dâm

– Nếu người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm thì họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm, nhưng có thể bị truy cứu về các tội khác (nếu có đủ các yếu tố cấu thành) như: Làm nhục người khác, cố ý gây thương tích,

Mặt chủ quan: Hành vi phạm tội của người phạm tội là lỗi cố ý

Mặt khách thể: Tội hiếp dâm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

1 Bùi Thị Quyên, Bàn về một số dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm, Tạp chí Tòa án nhân dân Số 23/2012, tr 28 - 36.

3

Trang 4

Chủ thể: Bất kỳ ai có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Xét vào trường hợp đề bài đề ra thì A đã có đủ có yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Hiếp dâm” theo qui định của Điều 141 BLHS

A đã có hành vi đánh và đe dọa các cô gái Hành vi đánh là hành vi dùng vũ lực, dùng sức mạnh về thể chất, cơ thể Ngoài ra A còn có hành vi đe dọa dung vũ lực Các hành vi này nhằm để áp chế nạn nhân, làm cho nạn nhân mất ý chí phản kháng

A đã tiến hành hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của nạn nhân Nạn nhân không đồng ý với việc quan hệ tình dục nhưng A đã có hành vi áp chế lại ý chí nạn nhân Lúc này nạn nhân dù không mong muốn nhưng vẫn phải quan hệ tình dục với A A thực hiện hành vi này với lỗi cố ý và A đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự

Khung hình phạt của A sẽ nằm ở khoản 2 của Điều 141 do hành vi của A có

tình tiết nằm ở điểm d là “phạm tội 02 lần trở lên” do A đã tiến hành hành vi hiếp

dâm này đối với 3 người Khung hình phạt đối với tội hiếp dâm của A sẽ là phạt tù

từ 07 năm đến 15 năm

Tiếp theo là về tội danh Cướp tài sản:

Trước hết xét về các yếu tố cấu thành của tội cướp tài sản qui định tại Điều

168 BLHS

- Mặt khách quan của tội cướp tài sản:

Mặt khách quan của tội cướp tài sản được thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn được mổ tả trong điều luật: dùng vũ lực; đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản Hành vi chiếm đoạt là hành vi

Trang 5

mong muốn dịch chuyển tài sản của người khác thành tài sản của mình trái pháp luật và trái ý chí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.2

- Khách thể của tội cướp tài sản: Khách thể của tội cướp tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà Nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân và quyền bất khả xâm phạm

về tính mạng, sức khỏe của con người Đối tượng tác động của tội cướp tài sản là tài được quy định trong Bộ luật Dân sự, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản

- Chủ thể của tội cướp tài sản: Chủ thể của tội cướp tài sản là chủ thể thường Bất kỳ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của tội cướp tài sản

- Mặt chủ quan của tội cướp tài sản: Tội cướp được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội cướp tài sản Nếu thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không phạm tội cướp tài sản

Có thể thấy A đã có đủ các yếu tố cấu thành của tội cướp tài sản

Về mặt hành vi, A đã tiến hành đầy đủ các hành vi được mô tả trong qui định tại khoản 1 Điều 168 A đã có hành vi chiếm đoạt tài sản, dịch chuyển tài sản của người khác thành tài sản của mình bằng việc áp chế ý chí của nạn nhân được thực hiện bằng cách sử dụng vũ lực (đánh và đe dọa nạn nhân) Hành vi của A được tiến hành với lỗi cố ý và mục đích được thể hiện rõ ràng là lấy đi tài sản của người khác A cũng đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự

Với những phân tích ở trên thì có thể thấy rõ ràng hành vi của A đã thuộc vào tội danh Cướp tài sản Với những dữ kiện đề bài đưa ra thì có thể thấy tội phạm

2 Trần Thị Lịch, Tội cướp tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 2016, sửa đổi năm 2017 và một số giải pháp đấu tranh phòng,

chống tội phạm, Tạp chí Nghề Luật Số 1/2016, tr 56.

5

Trang 6

của A không có những tình tiết nằm ở khoản 2, 3, 4 Điều 168 nên tội phạm Cướp tài sản của A có khung hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 168 BLHS Khung hình phạt của A đối với tội danh cướp tài sản mà đề bài đưa ra là phạt tù từ

03 năm đến 10 năm

Câu 2: Hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù?

Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là trường hợp khi xét

xử, Tòa án kết án bị cáo phạm từ hai tội trở lên và khi quyết định hình phạt Tòa án phải quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó mới quyết định hình phạt chung đối với các tội đó và buộc bị cáo phải chấp hành

Việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội chỉ được thực hiện

khi đủ các điều kiện sau: Thứ nhất, bị cáo bị xét xử một lần về hai tội phạm trở lên.

Các tội này có thể được thực hiện cùng một lúc nhưng cũng có thể thực hiện ở

những thời điểm khác nhau.Thứ hai, các tội phạm đó và hình phạt được quy định ở

các điều luật khác nhau của phần các tội phạm; nhưng cũng có thể có trường hợp các tội phạm này được quy định ở các khung hình phạt khác nhau của cùng một

điều luật Thứ ba, trong một số tội phạm được đưa ra xét xử không có tội phạm nào

được xét xử trước (nếu có tội đưa ra xét xử trước đó thì phải áp dụng Điều 51

BLHS để tổng hợp) Thứ tư, các tội phạm đang còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm

hình sự và chưa được đại xá

Nguyên tắc và cách thức tổng hợp hình phạt là một vấn đề hết sức quan trọng

và không thể bỏ qua khi bàn về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Về cách thức tổng hợp, trong trường hợp phạm nhiều tội, trước khi tổng hợp

và quyết định hình phạt chung cho các tội thì Tòa án phải quyết định hình phạt cho từng tội

Trang 7

Sau khi tuyên hình phạt riêng cho từng tội, Toà án sẽ quyết định và tuyên hình phạt chung Hình phạt chung không được vượt quá giới hạn luật quy định đối với từng loại hình phạt Hình phạt chung là sự đánh giá toàn diện và đầy đủ nhất đối với tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội mà bị cáo đã thực hiện do đó mức phạt phải tương xứng với toàn bộ các tội mà bị cáo đã phạm Nếu hình phạt chung được tổng hợp không đúng sẽ làm mất ý nghĩa của việc quyết định hình phạt đối với từng tội và do vậy sẽ không đạt được mục đích của hình phạt Việc tổng hợp hình phạt phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định Đó là nguyên tắc thu hút, nguyên tắc cộng hình phạt và nguyên tắc cùng tồn tại

Xét vào đề bài thì hành vi của A được xác định là phạm phải 2 tội danh:

- Hiếp dâm với khung hình phạt nằm ở khoản 2 của Điều 141 là phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

- Cướp tài sản với khung hình phạt nằm ở khoản 1 Điều 168 BLHS là phạt tù

từ 03 năm đến 10 năm

Lại căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS thì nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn

Như vậy nếu Tòa án quyết định A phải chịu 2 mức án cao nhất của 2 khung hình phạt lần lượt là phạt tù 15 năm và 10 năm thì tổng hợp 2 hình phạt này lại thì

A phải chịu cao nhất là 25 năm tù giam

Mức hình phạt 25 năm tù giam này không vượt quá mức 30 năm được xác định tạiđiểm a khoản 1 Điều 55 BLHS nên hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu là 25 năm tù

7

Trang 8

Câu 3: Giả sử, trong số 03 nạn nhân trong vụ án nêu trên có nạn nhân mới 15 tuổi 11 tháng, thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A có thay đổi không? Tại sao?

Trước hết xác định sự khác nhau về cấu thành giữa tội hiếp dâm và tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Thứ nhất là về đối tượng tác động Đối tượng tác động của tội hiếp dâm phải

là người từ đủ 16 tuổi trở lên Trong khi đó đối tượng tác động của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải là người từ dưới 16 tuổi trở lên

Thứ hai là về yếu tố trái ý muốn của nạn nhân Đối với tội hiếp dâm thì hành

vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác phải trái ý muốn của nạn nhân

Trong khi đó đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì nhìn chung hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác trong tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi cũng phải trái ý muốn của nạn nhân Tuy nhiên trong trường hợp người bị hại là người dưới 13 tuổi thì cho dù bị hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác không trái ý muốn của họ thì vẫn cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Nếu trong số 03 nạn nhân trong vụ án nêu trên có nạn nhân mới 15 tuổi 11 tháng, thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A sẽ có thay đổi.

Trong trường hợp này A sẽ phạm phải 3 tội danh là hiếp dâm (Điều 141, cướp tài sản (Điều 168) và hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142)

Tội danh và khung hình phạt đối với tội hiếp dâm của A không thay đổi Tội danh cướp tài sản của A sẽ có sự thay đổi về khung hình phạt khi có

thêm tình tiết “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai,

người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ” được qui định tại điểm e

khoản 2 Điều 168 do có nạn nhân mới chỉ 15 tuổi 11 tháng Khung hình phạt của A

Trang 9

sẽ thay đổi từ khoản 1 là phạt tù từ 03 năm đến 10 năm thành khoản 2 là phạt tù từ

07 năm đến 15 năm

Tội danh hiếp dâm người dưới 16 tuổi của A được được xác định với tâm lý

chủ quan, những hành vi khác quan mà A thực hiện và đối tượng là nạn nhân mới

15 tuổi 11 tháng (dưới 16 tuổi) Về khung hình phạt đối với tội danh hiếp dâm người dưới 16 tuổi của A thì khung hình phạt thuộc vào khoản 1 Điều 142 cụ thể là phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

Câu 4: Khi thực hiện các hành vi phạm tội nêu trên, A mới ra tù được 03 tháng sau khi chấp hành xong hình phạt 03 năm tù về tội đánh bạc (khoản 2 Điều 321 BLHS), thì trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?

Trường hợp của A là tái phạm

Theo qui định của Điều 53 BLHS thì:

“1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do

cố ý.”

Theo đó, tội phạm mà A phạm phải trước đó là tội đánh bạc (khoản 2 Điều

321 BLHS) không phải là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên trường hợp tại điểm a khoản 2 bị loại trừ Đề bài cũng không đưa ra dữ

9

Trang 10

kiện cho rằng tội phạm trước đó của A là tái phạm tại điểm b khoản 2 Như vậy có thể xác định A không tái phạm nguy hiểm

A được xác định là đã tái phạm bởi A đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý

Theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 70 về Đương nhiên xóa án tích thì thời hạn để xóa án tích đối với tội phạm trước đó của A là 2 năm Vì thế khi thực hiện hành vi hiếp dâm, cướp tài sản thì A mới chỉ thực hiện xong hình phạt tù 3 tháng nên không được xóa án tích Lúc này A lại phạm tội hiếp dâm và cướp tài sản với lỗi cố ý Vì thế A đã thuộc vào qui định về trường hợp tái phạm

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w