1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ ÁN KHOA HỌC: PHÁT TRIỂN NINH THUẬN TRỞ THÀNH TRUNG TÂM NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO CỦA CẢ NƯỚC

80 25 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển ninh thuận trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của cả nước
Tác giả TS. NCVCC. Đoàn Văn Bình
Trường học Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chuyên ngành Năng lượng tái tạo
Thể loại Đề án khoa học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 3,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1-ND1-Bìa

  • 2-Noi dung 1 Ninh Thuan

    • MỤC LỤC

    • DANH MỤC HÌNH VẼ

    • DANH MỤC BẢNG BIỂU

    • DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

    • NỘI DUNG 1

    • ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG LỢI THẾ VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ NINH THUẬN NÓI RIÊNG (GIÓ, MẶT TRỜI). DỰ BÁO LƯỢNG CUNG, CẦU SẢN LƯỢNG VÀ GIÁ THÀNH ĐIỆN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TẠI NINH THUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG KHU VỰC NAM TRUNG BỘ CÓ T...

      • I. Đánh giá tiềm năng phát triển điện gió ở Việt Nam

        • I.2. Cơ sở dữ liệu đo gió của các tổ chức Việt Nam

        • I.2. Cơ sở dữ liệu đo gió của các tổ chức nước ngoài

        • I.3. Hiện trạng khai thác nguồn năng lượng gió ở Việt Nam

      • II. Đánh giá tiềm năng phát triển điện mặt trời ở Việt Nam

        • II.1. Cơ sở dữ liệu đo bức xạ mặt trời của các tổ chức Việt Nam

        • II.2. Cơ sở dữ liệu đo bức xạ mặt trời của các tổ chức nước ngoài

        • II.3. Hiện trạng phát triển điện mặt trời tại Việt Nam

      • III. Các giải pháp kỹ thuật – công nghệ khai thác hiệu quả, bền vững nguồn NLTT ở quy mô tập trung (cho phát điện thương mại) và quy mô phân tán (cho sử dụng tại chỗ).

        • III.1. Công nghệ khai thác điện gió

      • III.1.1 Tuabin gió trục dọc

      • III.1.2 Tuabin gió trục ngang

      • III.1.3 Trạm điện gió độc lập

      • III.1.3. Điện gió nối lưới

      • III.1.4. Hệ thống điện tái tạo hỗn hợp nối lưới

        • III.2. Công nghệ khai thác điện mặt trời

      • III.2.1. Hệ thống điện mặt trời độc lập

      • III.2.2. Hệ thống điện mặt trời nối lưới

      • III.2.3. Hệ thống năng lượng hỗn hợp

      • IV. Đánh giá tiềm năng kinh tế - kỹ thuật phát triển điện gió và hiện trạng phát triển tính đến cuối năm 2019 ở Ninh Thuận

        • IV.1. Tiềm năng kinh tế - kỹ thuật phát triển điện gió tại Ninh Thuận

        • IV.2. Hiện trạng phát triển điện gió tại tỉnh Ninh Thuận

      • V. Đánh giá tiềm năng kinh tế - kỹ thuật phát triển điện mặt trời và hiện trạng phát triển tính đến cuối năm 2019 ở Ninh Thuận

        • V.1. Tiềm năng kinh tế - kỹ thuật phát triển điện mặt trời tại Ninh Thuận

        • V.2. Hiện trạng phát triển điện mặt trời tại tỉnh Ninh Thuận

      • VI. Dự báo nhu cầu điện tỉnh Ninh Thuận và các tỉnh lân cận giai đoạn 2020-2030

        • VI.1. Phương pháp luận dự báo

        • VI.2. Kết quả dự báo nhu cầu điện tỉnh Ninh Thuận

        • VI.3. Kết quả dự báo nhu cầu điện tỉnh Phú Yên

        • VI.4. Kết quả dự báo nhu cầu điện tỉnh Khánh Hòa

        • VI.5. Kết quả dự báo nhu cầu điện tỉnh Bình Thuận

      • VII. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Đánh giá tiềm năng phát triển điện gió ở Việt Nam

Cơ sở dữ liệu đo gió của các tổ chức Việt Nam

Tại Việt Nam, ngành khí tượng thủy văn đã thu thập số liệu đo gió trong nhiều năm qua thông qua hệ thống cột đo ở độ cao 10m tại nhiều tỉnh thành Tuy nhiên, độ cao cột đo quá thấp và mật độ ghi dữ liệu hàng ngày không đủ, khiến cho số liệu này không phù hợp cho nghiên cứu và khai thác năng lượng gió.

Các công ty đầu tư xây dựng điện gió đã thực hiện đo đạc chế độ gió ở nhiều khu vực như đồng bằng, ven biển và hải đảo tại miền Bắc và miền Trung, với độ cao từ 30m đến 60m bằng thiết bị hiện đại Kết quả thu được cho thấy tiềm năng khai thác năng lượng gió hiệu quả tại một số khu vực ở Việt Nam.

- Một số chủ đầu tư xây dựng dự án điện gió

Các dự án điện gió đang được triển khai với cột đo gió nhằm đánh giá tiềm năng gió, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau và khu vực Tây Nguyên.

Thiết bị đo được lắp đặt theo chiều dọc của cột, với 02 đến 03 tầng đo để đảm bảo độ chính xác Vị trí và hướng lắp đặt tuân thủ tiêu chuẩn IEC 61400 Các thiết bị đo này được nhập khẩu từ nước ngoài, phục vụ cho việc lắp đặt trạm đo tốc độ và hướng gió.

Một số cột quan trắc gió được xây dựng bởi EVN, Bộ Công Thương và các nhà đầu tư nhằm đánh giá tiềm năng gió tại Ninh Thuận và Bình Thuận Các cột đo này hoạt động ở độ cao 60m và cung cấp dữ liệu quan trắc tối thiểu trong 1 năm Hầu hết các cột đã được tháo dỡ để chuyển đến các địa điểm nghiên cứu mới.

- Một số cơ quan, viện nghiên cứu về năng lượng tái tạo

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)

Năm 2007, EVN đã thực hiện nghiên cứu đánh giá tiềm năng gió trên toàn quốc, xác định các khu vực phù hợp cho phát triển điện gió với tổng công suất kỹ thuật đạt 1.785 MW Miền Trung Bộ được xác định là khu vực có tiềm năng gió lớn nhất, với khoảng 880 MW tập trung chủ yếu ở hai tỉnh Quảng Bình và Bình Định Vùng miền Nam Trung Bộ đứng thứ hai với tiềm năng công suất ấn tượng.

855 MW, tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận

Hình 1.1 Các cột đo gió của EVN

Theo báo cáo của PECC3, dự án "Đánh giá nguồn gió tại một số vị trí đã lựa chọn ở Việt Nam" do Ngân hàng Thế giới tài trợ và Bộ Công Thương làm chủ đầu tư, đã được triển khai từ tháng 7/2007 đến tháng 12/2009, sau đó kéo dài thêm 2 năm quan trắc Kết quả cho thấy tiềm năng năng lượng gió tại độ cao 80m của Việt Nam có vận tốc trung bình năm lớn hơn 6 m/s, ước tính khoảng 10.637 MW, chiếm khoảng 0,8% diện tích cả nước với tổng diện tích khoảng 2659 m².

Việt Nam có tiềm năng gió lớn, phân bố trên 17 tỉnh từ Quảng Ninh đến Sóc Trăng Các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ như Bình Thuận và Ninh Thuận cùng khu vực Tây Nguyên là nơi tập trung nhiều tiềm năng gió nhất Ngoài ra, các tỉnh như Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Lâm Đồng và Phú Yên cũng sở hữu tiềm năng gió lý thuyết đáng kể.

Trong các khu vực có tiềm năng gió, khoảng 76% có vận tốc gió trung bình năm từ 6,0-6,5 m/s, trong khi chỉ khoảng 7% có vận tốc gió trung bình năm lớn hơn 7 m/s.

Cơ sở dữ liệu đo gió của các tổ chức nước ngoài

Hiện nay, nhiều tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới đang hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho việc xây dựng bản đồ gió tại Việt Nam Các cơ quan này chủ yếu dựa vào dữ liệu từ các cột đo gió kết hợp với mô hình số trị khí quyển để phân tích và tạo ra bản đồ tiềm năng gió cho đất nước.

- Tổ chức Ngân hàng thế giới (WB)

Bản đồ tiềm năng gió do Ngân hàng Thế giới phát triển cho bốn quốc gia Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Campuchia, Lào và Thái Lan, được xây dựng dựa trên mô hình số trị khí quyển.

Theo kết quả từ bản đồ năng lượng gió này, tiềm năng năng lượng gió ở độ cao

Việt Nam có tiềm năng năng lượng gió lớn nhất trong khu vực, với chiều cao 65 m và công suất lý thuyết lên đến 513.360 MW Quốc gia này sở hữu chế độ gió lý tưởng, đặc biệt ở các khu vực ven biển và miền núi, nơi có tốc độ gió trung bình hàng năm từ 8 đến 9 m/s, phù hợp cho việc xây dựng các nhà máy điện gió quy mô lớn.

Hình 1.2 Phân bố tốc độ gió trên lãnh thổ Việt Nam theo atlas cũ

Kết quả tính toán sơ bộ cho thấy tổng tiềm năng lý thuyết về năng lượng gió (NLG) của Việt Nam rất lớn, với vùng lãnh thổ có thể khai thác hiệu quả chiếm 9% diện tích cả nước Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là số lượng cột đo gió còn hạn chế, chỉ tập trung ở một số khu vực có tiềm năng gió tốt, dẫn đến độ chính xác của các kết quả mô phỏng ngoại suy chưa cao.

Những khu vực được hứa hẹn có tiềm năng lớn trên toàn lãnh thổ là khu vực ven biển và cao nguyên miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ

Bảng 1.1 Tiềm năng gió tại độ cao 65m trên lãnh thổ Việt Nam

Tốc độ gió trung bình Trung bình 6-7 m/s

Năm 2007, Bộ Công Thương, với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, đã tiến hành đo gió tại ba điểm nhằm xác định tiềm năng gió của Việt Nam Chương trình này được thực hiện trong hai năm với sự tư vấn quốc tế của AWS TruePower và công ty Tư vấn Điện 3 (PECC3) Kết quả đo đạc cùng với các số liệu khác đã được Bộ Công Thương sử dụng để cập nhật Atlas gió cho Việt Nam, cho thấy độ chính xác cao hơn so với các nghiên cứu trước đó.

Tốc độ gió trung bình 9m/s

Hình 1.3 Phân bố tốc độ gió trên lãnh thổ Việt Nam theo atlas mới

Trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Công thương và Dự án Năng lượng gió GIZ, chương trình đo gió tại 10 điểm với độ cao 80m đang được triển khai tại các tỉnh cao nguyên và duyên hải Trung Bộ Dự án áp dụng tiêu chuẩn IEC 61400-12, nhằm cung cấp dữ liệu gió đại diện cho các khu vực có tiềm năng gió tại Việt Nam, hỗ trợ cho sự phát triển điện gió trong tương lai Đồng thời, các báo cáo về quy trình và tiêu chuẩn lắp đặt cột đo gió cũng đang được hoàn thiện, tạo tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà phát triển điện gió.

Tổ chức SWERA (2006) cho biết rằng mật độ năng lượng gió ngoài khơi của Việt Nam có tiềm năng đáng kể, với khu vực biển Bình Thuận và Ninh Thuận đạt mức tối đa 450 W/m² Ngoài ra, các vùng biển ven bờ từ Nam Trung Bộ đến đảo Phú Quốc cũng có tiềm năng khá, đạt 400 W/m².

Tiềm năng năng lượng gió tại các đảo ở khu vực Nam Trung Bộ, đặc biệt là các đảo như Phú Quý, Côn Đảo và Phú Quốc, rất lớn.

+ Tổ chức NASA: Tốc độ gió trung bình năm giai đoạn 1999-2009 trên biển Đông

Hình 1.4 Tốc độ gió vùng ngoài biển Việt Nam [3]

Theo dữ liệu từ NASA giai đoạn 1999-2009, tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 10m tại Việt Nam chủ yếu tập trung ở vùng biển Nam Trung Bộ và khu vực Đông Bắc.

Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, tiềm năng năng lượng gió tại các khu vực ven biển Việt Nam, đặc biệt là vùng ven biển Nam Trung Bộ, rất lớn.

Bộ là có tiềm năng năng lượng gió lớn nhất, tiếp đến là khu vực vùng biển miền Nam Việt Nam và vùng ven biển Đông Bắc Việt Nam.

Hiện trạng khai thác nguồn năng lượng gió ở Việt Nam

Hiện nay, chi phí sản xuất điện từ năng lượng gió đang giảm nhanh chóng, khiến nó trở thành lựa chọn kinh tế nhất cho phát điện ở nhiều thị trường có tiềm năng lớn Tính kinh tế của năng lượng gió là động lực chính cho việc lắp đặt các tuabin mới, đồng thời các mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính cũng thúc đẩy triển khai nguồn năng lượng này Ngoài ra, nhu cầu điện ngày càng tăng và sự cạn kiệt của nguồn năng lượng hóa thạch như than và khí đốt càng làm nổi bật vai trò của năng lượng gió trong cung cấp điện giá rẻ.

Thị trường điện gió toàn cầu đã ghi nhận sự tăng trưởng ổn định trong năm 2018, với công suất lắp đặt đạt khoảng 51 GW trên toàn thế giới.

Trong năm 2021, thị trường điện gió ghi nhận công suất lắp đặt đạt 47 GW trên bờ và khoảng 4,5 GW xa bờ, giảm khoảng 4% so với năm 2017 Sự suy giảm này hoàn toàn đến từ công suất lắp đặt trên bờ, đánh dấu năm thứ năm liên tiếp có công suất bổ sung hàng năm vượt quá 50 GW, nhưng cũng là năm giảm thứ ba liên tiếp kể từ đỉnh điểm năm 2015.

Vì vậy, công suất bổ sung năm 2018 đã tăng công suất tích lũy toàn thế giới lên

9 % tương đương 591 GW, với khoảng 568,4 GW công suất trên bờ và phần còn lại công suất ngoài khơi [6]

Hình 1.5 Công suất điện gió thế giới và công suất lắp đặt hàng năm giai đoạn

Châu Á là thị trường năng lượng gió phát triển nhanh nhất thế giới, chiếm gần 52% tổng công suất với hơn 262 GW vào cuối năm 2018 Trung Quốc dẫn đầu với công suất điện gió vượt 200 GW và ghi nhận sự gia tăng lắp đặt tuabin gió mới lên 7,5% sau hai năm suy giảm Trong năm 2018, Trung Quốc lắp đặt thêm khoảng 21,1 GW, bao gồm 19,5 GW trên bờ và gần 1,7 GW ngoài khơi, nâng tổng công suất lắp đặt lên khoảng 210 GW.

Việt Nam sở hữu tiềm năng năng lượng gió lớn với bờ biển dài trên 3000km và nhiều hải đảo, có vận tốc gió trung bình năm đạt từ 5m/s trở lên Tuy nhiên, sự phát triển các dự án điện gió hiện tại chưa tương xứng với nguồn năng lượng dồi dào này.

Cụ thể tình hình đầu tư phát triển các dự án điện gió tính đến tháng 3 năm 2020 như sau:

Hình 1.6 Vị trí các dự án điện gió tại Việt Nam [8]

- Dự án điện gió đã được đưa vào quy hoạch phát triển điện lực: 78 dự án với tổng công suất khoảng 4.800 MW

- Dự án vận hành phát điện: 11 dự án với tổng công suất 377 MW

- 31 dự án đã ký hợp đồng mua bán điện tổng công suất 1.662,25 MW và dự kiến vào vận hành trong năm 2020 và 2021

Ngày 10 tháng 9 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

39 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 37, theo đó giá điện được điều chỉnh tăng lên, cụ thể:

- Đối với điện gió trong đất liền: Giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 1.927 đồng/kWh, tương đương 8,5 Uscent/kWh (chưa bao gồm VAT)

- Đối với điện gió trên biển: Giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 2.223 đồng/kWh, tương đương 9,8 Uscent/kWh (chưa bao gồm VAT)

Giá điện áp dụng cho các dự án điện gió có ngày vận hành thương mại trước 01 tháng 11 năm 2021 sẽ được duy trì trong 20 năm kể từ ngày bắt đầu hoạt động.

Các dự án điện gió tại Việt Nam, như thể hiện trong hình 1.6, chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ, với nhiều dự án đã, đang và sẽ được thực hiện trong khu vực này.

Đánh giá tiềm năng phát triển điện mặt trời ở Việt Nam

Cơ sở dữ liệu đo bức xạ mặt trời của các tổ chức Việt Nam

Việt Nam sở hữu tiềm năng năng lượng mặt trời phong phú, đặc biệt ở miền Trung và miền Nam với nắng quanh năm, khiến năng lượng mặt trời trở thành nguồn tái tạo lớn nhất và ổn định nhất cho tương lai Tuy nhiên, khả năng khai thác năng lượng mặt trời giữa miền Bắc và miền Nam có sự khác biệt; miền Bắc có hiệu suất thấp vào mùa đông do thời tiết nhiều mây và mưa phùn, trong khi miền Nam thuận lợi hơn Nhiều cơ quan, chủ yếu là Viện khí tượng thủy văn, đã tiến hành đánh giá tiềm năng năng lượng mặt trời từ năm 1980 với hơn 112 trạm đo khí tượng trên toàn quốc Các trạm này thu thập dữ liệu về bức xạ mặt trời, số giờ nắng và các yếu tố khí tượng khác, nhưng độ tin cậy của dữ liệu còn hạn chế do việc đo không liên tục và công nghệ lạc hậu Hiện tại, chỉ còn khoảng 12-13 trạm duy trì đo bức xạ mặt trời thường xuyên, mặc dù hệ thống thiết bị đã được nâng cấp.

Theo số liệu từ ngành khí tượng thủy văn, cường độ bức xạ mặt trời trung bình hàng ngày ở miền Bắc đạt khoảng 4 kWh/m²/ngày, trong khi miền Nam cao hơn với 5,2 kWh/m²/ngày Số giờ nắng trung bình hàng năm ở miền Bắc là 1600 giờ, so với 2700 giờ ở miền Nam.

Bảng 2.1 Tổng hợp giá trị trung bình TXMT ngày trong năm và số giờ nắng của một số khu vực khác nhau ở Việt Nam [3]

TXMT trung bình (kWh/m 2 ngày)

Số giờ nắng trung bình (giờ/năm)

1 Khu vực Đông Bắc bộ và Đồng bằng Sông

2 Khu vực Tây Bắc bộ 4,3 – 5,3 1500 - 2100

3 Khu vực Bắc Trung Bộ 4,6 – 5,2 1600 - 1900

4 Khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên 4,9 – 5,7 2000 - 2800

5 Khu vực Đông Nam bộ và Đồng bằng

Dữ liệu về năng lượng mặt trời cho thấy nguồn năng lượng mặt trời (NLMT) ở Việt Nam có độ ổn định cao trong suốt năm Tiềm năng điện mặt trời được đánh giá tốt nhất ở các khu vực từ Thừa Thiên Huế trở vào miền Nam và vùng Tây Bắc bộ, trong khi vùng Đông Bắc bộ và Đồng bằng sông Hồng có tiềm năng thấp hơn.

Cơ sở dữ liệu đo bức xạ mặt trời của các tổ chức nước ngoài

Dự án Hỗ trợ kỹ thuật “Thúc đẩy phát triển năng lượng mặt trời tại Việt Nam” được triển khai bởi Tổng cục Năng lượng - Bộ Công thương Việt Nam và Cơ quan hợp tác phát triển Tây Ban Nha nhằm phát triển năng lượng mặt trời tại quốc gia này.

Chương trình "Thúc đẩy phát triển năng lượng mặt trời tại Việt Nam", do Chính phủ Tây Ban Nha tài trợ không hoàn lại với tổng giá trị 1 triệu Euro, đã được triển khai từ năm 2013 Dự án bao gồm ba phần chính: đầu tiên là đánh giá tiềm năng phát triển năng lượng mặt trời và xây dựng bản đồ tiềm năng năng lượng mặt trời tại Việt Nam; thứ hai là xây dựng

2 dự án thí điểm năng lượng mặt trời, cụ thể tại trụ sở Bộ Công Thương (23 Ngô

Dự án tại đảo Côn Đảo (Vũng Tàu) sử dụng dữ liệu vệ tinh để phân tích và tạo ra bản đồ bức xạ mặt trời cho các hệ thống năng lượng mặt trời Các mô hình tính toán kết hợp với thông tin từ 11 trạm đo mặt đất ở Việt Nam đã cho ra kết quả hàng năm và hàng tháng về tổng xạ phương ngang, chủ yếu dựa vào số giờ nắng.

Hình 2.1 Tiềm năng năng lượng mặt trời tại Việt Nam (BCT & TBN) [9]

Theo dữ liệu bức xạ mặt trời từ dự án, tổng xạ mặt trời trung bình hàng ngày tại Việt Nam dao động từ khoảng 3,4 kWh/m²/ngày đến 5,4 kWh/m²/ngày.

Năm 2017, Ngân hàng Thế giới (WB) đã hợp tác với Solargis để hỗ trợ chính phủ Việt Nam trong việc đo đạc và lập bản đồ năng lượng mặt trời Đây là một phần trong gói hỗ trợ toàn diện của WB nhằm thúc đẩy sự phát triển của năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

Việt Nam đang nhận được hỗ trợ tư vấn từ Ngân hàng Thế giới (WB) cho các dự án điện mặt trời lớn nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ thương mại Trong khuôn khổ gói hỗ trợ này, WB đã thiết lập 5 trạm đo bức xạ mặt trời Dựa trên dữ liệu từ các trạm này, Solargis đã thành công trong việc xây dựng bản đồ tiềm năng lý thuyết và bản đồ tiềm năng điện mặt trời tại Việt Nam Kết quả cho thấy tổng xạ mặt trời theo phương ngang dao động từ 2,8 kWh/m²/ngày đến 5,8 kWh/m²/ngày, trong khi giá trị tiềm năng điện mặt trời đạt từ 2,4 kWh/kWp/ngày đến 4,6 kWh/kWp/ngày.

Hình 2.2 Tiềm năng năng lượng mặt trời tại Việt Nam (WB & Solar Gis) [10]

Hiện trạng phát triển điện mặt trời tại Việt Nam

Pin mặt trời đã được nghiên cứu và ứng dụng tại Việt Nam từ trước những năm 1990, nhưng chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ từ sau năm 1995, chủ yếu ở các khu vực nông thôn miền núi và vùng sâu vùng xa Việt Nam sở hữu tiềm năng năng lượng bức xạ mặt trời lớn, do đó việc phát triển công nghệ khai thác và sử dụng nguồn năng lượng này mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn Một số ứng dụng nổi bật của pin mặt trời bao gồm ngành bưu chính viễn thông, nơi các trạm pin mặt trời cung cấp điện cho thiết bị thu phát sóng, và ngành bảo đảm hàng hải, với các trạm này cung cấp điện cho thiết bị chiếu sáng, cột hải đăng và đèn báo sông.

Trong ngành công nghiệp, trạm PMT phát điện cung cấp nguồn điện dự phòng cho thiết bị điều khiển trạm biến áp 500kV và máy tính, đồng thời kết nối với điện lưới quốc gia Tại các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa, trạm PMT phát điện được sử dụng để thắp sáng và phục vụ nhu cầu giải trí như nghe đài, xem vô tuyến Ngoài ra, trong lĩnh vực giao thông đường bộ, trạm PMT phát điện ngày càng được áp dụng để cung cấp điện cho các cột đèn đường chiếu sáng.

Việc ứng dụng điện mặt trời nối lưới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong những năm gần đây Từ giai đoạn 2000-2010, các mô hình điện mặt trời chủ yếu chỉ mang tính chất trình diễn, và công nghệ inverter nối lưới vẫn đang trong giai đoạn phát triển sơ khai Đến năm 2017, tổng công suất điện mặt trời chỉ đạt khoảng 8 MWp Tuy nhiên, đến cuối năm 2019, tổng công suất lắp đặt của các nhà máy điện mặt trời đã lên tới khoảng 4,8 GW, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ và lần đầu tiên Việt Nam góp mặt trong bảng xếp hạng các quốc gia hàng đầu thế giới về năng lượng mặt trời Quy mô công suất này đã vượt xa dự kiến phát triển điện mặt trời đến năm 2020 trong Quy hoạch điện 7 điều chỉnh.

Bảng 2.2 Các quốc gia trong top 10 thế giới về lắp đặt PMT năm 2019 [11]

Hình 2.3 Vị trí các dự án điện mặt trời tại Việt Nam [8]

Các dự án điện mặt trời tại Việt Nam chủ yếu được triển khai ở các tỉnh miền Trung, như thể hiện trong hình 2.4.

Hình 2.4 Phát triển điện mặt trời áp mái [12]

Điện mặt trời áp mái (ĐMTAM) được xem là giải pháp phân tán hiệu quả, với khả năng tiêu thụ điện tại chỗ và phát điện chủ yếu vào ban ngày, giúp giảm áp lực lên lưới điện và giảm chi phí đầu tư hệ thống Theo thông tin từ Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), tính đến ngày 12/9/2020, đã có 49.154 dự án lắp đặt hệ thống điện mặt trời trên mái nhà, với tổng công suất lắp đặt đạt 1.240 MWp.

Các giải pháp kỹ thuật – công nghệ khai thác hiệu quả, bền vững nguồn

Công nghệ khai thác điện gió

Công nghệ tuabin gió đã phát triển với nhiều loại và hình dạng khác nhau trên toàn thế giới Các thiết kế cụ thể đã được giới thiệu để phục vụ nghiên cứu trong các thí nghiệm hầm gió Tuabin gió có thể được phân loại theo dạng trục hoặc theo công suất, trong đó bao gồm loại trục ngang (HAWT) và loại trục dọc (VAWT) Đặc biệt, tuabin gió trục ngang còn được phân loại thành tuabin chính gió (upwind) và tuabin nược gió (downwind).

III.1.1 Tuabin gió trục dọc

Roto Savonius được sử dụng làm máy thông khí cho toa xe lửa và xe tải, trong khi máy đo tốc độ gió là ví dụ về thiết kế quay quanh trục dọc Nhờ vào công nghệ và sự sáng tạo, các kỹ sư đã phát triển thành công các thiết kế tuabin gió trục dọc, ứng dụng hiệu quả lực khí động học Thiết kế tuabin gió trục dọc do kỹ sư Pháp Darrieus đề xuất vào năm 1925 được xem là đầy hứa hẹn cho các tuabin gió hiện đại Roto Darrieus có cánh quạt hình dạng đặc biệt, xoay quanh trục dọc, với thiết kế tối ưu nhất là hai hoặc ba cánh quạt.

Thiết kế đơn giản của tuabin gió trục dọc (VAWT) bao gồm trụ đỡ bê tông chứa các bộ phận cơ khí và dây điện, hộp số và máy phát được đặt gần mặt đất, không có hệ thống điều chỉnh tự quay theo chiều gió Điều này giúp cho việc vận hành và bảo trì VAWT trở nên dễ dàng hơn so với tuabin gió trục ngang, đặc biệt là trong các khu vực đô thị và nơi có tốc độ gió thấp.

Hình 3.1 Tuabin gió trục dọc Darrieus Ưu điểm của VAWT là:

- Tháp của VAWT không cần quá to để hỗ trợ máy phát và hộp số

- VAWT không cần hệ thống quay theo chiều gió

Nhược điểm của VAWT là:

- Tốc độ gió gần với mặt đất nên có độ nhiễu cao và tốc độ thấp Tốc độ gió ở phần dưới của roto là rất thấp

- Hiệu suất của VAWT là thấp

- VAWT không tự khởi động, nó có thể sử dụng máy phát điện làm động cơ để khởi động

Tuabin gió trục dọc, đặc biệt là loại roto Darrieus, có tiềm năng phát triển lớn ở những khu vực có tốc độ gió thấp và nhiễu loạn cao, cũng như trong các khu vực đô thị.

III.1.2 Tuabin gió trục ngang

Hầu hết các tuabin gió thương mại hiện nay đều là tuabin gió trục ngang (HAWT), với roto quay quanh trục nằm ngang gần như song song với mặt đất Các cánh quạt của tuabin HAWT được lắp ráp vuông góc, tối ưu hóa hiệu suất thu năng lượng gió.

Cánh quạt có góc pitch cố định

Máy phát điện HAWT thường có ba cánh quạt, nhưng cũng có thể có 1, 2, hoặc 4 cánh tùy thuộc vào mục đích sử dụng Các thông số kỹ thuật như hộp số, đường kính roto, độ cao roto và tháp roto đều đóng vai trò quan trọng trong hiệu suất của máy phát điện.

Hình 3.2 Tuabin gió trục ngang: cùng ngược gió (upwind) và theo hướng gió

Thiết kế HAWT (tuabin gió trục ngang) hiện nay là nguyên tắc chính trong công nghệ năng lượng gió, với các thành phần như cánh quạt, hộp số, máy phát điện, tháp và đế Khác với VAWT (tuabin gió trục dọc), HAWT có hệ thống máy phát điện và hộp số được đặt trong nacelle trên đỉnh tháp, trong khi cánh quạt được gắn vào nacelle Ưu điểm nổi bật của HAWT bao gồm hiệu suất cao và khả năng khai thác gió hiệu quả hơn.

- HAWT có tháp cao, vì vậy nó đón được tốc độ gió cao và ít nhiễu loạn

- HAWT có công suất đầu ra cao và hiệu suất khí động học cao

- Hệ thống điều khiển theo hướng gió của HAWT để quay các cánh quạt theo hướng gió

- Cánh quạt của HAWT có góc xoắn, vì vậy cánh quạt có thể có được góc tấn công tốt nhất

Nhược điểm của HAWT là:

- HAWT khó vận chuyển và lắp đặt vì trọng lượng của nó quá lớn

- HAWT khó bảo trì vì nacelle được lắp đặt trên đỉnh tháp cao

Hầu hết các tuabin gió phát điện hiện nay đều sử dụng cánh quạt trục ngang nhờ vào những lợi thế vượt trội mà chúng mang lại.

Tuabin ngược gió (upwind) là loại tuabin có cánh quạt quay trước nacelle và tháp, với thiết kế cứng hơn để chịu lực gió tác động hướng về tháp Điều này làm tăng trọng lượng và tải trọng cho tuabin Để hoạt động hiệu quả, tuabin ngược gió cần hệ thống điều khiển quay theo hướng gió (yaw system) Loại tuabin này phổ biến nhất trên thế giới nhờ vào ưu điểm giảm hiệu ứng bóng tháp, giúp giảm tải trọng lên cánh quạt Tuy nhiên, một nhược điểm là khoảng cách giữa cánh quạt và tháp cần đủ lớn để tránh va chạm Việc dự đoán dao động cánh quạt trong điều kiện gió hỗn loạn là rất quan trọng để bảo vệ cánh quạt và tháp khỏi thiệt hại.

Tuabin theo hướng gió (downwind) có thiết kế cánh quạt quay phía sau nacelle và tháp, cho phép hoạt động mà không cần hệ thống điều khiển ngáp nếu được thiết kế hợp lý Một trong những ưu điểm nổi bật của loại tuabin này là cánh quạt nhẹ, giúp chịu được dao động lớn mà không va chạm với tháp Do đó, cánh quạt có thể được chế tạo với độ cứng và trọng lượng giảm Tuy nhiên, nhược điểm lớn của tuabin theo chiều gió là ảnh hưởng của luồng khí phía sau tháp, dẫn đến dao động tải trọng mỏi cao hơn và giảm hiệu suất do tốc độ gió bị suy giảm.

III.1.3 Trạm điện gió độc lập

Hệ thống điện gió độc lập chuyển đổi phong năng thành điện năng thông qua tuabin gió Điện năng từ tuabin được điều khiển và lưu trữ trong hệ thống acquy, có thể cung cấp trực tiếp cho phụ tải một chiều DC hoặc sử dụng bộ chuyển đổi DC/AC để cấp điện cho các phụ tải xoay chiều AC.

Hình 3.3 Sơ đồ hệ thống điện gió độc lập Các thành phần chính trong trạm điện gió:

Tuabin gió đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi động năng của gió thành cơ năng thông qua roto, và sau đó chuyển cơ năng này thành điện năng qua máy phát điện.

Bộ điều khiển sạc giúp sạc ắcquy an toàn và hiệu quả bằng cách theo dõi điện áp của ắcquy Khi điện áp đạt mức tối đa, bộ điều khiển sẽ kích hoạt thiết bị dumpload để tiêu tán điện dư thừa từ tuabin gió, ngăn ngừa việc sạc quá mức vào ắcquy đã đầy Việc ngừng sạc khi ắcquy đã đầy là cần thiết để tránh hư hỏng và nguy cơ cháy nổ.

Bộ điều khiển sạc điện gió được lựa chọn phù hợp với điện áp, dòng điện làm việc máy phát điện gió và điện áp hệ thống ắcquy

+ Ắc quy lưu trữ năng lượng trong những khoảng thời gian không có gió hoặc trong thời gian điện lưới mất điện

Dump load (phụ tải giả) là thiết bị dùng để tiêu tán năng lượng dư thừa từ hệ thống điện gió độc lập khi tuabin gió hoạt động và ắc quy đã đầy, hoặc trong trường hợp hệ thống tuabin gió nối lưới bị mất điện lưới.

Bộ biến tần Inverter chuyển đổi dòng điện một chiều (DC) thành dòng điện xoay chiều (AC) và có khả năng kết nối với lưới điện địa phương trong trường hợp điện gió nối lưới Việc lựa chọn inverter phụ thuộc vào điện áp và dòng điện làm việc của máy phát điện gió, đồng thời công suất của inverter độc lập cần đủ lớn để đáp ứng nhu cầu khi tất cả các phụ tải hoạt động đồng thời.

+ Phụ tải AC/DC: là các thiết bị tiêu thụ điện có điện áp một chiều hoặc điện áp xoay chiều

III.1.3 Điện gió nối lưới

Công nghệ khai thác điện mặt trời

III.2.1 Hệ thống điện mặt trời độc lập

Hệ thống điện mặt trời độc lập chuyển đổi quang năng thành điện năng thông qua dàn pin mặt trời Điện năng này được cung cấp trực tiếp cho phụ tải DC qua bộ điều khiển, hoặc được lưu trữ trong hệ thống acquy Ngoài ra, hệ thống cũng có thể sử dụng bộ chuyển đổi DC/AC để cấp điện cho các phụ tải AC.

Hệ thống điện mặt trời độc lập đang ngày càng phổ biến trên toàn thế giới, bao gồm cả Việt Nam, nhờ vào sự phát triển kỹ thuật và giá cả hợp lý hơn Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống này phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết; trong những ngày không thuận lợi, khả năng cung cấp điện ổn định cho phụ tải sẽ bị ảnh hưởng Thêm vào đó, khi cần cung cấp điện cho các phụ tải lớn, hệ thống thường yêu cầu diện tích lắp đặt rộng rãi.

Một nhược điểm của hệ thống điện mặt trời độc lập là cần sử dụng bộ ắc quy, vừa tốn kém vừa yêu cầu bảo trì thường xuyên và gây ô nhiễm môi trường Hơn nữa, bộ ắc quy chỉ có khả năng lưu trữ một lượng điện năng hạn chế, điều này trở thành thách thức lớn khi áp dụng cho các hệ thống PMT có công suất hàng chục hoặc hàng trăm kW Hệ thống điện mặt trời độc lập chủ yếu được sử dụng để cung cấp điện cho những khu vực xa xôi, như vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, phục vụ cho các ứng dụng như hệ thống bơm, hệ thống lọc nước, hệ thống đèn đường và hệ thống điều hòa nhiệt độ.

Hình 3.8 Ứng dụng điện mặt trời độc lập Các thành phần chính trong hệ thống:

Dàn pin mặt trời bao gồm nhiều môđun pin ghép lại, được kết nối theo yêu cầu về công suất, điện thế và dòng điện Khi có ánh sáng mặt trời, dàn pin phát ra dòng điện một chiều để cung cấp cho hệ thống.

+ Bộ Inverter chuyển đổi nguồn DC thành AC với hiệu suất cao, dạng sóng hình sin chuẩn với tần số ổn định

Hệ thống ắc quy bao gồm nhiều bình ắc quy được kết nối theo kiểu nối tiếp, song song hoặc hỗn hợp, nhằm tích trữ điện năng cho các thiết bị tiêu thụ khi không có ánh sáng mặt trời Để đảm bảo hiệu suất, dung lượng ắc quy, được đo bằng ampe-giờ (Ah) hoặc oát-giờ (Wh), cần được tính toán phù hợp với công suất của dàn PMT.

Bộ điều khiển nạp là thiết bị điện tử tự động điều chỉnh quá trình nạp điện cho ắc quy và cung cấp điện cho các tải Khi ắc quy đạt 100% dung lượng, bộ điều khiển sẽ tự động giảm hoặc cắt dòng điện nạp để tránh hư hỏng Nếu ắc quy bị sử dụng kiệt do điều kiện thời tiết xấu, bộ điều khiển sẽ cắt mạch tải và chỉ khi dung lượng ắc quy vượt qua mức giới hạn dưới, mạch tải sẽ được tự động đóng lại.

+ Phụ tải AC/DC: là các thiết bị tiêu thụ điện có điện áp một chiều hoặc điện áp xoay chiều

Nhiều ứng dụng đã được phát triển dựa trên nguyên lý của hệ thống điện mặt trời độc lập, bao gồm bơm nước, bộ lọc nước, đèn chiếu sáng, điều hòa nhiệt độ một chiều, thiết bị sạc điện thoại, và ô tô chạy bằng năng lượng mặt trời.

III.2.2 Hệ thống điện mặt trời nối lưới a Hệ thống quy mô nhỏ

Hình 3.9 Sơ đồ nguyên lý hệ thống điện mặt trời nối lưới áp mái

Khi thời tiết thuận lợi, hệ thống pin mặt trời hấp thụ năng lượng mặt trời và chuyển đổi thành điện một chiều Qua bộ chuyển đổi DC/AC, điện được biến đổi thành dòng xoay chiều phù hợp để hòa vào lưới điện công nghiệp, với công tơ ghi lại lượng điện phát lên lưới Khi sử dụng điện, hộ gia đình lấy điện từ lưới qua công tơ thứ hai Hàng tháng, công ty điện lực kiểm tra chỉ số của các công tơ để xác định số tiền điện mà hộ gia đình phải trả hoặc nhận, tùy thuộc vào lượng điện tiêu thụ so với lượng điện phát lên lưới.

Mạng lưới điện không chỉ giúp lưu trữ điện năng từ các hệ thống pin mặt trời mà còn cung cấp điện trở lại cho người tiêu dùng khi cần Để tối ưu hóa việc đo đếm lượng điện tiêu thụ và sản xuất, có thể sử dụng một công tơ đa năng quay hai chiều, thay thế cho hai công tơ truyền thống, cho phép theo dõi cả lượng điện mà hộ tiêu dùng bán và mua từ công ty điện lực địa phương.

Các thành phần chính của một hệ thống điện mặt trời nối lưới

Dàn pin mặt trời (PMT) bao gồm nhiều môđun pin mặt trời được ghép lại với nhau, có thể được nối tiếp, song song hoặc hỗn hợp tùy theo yêu cầu về công suất, điện thế và dòng điện Khi có ánh sáng mặt trời, dàn pin sẽ phát ra dòng điện một chiều cung cấp cho hệ thống, với công suất phát tỷ lệ thuận với cường độ bức xạ mặt trời.

+ Máy cắt điện một chiều: dùng để đóng cắt dòng điện một chiều từ dàn pin mặt trời để phục vụ cho việc kiểm tra, sửa chữa

+ Bộ Inverter 12VDC, 24VDC, 48VDC/220VAC chuyển đổi nguồn DC thành AC với hiệu suất cao, dạng sóng hình sin chuẩn với tần số ổn định

Máy cắt điện xoay chiều được sử dụng để điều khiển dòng điện giữa hệ thống pin mặt trời và lưới điện công nghiệp, nhằm phục vụ cho các hoạt động kiểm tra và sửa chữa.

+ Công tơ dùng để đo đếm lượng điện năng phát vào lưới điện và từ lưới điện đến hộ tiêu thụ

Hệ thống có thể tích hợp thêm acquy để lưu trữ điện, đảm bảo hoạt động liên tục trong trường hợp mất điện lưới do thời tiết xấu Ưu điểm nổi bật của hệ thống này là khả năng cung cấp nguồn điện dự phòng hiệu quả.

Hệ thống điện mặt trời giúp giảm chi phí điện hàng tháng mà không phát sinh thêm chi phí bảo trì Việc sử dụng điện trở nên ổn định và tiết kiệm hơn Đặc biệt, các hệ thống có công suất lớn có khả năng tạo thu nhập cho hộ gia đình hoặc cơ quan thông qua việc bán điện cho công ty điện lực địa phương.

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng sạch và thân thiện với môi trường, giúp giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hóa thạch như dầu mỏ và than đá.

Tại các quốc gia có ngành công nghiệp điện mặt trời phát triển, chính phủ triển khai nhiều chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích hộ gia đình và các cơ quan hành chính áp dụng hệ thống điện mặt trời nối lưới, đặc biệt là các hệ thống quy mô lớn.

Đánh giá tiềm năng kinh tế - kỹ thuật phát triển điện gió và hiện trạng phát triển tính đến cuối năm 2019 ở Ninh Thuận

Tiềm năng kinh tế - kỹ thuật phát triển điện gió tại Ninh Thuận

IV.1.1 Định nghĩa tiềm năng năng lượng gió

Tiềm năng từ năng lượng gió sẽ được định nghĩa và phân chia thành các loại sau:

Tiềm năng lý thuyết là khả năng năng lượng tối đa có thể đạt được từ dữ liệu quan trắc khí tượng Tuy nhiên, để khai thác tiềm năng này, cần nhiều yếu tố khác nhau Một khu vực được xem là có tiềm năng gió khi vận tốc gió trung bình hàng năm tại độ cao lắp đặt tua bin đạt từ 6,0 m/s trở lên.

Khu vực được coi là có tiềm năng kỹ thuật khi có khả năng triển khai xây dựng và vận hành dựa trên điều kiện kỹ thuật và công nghệ hiện tại Nếu một khu vực chỉ có tiềm năng lý thuyết nhưng có địa hình hiểm trở, không thể vận chuyển vật tư thiết bị, không thể thi công hoặc không kết nối được với hệ thống điện, thì khu vực đó sẽ được xem là không khả thi và không có tiềm năng kỹ thuật.

Tiềm năng quy hoạch của một khu vực xác định khả năng phù hợp với nhiều chức năng khác nhau, nhưng khi quy hoạch cho một chức năng nhất định, sẽ không thể thực hiện chức năng khác Chẳng hạn, khu vực dành cho công nghiệp không thể đáp ứng yêu cầu của các tua bin gió, cần không gian rộng rãi và giá đất thấp Đồng thời, tua bin gió không thể đặt trong khu vực tôn giáo do lo ngại về cảnh quan Tuy nhiên, một số chức năng có thể đồng tồn tại với phong điện mà không gặp trở ngại Khi phát triển nhà máy phong điện, các tua bin gió sẽ được bố trí rải rác, và chỉ chiếm khoảng 5% diện tích khu vực nghiên cứu, trong khi 95% diện tích còn lại vẫn có thể được sử dụng cho nông nghiệp, chăn nuôi hoặc lâm nghiệp, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất và khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Tiềm năng tài chính, hay tiềm năng khả thi, là khả năng khai thác hiệu quả và mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư khi triển khai dự án trong điều kiện hiện tại Tiềm năng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như suất đầu tư, sản lượng điện sản xuất, giá bán điện, khả năng bán tín dụng giảm khí phát thải, chính sách trợ giá của Chính phủ, khả năng huy động vốn và khả năng triển khai dự án Do đó, tiềm năng tài chính có thể thay đổi theo thời gian; một khu vực hiện tại không có tiềm năng có thể trở nên có tiềm năng trong tương lai Tại Việt Nam, hầu hết các yếu tố này vẫn chưa rõ ràng, và tiềm năng tài chính được xem như khả năng triển khai hoạt động điện gió trong 5 năm tới theo đánh giá chủ quan của các bên liên quan.

IV.1.2 Tiềm năng lý thuyết năng lượng gió tại Ninh Thuận [13]

+ Khu vực phía Bắc tỉnh Ninh Thuận (phía Bắc huyện Ninh Phước)

Hình 4.1 Bản đồ QH năng lượng gió phía Bắc tỉnh Ninh Thuận

Theo quy hoạch phát triển điện gió tỉnh Ninh Thuận, hầu hết khu vực có tốc độ gió dưới 6 m/s, trong khi chỉ một số khu vực trên các dãy núi đạt tốc độ từ 7-7,5 m/s.

+ Khu vực Thuận Bắc, Ninh Hải, Ninh Sơn các xã phía Nam huyện Bác Ái

Hình 4.2 Bản đồ QH năng lượng gió Thuận Bắc, Ninh Hải, Ninh Sơn các xã phía

Huyện Bác Ái có tiềm năng lớn về năng lượng gió, đặc biệt là khu vực duyên hải và các xã thuộc huyện Thuận Bắc và Ninh Hải Theo bản đồ quy hoạch phát triển điện gió Ninh Thuận, tốc độ gió tại khu vực này dao động từ 6,5m/s đến 7,5m/s ở độ cao 80m, trong khi một số khu vực đồi núi cao có tốc độ gió đạt từ 7,5m/s đến 8,5m/s Bản đồ tiềm năng gió Việt Nam cũng xác nhận rằng tốc độ gió chủ yếu tại đây nằm trong khoảng từ 6,5m/s.

7,0m/s và một số khu vực trên những đỉnh núi cao lên đến 7,75m/s

+ Khu vực TP Phan Rang-Tháp Chàm, Thuận Nam, Ninh Phước

Hình 4.3 Bản đồ QH năng lượng gió TP Phan Rang-Tháp Chàm, Thuận Nam,

Khu vực duyên hải dọc biển, đặc biệt là các xã/phường thuộc huyện/TP Phan Rang – Tháp Chàm, Thuận Nam và Ninh Phước, có tiềm năng gió lớn với tốc độ gió dao động từ 7 m/s đến 7,5 m/s ở độ cao 80m, theo bản đồ QHPT điện gió Bản đồ tiềm năng gió Việt Nam cũng xác nhận tốc độ gió chủ yếu từ 7 m/s đến 7,25 m/s tại khu vực này Ngoài ra, khu vực phía Tây Nam cũng có một số địa điểm có tiềm năng gió từ 7 đến 7,5 m/s, mặc dù địa hình ở đây cao và nhiều đồi núi.

IV.1.3 Tiềm năng kỹ thuật năng lượng gió tại Ninh Thuận [13]

Khu vực Ninh Thuận có tổng diện tích tiềm năng gió kỹ thuật lên đến 89.983 ha, chiếm 26,8% tổng diện tích tỉnh, được phân bố theo các đơn vị hành chính.

Bảng 3.1 Phân bố tiềm năng gió kỹ thuật ở Ninh Thuận

Diện tích (ha) Khu vực phân bố

6,0-6,5 23.660 Ninh Sơn, Thuận Bắc, Ninh Hải, Thuận Nam, Ninh Phước,

Phan Rang-Tháp Chàm 6,5-7,0 32.980 Bác Ái, Ninh Sơn, Thuận Bắc, Ninh Hải, Thuận Nam, Ninh

Phước, Phan Rang – Tháp Chàm

7,0-7,5 26.180 Bác Ái, Ninh Sơn, Thuận Bắc, Ninh Hải, Thuận Nam, Ninh

Phước, Phan Rang – Tháp Chàm

7,5-8,0 3.495 Bác Ái, Ninh Sơn, Thuận Bắc, Ninh Hải, Thuận Nam, Ninh

Phước 8,0-8,5 79 Thuận Bắc, Ninh Hải

8,5-9,0 2.694 Thuận Bắc, Ninh Hải, Thuận Nam, Ninh Phước, Phan Rang-

Tháp Chàm 9,0-9,5 692 Thuận Bắc, Ninh Hải, Ninh Phước trên 9,5 203 Thuận Bắc, Ninh Hải, Ninh Phước

Tổng công suất phong điện có thể lắp đặt tại Ninh Thuận ước đạt khoảng 3.599 MW, dựa trên diện tích khu vực có tiềm năng gió kỹ thuật Ước tính này được xác định với giả định mật độ bố trí công suất của tua bin gió là 1MW trên 25ha.

IV.1.4 Tiềm năng kinh tế năng lượng gió tại Ninh Thuận [13]

Khu vực có tiềm năng gió kinh tế của Ninh Thuận có tổng diện tích 21.490 ha, chiếm 6,4% tổng diện tích tỉnh, được phân bố theo các đơn vị hành chính và cấp vận tốc gió.

Bảng 3.2 Phân bố tiềm năng gió quy hoạch theo đơn vị hành chính

(ha) Khu vực phân bố

6,5-7,0 390,6 Phường Đô Vinh, Thành Hải, Văn Hải 7,0-7,5 29,38

Phường Đô Vinh, Thành Hải, Phước Mỹ, Văn Hải

6,0-6,5 58 Xã Phước Thắng, Phước Đại 6,5-7,0 1,249

Xã Phước Thắng, Phước Tiến, Phước Tân, Phước Trung

Xã Trí Hải, Nhơn Hải, Vĩnh Hải, Hộ Hải, Phương Hải, Thanh Hải

7,5-8,0 10,16 Xã Vĩnh Hải 8,0-8,5 18,23 Xã Vĩnh Hải

(ha) Khu vực phân bố

8,5-9,0 13,35 Xã Vĩnh Hải 9,0-9,5 23,2 Xã Vĩnh Hải, Thị Trấn Khách Hải

Xã Phước Ninh, Phước Dinh, Phước Diêm, Phước Nam

Xã Lợi Hải, Bắc Phong, Bắc Sơn, Công Hải

Xã Lợi Hải, Bắc Phong, Bắc Sơn, Công Hải

8,5-9,0 21,1 Xã Lợi Hải, Công Hải 9,0-9,5 23,6 Xã Lợi Hải, Công Hải

Ninh Phước 6,5-7,0 4.621 Xã Phước Hữu, Phước Thái

7,0-7,5 1.043 Xã Phước Hậu, TT Phước Dân

Ninh Sơn 6,5-7,0 4.834 Quảng Sơn, TT Tân Sơn

Tổng công suất điện gió dự kiến lắp đặt trong khu vực quy hoạch đạt khoảng 1.433MW Con số này được tính toán dựa trên diện tích khu vực có tiềm năng gió và giả định rằng mật độ bố trí công suất của các tua bin gió là khoảng 1MW trên 15ha.

IV.1.5 Tiềm năng tài chính năng lượng gió tại Ninh Thuận [13]

Các khu vực có tiềm năng về tài chính trong giai đoạn quy hoạch là khu vực có vận tốc gió trung bình tối thiểu 6,5 m/s

Bảng 3.3 Tổng công suất điện gió lắp đặt trong quy hoạch

Tốc độ gió trung bình ở 80m

Bảng 3.4 Phân bố tiềm năng gió tài chính (khả thi) theo đơn vị hành chính

Vùng Phân bố Tổng diện tích (ha)

Công suất dự kiến (MW)

Huyện Thuận Bắc bao gồm các xã Công Hải, Lợi Hải, Bắc Phong; Huyện Ninh Sơn với các xã Nhơn Sơn, Mỹ Sơn; Huyện Ninh Hải có xã Xuân Hải; và Huyện Bác Ái với xã Phước Trung.

Vùng 2 Huyện Ninh Hải và Thành phố Phan Rang-Tháp

Chàm (Phường Văn Hải, Đông Hải) 3.926 262

Huyện Ninh Phước (Xã Phước Vinh, Phước Sơn, Phước Hậu, Phước Thái, Phước Hữu) và Thuận Nam (Phước Ninh, Phước Minh, Nhị Hà)

Vùng ven biển huyện Ninh Phước (xã Anh Hải, Phước Hải, Thị trấn Phước Dân, Phước Thuận) và Thuận Nam (Phước Nam, Phước Minh, Phước Dinh, Phước Diêm)

Vùng 5 Huyện Ninh Sơn (Thị Trấn Tân Sơn, Quảng Sơn) và Huyện Bác Ái (Xã Phước Thắng, Phước Tiến) 6.264 418

Khu vực Ninh Thuận có tổng diện tích tiềm năng gió tài chính lên tới 21.432 ha, tương đương 6,38% tổng diện tích tỉnh Theo bảng phân bố, tổng công suất điện gió lắp đặt trong giai đoạn quy hoạch ước tính khoảng 1.429 MW, dựa trên giả định mật độ bố trí công suất tua bin gió là 1MW cho mỗi 15 ha.

Căn cứ vào phân bố khu vực tiềm năng gió tài chính, có thể chia thành 5 vùng quy hoạch điện gió cho giai đoạn 2011-2020.

Hiện trạng phát triển điện gió tại tỉnh Ninh Thuận

Tính đến tháng 6/2020, Ninh Thuận có khoảng 10 dự án điện gió được cấp quyết định chủ trương đầu tư, có 3 dự án đã vận hành thương mại gồm:

1 Nhà máy điện gió Trung Nam;Chủ đầu tư: Công ty Cổ phần Điện gió Trung Nam; Địa điểm: Lợi Hải, Bắc Phong, huyện Thuận Bắc; Diện tích: 900 ha; Công suất: 151.95 MW; Vốn đầu tư: 5,719 tỷ đồng

2 Nhà máy điện gió Mũi Dinh; Chủ đầu tư: Công ty TNHH Điện gió Mũi Dinh; Địa điểm: Phước Dinh, huyện Thuận Nam; Diện tích: 200 ha; Công suất: 37.6 MW; Vốn đầu tư: 1,472 tỷ đồng

3 Nhà máy điện gió Đầm Nại; Chủ đầu tư: Công ty CP Điện gió Đầm Nại; Địa điểm: Xã Phương Hải, huyện Ninh Hải và xã Bắc Sơn, Bắc Phong, huyện Thuận Bắc; Diện tích: 761.6 ha; Công suất: 39.375 MW; Vốn đầu tư: 1,523 tỷ đồng

Quá trình đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo hiện đang đối mặt với nhiều thách thức, trong đó vấn đề giải tỏa công suất của các nhà máy là một trong những khó khăn lớn nhất.

Hệ thống truyền tải điện hiện tại tại tỉnh chỉ có khả năng giải tỏa công suất từ 800-1.000 MW, không đủ để đáp ứng nhu cầu giải tỏa công suất cho các dự án điện năng lượng đã và sẽ đi vào hoạt động.

Trong số các dự án đã đi vào hoạt động thương mại, một số dự án đã phải giảm công suất từ 20-30%, thậm chí có thời điểm giảm phát lên đến 60% để đảm bảo sự ổn định cho hệ thống truyền tải.

Các công trình lưới điện truyền tải đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh bổ sung quy hoạch điện VII, nhưng hầu hết các dự án này triển khai chậm và chỉ hoàn thành đóng điện sau năm 2020.

Giải phóng công suất 2.000 MW đến cuối năm 2020 sẽ gặp nhiều khó khăn, gây thiệt hại lớn và ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả đầu tư của dự án cũng như thu ngân sách của tỉnh.

Quá trình giải phóng mặt bằng cho các dự án năng lượng tái tạo tại địa phương đang gặp khó khăn do vấn đề quy chủ và xác định nguồn gốc đất đai để lập phương án bồi thường Thêm vào đó, các quy định về thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đặc biệt là liên quan đến đất rừng, cũng gây trở ngại lớn, dẫn đến việc kéo dài thời gian thực hiện các dự án điện tái tạo.

Đánh giá tiềm năng kinh tế - kỹ thuật phát triển điện mặt trời và hiện trạng phát triển tính đến cuối năm 2019 ở Ninh Thuận

Tiềm năng kinh tế - kỹ thuật phát triển điện mặt trời tại Ninh Thuận

V.1.1 Tiềm năng lý thuyết năng lượng mặt trời

Ngân hàng Thế giới đã phát hành Bản đồ năng lượng mặt trời toàn cầu cùng với các lớp dữ liệu GIS để thúc đẩy việc sử dụng năng lượng mặt trời tại các quốc gia khách hàng, bao gồm Việt Nam Dự án này được tài trợ bởi Chương trình hỗ trợ quản lý ngành năng lượng (ESMAP), do Ngân hàng Thế giới quản lý với sự hỗ trợ từ 13 nhà tài trợ song phương Đây là một phần của sáng kiến ESMAP toàn cầu về Bản đồ tài nguyên năng lượng tái tạo, bao gồm sinh khối, thủy điện nhỏ, năng lượng mặt trời và gió.

Ngân hàng Thế giới đã chọn Solargis làm nhà cung cấp dữ liệu và dịch vụ đánh giá năng lượng mặt trời toàn cầu Bản đồ năng lượng mặt trời toàn cầu được Solargis phát triển dựa trên cơ sở dữ liệu tài nguyên năng lượng mặt trời mà họ sở hữu và duy trì theo hợp đồng với Ngân hàng Thế giới.

Global Solar Atlas nhằm mục đích cung cấp quyền truy cập nhanh chóng và dễ dàng vào dữ liệu tài nguyên mặt trời toàn cầu chỉ với một cú click chuột Các lớp GIS và bản đồ hiển thị tiềm năng năng lượng mặt trời không chỉ trên toàn cầu mà còn đặc biệt tại Việt Nam.

Global Solar Atlas hỗ trợ phát triển năng lượng mặt trời qua các giai đoạn thăm dò, tìm kiếm và đánh giá tiền khả thi Atlas cung cấp dữ liệu dài hạn về bức xạ mặt trời, bao gồm tổng xạ, tán xạ và trực xạ, cùng với nhiệt độ không khí (TEMP), yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất hệ thống năng lượng mặt trời Độ cao địa hình (ELE) cũng là yếu tố quyết định trong việc lựa chọn địa điểm và tối ưu hóa hiệu suất của hệ thống năng lượng mặt trời.

Công nghệ quang điện (PV) là giải pháp phổ biến và linh hoạt nhất trong lĩnh vực năng lượng Thuật toán mô phỏng điện PV được tích hợp trong Atlas cho phép ước tính chính xác tiềm năng điện mặt trời (PVOUT) tại bất kỳ vị trí nào trên bản đồ tương tác.

Theo bản đồ năng lượng mặt trời của Solar Gis, Ninh Thuận có tổng xạ mặt trời dao động từ 4,4 kWh/m²/ngày đến 5,7 kWh/m²/ngày, cho thấy tiềm năng điện mặt trời tại đây đạt từ 3,3 kWh/kWp/ngày đến 4,4 kWh/kWp/ngày Đây là khu vực có tiềm năng năng lượng mặt trời cao nhất tại Việt Nam.

Hình 5.1 Bản đồ tiềm năng NLMT tỉnh Ninh Thuận [14]

Tổng số giờ nắng trung bình ở Ninh Thuận là 2837,8 giờ /năm, cao nhất trong nước

Bảng 5.1 Tổng số giờ nắng tháng trong năm (giờ) [15]

Tổng Số giờ nắng ( giờ)

Trong các tháng mùa khô, Ninh Thuận có hơn 230 giờ nắng mỗi tháng, với số giờ nắng trung bình hàng ngày từ 6 giờ trở lên, có thể đạt tối đa 12 giờ Ngược lại, mùa mưa có ít nắng hơn do lượng mây tăng, với tháng III là tháng có số giờ nắng cao nhất trong năm, còn tháng X và XI là thời điểm chính của mùa mưa với số giờ nắng thấp nhất.

V.1.2 Tiềm năng kinh tế - kỹ thuật nhà máy điện mặt trời [16]

Dự kiến phát triển 34 dự án ĐMT với quy mô công suất 2.319 MW, trong đó:

- Giai đoạn đến tháng 6 năm 2019:

Dự kiến đưa vào phát triển16 dự án được phê duyệt bổ sung quy hoach phát triển điện lực với quy mô công suất 1.113 MW

- Giai đoạn từ tháng 6 năm 2019 đến năm 2020:

Dự kiến đưa vào phát triển 18 dự án với quy mô công suất 1.206 MW + Giai đoạn 2021 - 2025:

Dự kiến phát triển 64 dự án điện mặt trời với quy mô công suất tăng thêm 2.618 MW

Dự kiến phát triển 36 dự án điện mặt trời với quy mô công suất tăng thêm 3.505 MW

V.1.3 Tiềm năng kỹ thuật điện mặt trời mái nhà

V.1.3.1 Phương pháp luận và công cụ tính toán

Trong giai đoạn 2017-2018, Ngân hàng Thế giới (WB) đã triển khai dự án Effigis nhằm đánh giá tiềm năng điện mặt trời lắp mái tại Việt Nam Dự án áp dụng kỹ thuật phân tích hình ảnh vệ tinh độ phân giải cao kết hợp với thuật toán trí tuệ nhân tạo để tự động nhận dạng các mái nhà và xác định diện tích bề mặt trên mái nhà (m²) phù hợp cho hệ thống điện mặt trời (PV) Kết quả của dự án đã hoàn thành giai đoạn 1 vào năm 2018, cung cấp dữ liệu quan trọng về tiềm năng điện mặt trời áp mái tại Việt Nam.

Bản đồ số độ phân giải cao năm 2018 cho phép đánh giá tiềm năng điện mặt trời áp mái ở quy mô xã, phường Từ tháng 9/2019, dự án giai đoạn 2 được triển khai nhằm đánh giá tiềm năng điện mặt trời áp mái ở quy mô từng tòa nhà Do đó, nghiên cứu sẽ ứng dụng kết quả phân tích tiềm năng điện mặt trời áp mái tại Việt Nam của WB để xác định tiềm năng kỹ thuật điện mặt trời trên mái nhà ở khu vực Ninh Thuận.

Phương pháp dự án Effigis kết hợp kỹ thuật viễn thám, GIS và máy học để trích xuất thông tin từ các cặp lập thể WorldView-3, bao gồm hình ảnh mái nhà, chiều cao, diện tích bề mặt không bị cản trở, độ dốc, cạnh và tỷ lệ bóng Thông tin này, cùng với dữ liệu từ bản đồ tiềm năng mặt trời Việt Nam, được sử dụng để tính toán bức xạ mặt trời nhận được từ mỗi mái nhà.

+ Hình ảnh vệ tinh WorldView-3:

WorldView-3 là vệ tinh quan sát Trái Đất thương mại của DigitalGlobe, thuộc sở hữu của Maxar từ năm 2017 Vệ tinh này cung cấp hình ảnh sắc nét với độ phân giải 0,31 m, cùng với hình ảnh đa diện tám dải ở độ phân giải 1,24 m và hình ảnh hồng ngoại sóng ngắn ở độ phân giải 3,7 m Ngoài ra, WorldView-3 thu thập dữ liệu CAVIS về mây, băng và tuyết với độ phân giải 30 m Với thời gian truy cập trung bình dưới 1 ngày, vệ tinh có khả năng thu thập tới 680.000 km² mỗi ngày, mang lại hình ảnh có độ phân giải không gian cao nhất (31 cm) trên thị trường hiện nay.

Hình 5.2 Vệ tinh WorldView-3 cung cấp thông tin quan trọng để đánh giá tiềm năng điện mặt trời trên mái nhà Các dữ liệu được trích xuất từ hình ảnh lập thể bao gồm chiều cao, diện tích bề mặt, độ dốc, định hướng và loại mái (phẳng, hai mặt, bốn mặt, có hoặc không có vật cản) Ngoài ra, bóng đổ từ các tòa nhà xung quanh cũng được xem xét Loại tầng thượng, bao gồm khu dân cư, công cộng và công nghiệp/thương mại, được xác định dựa trên bản đồ sử dụng đất do chính quyền địa phương cung cấp cho từng thành phố.

Việc sử dụng ảnh vệ tinh WorldView-3 cho phép tính toán các mô hình sau:

Mô hình bề mặt số (DSM) được tạo ra từ các cặp hình ảnh lập thể WorldView-3 thông qua quy trình nhập liệu vào phần mềm xử lý hình ảnh, kết nối tam giác đạc không gian với các điểm ràng buộc, thực hiện tương quan tự động và chuyển đổi định dạng Mạng lưới tam giác đạc bất chính quy (TIN1) sang khung quét màn hình Với độ phân giải 1 m, DSM đã được sử dụng để tính toán Mô hình chiều cao kỹ thuật số (DHM) và phát hiện bong.

- Mô hình địa hình kỹ thuật số (DTM)

Mô hình địa hình kỹ thuật số (DTM) với độ phân giải 10 m được phát triển bởi Trung tâm Động lực học môi trường, VNU-HUS, Hà Nội, Việt Nam (CEFD) nhằm cung cấp thông tin chi tiết về mặt đất.

- Mô hình chiều cao kỹ thuật số (DHM)

Mô hình chiều cao kỹ thuật số (DHM) được xác định bằng cách tính toán độ lệch giữa Mô hình bề mặt số (DSM) và Mô hình địa hình số (DTM) DHM thường được ứng dụng trong việc tính toán chiều cao công trình và phân tích độ dốc mái nhà.

+ Hình ảnh vệ tinh Landsat-8:

Hiện trạng phát triển điện mặt trời tại tỉnh Ninh Thuận

Tính đến tháng 6/2020, Ninh Thuận đã có 34 dự án điện mặt trời với tổng công suất 2343 MW và tổng vốn đầu tư đăng ký trên 62.000 tỷ đồng Trong số đó, 21 dự án đã đi vào vận hành thương mại, cung cấp 1339 MW cho hệ thống lưới điện quốc gia Dự kiến, đến cuối năm 2020, thêm 10 dự án sẽ được đưa vào hoạt động, nâng tổng công suất vận hành thương mại lên 2123 MW.

Bảng 5.3 Tình trạng các nhà máy ĐMT

TT Tình trạng dự án

Công suất phê duyệt QH (MWac)

Công suất cấp QĐCTĐT (MWac)

Công suất thực tế đã được ký PPA, COD (MWac)

Cấp Quyết định chủ trương đầu tư (34 dự án) 2.417 2.343 2.283

Tổng công suất đã ký hợp đồng mua bán điện (PPA) 2.123

I Các dự án đã COD (21 dự án) 1.433 1.389 1.339

TT Tình trạng dự án

Công suất phê duyệt QH (MWac)

Công suất cấp QĐCTĐT (MWac)

Công suất thực tế đã được ký PPA, COD (MWac) a Các dự án vận hành năm 2019 (COD)

Trong năm 2020, có tổng cộng 18 dự án với công suất 1.183 MW, trong đó 1.149 MW đã đi vào vận hành (COD) Từ tháng 1 đến tháng 4, 03 dự án đã COD với tổng công suất 250 MW Trong tháng 6, 04 dự án COD với công suất 154 MW Tháng 7 và tháng 8 có 02 dự án COD với tổng công suất 60 MW Cuối năm, 04 dự án COD trong quý IV đạt công suất 569,8 MW.

II Dự án dự kiến đưa vào vận hành năm

Tính đến tháng 6 năm 2020, Công ty Điện lực Ninh Thuận đã ký hợp đồng mua bán điện mặt trời với khoảng 738 tổ chức và cá nhân trên địa bàn tỉnh, đạt tổng công suất khoảng 57,4MW.

Bảng 5.4 Tình trạng dự án ĐMTAM

Công suất lắp đặt (kWp)

A- Đã ký hợp đồng: 315 khách hàng 28.536,320

I Điện lực Phan Rang - Tháp Chàm: 182 khách hàng 2.638,640

II Điện lực Ninh Hải: 47 khách hàng 531,360

III Điện lực Ninh Sơn: 23 khách hàng 13.830,440

IV Điện lực Ninh Phước: 41 khách hàng 6.425,600

V Điện lực Thuận Bắc: 06 khách hàng 24,440

VI Điện lực Thuận Nam: 16 khách hàng 5.085,840

B- Chưa ký hợp đồng (Đã lắp công tơ ghi nhận sản lượng điện phát): 423 khách hàng 28.879,450

I Điện lực Phan Rang - Tháp Chàm: 229 khách hàng 3.742,250

II Điện lực Ninh Hải: 43 khách hàng 521,720

III Điện lực Ninh Sơn: 44 khách hàng 3.500,300

IV Điện lực Ninh Phước: 80 khách hàng 12.684,670

Công suất lắp đặt (kWp)

V Điện lực Thuận Bắc: 04 khách hàng 412,880

VI Điện lực Thuận Nam: 23 khách hàng 8.017,630

Dự báo nhu cầu điện tỉnh Ninh Thuận và các tỉnh lân cận giai đoạn 2020-

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. "Wind energy resource atlas of Southeast Asia". World Bank, Asia Alternative Energy Program, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wind energy resource atlas of Southeast Asia
9. Bộ Công thương; “Maps of Solar Radiation and Potential in Vietnam”; 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Maps of Solar Radiation and Potential in Vietnam
11.IEA, “Task 1 Strategic ĐMT Analysis and Outreach – 2020 Snapshot of Global ĐMT Markets”, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Task 1 Strategic ĐMT Analysis and Outreach – 2020 Snapshot of Global ĐMT Markets
2. AWS TruePower, Wind resource atlast of Vietnam, 2011 Khác
4. Report of GWEC (2017). Wind power leading the charge to drive out fossils Khác
5. Steve Sawyer, GWEC (2019). Personal communication with REN21 Khác
6. Arthouros Zervos (2019). Global status report. Paris: REN21 Secretariat. 336p Khác
7. Report of CWEA (2018, 2017). China Wind Power Lifting Capacity Statistics Briefing Khác
13. Quy hoạch phát triển điện gió tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030 Khác
15. Trung tâm Khí tượng Thủy văn Ninh Thuận Khác
16. Dự thảo Quy hoạch phát triển điện mặt trời tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2016- 2020, tầm nhìn đến 2030 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w