Tænh daäy, thaáy caùnh tay phaûi cuûa mình bò ñòch baén gaõy naùt, nghó ñeán troïng traùch chöa hoaøn thaønh, anh quay trôû laïi khaån thieát yeâu caàu ñoàng ñoäi chaët ñöùt caùnh tay ch[r]
Trang 1KIM ĐỒNG
Cánh chim đầu đàn
Ngày 15-5-1941 Đảng trao cho Đoàn chính thức thành lập Đội Nhi dồng cứu quốc (tiền thân của Đội TNTP) tại thôn Nà Mạ, xã Trường Hà (nay là Xuân Hòa), huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Người đội viên đầu tiên chính là Kim Đồng.
Tên thật của Kim Đồng là Nông Văn Dền, dân tộc Nùng, ở thôn Nà Mạ, xã
Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng
Như hoàn cảnh thiếu niên ở Nà Mạ lúc đó, nhà Kim Đồng cũng thật là nghèo.Còn nhớ ngay từ bé, đặc biệt ở tuổi lên 10, Kim Đồng đã giúp mẹ làm đủ việctrong nhà và ở rừng, ở rẫy Kim Đồng thả trâu, kiếm củi, bẻ ngô, len lỏi khắpnơi, có ngày từ mờ sương đến tối mịt
Sống ở quê hương cách mạng, chính thôn Nà Mạ là một trong những nơi đượcgiác ngộ cách mạng trước tiên., do đó Kim Đồng đã được lớn lên ở trong khôngkhí khởi nguồn ấy Nhận công tác nào cậu bé chưa đến 15 tuổi ấy cũng hoànthành nhiệm vụ Kim Đồng vừa gan dạ vừa mưu trí, luôn có sáng kiến bảo vệ tàiliệu mật qua nhiều hình thức ít ai có thể ngờ đến, như giấu trong ống rỗng củacần câu Gặp lính dọa khám xét, Kim Đồng bình tĩnh như không Khi phải ngồihọp cho cán bộ, Kim Đồng vờ ngồi câu bên bờ suối, có dây ròng từ suối lên nhàhọp, hễ có động là rung dây để chuông trong nhà kêu lên báo tin ngay cho cánbộ kịp giải tán đi lối khác
Có lần dẫn cán bộ băng rừng, bất ngờ gặp lính đi tuần, Kim Đồng ra hiệu chocán bộ lẩn tránh, còn mình cứ thản nhiên tới gặp địch, vờ chuyện trò, hỏi hanbâng quơ
Lần cuối cùng canh gác để cán bộ họp bất thường, Kim Đồng thấy lính baovây, chỉ còn cách nhờ bạn lẻn lối khác về báo cấp tốc, còn mình đánh động đểlính chú ý tới mình thôi Quả nhiên lính bị lừa Tên lính gần nhất đã thẳng taynhằm bắn em Tiếng súng nổ vang, cũng là tiếng báo động cho các cán bộ đanghọp thoát nạn Nhưng chính Kim Đồng thì gục ngã bên bờ suối, ở tuổi 15 Hômấy là ngày 15/2/1943
Người đội viên đầu tiên đã nêu một tấm gương vì cách mạng quên mình, hysinh trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ Đó là tấm gương sáng chói mở đầucho nhiều gương cao quý khác trong đội ngũ đội viên đội TNTP
Trang 2LA VĂN CẦU
CHẶT ĐỨT CÁNH TAY ĐÃ GÃY NÁT, ÔM BỘC PHÁ XÔNG LÊN
La Văn Cầu, người dân tộc Tày, sinh năm 1932 tại xã Quang Thành, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Khi được tuyên dương anh hùng anh là tiểu đội trưởng bộ binh thuộc đại đội 671, tiểu đoàn 73, đại đoàn 312
Anh sinh ra và lớn lên trong một gia đình vốn có mối thù sâu sắc với đế quốc,phong kiến Khi còn bé, Cầu chứng kiến cái chết uất ức của cha, hậu quả củanhững trận đòn tra tấn đánh đập dã man, kiệt sức rồi qua đời Cuộc đời lam lũcực khổ như đè nặng lên đôi vai nhỏ bé của Cầu từ thuở thiếu thời
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, được nhiều cán bộ tuyêntruyền giác ngộ, anh càng hiểu rõ nguồn gốc sự cực khổ của người nghèo vàngười dân mất nước, nên hăng hái tham gia vào công cuộc kháng chiến ở quêhương Với khát khao được cầm súng giết giặc trả thù và giải phóng đất nước, LaVăn Cầu mới 16 tuổi đã khai tăng lên 18 tuổi để được vào bộ đội Lúc đó là năm
1948, thời kỳ đầu của cuộc kháng Pháp vô cùng gian khổ, thiếu thốn Nhưngniềm vui và ý chí đã giúp anh vượt qua khó khăn, vươn lên rèn luyện thành mộtchiến sĩ gương mẫu, giàu lòng nhân ái, nên được anh em đồng đội rất quí mến Trong hoàn cảnh phải tự lực cánh sinh, đương đầu với những thử thách chônggai trên chiến trường rừng núi Bắc bộ, Cầu đã tỏ rõ bản lĩnh phẩm chất củangười lính Cụ Hồ, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, chấp hành nghiêm mệnhlệnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Anh tham gia chiến đấu 29 trậntrong các cương vị chiến sĩ và chỉ huy
Trong trận phục kích ở Bông Lau năm 1949, anh xung phong vào tổ xung kíchđột phá trận đánh Khi nổ súng, có lệnh xung phong, Cầu dũng cảm xông lên,phát hiện một tên Pháp ngồi trên xe tăng và hạ gục nó bằng một phát đạn, rồilao lên xe cướp súng Ngoảnh lại sau, thấy 3 tên Pháp chạy tới, anh liền dùngkhẩu súng vừa cướp được, bắn chết cả 3 tên Quyết không để bọn giặc chạythoát, anh nhảy xuống xe, tiếp tục truy lùng diệt thêm 6 tên nữa
Trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, quân ta đánh đồn Đông Khê lần thứnhất, Cầu bị đau chân vẫn kiên quyết xin đi chiến đấu Trận đánh gặp khó khăn,đơn vị bạn bị thương vong nhiều, Cầu động viên anh em trong tiểu đội (hầu hếtlà tân binh), băng bó và cõng hết thương binh về nơi an toàn Trên đường rút vềcăn cứ, địch nhảy dù phản kích, mặc dù chân đau và đuối sức, anh vẫn vác khẩupháo 12 ly 7 thu được của địch, về tới đơn vị
Trận công đồn Đông Khê lần thứ hai (1950), La Văn Cầu được phân công chỉhuy tổ bộc phá làm nhiệm vụ phá hàng rào và đánh lô cốt đầu cầu (cửa mở trậnđánh) Phá được hai hàng rào thì hai đồng chí xung kích bị thương Địch tập trunghỏa lực dữ dội và cửa mở, phá hủy mất của ta một số bộc phá ống Cầu nghĩ
Trang 3ngay phải dành bộc phá đánh lô cốt, nên động viên anh em trong tổ gỡ mìn củađịch và dũng cảm xông lên dùng mìn phá nốt hai hàng rào cuối cùng Song tìnhhuống diễn ra càng phức tạp hơn Khi tiến đánh lô cốt thì anh em đã bị thương tấtcả, chỉ còn lại một mình Cầu Không ngần ngại, Cầu ôm bộc phá xông tới lô cốtđầu cầu quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ “đột phá khẩu” của tổ Nhưng khi vượtrào đến được giao thông hào thứ ba thì anh bị thương, ngất đi Tỉnh dậy, thấycánh tay phải của mình bị địch bắn gãy nát, nghĩ đến trọng trách chưa hoànthành, anh quay trở lại khẩn thiết yêu cầu đồng đội chặt đứt cánh tay cho khỏivướng víu, rồi tiếp tục xông lên đánh tan lô cốt đầu cầu, mở đường cho đơn vịxung phong diêt gọn đồn địch, kết thúc thắng lợi trận Đông Khê.
Tấm gương rực sáng của La Văn Cầu đã cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lậpcông trong toàn đại đoàn và trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua sử dụngbộc phá công đồn, một hình thức chiến thuật mới của quân đội ta mở ra từ chiếndịch Biên Giới năm 1950
La Văn Cầu được tặng thưởng một huân chương Quân công hạng ba Trongđại hội liên hoan Anh hùng - Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất năm 1952,anh được Chính phủ và Hồ Chủ Tịch tặng thưởng huân chương kháng chiến hạngnhất
Ngày 19-5-1952, La Văn Cầu được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anhhùng lực lượng vũ trang nhân dân
Đại tá La Văn Cầu đã nghỉ hưu, trở về với đời thường, nhưng phẩm chất củangười anh hùng mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ trẻ Việt Nam
Trang 4LÊ VĂN TÁM
Anh đuốc sống
Truyền thuyết kể rằng:
Hồi Nam Kì khởi nghĩa 1940, cha của Lê Văn Tám có mặt Sau đó gia đình sống ở
Sài Gòn, vật chất túng thiếu.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nhưng chỉ hơn tháng sau, Pháp đã quay trở lại nổ súng gây hấn.
Gia đình Lê Văn Tám quyết định ra vùng kháng chiến, rồi lại phải trở lại thành phố lúc ấy đã bị địch tạm chiếm Hoàn cảnh gia đình quá túng thiếu, mỗi người phải lao động tùy theo sức Lê Văn Tám bé nhất, đi bán lạc rang rong các phố phường Cuộc sống thiếu thốn làm Lê Văn Tám luôn luôn âu lo, suy nghĩ Không lúc nào có thể quên được những cảnh đồng bào ngoài vùng tự do bị bom đạn giặc tàn sát Mỗi khi đi qua các trạm gác của địch ở nội thành, Lê Văn Tám không sao chịu được hình ảnh bọn chúng ngạo mạn, hỗn xược, coi rẻ bà con cô bác Việt Nam Mỗi ngày lòng thù hận giặc càng tăng, Lê Văn Tám tìm cách trả thù Do mỗi ngày
đi bán lạc, Tám thường ghé đến một trạm gác kho xăng và đạn khá lớn của giặc ở khu vực trung tâm thành phố Bọn lính hồi đầu còn vẫy tay xua, không cho Tám tới gần, dần dần cũng mặc Nét mặt Tám cũng dễ mến, cử chỉ lanh lợi, nên không bao lâu sau quen được bọn lính đồn trú, có lúc vào qua cả rào cản Xăng dầu để ra sao,
xe cộ ra vào thế nào, khi nào đổi gác, Tám biết rất rõ
Thế rồi một hôm, như mọi ngà y, Tám lăng xăng đem lạc bán cho bọn lính chờ đổi gác Nhưng khác với mọi ngày, lựa lúc bọn lính không để ý, Tám chạy như bay vào chỗ những phuy xăng gần nhất, nơi có cả những can dầu lẻ và giẻ ướt, móc hộp quẹt giắt sẵn trong người, bật lửa Một chớp sáng, ngọn lửa bùng lên, rồi tiếng nổ liên tiếp, rền vang Bọn lính chỉ còn kịp thấy thoáng thằng bé bán lạc trong khói lửa dầy đặc, lao vút sâu thêm, như một ngọn đuốc rồi hòa vào kho lửa bùng cháy dữ dội
Sau này đồng bào thành phố Sài Gòn và nhân dân cả nước nhắc tới gương oanh liệt hi sinh vì đất nước, vì dân tộc của Lê Văn Tám, đều quen goi người thiếu niên
anh dũng ấy là “anh đuốc sống”
.
Trang 5TRẦN VĂN CHẨM
Cậu bé hiền lành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam
CHUYỆN XẨY RA Ở NHÀ CHÚ TƯ LẾN
Có một câu chuyện thật “giật gân” đã xảy ra ở nhà chú Tư Lến
Đó là một căn nhà gỗ không rộng lắm, mái lợp tranh thấp lè tè, thoạt trông hơi lụp xụp Phía trước nhà có một mảnh sân nhỏ ăn liền với mặt con lộ phẳng lì chạy từ huyện Củ Chi tới bến đò Bình Mỹ
Trên mảnh sân này, hồi thời ngụy thím Tư Lến đã dựng lên một cái quán bán nước ngọt và bánh trái để khách qua đường dừng chân nghỉ trong giây lát
Câu chuyện xảy ra tại quán giải khát này
Đã nhiều năm trôi qua mà hình như nó còn để lại trong lòng chú Tư Lến một ấn tượng dữ dội khiến lúc có ai hỏi đến là chú lại giật mình thảng thốt:
-Nào tôi có biết gì đâu, tự nhiên bị một trận đòn chí tử Họ đánh tôi gãy haicây tầm vông bằng cổ tay Đến bây giờ, những lúc trở trời, xương cốt vẫn còn đau nhừ
Lát sau bình tĩnh lại chú Tư mới kể đầu đuôi câu chuyện:
Hôm ấy là ngày 23 tháng 7 (âm lịch) năm 1962 Khoảng 9 giờ sáng, “đại diện” Chưng (trưởng ấp) mới đi đâu về, ghé vào quán này ngồi uống nước, thỉnh
thoảng lại nhìn ra đường như chờ đợi ai
Chợt có hai cậu bé đi học về, đội nón sùm sụp che nửa mặt Hai cậu vào quán hỏi mua thuốc lá Ngậm điếu thuốc lên miệng xong, cậu thò tay vào túi lấy hộp quẹt Không ngờ cậu rút ra một khẩu súng chĩa ngay vào mặt đại diện Chưng và nói:
-Mày có tội lớn với nhân dân, phải đền tội
Đại diện Chưng ấp úng:
-Ê, ê, cậu bé, đừng đùa vậy!
-Đoàng!
Một tiếng súng nổ vang Đại diện Chưng chỉ kịp kêu lên:
-Ối, chết tôi mất!
Hắn bước lảo đảo mấy bước tới vào con lộ rồi ngã vật xuống đất
Hai cậu bé chạy sang bên kia đường và mất hút sau lũy tre
Trang 6Chú Tư còn bàng hoàng chưa biết chuyện gì xảy ra thì cảnh sát Long đã dẫn
lính trên đồn chạy rầm rập tới Nó lôi chú Tư ra đánh một trận chết đi sống lại vàchỉ hỏi một câu:
-Ai đã giết ông đại diện Chưng? Ai?
CẬU BÉ HIỀN LÀNH
Người mà cảnh sát Long truy hỏi đó, rồi nó cũng biết Nó không thể nào ngờ được cậu học sinh nhỏ bé, lúc nào cũng có vẻ nhút nhát đó lại làm nên cái việc tày đình này
Trần Văn Chẩm, cậu bé mới lên 14 tuổi nhưng dáng người còn nhỏ hơn tuổi
của mình Các thầy giáo dạy lâu năm ở trường cấp I và II Phước Vĩnh An đến nay
vẫn còn nhớ như in nét mặt dễ thương của cậu học trò lễ độ đó Gặp các thầy baogiờ cậu cũng khoanh tay chào thật lễ phép rồi mới đi Không bao giờ cậu nói với thầy một câu trống không, không thưa gửi trước Đối với bạn bè, đó là một người bạn tốt, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người
Nhà Chẩm không có bò, thế mà người ta vẫn thấy Chẩm chăn bò ngoài đồng
Đó là vì thấy bạn Đực hằng ngày chăn bò vất vả mà lại học kém, nên Chẩm đến
giúp Đực vừa hướng dẫn cho bạn làm bài tập vừa học thuộc ngay trên đồng nội Chẳng bao lâu Chẩm và Đực đã trở thành đôi bạn thân thiết, đi đâu cũng có nhaunhư hình với bóng
Hôm thi hành bản án đối với “đại diện” Chưng, chú Tư Lến thấy hai chú bé cùng vào mua thuốc lá, đó là Chẩm và Đực cùng kề vai sát cánh, hỗ trợ cho nhautrong những giờ phút khó khăn hiểm nghèo nhất
Người nào gần gũi Chẩm mới biết, qua cái dáng hiền lành bên ngoài đó, bên trong câu bé lại chứa đựng một sức hoạt động mãnh liệt với trí tò mò ham hiểu biết, với đôi bàn tay khéo léo lạ kì
Học vật lý về định luật Archimède, Chẩm mày mò làm thí nghiệm về sức đẩycủa nước khiến các bạn đến xem đều thích thú Hồi lên 10 tuổi, Chẩm đã học đàn và chẳng bao lâu mười ngón tay xinh xắn ấy đã điều khiển được những âm thanh trầm bổng diệu kì của nhiều loại đàn khác nhau như ghita, mandolin,
nguyệt
Để tự mình có thể đệm đàn cho các bạn hát vọng cổ, Chẩm đã lên Sài Gòn tìm mua các đĩa hát vọng cổ đem về mượn máy hát mở nghe Đêm đêm, tiếng đàn của chú bé “nghệ sĩ” ấy cứ thánh thót réo rắt mãi tận khuya Với tay đàn giỏi, với tiếng hát hay, Chẩm đã thu hút quanh mình một tập thể những bạn nhỏ yêu thích văn nghệ, với ước mơ xây dựng một đoàn nghệ thuật trẻ tuổi cất tiếng hát vút cao trên quê hương mình
LŨ CHÓ SÓI
Trang 7Nhưng tiếng hát với ước mơ đẹp ấy chưa được bay lên thì đã bị dập xuống Từngày có luật 10/59 bọn Mỹ_Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam, chém giết đồng bào, đàn áp cách mạng.
Ở Củ Chi, quận trưởng Bình, tên quận trưởng khét tiếng về mổ bụng, ăn gan người không chút gớm miệng đã phái về Phước Vĩnh An một bầy chó sói Đó là những tên “đại diện” Chưng, cảnh sát Long chuyên bắt người, giết người, đốt nhà, dồn dân vào ấp chiến lược Vợ chồng ông A không chịu dời nhà, nó vu là Việt Cộng rồi đè xuống mổ bụng, moi gan Nó thường đem bán mỗi túi mật 30 đồng, sau tăng lên 50 đồng
Cảnh sát Long thì đêm đêm đem lính rình mò ở các nẻo đường bộ đội ta hay
đi về Một đêm nó phục kích bắt được một người liền chặt đầu cắm cọc bêu trướccổng đồn
Con đường qua trước cổng đồn dần dần không ai dám đi nữa Mọi người có việc qua đấy phải đi vòng lối sau làng rất xa
Tội ác của của chúng trời không dung, đất không tha, ai ai cũng bầm gan tím ruột
KHẨU SÚNG TỰ TẠO
Dạo này Trần Văn Chẩm không ham gảy đàn nữa, mà gảy cũng chẳng được Trong cái thôn xóm im lìm như chết ấy, đêm đên không một ánh đèn, không mmột tiếng chó sủa Cảnh sát rình mò lùng sục khắp nơi, nhà nào người nào cũng như ngồi trên đống lửa, còn bụng dạ nào mà ngồi gảy đàn Tiếng đàn đối với bọn cảnh sát như tiếng súng bắn vào đầu nó Kẻ nào mang tội ấy khó mà thoát chết
Đôi bàn tay khéo léo của Chẩm đang mày mò, mê mải làm một việc khác cầnthiết hơn, quan trọng hơn Đó là chế tạo một khẩu súng Chả là trước đó Chẩm và Đực cột bò bên gốc cây rồi bơi sang sông tìm vào cứ của các chú du kích Ở đây hai chú bé được chui xuống địa đạo tối mò, ngóc ngách tỏa ra như “thiên la địa võng” vây kín quân thù Nhưng điều Chẩm chú ý hơn cả là các chú du kích mỗi người đều có một khẩu súng ngắn đeo bên hông trông rất oai Gọi là súng ngắn nhưng nó cũng dềnh dàng thô thiển Chẩm biết ngay là súng của các chú tựtạo lấy
-“Chà, các chú tự làm được, sao mình không làm được mà xài?” Nghĩ vậy, Chẩm rất tim tưởng ở đôi bàn tay mình Đôi bàn tay ấy đã từng làm thành công những thí nghiệm vật lý, đã từng lướt như gió cuốn trên những phím đàn kì diệu Nhất định lần này cũng sẽ làm được khẩu súng
Từ đấy Chẩm cứ bám sát các chú, mày mò tìm xem cấu tạo của khẩu súng thô
sơ ấy như thế nào Kể ra cũng thô sơ thật Khó nhất là bộ khóa nòng, còn cái nòng chỉ là một đoạn ống nhỏ của sườn xe đạp nữ cắt ra
Suốt tuần sau, Chẩm săn lùng và tìm được một chiếc sườn xe đạp cũ đã bỏ đi Chọn một đoạn tốt nhất, cậu kì cạch cưa dũa và cắt ra được một cái nòng xinh
Trang 8Việc hàn cái khóa nòng vào nòng súng là một việc khó, phải nhờ đến bác thợ rèn mmới được Chẩm lân la đến chơi nhà bác thợ rèn, lăng xăng giúp bác đủ việc để bác thật vui lòng rồi mới đưa bộ khóa nòng ra nhờ bác hàn giúp
Bác thợ rèn trông thấy giật mình:
-Hừ, mày làm cái này để làm gì, chú nhỏ?
-Con chơi trận giả mà! Bọn nó làm quân, con làm tướng phải có khẩu súng ngắn cho oai chứ!
-Hừ, nó là thứ thiệt đó, không phải thứ chơi đâu
Nói thế chứ bác vẫn lui cui làm cho Chẩm bộ khóa nòng thật cẩn thận Bác thừa biết loại súng này rồi vì bác cũng đã làm cho các anh du kích nhiều lần Thật là khéo, viên đạn tiểi liên đút vào nòng vừa khít Chẩm đem ra bờ sông băn thử :Đoàng!” Tiếng đạn réo trong gió như tiếng tiếng reo vui chào mừng thành công của đôi bàn tay khéo léo
Với khẩu súng tự tạo trong tay, đêm đêm Chẩm cùng các bạn trong tổ cảm tử của mình đi đón cán bộ từ bên cứ vượt sông về làng hoạt động, đưa các anh len lỏi qua các hàng rào thép gai luồn đi trước mũi súng phục kích của địch
Cậu bé hiền lành giờ đây đã trở thành một chiến sĩ trinh sát giao liên dũng cảm
ĐỐI MẶT VỚI KẺ THÙ
Có một tin đến đột ngột làm Chẩm vô cùng xúc động: anh X một cán bộ quenbiết, từ ngoài cứ vào định ám sát 'Đại diện" Chưng nhưng bị lộ 'Đại diện" Chưngđã bắt được anh, đánh gãy chân rồi đưa về cho quận trưởng Bình giết chết Tin đó làm cho Chẩm đau buồn suốt mấy ngày, vừa thương xót anh, vừa căm giận kẻthù khôn xiết
Cậu bé vốn hiền lành ấy càng trở nên trầm lặng, lầm lì ít nói.btrong đôi mắt ấy như nảy ra những tia lửa khi nhìn thấy bọn ác ôn gây tội ác trên quê hương mình những tia lửa căm thù cháy bỏng
Từ hôm ấy Chẩm càng để ý đến 'Đại diện" Chưng, xem xét lúc nó đi về, khi vào quán nhậu nhẹt với bọn tay sai Nòng súng tự tạo đè nặng trĩu trong túi Chẩm, nhiều lúc như muốn rung lên, khạc lửa
Nhưng cậu bé ấy không manh động Cậu đã tìm đến các chú chỉ huy, trình bày
ý định của mình cùng kế hoạch diệt ác Mọi người đều suy nghĩ và cân nhắc, mộtsự cân nhắc thận trọng nhất, với trách nhiệm cao nhất Và mọi người đều thấy rằng chỉ có em bé ở lứa tuổi ấy mới lọt qua được sự kiểm soát gắt gao của kẻ thù Thế là phương án tác chiến của Chẩm đã được duyệt và bản án đã được thi hành nhanh gọn, chính xác vào ngày 23 tháng 7 tại quán nước của chú Tư Lến Sau trận diệt ác ấy, cảnh sát Long càng lồng lộn dữ tợn Nó như con thú đã bị bắn trọng thương càng trở nên điên dại Nó tìm mọi cách trả thù cho được chú béhiền lành mà gan dạ đó Nó cho tay sai dò la tin tức của Chẩm, gài người đặt bẫy
Trang 9để đưa chú bé vào lưới của nó.
Biết Chẩm đã bị lộ, cấp trên điều Chẩm sang công tác ở một đạ bàn khác Nhưng Chẩm một mực xin ở lại Quê hương đang tang tóc, đồng bào đng đau thương, có thể nào bỏ đi cho đành Chẩm vẫn ngoan cường bám trụ ở làng Các bạn bè tin yêu càng gắn bó, giúp đỡ, bảo vệ cho Chẩm Có đêm Chẩm vượt sôngvề, các bạn ra đón Mấy anh em ôm chầm lấy nhau rồi ngồi chụm đầu hát khẽ những bài ca thân yêu nhất
Ôi, nhớ sao những ngày vui, Chẩm gảy đàn, các bạn hát, tiếng hát quyện với tiếng đàn bay vút lên nâng cánh cho ước mơ, say mê của tuổi trẻ
Thèm hát quá, Chẩm rủ các bạn sang cứ, lấy mủ cao su làm đuốc thay đèn, mở “hội diễn” liên hoan văn nghệ Không biết ai đã đem đến cây đàn ghita Tiếng đàn trên tay cậu bé nghệ sĩ lại dập dìu, trầm bổng, tiếng hát bập bùng theoánh lửa suốt đêm thâu
Rồi một đêm không trăng sao, trời tối như mực, Chẩm lại vượt sông trở về Suốt ngày hôm ấy cảnh sát Long lùng sục rất dữ Chẩm nghĩ: tên này ác ôn lắm, không trừ khử nó thì đồng bào không yên ổn làm ăn được Chẩm giấu khẩu súng trong người lẻn đến một nhà quen để dò la tin tức cảnh sát Long
Không ngờ, đây là một đầu mối trong mạng lưới mà cảnh sát Long đã giăng sẵn
Chẩm vừa hé cách cửa bếp, đã nghe bọn cảnh sát phục xung quanh la ầm lên: -Bắt lấy thằng nhỏ, bắt lấy nó!
Chẩm vừa nấp vào bụi chuối thì thấy cảnh sát Long từ trong nhà nhào ra -Đoàng!
Một phát súng sượt qua tai cảnh sát Long làm nó hốt hoảng nằm mọp xuống Cả bọn châu súng vào bụi chuối bắn như mưa Chẩm vụt chạy ra ngõ, nhưng một viên đạn đã xuyên vào đùi làm cậu bé khuỵu xuống Cảnh sát Long nhào đến, nó vồ lấy cậu bé như con cọp vồ con mồi nhỏ nhắn, rồi đấm đá túi bụi Máu ứa ròng ròng trên mặt Chẩm
-Mày có phải là Trần Văn Chẩm không?
-Đúng, tao là Chẩm đây! - Cậu bé điềm nhiên trả lời
-Có phải mày giết 'Đại diện" Chưng không?
-Tao còn tính giết cả mày nữa đấy!
Cảnh sát Long gầm lên như con thú dữ Nó giật lưỡi mác trên tay một tên cảnh sát, chém mạnh
Và nó giở cái thói nhà nghề, bêu đầu người chiến sĩ cách mạng nhỏ tuổi lên trước cổng đồn
***
Ôi, Củ Chi bao yêu dấu!
Trên mảnh đất sắt thép này giờ đây đã trỗi lên một màu xanh tươi mát, màu xanh của đồng lúa, màu xanh của vườn cây trái Màu xanh trong lành vốn có của
Trang 10đất quê như muôn ngàn đất quê khác Màu xanh hiền hòa như tấm lòng Trần Văn Chẩm, như ước mơ của anh đang trải trong tầm mắt.
Màu xanh nhắc chúng ta rằng: mảnh đất này đã nhuộm bao máu đỏ của
những người con trung hiếu, những người anh hùng tuổi còn thơ
Và trong tiếng hát của đất, trong tiếng ca lao xao của những rặng trúc xanh biếc, tiếng đàn của anh Chẩm như vẫn vút cao
VÕ THỊ SÁU
CÔ GÁI MIỀN ĐẤT ĐỎ HIÊN NGANG
những thú vui của tuổi lên mười
Khi vừa mười hai tuổi, Sáu đã được người anh trai nói cho nghe về cách mạng,
đổi họ Nguyễn thành họ Võ để dễ tham gia các hoạt động Lúc ấy những cảnh
giặc Pháp và bọn tay sai hà hiếp, bắt bớ, giết hại đồng bào ở ngay quê hươnghoặc các vùng lân cận, làm chị Sáu đã sớm căm thù lũ giặc dã man Sáu xin anhcho theo lên chiến khu, có công tác nào phù hợp sức vóc thì nhận làm Khôngngờ việc đầu tiên chị thực hiện lại vô cùng nguy hiểm Chị nhận trái lựu đạn,đem lọt về quê hương Đất Đỏ, thừa dịp thuận lợi, quẳng trúng một tên quan baPháp và mấy chục tên lính khác Tiếng nổ đanh gọn đã giết chết ngay tên quan
ba, còn bọn lính bị thương hầu hết Hồi ấy, cô bé Võ Thị Sáu mới 14 tuổi Tintưởng Sáu có thể làm tốt các việc khác, Đoàn thể ưng thuận cho chị ở lại Bà Rịavới nhiệm vụ dò la tình hình địch Chị còn tìm cách phụ giúp việc tiếp tế mọi mặtcho chiến khu
Ở làng chị có tên cai tổng tên Tòng, là một tên tay sai bán nước khét tiếnggian ác, hãm hại dân lành, gây bao tang tóc Chị Võ Thị Sáu lại nhận lựu đạn,quyết tâm cho nổ giết nó Nhưng lần này chị bị vòng vây của giặc thít chặt Chị
bị bắt tại trận Đó là năm 1950
Bắt được chị Sáu, giặc mừng lắm, luôn luôn thay đổi nơi giam và tiến hànhcác cuộc tra hỏi, đánh đập tàn nhẫn, cốt khai thác được địa điểm, nhân sự củacác tổ chức cách mạng Nhưng đó là một người con gái không dễ lung lạc mặc dùchúng tàn bạo, nham hiểm hết mức Cuối cùng, không chịu nổi, giặc kết án tửhình, đày chị ra Côn Đảo đợi ngày xử bắn
Những ngày ở đảo Côn Sơn, chị hoàn toàn bình thản, không lộ một giây phútnào lo âu, buồn nản Chị luôn nói với các đồng chí bị giam cầm ở ngục tù khủngkhiếp ấy niềm tin vào tiền đồ tất thắng của cách mạng Việt Nam
Sớm ngày phải ra pháp trường, Võ Thị Sáu cài hoa lên mái tóc và hát một bài
Trang 11ca yêu nước Chị cương quyết không để bọn lính tới gần bịt vải lên mắt chị.
Người con gái Đất Đỏ hiên ngang nhìn thẳng vào các họng súng đang nhằmvào chị mà hô lớn:
-Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất muôn năm!
-Hồ Chủ Tịch muôn năm!
TRẦN VĂN ƠN VÀ TRUYỀN THỐNG
NGÀY 9/1 BẤT DIỆT
Năm 1949, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta bước vào giai đọanphản công Tại Sài Gòn, các tầng lớp đồng bào cũng tích cực hưởng ứng dưới nhiềuhình thức: biểu tình chống sưu thuế, chống bắt lính, đòi công ăn việc làm Học sinh,sinh viên bãi trường, bãi khóa liên miên
Lúc bấy giờ anh Trần Văn Ơn đang học lớp Đệ ngũ (nay gọi là lớp 8 ) trườngPetrus Ký (nay là Lê Hồng Phong), đã bí mật tham gia Đội Vũ Trang Diệt Aùc TrừGian của phong trào Học Sinh Sinh Viên Cức Quốc Ngày 18/5/1949, đội vũ trangnày đã thi hành án tử hình đối với hai tên mật vụ Nguyễn Văn Minh và Trấn TấnPhát, lọại trừ hai tên chó săn này khỏi trường Petrus Ký
Thực dân Pháp và tay sai càng hốt hoảng càng hung hãn Phát xít Ngày1/11/1949, ban lãng đạo học sinh Cứu Quốc Sài gòn gồm 5 đồng chí là học sinh cáctrường Petrus Ký và Gia Long bị địch bắt Ở trong tù, mặc dù bị tra tấn, mọi ngườiđều giữ khí tiết (trong số năm đồng chí này có đồng chí là Lê Thiết, bấy giờ là Thưký Đoàn Học Sinh Cứu Quốc và sau này tiếp tục tham gia cuộc kháng chiến chốngMỹ cứu nước với chức vụ Tổng thư ký Hội Liên Hiệp Thanh Niên Học Sinh SinhViên Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.)
Để hỗ trợ cuôc chiến đấu của bạn bè yêu nước ở trong tù, ngày 9/1/1950,
2000 học sinh trường Petrus Ký và Gia Long kéo đến sở Giáo Dục Sài gòn đòi trảtự do cho 5 học sinh bị bắt Đến 10 giờ sáng có thêm học sinh các trường PhướcKiến (Chợ Lớn ), Franco - Chinois, Taberd và một số tư thục cũng xuống đường hỗtrợ Cùng ngày, đồng bào đìng công, bãi thị, công chức không đến sở Một pháiđoàn đại biểu các đoàn thể nhân dân do luật sư Nguyễn Hữu Thọ kéo vào dinh củatên Thủ hiến Trần Văn Hữu đưa kiến nghị đòi trả tự do cho các học sinh bị bắt
Thực dân Pháp trả lời bằng cách bắt giữ phái đoàn của Luật sư Nguyễn HữuThọ bỏ lên xe bit bùng đưa đi nơi khác, đồng thời chúng tăng cường lực lượng bảovệ dinh Thủ Hiến, sẵn sàng đàn áp
Trang 12Thái độ đó đã làm đám đông phẫn nộ, bùng nổ cuộc xung đột Những ngườibiểu tình dùng mọi vũ khí có trong tay chống trả quyết liệt với lính Pháp, lính ÂuPhi và công an Bình Xuyên…
Trần Văn Ơn và sáu nam nữ học sinh vượt lên khỏi đám đông tiến vào dinhThủ Hiến Một loạt đạn vang lên, Trần Văn Ơn ngã gục, trên tay vẫn còn bản kiếnnghị Địch toan cướp xác Trần Văn Ơn nhưng bạn bè và đồng bào đã bảo vệ, đưathi hài anh về trường Petrus Ký để cử hành tanh lễ
Lễ tanh Trần Văn Ơn được cử hành trên khắp các tỉnh thành trong nước.Hàng Triệu lượt học sinh sinh viên và đồng bào các giới đã đeo băng tang tham giatruy điệu để tỏ lòng thương tiếc và xuống đường tuần hành bày tỏ chí căm thù
Bài văn điếu trong buổi lễ có câu:
Ai chết vinh buồn chăng?
Ai sống nhục thẹn chăng?
Những câu hỏi đó cứ vang mãi trong những tháng năm đen tối của đất nước,thúc giục bao thế hệ trẻ noi gương Trần Văn Ơn, quên mình xông lên phía trước
Kể từ đó, ngày 9 tháng 1 năm 1949 đi vào lịch sử tranh đấu được chọn làmngày TRUYỀN THỐNG HỌC SINH SINH VIÊN VIỆT NAM Truyền thống vẻvang đó đã được các thế hệ học sinh sinh viên kế thừa oanh liệt trong thời chốngMỹ và trở thành bất diệt
Trang 13Bài hát lặng im
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ - Điện Biên Phủ đã trở thành tiếng gọi quen thuộcvà yêu mến của những người dân thuộc địa đang muốn giải phóng đất nước Cácchiến sĩ An-giê-ri đã sáng tạo ra động từ điện-biên-phu-ê (diên biêen fuer) từnhững ngày còn trên núi O-rét Động từ đó được hiểu là đánh cho kẻ địch khôngcòn mảnh giáp như nước Việt Nam đã đánh thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ
Làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ là quân và dân ta với "56 ngày đêm ngủhầm, mưa dầm, cơm vắt - máu trộn bùn non " là những con dường hiện ra, lànhững con voi thép leo lên đỉnh núi cao
17 giờ ngày 13-3-1954, quân ta bắt đầu nổ súng vào trung tâm đề kháng HimLam Pháo binh ta - mà kẻ địch không thể tưởng tượng nổi có thể kéo vào ĐiệnBiên - đã nổ giòn giã, áp đảo kẻ thù Mấy hôm sau đó, tên quan năm chỉ huytrọng pháo của địch ở Mường Thanh đã tự sát Chính hắn, là kẻ đã huênh hoangđội cái mũ đỏ lên đầu và tuyên bố: Nếu pháo binh Việt Minh vào đây, tôi sẽ độicái mũ đỏ này cho họ nhìn thấy rõ hơn
Nhưng với quyết tâm "đánh chắc, thắng chắc" hàng trăm tấn pháo và đạn củaquân ta đã vượt qua hàng chục dốc cao, vực thẳm áp sát trận địa
Kéo pháo vào, rồi lại kéo pháo ra Rồi pháo lại vào
Nhiều đoạn đường chỉ còn có sức người là khả năng duy nhất Những ngón chânbấm vào đá sắc tóe máu, những làn dây tời đỏ, bầm vai chiến sĩ Bánh pháo nhíchlên từng đoạn, những con chặn được lao tới
Hò dô ta, nào!
Kéo pháo ta vượt qua đèo.
Hò dô ta nào?
Kéo pháo ra vượt qua núi.
Trang 14Bài hát hò kéo pháo - của nhạc sĩ trẻ Hoàng Vân - lập tức lan ra - và còn vangvọng tới hôm nay và mai sau, để nhắc nhở về một chặng đường gian khổ nhưngvinh quang Và để nhắc nhở tới những bài hát im lặng trên con đường pháo ra,pháo vào hiểm trở, gập ghềnh ngày ấy.
Đó là bài hát của mồ hôi nhỏ giọt, của chung tấm lưng ướt đầm, của bàn tay siếtvào dây tời, của những bắp thịt cuộn sóng
Đó là bài hát về con người - đại điện cho những con người - như nhà thơ Tố Hữuđã ngợi ca
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt còn ôm
Con người đó là Tô Vĩnh Diện <E:Xu_lythanh_nien_VNphu_luc.htm>
Mỗi thử thách bất ngờ đặt ra - dẫu là đột ngột nhất - vẫn có người, dường nhưđược chuẩn bị để giải quyết Những thử thách của chiến tranh càng khốc liệt vàchớp nhoáng hơn Một lỗ châu mai địch, tưởng tắt ngấm, bỗng điên cuồng dội lựavào xung kích, một khẩu liên thanh bị gãy càng khi giặc đang ồ ạt xông lên Lần này, khẩu pháo đang xuống dốc Xuống dốc càng thẳng và nguy hiểm hơn cảlên dốc Những đôi mắt chăm chú, những thân hình trai tráng gồng lên, những bắpchân phồng lên ghìm vào mặt đất thoai thoải Tiếng chim rừng nghe trong trẻonhư một mảng xanh trời Lá xanh sắc mùa xuân vẫn che kín con đường chênhvênh của pháo
Bỗng - sợi dây tời răng rắc vặn và rạn đứt Một tiếng thét khô khan Khẩu pháocứ tụt dần xuống Mọi người nhắm mắt lại: thôi đành hy sinh khẩu pháo Mộtkhẩu súng lớn lúc này đáng quý biết bao nhiêu Nhưng không còn cách gì cứuvãn Không ai có thể nghĩ ngay cách cứu khẩu pháo chỉ trong vài giây phút nữa sẽvỡ tan trong vực thẳm
Nhưng sao lại, khẩu pháo bỗng chồm tới, quặt ngang một chút rồi dừng hẳn? Phúcquá, chắc là nó gặp một vật chắn bất ngờ nào đó?
Vài ba giây sửng sốt, lặng đi, chiến sĩ bỗng ùa tới khẩu pháo Và họ thấy ngay vậtchắn đó
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân nhắm mắt còn ôm
Không một tiếng kêu rên Một nụ cười méo mó trên đôi môi tóe máu Chính tấmthân trai trẻ đó lao vào bánh pháo, ghìm nó lại và buộc nó rẽ ngang và dừng lại.Tấm áo trấn thủ đang đỏ dần màu máu
Không ai có thể biết người chiến sĩ nghĩ gì trong giây phút ấy Người ta chỉ biếtrằng không có anh chắc chắn là khẩu pháo sẽ không được góp sức vào chiến dịch
Trang 15lịch sử vĩ đại làm cho cái thung lũng Điện Biên trở thành đỉnh cao sáng ngời Đểcho những cái tên đơn sơ nhất bỗng nên thơ và lan truyền vượt ra ngoài biên giới.
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng
Trong viện bảo tàng quân đội - hiện vật về anh chỉ còn lại duy nhất tấm áo trấnthủ bạc thếch, với một tấm biển còn ghi dòng chữ: áo trấn thủ của đồng chí TôVĩnh Diện mặc trong lúc lấy thân mình chèn pháo, tháng 12-1953
Thời gian đã đi qua rất nhiều
Mỗi dịp nhớ lại Điện Biên, để kỷ niệm ngày chiến thắng có biết bao bài hát lạiđược vang lên Không hiểu sao tôi vẫn thích nghe hơn cả, là bài hát "Hò kéopháo" với âm thanh trầm lắng, xốc vác:
Hò dô ta nào, kéo pháo ta vượt qua đèo.
Hò dô ta nào kéo pháo ta vượt i5
Có lẽ bởi vì cùng với bài hát hùng tráng, vang vọng đó, tôi còn nghe rõ mồn mộtbài hát lặng im về anh Bài hát lặng im của tấm lưng áo trấn thủ đang oằn xuốngdưới hàng ngàn cân sắt thép Bài hát lặng im của nụ cười phảng phất trong ánhmắt cuối cùng gửi gắm đồng đội Bài hát lặng im của tâm hồn tươi trẻ trong giâyphút thử thách đã dứt khoát lấy mình làm điểm tựa Phải chăng, anh đã chuẩn bịtừ lâu cho giây phút ấy? Sự chuẩn bị đó cũng im lặng biết bao, bình thường biếtbao, như lớp lớp tuổi trẻ đã và đang chuẩn bị cho mình
Để mỗi thử thách vụt đến, thì những La Văn Cầu, Phan Đình Giót lại xuất hiệnkịp thời Không một giây tính toán, không một tiếng thét gào Lặng im anh hiếndâng cả cuộc đời cho cách mạng Chỉ còn để lại cho đời một tấm áo trấn thủ cũkỹ, bạc màu Một tấm áo nằm im trong khung kính viện bảo tàng
Nhưng đó là sự lặng im đã hóa lời ca, không tiếng động, bay tới những trái tim trẻtuổi của bao nhiêu thế hệ mới tiếp tận xa sau
Phạm Đức
Trang 16Qua mỗi lỗ châu mai
Hơn ba mươi năm đã trôi qua từ giờ phút ấy: chiều 13 tháng 3 năm 1954 Đấy làgiờ phút trận đánh mở màn chiến dịch "chấn động địa cầu" Giờ phút báo tử chocả một chế độ thực dân cũ - một uy thế được dựng lên trên dây thép gai và máychém, Phan Đình Giót mồ côi cha từ nhỏ, vào bộ đội đã bốn năm, đã qua nhiềuchiến dịch lớn, vậy mà giờ phút này vẫn thấy bồi hồi xúc động Kia là nhữngkhuôn mặt đồng đội gầy hốc hác mà đầy niềm hứng khởi, đầy ý chí quyết tâm.Những bộ quần áo đã bạc phếch và lấm lem bùn đất Biết bao mồ hôi công sức đãđổ ra cho trận đánh này Trận đánh chắc là phải có một ý nghĩa to lớn Anh Giótnhớ như in lời thư của Bác Hồ: "Các chú sắp ra trận Nhiệm vụ của các chú lầnnày rất to lớn, khó khn, nhưng rất vinh quang chúc các chú thắng to Bác hôn cácchú" Còn đây là lệnh động viên của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp:
"Trận này là trận công kiên chiến qui mô lớn nhất trong lịch sử quân ta từ trướcđến nay Giờ ra trận đã đến!"
(Trên những nẻo đường của Tổ quốc hòa bình hôm nay, ven đê, đầu cầu, lưng đồi,đỉnh dốc, thỉnh thoảng ta vẫn còn gặp những con mắt đen ngòm, của lỗ châu maicâm đặng Cứ qua mỗi nơi như thế, khó mà quên được, khó mà không tưởng tượnglúc nó còn là con mắt đỏ lửa hằn học nhằm thẳng vào bà con, bạn bè đồng chí củata )
Giờ xung trận đã đến hoàn toàn bất lợi cho đơn vị của Phan Đình Giót Một bộphận bị lộ và đang bị pháo giặc ghìm chặt, chia cắt, nhiều đồng đã bị thương vong.Tiểu đội bộc phá lao lên, hết người này đến người khác mà chưa phá được hàngrào Đến lượt Phan Đình Giọt nhảy lên, luồn dưới các làn đạn địch, đặt ống bộcphá thứ 9 Khói cuộn mù mịt: thêm ba thước rào bị phá Khi quay lại anh bị đạnxuyên qua đùi, máu chảy lênh láng Chính trị viên giục Phan Đình Gíot lui vềquân y
Quả bộc phá của anh không đến nỗi tồi, và vết thương, dù anh đã lấy tay bộp lại,nhưng máu vẫn tứa ra khá mạnh Có lẽ anh sẽ thanh thản lùi về phía sau, nếu nhưtrận đánh không tiếp tục gay go ác liệt hơn Đồng chí đánh quả bộc phá thứ 10 bị