1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực sử dụng tiếng việt của người khmer ở tỉnh an giang

145 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 3,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng lực sử dụng tiếng Việt hạn chế khiến đa số người dân Khmer nơi đây gặp khó khăn trong việc tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào đời sống sản xuất, nắm bắt thông ti

Trang 1

TRƯƠNG CHÍ HÙNG

NĂNG LỰC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI KHMER Ở TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.02.40

Người hướng dẫn khoa học: TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường Đại học KHXH&NV,

ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy kiến thức, phương pháp

tiếp cận với khoa học, định hướng và tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin gởi lời cám ơn chân thành, sâu sắc đến Tiến sĩ Huỳnh Thị Hồng

Hạnh, người đã có nhiều ý kiến quý báu, những góp ý xác đáng và kịp thời cho tôi

trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Luận văn hoàn tất, tôi xin được gửi lời tri ân đến chính quyền địa phương và

bà con Khmer tại địa bàn hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên tỉnh An Giang Chính quyền

địa phương và bà con nơi đây đã hỗ trợ nhiệt tình cho tôi trong quá trình thu thập tư

liệu, khảo sát, điều tra để thực hiện đề tài

Xin chân thành tri ân!

An Giang, ngày 10 tháng 11 năm 2015

Tác giả

Trang 3

Tác giả luận văn

Trương Chí Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Khắc Cường, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này Những công trình nghiên cứu mà thầy đã thực hiện cũng như những chỉ dẫn của thầy đã tác động mạnh mẽ đến quá trình nghiên cứu cũng như những định hướng nghiên cứu tiếp theo của bản thân tôi

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Ngữ văn-Ngôn ngữ

đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho tôi được học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Xin cám ơn quý thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy cho tôi suốt thời gian theo học tại trường

Xin cám ơn lãnh đạo và đồng nghiệp cơ quan Liên đoàn Lao động huyện Di Linh đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi tham dự chương trình cao học trong 2 năm vừa qua Cảm ơn lãnh đạo phòng Giáo dục Đào tạo huyện Di Linh cùng quý thầy,

cô giáo các trường Tiểu học và Trung học cơ sở trong huyện Di Linh đã giúp đỡ tôi trong việc khảo sát và thu thập cứ liệu

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử vấn đề……… 2

3 Mục tiêu của đề tài……… ……… 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… …10

5 Nội dung nghiên cứu……… 11

6 Phương pháp nghiên cứu ……… ……… 11

7 Bố cục của luận văn……… ……….13

Chương 1: Cơ sở lí luận……….……….14

1.1 Khái quát về cộng đồng Khmer và tiếng Khmer ở An Giang… ……….… 14

1.2 Năng lực ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ: một số khái niệm hữu quan 31

1.3 Tiểu kết 44

Chương 2: Kết quả khảo sát và đánh giá năng lực tiếng Việt 44

2.1 Năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer ở An Giang 44

2.2 Một số lỗi của người Khmer khi sử dụng tiếng Việt 58

2.3 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang 68

2.4 Tiểu kết 74

Chương 3: Thái độ ngôn ngữ và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tiếng Việt 77

3.1 Thái độ ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang 77

3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer 84

3.3 Giải pháp nâng cao năng lực tiếng Việt cho người Khmer….………… ………… 93

3.4 Tiểu kết ……….……….………100

KẾT LUẬN ……….……….102

Tài liệu tham khảo……… ……107 Phụ lục

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

2 Bảng 2.2: Trình độ văn hóa của đối tượng được khảo sát 45

3 Bảng 2.3: Nghề nghiệp của đối tượng được khảo sát 46

4 Bảng 2.4: Đối tượng nghiên cứu tự đánh giá năng lực sử dụng

5 Bảng 2.5: Số liệu thể hiện khả năng tái hiện từ ngữ tiếng Việt

của người Khmer

59

6 Bảng 2.6: Số liệu thể hiện khả năng tái hiện từ ngữ tiếng Việt

của người Khmer

11 Bảng 2.11: Số liệu thể hiện khả năng lựa chọn sử dụng từ tiếng

12 Bảng 2.12: Số liệu thể hiện khả năng hiểu nghĩa từ tiếng Việt của

13 Bảng 2.13: Thống kê lỗi chính tả thường gặp của người Khmer 64

14 Bảng 2.14: Tổng hợp lỗi dùng từ thường gặp của người Khmer 66

15 Bảng 2.15: Lỗi cú pháp thường gặp của người Khmer 67

16 Bảng 2.16: Tỉ lệ ngôn ngữ thường hay sử dụng của người Khmer ở 68

Trang 7

An Giang trong sinh hoạt gia đình và cộng đồng

17 Bảng 2.17: Tỉ lệ sử dụng ngôn ngữ của người Khmer khi viết

18 Bảng 2.18: Tỉ lệ sử dụng ngôn ngữ của người Khmer qua một số

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.1: Năng lực tiếng Việt của người Khmer song ngữ hạn

2 Biểu đồ 2.2: Nghề nghiệp của người Khmer song ngữ hạn chế 53

3 Biểu đồ 2.3: Mức độ thuần thục ngôn ngữ của người Khmer ở An

4 Biểu đồ 2.4: Mối quan hệ giữa giới tính và song ngữ hoàn hảo 56

5 Biểu đồ 2.5: Năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer ở An

6 Biểu đồ 2.6: Mức độ hiểu của người Khmer khi đọc sách, báo

7 Biểu đồ 2.7: Mức độ hiểu của người Khmer khi xem tivi, nghe

8 Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ ngôn ngữ người Khmer cảm thấy thoải mái khi

sử dụng

80

9 Biểu đồ 3.2: Nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của người Khmer ở các

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất trong xã hội loài người Con người sử dụng ngôn ngữ để trao đổi thông tin, thể hiện suy nghĩ, tình cảm, để học tập và lao động sáng tạo Nói cách khác, với mỗi người, việc biết và sử dụng ngôn ngữ là điều kiện thiết yếu để tồn tại trong xã hội, kết nối cộng đồng Chính vì thế, năng lực ngôn ngữ là vô cùng cần thiết Ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với

sự tồn tại và phát triển của một cộng đồng dân tộc, trong mọi thời đại

Việt Nam là quốc gia có 54dân tộc Trong đó, hầu hết các dân tộc có ngôn ngữ riêng để giao tiếp trong phạm vi cộng đồng dân tộc mình Do vậy, để có sự thống nhất về ngôn ngữ, Đảng và Nhà nước ta đã chọn tiếng Việt là ngôn ngữ chung cho cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia được dùng làm phương tiện giao tiếp chung Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của dân tộc Kinh, nhưng lại là ngôn ngữ thứ hai của 53 dân tộc còn lại Do vậy, việc học tập và sử dụng tiếng Việt của đồng bào các dân tộc

thiểu số luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước: “Tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam đều cần học và dùng tiếng, chữ phổ thông Nhà nước cần ra sức giúp đỡ nhân dân các dân tộc thiểu số học biết nhanh tiếng phổ thông.” [81]

Ở tỉnh An Giang, ngoài người Kinh còn có các dân tộc khác cộng cư, đa số là người Chăm, Hoa, Khmer Trong đó, dân tộc Khmer có dân số đứng thứ hai sau dân tộc Kinh Người Khmer sống tập trung chủ yếu tại hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Điều kiện sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang còn nhiều khó khăn, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân về rào cản ngôn ngữ Năng lực sử dụng tiếng Việt hạn chế khiến đa số người dân Khmer nơi đây gặp khó khăn trong việc tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào đời sống sản xuất, nắm bắt thông tin chậm, khó hoà nhập với các dân tộc khác trong cộng đồng… Do vậy, chúng tôi cho rằng, vấn đề năng lực tiếng Việt của đồng bào Khmer ở An Giang cần phải được quan tâm đặc biệt

Trang 10

Thực tế cho thấy, mặc dù chúng ta đã thống nhất sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ toàn dân, nhưng vì nhiều lí do khác nhau, năng lực sử dụng tiếng Việt của đồng bào các dân tộc ít người, trong đó có người Khmer ở An Giang còn khá nhiều điều đáng băn khoăn Chúng tôi thiết nghĩ, cần có những khảo sát, nghiên cứu một cách nghiêm túc để có cái nhìn khoa học biện chứng về năng lực ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang Từ đó tạo cơ sở cho những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho người Khmer ở An Giang

Căn cứ những yếu tố đã nêu, theo chúng tôi, việc thực hiện đề tài luận văn

Năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer ở tỉnh An Giang là rất cần thiết Kết

quả nghiên cứu của đề tài giúp ta có cái nhìn khoa học về năng lực hiểu và sử dụng tiếng Việt của cộng đồng dân tộc Khmer ở An Giang, từ đó tạo cơ sở cho những giải pháp góp phần phát triển năng lực tiếng Việt, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào Khmer nơi đây

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu về ngôn ngữ dân tộc Khmer từ trước đến nay đã trở thành một vấn đề được khá nhiều học giả quan tâm Tuỳ theo mục đích, đối tượng mà các nhà nghiên cứu lựa chọn phương pháp và cách thức tiếp cận khác nhau, khai thác vấn đề

từ những khía cạnh khác nhau Điều này một mặt cho thấy tính hấp dẫn của vấn đề, mặt khác cũng cho thấy tính phức tạp của nó Điểm qua các công trình nghiên cứu ngoài nước về ngôn ngữ cộng đồng dân tộc Khmer, chúng tôi thấy đáng lưu ý là loạt công trình của các học giả người Pháp

Trước hết, G Maspero trong quyển “Grammaire de Langue Khmer” [95] đã

đi sâu vào nghiên cứu ngữ pháp và ngữ âm tiếng Khmer ở Campuchia cũng như khu vực Nam Bộ Trong công trình này, tác giả còn đưa ra nhận định cho rằng tiếng Khmer ở Nam Bộ giống như một phương ngữ của tiếng Khmer ở Campuchia, vì vậy, nó cần được nghiên cứu với đúng bản chất phương ngữ của nó Nghĩa là, vừa đối chiếu với ngôn ngữ gốc (tiếng Khmer ở Campuchia), vừa tìm ra sự khác biệt

Trang 11

tương đối với ngôn ngữ gốc này Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra hiện tượng ngữ

âm của tiếng Khmer ở Nam Bộ đã chịu sự ảnh hưởng lớn từ tiếng Việt bản địa (và ngữ âm tiếng Việt cũng chịu ảnh hưởng lớn từ ngữ âm tiếng Khmer) Do vậy, nó cần phải được nhìn nhận, nghiên cứu trong thế độc lập với tiếng Khmer ở Campuchia

Học giả F Martini [96] đã nghiên cứu mối quan hệ giao thoa, pha trộn giữa tiếng Khmer và tiếng Việt ở Nam Bộ Tác giả cho rằng quá trình tiếp xúc, sử dụng ngôn ngữ giữa hai cộng đồng dân tộc Việt và Khmer ở khu vực Nam Bộ tất yếu xảy

ra hiện tượng ảnh hưởng qua lại giữa tiếng Việt và tiếng Khmer Sự ảnh hưởng này diễn ra theo cả hai chiều: tiếng Khmer bị ảnh hưởng bởi tiếng Việt và tiếng Việt bị ảnh hưởng bởi tiếng Khmer Từ nhận định đó, tác giả đưa đến kết luận sự giao thoa, pha trộn này là nội dung rất quan trọng đối với công tác nghiên cứu tiếng Việt hoặc tiếng Khmer khu vực Nam Bộ Vấn đề này hiện vẫn được nhiều nhà nghiên cứu tiếng Khmer quan tâm

Marie A Martin [97] đã đặc biệt quan tâm đến ngôn ngữ Khmer vùng Châu Đốc, Việt Nam Trong bài viết “Les voyelles du Combodigien parlé dans la province de Chau Doc (sub- Viet Nam)” [97], tác giả cho rằng tiếng Khmer khu vực Châu Đốc (Việt Nam) vào khoảng năm 1970 chỉ bao gồm trên dưới 900 đơn vị từ vựng Sau đó, chúng được phát triển lên trong quá trình hoạt động giao tiếp và trở nên phong phú như hiện tại Hệ thống nguyên âm tiếng Khmer bao gồm nguyên âm đơn và nguyên âm đôi Tác giả tiến hành đối chiếu các từ Khmer ở Campuchia và từ Khmer Châu Đốc, từ đó đi đến nhận định hệ thống ngữ âm của cộng đồng người Khmer Châu Đốc còn giữ nhiều đặc điểm ngữ âm của tiếng Campuchia bên kia biên giới Nguyên nhân là do người Khmer khu vực Châu Đốc ít vay mượn ngữ âm bản địa (tiếng Việt) Ngoài ra, tác giả cũng đặt vấn đề phát triển ngôn ngữ cộng đồng Khmer Nam Bộ nói chung để tạo cơ sở cho việc phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc này

Trang 12

Tác giả Gérard Diffloth [19] đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu tổng quan về tiếng Khmer (nguồn gốc, phương ngữ, âm vị học, hệ thống chữ viết, hình thái, cú pháp, phong cách từ vựng) Gérard Diffloth cho rằng tiếng Khmer là một trong những ngôn ngữ có số lượng nguyên âm nhiều nhất trên thế giới Tác giả này nhận định, tiếng Khmer đang được sử dụng ở miền Nam Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Khmer Krom (tiếng Khmer ở miền Nam Campuchia), có sự khác biệt nhất định so với tiếng Khmer chuẩn hiện đại Tuy nhiên, sự khác biệt này không lớn lắm, không gây ảnh hưởng đến việc giao tiếp

Bên cạnh các công trình kể trên, việc nghiên cứu ngôn ngữ Khmer còn phải

kể đến Từ điển tiếng Khmer của Choun Nath [91] Đây được xem là quyển từ điển

thông dụng nhất của cộng đồng người Khmer ở Campuchia Ngoài số lượng mục từ

phong phú, trong Từ điển tiếng Khmer của Choun Nath, tác giả còn ghi chú rất cụ

thể về nguồn gốc các từ, đối chiếu những từ Khmer thông dụng với từ gốc từ Pa-li, Sanskrit hoặc từ pha trộn Pa-li, Sanskrit

Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu tiếng Khmer còn phải kể đến bài viết của A.G

Haudricourt: “La place du Vietnamien dans les langues austroasiatiques” đăng trên Tạp chí Bulletin de la Société de Linguistique [93] Trong bài viết này, A.G

Haudricourt đã trình bày cái nhìn khái quát về các ngôn ngữ Nam Á ở Việt Nam, trong đó có ngôn ngữ Khmer Ông cũng nhận định tiếng Việt có mối liên hệ nhất

định với các ngôn ngữ họ Nam Á, dòng Môn-Khmer Năm 1954, trong bài viết: “De l’origine des tons en vietnamien” [94; 69-82), A.G Audricourt tiếp tục đưa ra nhận

định nguồn gốc của các âm trong tiếng Việt có mối quan hệ với tiếng Khmer

Thomas David [99], [100], [101] đã thống kê, khảo sát các từ vựng cơ bản cũng như hệ thống chữ số trong ngôn ngữ Khmer; khảo sát khái quát về ngôn ngữ Khmer khu vực miền Nam Việt Nam trên cơ sở đối chiếu với tiếng Khmer ở Campuchia để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt Ngoài ra, Thomas David & Wanna Tienmee [102] đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu ngữ

âm tiếng Khmer, so sánh ngữ âm tiếng Khmer với một số ngôn ngữ trong khu vực

Trang 13

Nhìn chung, các học giả nước ngoài đã đề cập đến khá nhiều vấn đề trọng yếu của ngôn ngữ Khmer như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, sự giao thoa ngôn ngữ… Tùy vào mục đích khác nhau, các tác giả có thể nghiên cứu những mặt khác nhau của ngôn ngữ Khmer Hầu hết các tác giả đều đặt ngôn ngữ trong mối quan hệ qua lại với nhau để nghiên cứu Đặc biệt, là dù xuất phát từ góc độ nào, đứng trên quan điểm nào thì các tác giả cũng khá đồng nhất trong việc nhìn nhận mối quan hệ qua lại tất yếu giữa tiếng Khmer ở khu vực Nam Bộ với tiếng Việt Do vậy, khi nghiên cứu tiếng Khmer khu vực này thì không thể tách rời với tiếng Việt, và ngược lại, nghiên cứu tiếng Việt cũng phải đặt trong mối quan hệ gắn bó, giao thoa với tiếng Khmer

Tuy nhiên, khảo sát các công trình nghiên cứu tiếng Khmer của học giả nước ngoài, chúng tôi nhận thấy chưa có học giả nào tập trung nghiên cứu vấn đề năng lực tiếng Việt của cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ nói chung và người Khmer

An Giang nói riêng Điều này cho thấy, vấn đề mà luận văn hướng đến vẫn còn mới

mẻ

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số cũng được quan tâm từ khá sớm Theo tác giả Hoàng Quốc [53], chúng ta có thể phân chia các công trình nghiên cứu này thành những nhóm như sau:

(1) Giới thiệu khái quát về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có các tác giả nổi bật: Phạm Đức Dương (1978), Hoàng Tuệ (1981), Như Ý (1992), Trần Trí Dõi (1997)…

(2) Nghiên cứu, khảo sát cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam có: Hoàng Văn Hành (2002), Lý Toàn Thắng, Nguyễn Văn Lợi (2002), Nguyễn Văn Khang (2003)…

(3) Nghiên cứu chữ viết trong ngôn ngữ các dân tộc thiểu số: Hoàng Văn Mãn (1959), Hoàng Tuệ (1985), Tạ Văn Thông (2002)…

Trang 14

(4) Nghiên cứu, khảo sát vấn đề giáo dục song ngữ vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam: Bùi Ngọc Diệp (1999), Trần Trí Dõi (2003), Đinh Lê Thư (2005)…

(5) Nghiên cứu, khảo sát đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam: Nguyễn Hữu Hoành (2002), Tạ Văn Thông (2002), Nguyễn Văn Khang (2003), Nguyễn Thị Thanh Bình (2004)…

(6) Nghiên cứu chuyên biệt các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam có thể kể đến các công trình và tác giả tiêu biểu: tiếng Tày - Nùng (Hoàng Văn Ma,

1993, 2002); tiếng Bru – Vân Kiều (Hoàng Văn Ma, Tạ Văn Thông, 1998); Tiếng Rục (Nguyễn Văn Lợi, 1993), tiếng Dao (Hoàng Văn Ma, 2002; Nguyễn Hữu Hoành, Tạ Văn Thông); tiếng Thái (Vũ Bá Hùng, Phạm Văn Hảo, Hà Quang Năng, 2001); tiếng Mường (Nguyễn Văn Khang, 2002), tiếng Stiêng (Lê Khắc Cường, 2010)

(7) Biên soạn các sách giáo khoa ngôn ngữ dân tộc thiểu số và các từ điển song ngữ tiếng Việt – tiếng dân tộc thiểu số, có thể kể đến: Tiếng Tày – Nùng (Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo & Hoàng Chí, 1971); Từ điển Việt – Chăm (Bùi Khánh Thế, 1996); Từ điển Mường – Việt (Nguyễn Văn Khang, 2002); sách Tự học tiếng Khmer (Ngô Chân Lý, 1996); Từ điển Việt – Khmer (2 tập) (Hoàng Học, 1977); Từ điển Khmer – Việt (Hoàng Học, 1979)

Có thể thấy, các công trình kể trên đã phác thảo phần nào về bức tranh đa ngữ ở các vùng dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở nước ta vẫn còn khá khiêm tốn so với các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung Riêng về tiếng Khmer ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và An Giang nói riêng, chúng tôi nhận thấy có các công trình nổi bật sau đây:

Trước hết, có thể kể đến những nội dung liên quan đến tiếng Khmer được Lê

Hương [29] đề cập trong cuốn “Người Việt gốc Miên” in tại Sài Gòn Phần Ngôn ngữ trong sách này, Lê Hương trình bày khái lược về nguồn gốc, một số đặc điểm ngữ âm, từ vựng tiếng Khmer ở Nam Bộ Ngoài ra, sách “Tự học chữ Miên” [30]

Trang 15

cũng đề cập nhiều vấn đề liên quan đến ngữ âm, chữ viết của tiếng Khmer Tuy nhiên, trong hầu hết các công trình của Lê Hương, ngôn ngữ Khmer đều không phải

là đối tượng nghiên cứu chính Do đó, tác giả chỉ đề cập ở một mức độ thích hợp, chưa đưa ra những luận điểm cơ bản và hầu như không đề cập đến năng lực ngôn ngữ của cộng đồng Khmer ở Nam Bộ

Nguyễn Đình Hoà [23] trong công trình Tiếng Việt không son phấn cũng đề

cập đến nhiều vấn đề quan trọng của tiếng Việt như ngữ âm, từ vựng, cú pháp Đặc biệt, tác giả nêu ra nhiều vấn đề liên quan đến nguồn gốc tiếng Khmer trong tiếng Việt, mở ra hướng tiếp cận tiếng Việt trên cơ sở tham chiếu với các ngôn ngữ trong khu vực, đặc biệt là tiếng Khmer

Hoàng Học [24], [25] đóng góp vào việc nghiên cứu ngôn ngữ Khmer với

hai bộ từ điển rất giá trị: Từ điển Việt – Khmer (2 tập) và Từ điển Khmer - Việt

Đóng góp lớn nhất của cả hai bộ từ điển này là số lượng mục từ phong phú, bên cạnh các từ thường dùng trong sinh hoạt còn có các từ chuyên sâu thuộc lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa… Chính vì vậy, nó rất thuận lợi cho việc tra cứu, học tập tiếng Khmer cũng như tiếng Việt, đúng theo mục tiêu ban đầu của tác giả từ điển là bên cạnh việc nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc mình, việc tìm hiểu ngày càng đầy đủ hơn ngôn ngữ của dân tộc láng giềng sẽ tạo thêm được nhiều thuận lợi mới

Công trình Tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc phía Nam do Viện Khoa học

Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh [50] thực hiện đã đề cập đến những vấn đề về ngữ âm, từ vựng, sự vay mượn qua lại giữa tiếng Việt và tiếng Khmer Từ đó, các tác giả nhận định, cần có một chính sách hợp lý để phát triển ngôn ngữ dân tộc ở khu vực phía Nam

Phát triển giáo dục vùng dân tộc Khmer Nam Bộ là công trình tập hợp 37 bài viết trích từ Kỷ yếu hội thảo “Thực trạng và giải pháp cho việc phát triển giáo dục vùng đồng bào Khmer Nam Bộ” Các tác giả đề cập khá nhiều nội dung quan trọng

Trang 16

xoay quanh vấn đề về công tác giáo dục của đồng bào Khmer ở khu vực Nam Bộ trên cơ sở phân tích, đối sánh những khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Khmer [51] Đinh Lư Giang [12], [13], [14], [15], [16], [17] đã có nhiều đóng góp trong

việc nghiên cứu Tình hình song ngữ Khmer - Việt của cộng đồng người Khmer ở

khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Đặc biệt, Đinh Lư Giang đã nghiên cứu khá toàn diện về tình hình song ngữ Khmer – Việt tại Đồng bằng sông Cửu Long Trong công trình của mình, tác giả Đinh Lư Giang đã giải quyết nhiều vấn đề trọng yếu liên quan đến cảnh huống ngôn ngữ Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long; các môi trường song ngữ ở Đồng bằng sông Cửu Long; một số hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ Khmer – Việt; giao thoa ngôn ngữ Khmer – Việt; chính sách và giáo dục song ngữ Khmer – Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long… Tác giả chọn đối tượng khảo sát chủ yếu là người Khmer ở hai tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh và một phần thuộc xã Cô

Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Có thể nói, kết quả khảo sát, phân tích, kiến giải trong công trình của Đinh Lư Giang là những gợi ý hết sức quý báu cho chúng tôi trong quá trình tiếp cận, thực hiện đề tài này

Nguyễn Thị Huệ [26] cũng đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến giao thoa, tiếp xúc ngôn ngữ Khmer – Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Trà Vinh nói riêng; miên tả trạng thái của sự tiếp xúc ngôn ngữ Khmer – Việt (cảnh huống ngôn ngữ, song ngữ, chức năng xã hội, thái độ ngôn ngữ, các hiện tượng giao thoa, chuyển mã…); vấn đề giáo dục song ngữ trong cộng đồng Khmer ở Trà Vinh

Từ các cơ sở phân tích, đánh giá về tình hình song ngữ và giáo dục song ngữ Khmer – Việt ở Trà Vinh, tác giả Nguyễn Thị Huệ đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học tiếng Việt cho học sinh Khmer trên địa bàn tỉnh Trà Vinh Tác giả Hoàng Quốc [52], [53], [54], [55], [56], [57], [58], [59], [60], [61]

đã có nhiều công trình, bài viết về năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ của học sinh Khmer cũng như cộng đồng Khmer ở An Giang Đặc biệt, những nghiên cứu về vấn đề song ngữ, cảnh huống ngôn ngữ ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và An Giang nói riêng của tác giả Hoàng Quốc đã bao quát

Trang 17

được khá toàn diện vấn đề ngôn ngữ dân tộc ít người trong tỉnh và khu vực Kết quả nghiên cứu từ các công trình của tác giả Hoàng Quốc là những gợi ý quan trọng và những cứ liệu tham khảo cần thiết cho việc khai thác, tiếp cận đề tài này

Nguyễn Thị Thoa [63] đã khảo sát các phương thức vay mượn của tiếng Khmer đối với tiếng Việt tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Theo đó, tác giả trình bày 5 phương thức vay mượn chủ yếu là: (1) dịch nghĩa từ tiếng Việt sang tiếng Khmer; (2) vay mượn từ và phát âm theo cách phát âm của người Khmer; (3) vay mượn nghĩa và giữ nguyên cách phát âm; (4) mượn bằng cách dịch một hoặc một vài thành tố và mô phỏng cách phát âm đối với thành tố còn lại trong tổ hợp từ tiếng Việt; (5) vay mượn theo kiểu kết hợp giữa từ tiếng Khmer với từ tiếng Việt

Phan Thái Bích Thuỷ [64], [65] trong hai đề tài: “Thực trạng dạy - học tiếng Việt cho học sinh Khmer bậc tiểu học huyện Tri Tôn tỉnh An Giang” và “Nghiên cứu cải tiến phương pháp dạy - học học vần cho học sinh lớp 1 dân tộc Khmer huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” - đã đề cập đến các yếu tố xoay quanh việc dạy

tiếng Việt cho học sinh Khmer Qua việc khảo sát năng lực tiếng Việt của học sinh Khmer, khảo sát thực trạng dạy và học tiếng Việt ở một số trường tiểu học ở huyện Tri Tôn, tác giả đã đề xuất các mô hình giáo dục sáng tạo nhằm giúp học sinh Khmer lĩnh hội tiếng Việt tốt hơn

Có thể thấy, tính đến thời điểm hiện tại, các đề tài nghiên cứu về ngôn ngữ Khmer khá phong phú và đa dạng Những công trình này là định hướng, gợi ý quan trọng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Chúng tôi xem các công trình của những tác giả đi trước như một nguồn tư liệu tham khảo quý giá và cần thiết, đồng thời kế thừa các thành tựu mà giới nghiên cứu đã đóng góp để có những định hướng thiết thực, những giải pháp cụ thể cho việc tiếp cận đề tài nghiên cứu của mình

Điểm qua các công trình nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ của người Khmer nói chung, chúng tôi nhận thấy, các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản như ngữ âm, từ vựng, chữ viết, ngữ pháp, giao thoa ngôn ngữ, hiện tượng song ngữ

Trang 18

Khmer - Việt, việc phát triển giáo dục vùng đồng bào Khmer Nam Bộ… Hầu hết các đề tài đều dàn trải nghiên cứu ngôn ngữ cộng đồng Khmer trên diện rộng (khu vực Đồng bằng sông Cửu Long), các đề tài nghiên cứu hẹp thường chọn mẫu nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh Vấn đề nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang chỉ mới tập trung chủ yếu vào đối tượng là học sinh Khmer, chưa đi sâu nghiên cứu năng lực ngôn ngữ của cộng đồng

người Khmer Từ đó cho thấy, vấn đề năng lực sử dụng tiếng Việt của cộng đồng người Khmer ở tỉnh An Giang vẫn là vấn đề còn bỏ ngõ

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Khái quát về cộng đồng Khmer và tiếng Khmer ở An Giang;

- Tìm hiểu năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer trên địa bàn hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh An Giang;

- Khảo sát đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của người Khmer An Giang;

- Phân tích thái độ ngôn ngữ của người Khmer An Giang đối với tiếng Khmer

và tiếng Việt

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tiếng Việt của người Khmer;

- Đề xuất một số định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng song ngữ

Khmer - Việt và năng lực tiếng Việt cho cộng đồng Khmer ở An Giang

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: năng lực sử dụng tiếng Việt của cộng đồng người

Khmer

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian địa lí: hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang + Về thời gian: 15 tháng (từ tháng 8.2014 đến tháng 11.2015)

Trang 19

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Tiến hành điều tra thực trạng năng lực tiếng Việt của cộng đồng dân tộc Khmer ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên tỉnh An Giang;

- Phân tích, đánh giá các nhân tố xã hội (như kinh tế, văn hoá, tuổi tác, giới tính, địa bàn cư trú ) tác động đến năng lực tiếng Việt của người Khmer;

- Mức độ sử dụng tiếng mẹ đẻ của cộng đồng dân tộc Khmer so với tiếng Việt

và tác động hai chiều (tích cực và tiêu cực) đối với năng lực tiếng Việt;

- Vai trò của gia đình, xã hội đối với năng lực tiếng Việt của người Khmer;

- Tác động của các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, đài phát thanh và truyền hình) đối với năng lực tiếng Việt của cộng đồng dân tộc Khmer;

- Thái độ của cộng đồng dân tộc Khmer đối với việc thụ hưởng giáo dục và sử dụng tiếng Việt;

- Khả năng tiếng Việt của người dân Khmer với sách, báo, truyền thanh, truyền hình…

- Kiến nghị về định hướng và giải pháp trong việc nâng cao năng lực tiếng Việt cho đồng bào dân tộc Khmer ở Nam Bộ

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để tìm hiểu năng lực sử dụng tiếng Việt của cộng đồng người Khmer ở An

Giang, chúng tôi chủ yếu vận dụng phương pháp điều tra ngôn ngữ học xã hội kết

hợp với các phương pháp miêu tả, phân tích (trên bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) Cụ thể như sau:

- Phương pháp khảo sát: Khảo sát bằng phiếu điều tra kết hợp với quan sát

trực tiếp, ghi âm và phỏng vấn sâu Đây là những phương pháp hữu hiệu để đánh

giá khả năng hiểu và vận dụng tiếng Việt của người Khmer

+ Chọn mẫu khảo sát

 Địa bàn khảo sát:

Trang 20

 Chọn khảo sát 6 địa bàn theo các tiêu chí: có nhiều đồng bào Khmer sinh sống; có địa bàn đô thị, có địa bàn biên giới, có địa bàn nông thôn hoặc miền núi

 Theo đó, chúng tôi sẽ chọn khảo sát 6 địa bàn sau: xã Văn Giáo (Tịnh Biên), xã An Hảo (Tịnh Biên), thị trấn Chi Lăng (Tịnh Biên); xã Vĩnh Gia (Tri Tôn), xã Núi Tô (Tri Tôn), thị trấn Tri Tôn (Tri Tôn)

Ở mỗi địa bàn (xã/thị trấn), chúng tôi đều điền dã để quan sát, phỏng vấn, ghi

âm và phát 100 phiếu điều tra thu thập thông tin, số liệu cụ thể

 Đối tượng khảo sát:

 Tiêu chí chọn đối tượng: đối tượng lựa chọn khảo sát là người

Khmer trên địa bàn An Giang theo các tiêu chí có tính phân tầng như: giới tính, tuổi

tác, nơi cư trú, trình độ học vấn và nghề nghiệp

 Số lượng người được khảo sát bằng phiếu điều tra: 600 người

 Số lượng người được trò chuyện để ghi âm: 30 người Đối với các đối tượng khảo sát là người Khmer không biết tiếng Việt hoặc năng lực tiếng Việt hạn chế, chúng tôi sử dụng lực lượng cộng tác viên là người Khmer song ngữ hoàn hảo để phiên dịch, chuyển tải các nội dung khảo sát và thu thập thông tin

- Phương pháp thống kê và xử lí số liệu: Sau khi thu thập đầy đủ các phiếu

điều tra về khả năng hiểu và sử dụng tiếng Việt của người Khmer, chúng tôi tiến hành thống kê, xử lý các câu trả lời người Khmer trên phiếu điều tra và các dữ liệu ghi chép, thu âm được (có ứng dụng phần mềm thống kê Excel, và SPSS trong xử lý

số liệu) Từ cơ sở các dữ liệu đã thống kê, xử lý, chúng tôi tiến hành phân tích, miêu

tả để làm sáng rõ những vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp so sánh: Tiến hành so sánh, đối chiếu năng lực sử dụng tiếng

Việt của người Khmer nhằm tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng chênh lệch về khả năng hiểu và sử dụng tiếng Việt ở các địa bàn, đại diện cho ba khu vực: thành thị, nông thôn và miền núi

Trang 21

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu: Vận dụng phương pháp này để thu thập

tài liệu có liên quan đến đề tài, chọn lọc tài liệu để làm cơ sở lí luận cho đề tài

7 BỐ CỤC LUẬN VĂN

Bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phần phụ lục (bảng điều tra và hình ảnh), đề tài gồm ba chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Trong chương này, chúng tôi trình bày khái quát về cộng đồng Khmer và tiếng Khmer ở An Giang Đặc biệt, chúng tôi chú trọng đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt giữa tiếng Khmer và tiếng Việt để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tiếng Việt của người Khmer Ngoài ra, trong chương này chúng tôi cũng tổng hợp và trình bày một số vấn đề lý thuyết liên quan đến năng lực ngôn ngữ

Chương 3: Thái độ ngôn ngữ và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer ở An Giang

Ở chương này, chúng tôi chỉ ra thái độ của người Khmer đối với tiếng mẹ đẻ

và tiếng Việt, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer Trên cơ sở phân tích, đánh giá, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho người Khmer ở An Giang

Trang 22

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG KHMER VÀ TIẾNG KHMER Ở AN GIANG

1.1.1 Cộng đồng dân tộc Khmer ở An Giang

An Giang là một tỉnh miền Tây Nam Bộ, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích tự nhiên 353.676 ha, trong đó có 297.872 ha đất sản xuất nông nghiệp An Giang là tỉnh vừa có đồng bằng, vừa có núi và có đường biên giới dài gần 100 km, giáp với 02 tỉnh Tà - Keo và Kan – Đan (Vương quốc Campuchia); có

02 cửa khẩu quốc tế là Xuân Tô (huyện Tịnh Biên), Vĩnh Xương (thị xã Tân Châu)

và 01 cửa khẩu quốc gia là Khánh Bình (huyện An Phú) Về địa giới hành chính: tỉnh An Giang có 08 huyện, 01 thị xã, 02 thành phố và 156 xã, phường, thị trấn Trong đó có 18 xã biên giới, 38 xã dân tộc

Theo số liệu thống kê của Ủy ban Nhân dân Tỉnh An Giang, đến tháng 5 năm

2015, dân số toàn tỉnh 2.155.323 người, với 539.347 hộ Đồng bào dân tộc thiểu số

là 114.128 người, với 27.296 hộ, chiếm tỷ lệ 5,29% dân số toàn tỉnh Có 3 dân tộc thiểu số là Khmer, Hoa, Chăm cùng chung sống lâu đời Dân tộc Khmer có 91.138 người (22.631 hộ) chiếm 4,19%; dân tộc Chăm có 14.358 người (3.518 hộ), chiếm 0,66% và dân tộc Hoa có 8.282 người (2.024 hộ), chiếm tỷ lệ 0,37% dân số toàn tỉnh Đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh An Giang đa số là người dân tộc Khmer (chiếm gần 80% dân tộc thiểu số cả tỉnh) và tập trung nhiều nhất ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh biên Người Chăm sinh sống tại huyện An Phú, Tân Châu và Phú Tân, ngoài ra còn có một bộ phận nhỏ ở huyện Châu Thành và thành phố Long Xuyên Người Hoa ở An Giang hiện sinh sống chủ yếu tại thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc và rải rác ở một số huyện thị khác như Châu Phú, Tân Châu, Phú Tân, Tri Tôn Tình trạng sống đan xen giữa các dân tộc là phổ biến Tình hình này tạo nên một trạng thái đa ngữ phức tạp trong giao tiếp, trong tiếp xúc ngôn ngữ và trong giáo dục song ngữ

Trang 23

Điều kiện sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc Khmer còn gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân về rào cản ngôn ngữ, làm ảnh hưởng đến việc nắm bắt và tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào đời sống sản xuất và vấn đề hoà nhập cộng đồng xã hội

Theo thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang [86], tổng số học sinh dân tộc thiểu số ở An Giang năm học 2014 - 2015 là 17.319 học sinh (tiểu học: 10.396 học sinh, trung học cơ sở: 5.611 học sinh, trung học phổ thông: 1.312 học sinh), chiếm tỷ lệ 5,12% học sinh toàn tỉnh Giáo viên người dân tộc thiểu số là 665 giáo viên (Khmer: 563 người, Chăm: 18 người, Hoa: 84 người) trong đó: trình độ đại học là 386 người, sau đại học là 5 người Tỉnh có 01 Trường phổ thông Dân tộc nội trú có 2 cấp học: Trung học cơ sở và Trung học phổ thông dành cho học sinh dân tộc Khmer, đặt tại thị trấn Tri Tôn (Tri Tôn); 01 Trường trung học cơ sở Dân tộc bán trú, đặt tại thị trấn Chi Lăng (Tịnh Biên) Các em học sinh Trường Dân tộc nội trú được học chữ Khmer trong chương trình chính khóa Mỗi trường có dạy tiếng dân tộc Khmer được bố trí thêm 01 biên chế, định mức dạy 23 tiết/tuần đối với tiểu học, 17 tiết/tuần đối với trung học cơ sở và 15tiết/tuần đối với trung học phổ thông

Đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang hầu hết theo Phật giáo Nam tông, rất tôn trọng sư sãi, xem chùa vừa là nơi sinh hoạt tôn giáo, vừa là nơi sinh hoạt văn hoá tinh thần Toàn tỉnh có 65 chùa Khmer (trong đó có 46 chùa theo hệ phái Mahanikai và 19 chùa theo phái Thommadut), chư tăng Nam tông Khmer có 979 vị, trong đó có 04 Hoà thượng, 11 Thượng toạ, 30 đại đức; 130 Tà cha Phật giáo Nam Tông Khmer ở An Giang mang tính biệt truyền, nhưng gần đây đã có những thay đổi, thanh niên tự nguyện vào chùa tu chứ không bắt buộc Có người vào tu một thời gian ngắn rồi xuất tu, kể cả một số sư cả tu lâu năm, nên số lượng sư sãi luôn biến động và có nhiều sư cả tuổi đời còn rất trẻ

Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh An Giang có chương trình phát thanh 2 giờ/ngày và phát sóng truyền hình 7 giờ/ngày bằng tiếng dân tộc Khmer trên truyền

Trang 24

hình tiếng dân tộc ATV2 Nội dung các phóng sự, tin bài, chuyên mục tuyên truyền trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội trong đồng bào dân tộc thiểu số; những thay đổi, phong trào xây dựng đời sống và những mô hình làm ăn mới đem lại hiệu quả, các chế độ chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số Tất cả các xã trong vùng đồng bào dân tộc Khmer đều được trang bị loa truyền thanh hoạt động 2 buổi trong ngày Công tác thông tin, cổ động qua hình thức phát thanh, pano, áp phích ở vùng đồng bào dân tộc Khmer đều được phát và in bằng 02 thứ tiếng Việt và Khmer

Người Khmer ở An Giang chủ yếu là cư dân nông nghiệp, địa bàn cư trú trong vùng nông thôn, miền núi Nền tảng kinh tế truyền thống của họ là trồng lúa

và hoa màu Ngoài ra, họ còn phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, dệt vải, làm đường thốt nốt… Đặc điểm kinh tế truyền thống nông nghiệp quy định vấn đề cư trú của người Khmer, qua đó cũng ảnh hưởng đến việc giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ với các dân tộc khác trong khu vực Cụ thể, đồng bào Khmer lựa chọn vùng đất đồi núi khu vực Tri Tôn và Tịnh Biên để định cư Đồng thời, họ tổ chức cư trú theo các phum, sóc Đa số các phum, sóc này đều được thành lập khá lâu đời và thường phân

bố theo chân núi, bìa rừng vùng Thất Sơn Nhà nước hầu như cũng luôn giữ nguyên trạng cơ cấu của các phum, sóc này Thông thường từ 3 đến 7 phum sẽ được gộp lại thành một ấp, nhiều ấp hình thành nên một xã Mỗi phum, sóc ở An Giang thường

có hàng trăm nhà, thuộc nhiều dòng họ quy tụ Ngoài ra, trong mỗi phum, sóc còn chia ra thành nhiều “chòm nhà” (tiếng Khmer gọi là “đom pteah”) Mỗi “đom pteah” có khoảng 10 đến 20 nhà Thông thường các “đom pteah” này tập hợp các gia đình có cùng huyết thống, và có tên gọi riêng, dùng để phân biệt với các “đom pteah” khác trong phum, sóc

Như vậy, có thể thấy quá trình cư trú và truyền thống kinh tế của cộng đồng Khmer An Giang hầu như đã tạo cho họ một ranh giới khá biệt lập so với các dân tộc khác Chính vì vậy mà khả năng tiếp xúc ngôn ngữ với các dân tộc khác của người Khmer có phần bị hạn chế Cụ thể là trong môi trường giao tiếp ở các “đom

Trang 25

pteah” hay phum, sóc thì hầu như người Khmer chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ Từ đó dẫn đến năng lực tiếng Việt của họ còn nhiều hạn chế

Cũng cần nói thêm, địa bàn cư trú của đa số người dân Khmer ở An Giang là vùng sâu, vùng xa, miền núi Đây là những địa bàn xa xôi cách trở, giao thông không thuận lợi, vì vậy mà việc được đến trường học tập cũng bị ảnh hưởng không nhỏ Điều này thể hiện ở các đặc điểm như đa phần người lớn tuổi trước đây không được đi học Nhiều trẻ em Khmer đến trường muộn hơn so với độ tuổi quy định Nhiều trẻ em đến trường nhưng năng lực tiếng Việt hạn chế, không tiếp thu được kiến thức, học chậm hơn so với bạn bè đồng lứa nên bỏ học sớm, từ đó dẫn đến năng lực tiếng Việt rất hạn chế Do nếp sống quần cư và đặc điểm địa phương, hầu hết trẻ em Khmer khi còn học tiểu học có thể đến trường với cự li tương đối ngắn,

vì mạng lưới trường tiểu học ở An Giang tương đối rộng khắp Tuy nhiên, càng lên các bậc học cao hơn, các em phải di chuyển khá xa để đến trường Nhiều gia đình khó khăn, không trang bị được phương tiện cho các em, không mua sắm đủ các dụng cụ học tập, đồng phục… từ đó dẫn đến việc cho trẻ nghỉ học sớm Những yếu

tố này đều có ảnh hưởng rất lớn năng lực tiếng Việt của của trẻ em Khmer nói riêng

và cộng đồng Khmer ở An Giang nói chung

1.1.2 Đặc điểm tiếng Khmer

Tiếng Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, nằm trong ngữ hệ Nam

Á, có nguồn gốc bản địa và từng bước được bổ sung bởi các ngôn ngữ du nhập

Theo Nguyễn Thị Huệ [26], tiếng Việt và tiếng Khmer đều là những đại diện cho các nhánh khác nhau thuộc khối Môn – Khmer, Ngữ hệ Nam Á, một ngữ hệ lớn

và cổ xưa ở khu vực Đông Nam Á Tiếng Việt thuộc nhóm Vietic (gồm các ngôn ngữ Việt, Mường, Tum, Rục, Arem, Thà vựng) Nhóm ngôn ngữ này được sử dụng chủ yếu ở Việt Nam và Lào Trong khi đó, tiếng Khmer là đại diện duy nhất của nhóm Khmeric Cả Vietic và Khmeric cùng với Katuic, Bahnaric thuộc khối Khmero-Vietic Như vậy, tiếng Khmer và tiếng Việt có quan hệ khá gần gũi, nằm chung một khối nhưng khác nhau về nhánh

Trang 26

Ở Việt Nam, tiếng Khmer là ngôn ngữ đứng hàng thứ 6 về số lượng người nói, sau các ngôn ngữ Việt, Tày-Nùng, Thái, Mường, Hoa Tiếng Khmer phổ biến ở các tỉnh thuộc khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long như Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Cà Mau…

Tiếng nói và chữ viết được nhân dân Khmer Nam Bộ tôn trọng và giữ gìn

trong sự kết hợp chặt chẽ giữa ba dạng: Đom rai (tiếng thường), Pali và Sanskrit

Tiếng nói và chữ viết Khmer đã có khả năng diễn đạt và thể hiện những vấn đề khác nhau của khoa học, văn học và xã hội

Ngày nay, tiếng Khmer ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long được dùng chủ yếu trong gia đình, trong sinh hoạt tôn giáo, trong giao tiếp giữa người Khmer với nhau và gồm ba phương ngữ chính: phương ngữ Trà Vinh, phương ngữ Sóc Trăng, phương ngữ Kiên Giang Ba phương ngữ này có những điểm khác nhau chủ yếu trên phương diện phát âm và một phần trên phương diện sử dụng từ ngữ Nhưng không quá cách biệt, vì người Khmer vùng này nói (một cách rõ ràng) các vùng khác đều hiểu được

Tiếng Khmer có chữ viết từ khá sớm, ước tính vào khoảng thế kỷ thứ III sau Công nguyên Cũng như chữ Thái, chữ Lào, chữ Khmer bắt nguồn từ hệ thống chữ Pali – Sanskrit, loại chữ mà người ta đã dùng ở miền Nam Ấn Độ vào thế kỷ thứ I sau Công nguyên Tuy nhiên, trước đây ở Nam Bộ, tiếng Khmer chủ yếu chỉ được dùng trong giao tiếp hàng ngày Nói cách khác, chức năng giáo dục của tiếng Khmer chưa được đề cao Chính quyền Việt Nam Cộng hòa không mở trường dạy tiếng Khmer cho con em người Khmer Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng,

hệ thống giáo dục nước ta ngày càng phát triển, vấn đề ngôn ngữ dân tộc thiểu số ngày càng được quan tâm Vì vậy mà vị thế của tiếng Khmer cũng không ngừng được nâng lên trong đời sống xã hội của cộng đồng

Riêng về góc độ chức năng tôn giáo, tiếng Khmer có một vị thế hết sức quan trọng Hàng trăm bộ kinh Phật bằng tiếng Pali đã được dịch ra tiếng Khmer để lưu truyền trong các chùa, hàng trăm tập sách (chủ yếu là văn học dân gian) đã được ghi

Trang 27

chép bằng tiếng Khmer trên lá buông Dạng chữ Khmer truyền thống là dạng chữ khó viết và khó nhớ hơn dạng chữ Latinh nên nói chung nó không được phổ cập rộng rãi trong dân chúng Khmer Đồng bằng Sông Cửu Long Chỉ có tầng lớp trí thức Khmer, gồm sư sãi và những người hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục… là biết sử dụng thành thạo chữ viết

Về mặt ngữ âm, tiếng Khmer thường có nhiều tổ hợp phụ âm đầu, không có

tổ hợp phụ âm cuối Âm tiết chính trong từ thường được kết thúc bằng nguyên âm hoặc phụ âm đơn Vì vậy mà trong tiếng Khmer, số lượng phụ âm cuối ít hơn phụ

Nguyên âm thường là những nguyên âm phải kết hợp với các phụ âm mới có

nghĩa Loại này gồm 24 nguyên âm Nhưng khi phát âm thì mỗi nguyên âm lại có 2 giọng khác nhau Tức là khi chúng đi với phụ âm giọng “O” thì đọc khác, khi đi với phụ âm giọng “Ô” thì đọc khác

Nguyên âm độc lập là nguyên âm không cần kết hợp với phụ âm vẫn có

nghĩa, tức là bản thân các nguyên âm này đã có chứa những nét khu biệt nhất định Loại này có 13 nguyên âm

Sự gia tăng và biến động về số lượng các nguyên âm trong tiếng Khmer là kết quả của quá trình biến đổi lâu dài của ngôn ngữ này, trong đó có vai trò tác động của các phụ âm

Tiếng Khmer không có thanh điệu, các từ phần lớn là từ đơn tiết hoặc từ có một tiền âm tiết không mang trọng âm, với nguyên âm bị nhược hóa đứng trước và một âm tiết chính đứng sau Tiếng Khmer cũng sử dụng các phụ tố cấu tạo từ, bao gồm tiền tố và trung tố Chức năng của các tiền tố này là làm thay đổi từ loại của từ

Trang 28

Tuy nhiên, đặc điểm hình thái này hiện nay cũng ít xuất hiện trong tiếng Khmer, nhiều phụ tố đã có ý nghĩa chuyên biệt hóa

Theo Lê Hương [29], tính tôn ti trong tiếng Khmer thể hiện khá rõ nét Cụ thể là việc phân chia các tiếng bình dân và các tiếng có sắc thái trang trọng, quý phái Việc sử dụng chính xác các tiếng này được xem là một yêu cầu bắt buộc, nếu không tuân thủ có thể xem như xúc phạm người đối thoại Điển hình như từ “ăn” trong ngôn ngữ Khmer trước kia phải dùng trong từng trường hợp cụ thể như sau:

- “si”: bình dân, hạ cấp, dùng cho thú vật

- “pisa”: dùng với thái độ lễ phép, trân trọng người đối thoại

- “chann”: dùng đối với nhà sư

- “pisa kraya”: dùng đối với nhà vua

Hay từ “đi” trong ngôn ngữ Khmer cũng dùng khác nhau đối với từng trường hợp cụ thể:

- “tâu”: đối với người bình dân

- “nimon”: đối với nhà sư

- “trong diên/ sđach diên”: đối với nhà vua

Vấn đề phân biệt về “giới” cũng xuất hiện khá phổ biến trong tiếng Khmer Nghĩa là, trong từng trường hợp cụ thể, tương đồng về ngữ cảnh, tiếng Khmer sẽ quy định người nam nói một cách, người nữ nói một cách Ví dụ: khi cần nói “dạ/ vâng” như trong tiếng Việt, người nam phải nói là “bat”, nữ nói là “chaks”

Trang 29

1.1.3 Một số điểm tương đồng và khác biệt giữa tiếng Khmer và tiếng

Việt 1.1.3.1 Tương đồng

Như đã trình bày ở trên, tiếng Khmer và tiếng Việt có quan hệ cội nguồn, cùng thuộc ngữ hệ Môn – Khmer, họ Nam Á Do vậy, giữa tiếng Việt và tiếng Khmer có những nét tương đồng nhất định về ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp Trong phần này, chúng tôi không nhắc lại những bình diện tương đồng mang tính phổ niệm xuất hiện trong cả tiếng Khmer lẫn tiếng Việt (cũng như đa số các ngôn ngữ khác), chúng tôi chỉ đề cập đến những bình diện tương đồng mang tính đặc trưng của hai ngôn ngữ, nhằm hướng đến việc lý giải về năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer trong các chương tiếp theo

Trước hết, về ngữ âm, tiếng Việt và tiếng Khmer đều thuộc loại hình ngôn

ngữ đơn lập, không biến hình, đơn tiết Tiếng Khmer cũng giống tiếng Việt về âm đoạn, có điều tiếng Khmer không có thanh điệu, thay vào đó các nguyên âm có sự đối lập về âm vực để khu biệt nghĩa Âm tiết tiếng Khmer và âm tiết tiếng Việt thường không phải là những đơn vị ngữ âm thuần túy mà còn là đơn vị có nghĩa

Trong tiếng Khmer cũng có hiện tượng vay mượn từ ngữ từ các ngôn ngữ khác như trong tiếng Việt Điều này phần nhiều do quá trình tiếp xúc ngôn ngữ của cộng đồng Khmer với các ngôn ngữ khác trong khu vực và yêu cầu bổ sung vốn từ cho tiếng Khmer Chúng tôi nhận thấy, vốn từ được vay mượn trong tiếng Khmer

có các nguồn gốc chủ yếu sau:

(1) Từ các ngôn ngữ Ấn – Âu Ví dụ trong tiếng Khmer có các từ như: “ghi ta” (đàn guitar), “vi ô lon” (đàn violon)…

(2) Vay mượn từ tiếng Việt Trường hợp này khá phổ biến vì quá trình tiếp xúc lâu dài trong lịch sử hai ngôn ngữ Cộng đồng Khmer mượn các từ tiếng Việt

để bổ sung vốn từ còn thiếu trong ngôn ngữ của mình Cụ thể như “chhe keo” (xe kéo); “hơp tac” (hợp tác), “bi thư” (bí thư)…

Trang 30

(3) Ngoài ra, tiếng Khmer còn vay mượn các từ ngữ thuộc tiếng Pali và Sanskrit, ngôn ngữ có quan hệ khá lâu đời với tiếng Khmer

Các từ ngữ được cộng đồng Khmer vay mượn hầu hết là các từ mới, thuộc các lĩnh vực khoa học kỹ thuật hiện đại hoặc trong các lĩnh vực hành chính công vụ Tuy nhiên, cũng có những trường hợp, các từ vay mượn (từ tiếng Việt chẳng hạn)

đã có những đơn vị tương ứng trong tiếng Khmer, nhưng người Khmer vẫn vay mượn và sử dụng theo 2 phương thức: khi thì dùng từ mượn của tiếng Việt; khi thì dùng từ Khmer (ví dụ các từ: “bộ đội” – “tia hiên”; “chính phủ” – “rắch chă ka”…)

Giữa tiếng Khmer và tiếng Việt có sự tương đồng khá lớn, trên tất cả các bình diện từ ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp Chính những nét tương đồng này tạo điều kiện cho quá trình giao thoa ngôn ngữ diễn ra khá tự nhiên đối với đồng bào Khmer ở An Giang cũng như đối với những người Kinh sống ở các khu vực có nhiều đồng bào Khmer cộng cư Tuy nhiên, giữa tiếng Việt và tiếng Khmer vẫn có những nét khác biệt khá cơ bản

1.1.3.2 Khác biệt

Sự khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Khmer thể hiện chủ yếu ở cụm danh từ (danh ngữ) của hai ngôn ngữ này Đây cũng là một yếu tố chi phối trực tiếp đến năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer, do đó, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát, đối chiếu danh ngữ tiếng Việt và danh ngữ tiếng Khmer để làm cơ sở cho việc phân tích các nội dung liên quan trong luận văn

Cụm danh từ (danh ngữ) trong tiếng Việt là một tổ hợp tự do có bộ phận trung tâm do danh từ đảm nhận Tổ hợp này thường có ba thành tố: thành tố đứng trước danh từ trung tâm (gọi là phần phụ trước), thành tố đứng sau danh từ trung tâm (gọi là phần phụ sau) và danh từ trung tâm Dạng thức không đầy đủ của danh ngữ tiếng Việt bao gồm:

- Phụ trước + trung tâm

- Trung tâm + phụ sau

Trang 31

Hiện tại, những phần phụ trước và phụ sau trong danh ngữ tiếng Việt thường không có gì bàn cãi Tuy nhiên, phần trung tâm của danh ngữ có rất nhiều quan điểm khác nhau và còn khá nhập nhằng Điển hình là hai xu hướng chính: hướng thứ nhất, các học giả cho rằng ở danh ngữ tiếng Việt, trung tâm là một bộ phận ghép gồm một trung tâm ngữ pháp (loại từ) và một trung tâm từ vựng (danh từ) Hướng thứ hai cho rằng chính danh từ chỉ loại mới là thành tố trung tâm, còn danh từ đứng sau chỉ là thành tố phụ

Ở đây, chúng tôi quan niệm trung tâm của danh ngữ tiếng Việt như sau:

- Danh ngữ có danh từ làm trung tâm trong những trường hợp bản thân nó là

danh từ chính, tức không có danh từ chỉ loại đứng trước (làng, màu, người, nơi, ngày hay một số danh từ chỉ tên riêng…)

Ví dụ: hai năm đó

- Danh ngữ nếu có danh từ chỉ loại đứng trước thì từ này đảm nhận vai trò trung tâm (chính) trong cụm danh từ đó vì danh từ chỉ loại hiểu rộng là tất cả những

từ có tính chất của từ loại danh từ và có nội dung ý nghĩa chỉ thứ, hạng của sự vật,

kể cả những danh từ có ý nghĩa từ vựng trực tiếp chỉ loại như: thứ, loại, hạng, kiểu

Danh từ chỉ loại khá đa dạng và chúng ta thường gặp với vai trò thành tố chính cụm danh từ và trực tiếp đứng sau các số từ đếm:

+ Danh từ chỉ loại có thể đi với danh từ vật thể: cái, con, cây, cục, quyển, tờ, bức…

Ví dụ: mấy con chim sâu nhỏ ấy

+ Danh từ chỉ loại có thể đi cùng với danh từ thể chất: cục, hòn, thanh, tấm, miếng, giọt, luồng, hạt…

Ví dụ: những hạt dưa ấy

Trang 32

- Một số danh từ (có gốc động từ) chỉ đơn vị đại lượng cũng được xếp vào

danh từ chỉ loại như: bó, nắm, ôm, vốc…

Ví dụ: một bó củi

- Danh từ chỉ loại hiểu rộng ra còn bao gồm các trường hợp như: sự, nỗi, niềm, cuộc… và từ để gọi tên các đơn vị vật thể rời gộp lại như: lũ, đàn, bầy, đoàn, bọn, tụi…

Ví dụ: một đàn cò trắng

- Danh từ đơn vị đo lường đặt trước danh từ chỉ chất liệu cũng được chúng

tôi xác định là danh từ chính: cân, lít, tấn, sào…

Ví dụ: một cân thịt lợn

- Ngoài phần trung tâm của danh ngữ thì các phần phụ trước và phụ sau cũng

có vai trò vô cùng quan trọng trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt Để có cách nhìn tổng quan chúng tôi sẽ đưa ra những đặc điểm khác nhau cơ bản của hai thành phần này:

Về mặt từ loại: thành tố phụ trước trung tâm trong nhiều trường hợp đều

do những từ có nghĩa không chân thực đảm nhiệm, còn thành tố phụ đứng sau trung tâm lại phần lớn do những từ có nghĩa chân thực đảm nhiệm

Về mặt số lượng: những từ có thể làm thành tố phụ trước có số lượng rất

hạn chế, có thể thống kê và lập danh sách được Những từ có khả năng dùng làm thành tố phụ sau lại có số lượng rất lớn

Về mặt tổ chức: thành tố phụ trước phần lớn xuất hiện dưới dạng của một

từ, thành tố phụ sau thường lại rất dễ dàng kèm thêm yếu tố phụ để phát triển thành một cụm từ nhỏ

Về mặt phân bố vị trí: thành tố phụ trước phân thành những vị trí rất rành

mạch, mỗi kiểu thành tố phụ bao gồm những từ có chung một ý nghĩa khái quát bao giờ cũng được quy vào một vị trí Ở phần cuối lại không có hiện tượng đó

Trang 33

Về mặt ý nghĩa: thành tố phụ trước ít có tác dụng hạn chế khái niệm nêu ở

danh từ trung tâm, thành tố phụ sau thường có tác dụng hạn định khái niệm của danh từ trung tâm

Điều này được miêu tả cụ thể bằng ví dụ sau:

- Vị trí (-1) là vị trí của từ “cái” chỉ xuất

- Vị trí (+1) là vị trí của thành tố phụ hạn định do danh từ đảm nhận Vị trí này trong cấu trúc danh ngữ của tiếng Việt chính là trung tâm ngữ nghĩa của danh ngữ

- Vị trí (+2) là vị trí phức tạp nhất của danh ngữ Đây được xem là thành tố phụ hạn định có tính “mở”, có thể do một từ, một cụm từ hoặc một cấu trúc C-V đảm nhận Thành tố này nêu lên đặc điểm của sự vật mà danh từ trung tâm biểu hiện để miêu tả cụ thể về nó, hạn định nó khỏi sự vật cùng loại

- Vị trí (+3) là vị trí của những đại từ chỉ định (ví dụ: ấy, đó, kia, nọ, này, nấy, nay, đây, đấy…) Nhiệm vụ của các đại từ này là chỉ rõ vị trí của sự vật (danh từ

trung tâm) trong không gian, thời gian và trong diễn tiến của quá trình giao tiếp

Ngoài ra, vị trí (+3) còn là vị trí kết thúc của một cụm danh từ

Sau đây là khái quát các kiểu cấu trúc danh ngữ tiếng Việt:

Trang 34

Tất cả những cái cuốn sách mới ấy

Tất cả những cái cuốn sách mới Tất cả những cái cuốn sách ấy

những cái cuốn sách mới những cái cuốn sách ấy

Tất cả những cái cuốn mới Tất cả những cuốn sách mới

Trang 35

Như vậy, có thể thấy khả năng kết hợp của danh từ tiếng Việt trong một ngữ đoạn là hết sức phức tạp Nó có nhiều điểm khác biệt với cấu tạo của một cụm danh từ trong tiếng Khmer

Sơ đồ cụm danh từ trong tiếng Khmer có thể khái quát như sau:

Danh từ

trung tâm

Định ngữ hạn định

Từ chỉ tổng lượng

Từ chỉ số lượng

Loại từ Đại từ chỉ

định

Photes thmây ten osk bây kho nong nis

(tất cả ba ngôi nhà mới này)

- Vị trí (0) là vị trí của danh từ trung tâm Trong danh ngữ tiếng Khmer, danh

từ trung tâm luôn đứng đầu Nghĩa là các thành tố phụ chỉ có thể phân bổ phía sau

nó Danh từ trung tâm trong danh ngữ tiếng Khmer vừa là trung tâm về ngữ pháp, vừa là trung tâm về ngữ nghĩa

- Vị trí (1) là vị trí định ngữ hạn định Vị trí này có thể do danh từ, động từ,

tính từ hoặc các cụm từ, thậm chí là một kết cấu C-V đảm nhận Định ngữ hạn định đặt sau danh từ trung tâm, điều này phần nào giống với cấu trúc danh ngữ trong tiếng Việt

- Vị trí (2) là vị trí của từ chỉ tổng lượng Ví dụ như các từ “ten osk” (tất cả),

“pôuk” (các), “ten môl” (toàn bộ)… Điều này cũng khác biệt so với danh ngữ tiếng Việt Bởi trong danh ngữ tiếng Việt, các từ chỉ tổng lượng nếu có xuất hiện thì nó luôn đứng trước danh từ trung tâm

- Vị trí (3) là vị trí từ chỉ số lượng Điều này cũng khác biệt so với danh ngữ

tiếng Việt Vì trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt, số từ luôn được đặt trước danh từ

trung tâm Ví dụ: tiếng Việt có danh ngữ: “bốn cô gái đó” thì trong tiếng Khmer sẽ là: “nia ry buôn niak” (cô gái bốn đó)

Trang 36

- Vị trí (4) là vị trí của danh từ đơn vị Đây cũng là một trong những điểm

khác biệt giữa danh ngữ tiếng Khmer so với danh ngữ tiếng Việt Tiếng Khmer đặt danh từ đơn vị sau danh từ trung tâm Trong khi đó, ở danh ngữ tiếng Việt, về mặt ngữ pháp, danh từ đơn vị được xem là trung tâm của danh ngữ

- Vị trí (5) là vị trí của các đại từ chỉ định, là thành tố đánh dấu sự kết thúc của

danh ngữ tiếng Khmer Các từ này chủ yếu có: “nis” (này), “nuôc” (kia), “enuôc” (ấy)…

Cũng như danh ngữ tiếng Việt, danh ngữ tiếng Khmer không phải lúc nào cũng xuất hiện đầy đủ các thành phần như đã liệt kê Trong từng trường hợp cụ thể, các

Từ chỉ tổng lượng

Từ chỉ số luợng

Loại từ Đại từ chỉ

định

0 1 2 3 4 5

photes thmây ten osk bây khonoong nis

Trang 37

bị hư hóa là những từ thường có một hoặc ít ngữ trị Nghĩa là khả năng kết hợp của chúng trong cấu trúc rất hạn chế

Nhìn chung, trật tự các yếu tố trong danh ngữ tiếng Khmer đi theo khuynh hướng tăng dần tính cụ thể Điều này phản ánh quy luật tư duy trong quá trình quan sát sự vật hiện tượng sau đó khái quát hóa qua ngôn ngữ

So sánh cấu trúc danh ngữ tiếng Khmer và cấu trúc danh ngữ tiếng Việt, có thể nhận thấy tính ổn định của một số vị trí trong cấu trúc danh ngữ tiếng Khmer kém chặt chẽ hơn tiếng Việt Trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt, sự phân bố các thành tố phụ trước và thành tố phụ sau danh từ trung tâm tương đối chặt chẽ, có khi

là cố định và bắt buộc Các thành tố phụ trước hầu như không thể hoặc rất ít khi được chuyển xuống đứng sau danh từ trung tâm và ngược lại Nhiều vị trí trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt có chức năng như một kiểu dấu hiệu nhận dạng danh ngữ

Về mô hình đầy đủ, hai danh ngữ này có sự khác biệt, thể hiện qua hai mô hình khái quát sau:

Mô hình đầy đủ của danh ngữ tiếng Việt:

Phụ trước Trung tâm Phụ sau

Mô hình đầy đủ của danh ngữ tiếng Khmer:

Trang 38

Trung tâm Phụ sau

Trong danh ngữ tiếng Khmer, những thành tố chỉ tổng lượng và thành tố chỉ

số lượng là những thành tố có vị trí tương đối tự do, tạo nên sự biến động nhiều nhất về mặt phân bố, chúng có thể hoán đổi vị trí cho nhau, có thể đứng trước hoặc sau trung tâm tùy theo từng trường hợp cụ thể mà sắc thái ngữ nghĩa của danh ngữ rất ít biến đổi

Ví dụ: photes thmây ten osk bây khonoong nis (tất cả ba ngôi nhà mới này)

Ta cũng có thể nói: photes thmây bây khonoong ten osk nis (nhà mới ba ngôi

tất cả này)

Một đặc điểm khác biệt nữa là trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt, có một từ loại đặc biệt độc chiếm một vị trí cố định, đứng sau từ chỉ số lượng và đứng trước loại từ, đó là từ “cái” chỉ xuất Vai trò của từ “cái” chỉ xuất là dùng để nhấn mạnh

sự vật, chỉ xuất sự vật, làm cho nó không thể lẫn với sự vật khác cùng loại Hiện tượng này lại không thấy xuất hiện trong cấu trúc danh ngữ tiếng Khmer

Như chúng tôi đã trình bày, sự tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng Khmer là khá lớn Tuy nhiên, sự khác biệt nói chung và sự khác biệt về cấu trúc danh ngữ nói riêng trong hai ngôn ngữ này là một vấn đề khá thú vị, tạo ra nét đặc trưng của từng ngôn ngữ Việc đối chiếu cấu trúc danh ngữ trong tiếng Việt và tiếng Khmer cũng mang lại những thông tin hữu ích liên quan đến vấn đề nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ

Cũng cần nói thêm, việc nghiên cứu sự tương đồng, khác biệt trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt và tiếng Khmer có vai trò rất lớn trong việc sửa các lỗi tiếng Việt của người Khmer Bởi chính sự khác biệt trong cấu trúc danh ngữ của hai ngôn ngữ này khiến người Khmer thường xuyên mắc các lỗi về trật tự từ, dẫn đến sai về ngữ nghĩa khi họ sử dụng tiếng Việt

Trang 39

Ví dụ, một câu tiếng Việt “Bốn con trâu đang ăn cỏ” thì người Khmer lại nói

là “Kro buôn kompung si smau” (Con trâu bốn đang ăn cỏ) Trường hợp này sẽ

được chúng tôi phân tích cụ thể ở các chương sau

1.2 NĂNG LỰC NGÔN NGỮ VÀ THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ: MỘT SỐ KHÁI NIỆM HỮU QUAN

1.2.1 Một số khái niệm về ngôn ngữ

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Nhìn vào cả quá trình lịch sử loài người, chúng ta thấy

rõ vai trò và tác dụng to lớn của ngôn ngữ Cùng với sự phát triển của tư duy, của ý thức, ngôn ngữ đã góp phần hoàn thiện con người, là dấu hiệu phân biệt con người với con vật Ngôn ngữ đôi khi là nhân tố quyết định đảm bảo sự ổn định và tiến bộ của một quốc gia bằng cách giữ vai trò tác nhân giao tiếp, thống nhất dân tộc, pháp luật, quản lí nhà nước… Tại các nước tiên tiến, vấn đề ngôn ngữ thường được hoàn

tất trước so với các vấn đề khác để hỗ trợ cho quá trình phát triển quốc gia

Để có thể thấy rõ vai trò cũng như chức năng của ngôn ngữ trong chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước, bên cạnh việc tìm hiểu về ngôn ngữ thì ta cần phải làm sáng tỏ thêm về mặt lí thuyết một số khái niệm cơ sở khác:

“Ngôn ngữ mẹ đẻ (còn gọi là tiếng mẹ đẻ) là ngôn ngữ mà con người học được trong những năm đầu của đời mình và thường trở thành công cụ tư duy và truyền thống tự nhiên” [31; 119] Đối với người Kinh (Việt) thì tiếng Kinh (Việt) là

tiếng mẹ đẻ, còn đối với đồng bào dân tộc thiểu số như đồng bào Khmer thì tiếng

mẹ đẻ là tiếng Khmer Ngôn ngữ mẹ đẻ trong đa số các trường hợp thường là ngôn ngữ tộc người Cùng với sự hình thành và phát triển ngôn ngữ, mỗi cá nhân được làm quen với truyền thống văn hóa, đạo đức, tinh thần của tộc người; nhân cách dần dần được hình thành và phát triển, được xã hội hóa Ngôn ngữ tộc người là ngôn ngữ mẹ đẻ của các thành viên trong cộng đồng tộc người và góp phần hình thành nên tộc người đó Ngôn ngữ tộc người là phương tiện giao tiếp giữa các thành viên tộc người và nó phản ánh các kinh nghiệm lịch sử của tộc người, nhờ nó văn hoá tộc

Trang 40

người được bảo tồn, phát triển Do đó, ngôn ngữ tộc người là tài sản thiết thân của mỗi tộc người Ngôn ngữ tộc người tồn tại dưới dạng các phương ngữ, thổ ngữ và nền văn học truyền khẩu

Ngôn ngữ quốc gia thường được hiểu một cách chung nhất là ngôn ngữ do

luật pháp Nhà nước quy định, được sử dụng trong phạm vi cả nước, không hạn chế trong một khu vực lãnh thổ hay trong nội bộ một tộc người hay nhóm tộc người Với tư cách là ngôn ngữ của cả quốc gia, ngôn ngữ quốc gia được sử dụng trong hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, đối ngoại… Ngôn ngữ quốc gia là tài sản của quốc gia và có ý nghĩa biểu trưng cho độc lập, thống nhất của quốc gia Ngôn ngữ quốc gia được sử dụng trong phạm vi cả nước, là công cụ giao tiếp chung của các cộng đồng các dân tộc, do đó nó là phương tiện thống nhất quốc gia về mặt ngôn ngữ Cùng với ý thức quốc gia, ngôn ngữ quốc gia tạo nên sự gắn kết về tinh thần, tình cảm của các thành viên quốc gia Tiếng Việt hiện nay có cương vị là ngôn ngữ quốc gia của nước CHXHCN Việt Nam

Ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc là ngôn ngữ được coi là phương

tiện giao tiếp giữa các tộc người trong quốc gia đa ngôn ngữ Một quốc gia đa dân tộc không thể thiếu ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc, thiếu nó, có thể dẫn đến chia rẽ dân tộc, cản trở sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia Ở Việt Nam, tiếng Việt (Kinh) hội đủ các nhân tố này và từ lâu đã đảm nhận chức năng phương tiện giao tiếp chung giữa các dân tộc, chính thức được coi là “ngôn ngữ chung”, “tiếng phổ thông”

“Tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng các ngôn ngữ cùng tồn tại trong một cộng đồng với các thành viên sử dụng chúng trong giao tiếp và do đó giữa chúng có ảnh hưởng lẫn nhau, tạo ra các hệ quả về ngôn ngữ” [31; 146] Có thể nói, tiếp xúc

ngôn ngữ là hiện tượng phổ biến trong đời sống giao tiếp ngôn ngữ Khi một cá nhân hay cộng đồng sử dụng từ hai ngôn ngữ trở lên thì sẽ nảy sinh tiếp xúc ngôn ngữ Người Khmer ở An Giang ngoài biết tiếng mẹ đẻ, còn học tiếng Việt, tiếp xúc

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trọng Báu (2005), “Chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc và thời đại, (76), tr.2-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Tạp chí" Dân tộc và thời đại
Tác giả: Nguyễn Trọng Báu
Năm: 2005
2. Nguyễn Chí Bền (1991), “Lễ hội và nguồn gốc dân gian Khmer”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (5), tr.41. Trần Văn Bổn (1999), Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng sông Cửu Long, NXB. Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội và nguồn gốc dân gian Khmer”, Tạp chí" Văn hoá nghệ thuật," (5), tr.41. Trần Văn Bổn (1999), "Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (1991), “Lễ hội và nguồn gốc dân gian Khmer”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (5), tr.41. Trần Văn Bổn
Nhà XB: NXB. Văn hoá dân tộc
Năm: 1999
3. Trần Văn Bổn (2002), Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ, NXB. Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ
Tác giả: Trần Văn Bổn
Nhà XB: NXB. Đại học quốc gia
Năm: 2002
4. Nguyễn Khắc Cảnh (1998), Phum sóc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phum sóc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1998
5. Colin Baker (2008), Những cơ sở của giáo dục song ngữ và vấn đề song ngữ (Đinh Lư Giang dịch), NXB. ĐHQG. TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của giáo dục song ngữ và vấn đề song ngữ (Đinh Lư Giang dịch)
Tác giả: Colin Baker
Nhà XB: NXB. ĐHQG. TP. HCM
Năm: 2008
6. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer Nam Bộ (những vấn đề nhìn lại), NXB. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Khmer Nam Bộ (những vấn đề nhìn lại)
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: NXB. Tôn giáo
Năm: 2008
7. Bùi Thị Ngọc Diệp (1999), “Vấn đề dạy tiếng Việt và tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số trong trường tiểu học Việt Nam (Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo song ngữ do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức)”, Ninh Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dạy tiếng Việt và tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số trong trường tiểu học Việt Nam (Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo song ngữ do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức)
Tác giả: Bùi Thị Ngọc Diệp
Năm: 1999
8. Trần Trí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB. Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: NXB. Đại học quốc gia
Năm: 1999
9. Trần Trí Dõi (2001), “Khảo sát nhu cầu tiếp nhận giáo dục tiếng mẹ đẻ ở một vài dân tộc thiểu số một số tỉnh miền núi phía Bắc”, Tạp chí Ngôn ngữ, (11), tr.31-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nhu cầu tiếp nhận giáo dục tiếng mẹ đẻ ở một vài dân tộc thiểu số một số tỉnh miền núi phía Bắc”, Tạp chí" Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Trí Dõi
Năm: 2001
10. Trần Trí Dõi, Nguyễn Văn Thiện, (2001), “Tính thực tiễn trong chính sách giáo dục ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta đối với vùng dân tộc thiểu số” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính thực tiễn trong chính sách giáo dục ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta đối với vùng dân tộc thiểu số
Tác giả: Trần Trí Dõi, Nguyễn Văn Thiện
Năm: 2001
11. Trần Trí Dõi (2003), Chính sách ngôn ngữ văn hóa dân tộc ở Việt Nam, NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngôn ngữ văn hóa dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia
Năm: 2003
12. Đinh Lư Giang (2003), Tình hình song ngữ Việt – Khmer tại Sóc Trăng (trường hợp ấp Trà Sết, xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu), Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học KHXH & NV, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình song ngữ Việt – Khmer tại Sóc Trăng (trường hợp ấp Trà Sết, xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu)
Tác giả: Đinh Lư Giang
Năm: 2003
13. Đinh Lư Giang & Nguyễn Văn Huệ (2003), Vài nét về tình hình song ngữ Việt – Khmer ở xã Vĩnh Hải, Vĩnh Châu, Sóc Trăng”, trong Phát triển giáo dục vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, NXB. Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về tình hình song ngữ Việt – Khmer ở xã Vĩnh Hải, Vĩnh Châu, Sóc Trăng"”, trong "Phát triển giáo dục vùng dân tộc Khmer Nam Bộ
Tác giả: Đinh Lư Giang & Nguyễn Văn Huệ
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia
Năm: 2003
14. Đinh Lư Giang (2005), Vấn đề giáo dục vùng đồng bào Khmer Đồng bằng sông Cửu Long, trong Phát triển giáo dục vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, NXB. Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo dục vùng đồng bào Khmer Đồng bằng sông Cửu Long", trong "Phát triển giáo dục vùng dân tộc Khmer Nam Bộ
Tác giả: Đinh Lư Giang
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia
Năm: 2005
15. Đinh Lư Giang (2008), “Vài suy nghĩ về chính sách ngôn ngữ cho đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long”, Tập san KHXH & NV – ĐHKHXH- NV, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về chính sách ngôn ngữ cho đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long”, Tập san" KHXH & NV – ĐHKHXH-NV
Tác giả: Đinh Lư Giang
Năm: 2008
16. Đinh Lư Giang (2010), Tình hình song ngữ Khmer – Việt tại Đồng bằng sông Cửu Long - Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn (Luận án tiến sĩ), Trường Đại học KHXH & NV, ĐHQG Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình song ngữ Khmer – Việt tại Đồng bằng sông Cửu Long - Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Đinh Lư Giang
Năm: 2010
17. Đinh Lư Giang (2011), “Hòa mã tiếng Khmer - Việt tại đồng bằng sông Cửu Long và sự phát triển từ vựng của tiếng Khmer Nam Bộ”, Tạp chí Ngôn ngữ, (8), tr.267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa mã tiếng Khmer - Việt tại đồng bằng sông Cửu Long và sự phát triển từ vựng của tiếng Khmer Nam Bộ”, Tạp chí" Ngôn ngữ
Tác giả: Đinh Lư Giang
Năm: 2011
18. Nguyễn Thiện Giáp (1991), “Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử”, Tạp chí Ngôn ngữ, (1), tr.1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử”, Tạp chí" Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 1991
19. Gérard Diffloth (2003), Tiếng Khmer, (Đinh Lê Thư dịch), In trong Phát triển giáo dục vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, NXB. Đại học Quốc gia, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Khmer", (Đinh Lê Thư dịch), In trong "Phát triển giáo dục vùng dân tộc Khmer Nam Bộ
Tác giả: Gérard Diffloth
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia
Năm: 2003
20. Hoàng Văn Hành (1994), “Mấy vấn đề giáo dục ngôn ngữ và phát triển văn hóa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số”, Tạp chí Ngôn ngữ, (3), tr.1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề giáo dục ngôn ngữ và phát triển văn hóa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số”, Tạp chí" Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1994

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w