Việc chọn ca khúc cách mạng giai đoạn 1954-1975 làm đối tượng nghiên cứu để thông qua đó sẽ thấy rõ hơn vị trí, vai trò của âm nhạc trong đời sống văn hóa, tinh thần trong bối cảnh khán
Trang 1 oOo
NGUYỄN ĐĂNG KHOA
CA KHÚC CÁCH MẠNG VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1954 - 1975 DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
oOo NGUYỄN ĐĂNG KHOA
CA KHÚC CÁCH MẠNG VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1954 - 1975 DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS MAI MỸ DUYÊN
Thành phần Hội đồng:
1 TS Nguyễn Văn Hiệu Chủ tịch Hội đồng
2 PGS.TS Huỳnh Quốc Thắng Phản biện 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được cảm ơn tất cả Thầy, Cô đã nhiệt tâm giảng dạy cho tôi suốt thời gian học tập của niên khóa Cao học Văn hóa 2012 - 2014 Những kiến thức đã tiếp thu được của ngành Văn hóa học, một ngành đối với tôi thật là mới, hấp dẫn và vô cùng vất vả nhưng đã có ích rất nhiều cho bản thân trong cách nhìn và giải quyết vấn đề
Xin có lời tri ân đến sự quan tâm của Thầy Nguyễn Văn Hiệu, Thầy Trần Long đến quá trình học tập, viết luận văn và các bài báo khoa học của tôi Thầy đã gợi mở cho tôi nhiều hướng trong nghiên cứu nghệ thuật, hướng đến cách nhìn liên ngành một cách hiệu quả trong quá trình giải quyết luận văn
Đặc biệt, với Cô Mai Mỹ Duyên ngoài việc hướng dẫn viết luận văn, cô còn
là người thấu hiểu và động viên tôi vượt qua những đoạn dốc khó khăn mà cuộc đời gặp phải, có khi cứ tưởng chừng buông xuôi Cô đã cho tôi một khoảng “tự do” của
ý tưởng và luôn ủng hộ cách làm việc của tôi; đã làm bừng lên ngọn lửa đam mê học tập và nghiên cứu trong tôi Xin chân thành ghi ân đối với những tình cảm và công sức mà cô đã dành cho tôi
Cuối cùng xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học An Giang, đơn vị chủ quản,
đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và bố trí công tác hợp lý để cho tôi hoàn thành luận văn này
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Đăng Khoa, học viên Cao học Văn hóa học Khóa 2012-2014, xin cam đoan:
Tất cả những vấn đề liên quan đến luận văn đều được tôn trọng quyền tác giả và ghi trích nguồn đầy đủ Nội dung luận văn được thực hiện hoàn toàn do công sức nghiên cứu của cá nhân dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Mai Mỹ Duyên, không có tình trạng vi phạm đạo đức khoa học Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính khoa học luận văn của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 11 năm 2015
Người viết cam đoan
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ 2
DANH MỤC BẢNG 2
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Lịch sử vấn đề 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
7 Bố cục luận văn 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Văn hóa và các khái niệm liên quan 11
1.1.2 Mỹ học tiếp nhận và vấn đề liên quan đến âm nhạc 13
1.1.3 Thuyết Cấu trúc – chức năng 16
1.2 Tổng quan âm nhạc Việt Nam và các đặc trưng 19
1.2.1 Đặc trưng của âm nhạc 19
1.2.2 Tân nhạc Việt Nam những bước hình thành 23
1.3 Bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội và văn hóa Việt Nam từ 1954-1975 29
1.3.1 Tình hình chính trị, xã hội ở miền Bắc 29
1.3.2 Tình hình chính trị, xã hội ở miền Nam 31
1.3.3 Quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản về văn hóa – văn nghệ ……… 36
Tiểu kết Chương 1 37
CHƯƠNG 2 CA KHÚC CÁCH MẠNG GIAI ĐOẠN 1954-1975
NHÌN TỪ CHỦ THỂ SÁNG TẠO VÀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN 39
2.1 Ca khúc cách mạng nhìn từ Chủ thể sáng tạo 39
2.1.1 Đội ngũ sáng tạo của dòng ca khúc cách mạng giai đoạn 1954-1975 39
2.1.2 Phương thức đặc trưng của nhạc sĩ trong quá trình phản ánh hiện thực 45
2.1.3 Phương thức biểu hiện khuynh hướng tư tưởng qua ca từ của nhạc sĩ 50
2.1.4 Đặc trưng tâm lý cơ bản trong trong năng lực sáng tạo của nhạc sĩ 54
2.2 Ca khúc cách mạng nhìn từ Chủ thể tiếp nhận 60
2.2.1 Hoạt động tổ chức biểu diễn 60
2.2.2 Hoạt động lý luận – phê bình 70
2.2.3 Hoạt động tiếp nhận của người thưởng thức 72
Tiểu kết Chương 2 76
CHƯƠNG 3 CA KHÚC CÁCH MẠNG TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT 78
3.1 Đề tài, chủ đề trong ca khúc cách mạng 78
3.1.1 Đề tài Quê hương – Tổ quốc 78
3.1.2 Đề tài Người cộng sản và Người chiến sĩ 80
3.1.3 Đề tài Người phụ nữ Việt Nam 84
3.1.4 Đề tài Lao động, xây dựng đất nước ở miền Bắc 86
3.1.5 Đề tài “Văn nghệ tranh đấu” ở Sài Gòn và đô thị miền Nam 87
3.1.6 Đề tài về Thắng lợi mùa Xuân năm 1975 90
3.2 Chất liệu âm nhạc 92
3.3 Mối quan hệ giữa hình thức và nội dung 95
3.4 Giá trị của ca khúc cách mạng 100
3.4.1 Giá trị xã hội của ca khúc cách mạng 100
3.4.2 Giá trị nghệ thuật của ca khúc cách mạng 103
Tiểu kết Chương 3 105
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mối liên hệ giữa các thành tố trong cấu trúc tiếp nhận nghệ thuật 14
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa công chúng và các thành tố nghệ thuật 14
Sơ đồ 1.3: Ảnh hưởng của công chúng đối với quá trình sáng tạo 15
Trang 7chức năng xã hội quan trọng
Nền tân nhạc Việt Nam (trên cơ sở tiếp thu lý thuyết âm nhạc Tây phương)
Xô viết Nghệ Tỉnh, Cùng nhau đi hồng binh của Đinh Nhu thuộc dòng ca khúc cách
mạng, đã cho thấy một bước phát triển mới trong sáng tác tân nhạc, đang hướng đến
việc thoát khỏi xu hướng sáng tác theo “điệu Tây, lời ta” đang thịnh hành Từ đây, các bước tiếp biến với văn hóa phương Tây trong âm nhạc đã bắt đầu, nó là một xu thế tất yếu không đi khỏi dòng phát triển văn hóa chung của dân tộc Trong nền tân nhạc, đã hình thành nhiều dòng nhạc, mỗi dòng nhạc phản ánh đầy đủ, sâu sắc tình hình chính trị, văn hóa, xã hội, của đất nước trong mỗi giai đoạn cụ thể Nổi bật nhất, với vai trò đặc biệt tích cực trong việc tham gia đấu tranh thống nhất đất nước, giải phóng dân tộc
chính là dòng ca khúc cách mạng
Trong suốt thời gian của hai cuộc kháng chiến trường kỳ (1945-1975), ca khúc
cách mạng đã tham gia tích cực trong vai trò cổ vũ, động viên tinh thần yêu nước, kêu
gọi tinh thần đoàn kết, là “tiếng chim gọi đàn”, là “hồi còi xung trận”, là một nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi chung của đất nước Tuy nhiên, giai đoạn 1954-
1975, là giai đoạn lịch sử có những đặc thù riêng: miền Bắc giành được độc lập, đi lên chủ nghĩa xã hội, là hậu phương vững chắc chi viện cho miền Nam Khi đó miền Nam
từ vĩ tuyến 17 trở vào, trở thành vùng bị Mỹ - Ngụy chiếm đóng, chính vì tình hình
chính trị, xã hội đặc biệt như thế nên ca khúc cách mạng trong giai đoạn 1954-1975
có nhiều tính chất nổi trội, phong phú và đa dạng hơn giai đoạn trước đó
Việc chọn ca khúc cách mạng giai đoạn 1954-1975 làm đối tượng nghiên cứu
để thông qua đó sẽ thấy rõ hơn vị trí, vai trò của âm nhạc trong đời sống văn hóa, tinh thần trong bối cảnh kháng chiến và sự tác động của nó đến tinh thần của những người
Trang 8trong cuộc chiến như thế nào? Với bản thân được học chuyên ngành Âm nhạc ở bậc đại học, nên khi tiếp cận âm nhạc theo phương pháp nghiên cứu liên ngành của Văn hóa học, người viết đã có được thêm nhiều kiến thức mới và thú vị đối với lĩnh vực âm nhạc Điều đó làm cho âm nhạc càng thêm lung linh, càng thêm sức lôi cuốn đối với
chúng tôi Vì vậy, đã tăng thêm cho tôi lòng quyết tâm thực hiện đề tài “Ca khúc cách
mạng Việt Nam giai đoạn 1954-1975 dưới góc nhìn văn hóa”, dù trong thực tế tài liệu
để nghiên cứu lĩnh vực âm nhạc dưới góc nhìn này không phải dễ tìm
2 Mục đích nghiên cứu
Dù luôn được xem như là một thành tố quan trọng của Văn hóa nhưng việc nghiên cứu âm nhạc dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa dường như ít được quan tâm đúng mức trong giới nghiên cứu văn hóa Từ đó, ở những người đi sau trong quá trình nghiên cứu lĩnh vực âm nhạc gặp phải khó khăn trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ từ công
cụ chuyên ngành Văn hóa Nên việc chọn lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc là việc làm với
mong muốn góp phần nhỏ vào việc trả lại cho âm nhạc vị trí xứng đáng mà nó vốn có trong cái nhìn tổng thể về văn hóa.Ngoài ra, với mong muốn hiểu rõ hơn vai trò, chức
năng của ca khúc cách mạng, những tác động của nó đến tâm lý xã hội, đến cuộc
kháng chiến; đồng thời cũng muốn có những hiểu biết sâu sắc hơn về những đặc thù trong phản ánh hiện thực của người nhạc sĩ, cùng những khuynh hướng tư tưởng trong
ca khúc cách mạng của người nghệ sĩ với tư cách là chủ thể sáng tạo, nên chúng tôi đã
chọn đề tài này
3 Lịch sử vấn đề
Hiện nay, các công trình nghiên cứu ca khúc cách mạng theo hướng Lịch sử âm
nhạc đã có các công trình nghiên cứu sau đây:
Quyển Hồi ức 50 năm Âm nhạc cách mạng miền Nam, do Xuân Hồng chủ biên,
xuất bản năm 1997 là một nguồn tài liệu về hồi ký của các văn nghệ sĩ và những người liên quan đến công tác quản lý âm nhạc trong thời chiến Quyển hồi ức này là nguồn
tài liệu cơ sở để nhóm tác giả của công trình Hành khúc giải phóng trích lục Ngoài
những bài hồi ức đã được trích, quyển này còn có rất nhiều bài khác của các nhạc sĩ, ca
sĩ và cả những người tham gia công tác quản lý, phê bình, tuyên truyền ca khúc cách
mạng Từ đây, công trình này đã cung cấp cho chúng tôi dữ liệu trong việc tiếp cận ca khúc cách mạng với lý thuyết Mỹ học tiếp nhận Từ những thực tế đó đã đúc kết được
cho việc định hướng sáng tác cũng như con đường hữu hiệu để đưa tác phẩm đến công
Trang 9chúng trong những ngày kháng chiến khó khăn, gian khổ Bài học đó không chỉ giá trị với những ngày ấy mà vẫn còn mãi đến tận ngày nay
Quyển Âm nhạc mới Việt Nam, tiến trình và thành tựu (2000), do Tú Ngọc làm
chủ nhiệm là một công trình với qui mô 1000 trang, có thể thấy trong công trình này là một quyển lịch sử âm nhạc mới Việt Nam được nhìn một cách hệ thống, phân tích chi tiết cho từng trào lưu và từng tác phẩm cụ thể Đây là một công trình chất lượng cao,
có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn Ngoài cách tiếp cận theo phương diện thời gian, công trình này có thêm cách tiếp cận khác là nhìn sự phát triển của âm nhạc trên
các phương diện nghiên cứu văn hóa: tiếp biến văn hóa, yếu tố nội sinh và ngoại sinh,
bản sắc dân tộc Công trình này đã có cách phân kỳ lịch sử cho âm nhạc bám sát với
hoàn cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam Với việc phân tích khoa học của bối cảnh lịch sử
dẫn đến sự ra đời của nhạc mới Việt Nam cũng như dòng ca khúc cách mạng, công
trình đã nêu bật được ý nghĩa và vai trò của Âm nhạc mới ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Từ công trình này đã cung cấp cho luận
văn các khái niệm công cụ về âm nhạc mới, ca khúc cách mạng cũng như các nội dung liên quan đến chủ đề âm nhạc, chất liệu âm nhạc, hình tượng âm nhạc
Quyển Hành khúc giải phóng, của nhóm tác giả Lư Nhất Vũ – Lê Giang – Lê
Anh Trung, xuất bản năm 2011, là một nguồn tài liệu quí về văn bản âm nhạc cho đề tài nghiên cứu của luận văn Trong công trình này, ngoài việc cung cấp 581 ca khúc có tính hệ thống theo chủ đề và niên biểu thuận lợi rất nhiều cho việc tra cứu còn có 54 hồi ức của các văn nghệ sĩ từng hoạt động trong giai đoạn 1954-1975 Qua tài liệu này, chúng tôi nhận được những dữ liệu quí giá cho việc tổng hợp, phân tích và đánh giá
những giá trị của ca khúc cách mạng đem đến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm thấy được từ đây những hình tượng âm nhạc được dựng
lên rõ nét trong thể loại ca khúc qua sự tổng hợp và sắp xếp theo chủ đề của tác giả
công trình Từ đây, thấy được những hình tượng người lính, hình tượng người phụ nữ
anh hùng và cao hơn cả là hình tượng Tổ quốc đã thể hiện vượt lên trên hình tượng quê hương, xóm làng theo chiều kích không gian và thời gian Cả công trình có thể
xem như một “biên niên sử” bằng âm nhạc; đã tái hiện được không khí những ngày kháng chiến và đồng thời cũng phản ánh được tâm thức của văn nghệ sĩ lúc bấy giờ
Tuy không tiếp cận ca khúc cách mạng dưới góc độ Văn hóa học, nhưng công trình
của nhóm tác giả trên đã cung cấp một nguồn dữ liệu văn bản âm nhạc phong phú, chi tiết và với các ghi chép hồi ức của các nhạc sĩ đã giúp cho chúng tôi cách tiếp cận ca khúc theo góc độ Văn hóa học một cách thuận lợi hơn
Trang 10Quyển Âm nhạc Lý luận và cây đời (1994), do Dương Viết Á chủ biên đã cung
cấp cho người đọc một lượng kiến thức đồ sộ về phạm trù Mỹ học âm nhạc Ở đây đã làm rõ mối quan hệ thẩm mỹ của âm nhạc với thế giới hiện thực; đã chỉ rõ lý do dấu ấn
chủ quan của người sáng tác in vào tác phẩm của mình; đã chỉ rõ nét hình tượng người
chiến sĩ cộng sản trong tác phẩm âm nhạc giai đoạn 1954-1975 Từ tài liệu này, chúng
tôi đã có những kiến thức mở rộng hơn về chủ đề, hình tượng âm nhạc Chúng tôi đã đồng thuận với nhiều quan điểm từ công trình này và đã vận dụng để soi rọi ca khúc
cách mạng theo hướng tiếp cận liên ngành
Với công trình nghiên cứu Ca từ trong âm nhạc Việt Nam (2000), tác giả
Dương Viết Á đã khai mở một phân ngành mới cho ngành Âm nhạc học, đó chính là phân ngành Ca từ học ở Việt Nam Khi nghiên cứu nhạc hát, với ca từ là một bộ phận quan hệ hữu cơ không thể tách rời với âm nhạc, nên việc nghiên cứu ca từ trong ca khúc là một việc làm tất yếu Hơn nữa, chính nội dung ca từ sẽ là cái hiện rõ nhất về các khuynh hướng của nhạc sĩ, tính dân tộc trong tác phẩm hay tính tư tưởng của tác
phẩm… Vì vậy, trong công trình Ca từ trong âm nhạc Việt Nam, tác giả đã cung cấp
một bộ công cụ hữu hiệu để tiếp cận ca khúc theo hướng Ca từ học Từ đây, dưới góc nhìn văn hóa và liên ngành chúng tôi đã có được những tiếp nhận và ứng dụng bộ công
cụ này để nhìn ca từ theo hướng chức năng mà nó đảm nhiệm trong tác phẩm Cụ thể
đó là: hình tượng ca từ; tính khuynh hướng trong ca từ; tính dân tộc trong ca từ; chủ
thể cảm xúc trong ca từ
Bộ sách Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa gồm hai quyển, xuất bản năm
2005, tác giả Dương Viết Á đã thực sự đi sâu vào cách tiếp cận âm nhạc dưới góc nhìn văn hóa và liên ngành
Trong tập 1, tác giả đã cô đọng âm nhạc Việt Nam qua cách hệ thống, xếp loại theo cách tiếp cận của Văn hóa học Nội dung khảo sát của tác giả vừa theo hướng tiến trình lịch sử nhưng đồng thời lại là những phân tích, minh chứng cho bản sắc của âm nhạc Việt Nam và những điểm nổi bật, những màu sắc mới của sự tiếp biến trong tiến
trình phát triển đó Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến vấn đề ca từ trong ca khúc, nội
dung nêu lên các tính khuynh hướng, tính dân tộc trong ca từ Đây là phần có nội dung
trùng lặp với nội dung trong tác phẩm Ca từ trong âm nhạc Việt Nam đã xuất bản
trước đó Tuy nhiên, vấn đề ca từ được đề cập ở đây đang đóng vai trò là bộ phận của một tổng thể nghiên cứu ca khúc dưới góc nhìn Văn hóa học
Trang 11Ở tập 2, nội dung đáng chú ý nhất có thể thấy là chủ đề viết về hình tượng Hồ
Chủ tịch trong ca từ; bốn mươi năm khắc họa hình tượng Hồ Chủ tịch bằng âm thanh;
ca khúc về Đảng từ thiêng liêng đến tâm tình So với các công trình được viết từ cùng
một tác giả thì bộ sách Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đã được tác giả viết với
một hệ thống - cấu trúc chặt chẽ và mang tính Văn hóa học cao Ở đây dấu ấn của Văn hóa học và liên ngành Mỹ học, Nghệ thuật rất rõ nét Nó làm tiền đề, là định hướng
cho việc tiếp cận âm nhạc theo một cách khác với hướng Lịch sử âm nhạc bấy lâu nay Quyển Mấy vấn đề Văn hóa âm nhạc Việt Nam (2009) của tác giả Dương Viết
Á, viết về Âm nhạc có liên quan đến góc nhìn Văn hóa học có thể kể đến 2 nội dung
quan trọng: Giai điệu quê hương – bước chuyển trong tâm thức Việt Tác giả đã đưa ra
các dữ liệu minh chứng cho việc chuyển tâm thức của nghệ sĩ qua từng giai đoạn cụ
thể Quê hương bắt đầu trong tâm thức của các nhạc sĩ giai đoạn âm nhạc lãng mạn khác với quê hương trong giai đoạn chống Pháp và càng khác xa hơn trong giai đoạn
chống Mỹ về chiều kích không gian lẫn tính chất Sự khác biệt đó được tác giả lý giải
qua sự biến đổi của xã hội, chính trị và văn hóa Và Hành khúc Việt trên tiến trình
hướng nội, tác giả đã tiếp cận vấn đề với góc nhìn Văn hóa học, Tâm lý học để lý giải
cho hiện tượng chuyển dần từ việc hướng ngoại, hô hào, cổ động sang hướng nội, suy
tư, cái tôi được lên tiếng trong tác phẩm âm nhạc nói chung và hành khúc nói riêng
Quyển Cảm nhận Mỹ học âm nhạc (2013) của tác giả Thế Bảo là một công trình
nghiên cứu về Mỹ học âm nhạc mới vừa được xuất bản gần đây, tác phẩm đã đem lại cho người đọc kiến thức vô cùng phong phú trong lĩnh vực còn quá mới và ít người nghiên cứu này Nội dung quyển sách đã nêu những đặc điểm của nghệ thuật âm nhạc; chỉ rõ mối quan hệ mỹ học âm nhạc với các yếu tố ngôn ngữ âm nhạc khác; đồng thời còn chỉ ra những đặc điểm trong sáng tác của người nghệ sĩ cũng như đề cập đến các tính chất của âm nhạc mà cao hơn hết là sự hướng đến mục đích chân – thiện – mỹ Với nguồn dữ liệu từ tác phẩm này, chúng tôi đã vận dụng được một cách có hiệu quả trong việc soi rọi các đặc trưng tâm lý cơ bản trong quá trình sáng tạo của nghệ sĩ và đồng thời cũng nắm được tính đặc thù, cơ bản của quy trình vận hành nghệ thuật: sáng tác – biểu diễn – thưởng thức trong quá trình giáo dục thẩm mỹ âm nhạc
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo được nguồn tư liệu từ luận văn “Hát cho
đồng bào tôi nghe một giá trị văn hóa” của nhạc sĩ Tôn Thất Lập đã cho chúng tôi
những hiểu biết sâu sắc về phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh trong đô thị Sài Gòn và từ đó thấy được tính chiến đấu và giá trị nhân văn của phong trào này
Trang 12Qua việc tiếp cận những công trình nghiên cứu của những người đi trước gần với nội dung đề tài luận văn, chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự định hướng cho việc nghiên cứu âm nhạc dưới góc nhìn Văn hóa học của mình Mỗi công trình đều có hướng tiếp cận lý thú, bổ ích riêng Chúng tôi không tham vọng tìm ra những điều gì
mới hơn so với các nghiên cứu kể trên, nhưng chúng tôi muốn có được cách nhìn về ca
khúc cách mạng một cách có hệ thống, trên cơ sở tiếp cận liên ngành
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: dòng ca khúc cách mạng
Phạm vi nghiên cứu: toàn bộ dòng ca khúc cách mạng và những yếu tố trực tiếp
liên quan đến tâm thức của nghệ sĩ khi sáng tác cũng như của công chúng khi tiếp
nhận Do số lượng ca khúc cách mạng giai đoạn 1954-1975 rất lớn, không đủ thời gian
để khảo sát toàn bộ, nên đề tài chỉ tập trung vào các tác phẩm được các nhà phê bình nghệ thuật đánh giá cao (có giá trị nghệ thuật và giá trị xã hội)
Phạm vi không gian: trên cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam, được phân chia bởi ranh giới vĩ tuyến 17 theo Hiệp định Genève ký kết vào năm 1954
Phạm vi thời gian: do cần có qui mô nghiên cứu vừa sức với luận văn, nên nội dung nghiên cứu sẽ được chúng tôi giới hạn trong giai đoạn 1954-1975 Việc nghiên cứu toàn thể âm nhạc cách mạng sẽ để dành cho công trình khác có qui mô lớn hơn khi
có đủ điều kiện thực hiện trong tương lai
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học: sẽ góp phần thêm vào một hướng đi trong công tác nghiên
cứu âm nhạc theo hướng tiếp cận Văn hóa học và liên ngành; kết quả mang lại từ cách tiếp cận này sẽ nhìn thấy đối tượng nghiên cứu một cách tổng quan dưới cách nhìn hệ thống - cấu trúc đầy đủ nhất
Về mặt thực tiễn: sẽ góp phần vào việc cung cấp kiến thức, dữ liệu cho những
người quan tâm nghiên cứu về chất liệu sáng tác , về tâm thức của nghệ sĩ trong sáng
tác Đồng thời góp phần giáo dục thẩm mỹ âm nhạc cho học sinh trong trường phổ thông và các trường âm nhạc chuyên ngành Ngoài ra, còn là tài liệu tham khảo cho nghệ sĩ sáng tác và nhà quản lý trong công tác đưa tác phẩm đến với công chúng
Trang 136 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Thực hiện đề tài này, tác giả luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: Âm nhạc học, Mỹ học, Nghệ thuật học, Tâm lý học, Xã hội học
Phương pháp thao tác được sử dụng: đối chiếu, so sánh; phân tích tổng hợp;
điền dã thực địa, phỏng vấn sâu
Các lý thuyết văn hóa và liên ngành được vận dụng vào luận văn:
Lý thuyết Hệ thống – cấu trúc: đây là lý thuyết được chúng tôi vận dụng để xem xét đối tượng nghiên cứu là một thành tố nằm trong hệ thống của Văn hóa Khi đi vào
chi tiết, thì đối tượng nghiên cứu được xem xét ở các phương diện: ngôn ngữ âm nhạc,
hình tượng âm nhạc, hình tượng ca từ… Chỉ khi đặt đối tượng nghiên cứu vào hệ
thống cấu trúc mới có thể nhìn thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành tố và mặt khác
thấy được vị trí, vai trò của ca khúc cách mạng trong bối cảnh lịch sử, chính trị xã hội
lúc bấy giờ
Lý thuyết Chức năng của Malinowski: “Mỗi nền văn hóa có thể được hiểu như
một toàn thể hữu cơ của những thể chế/thiết chế” Khi phân tích và giải quyết vấn đề,
chúng tôi xem ca khúc cách mạng như một bộ phận trong âm nhạc Việt Nam, và bộ
phận này không thể tách rời với cái toàn thể, mọi sự vận hành và hoạt động phát triển của nó đều có tác động qua lại với các thành tố khác trong tổng thể Từ hướng tiếp cận
Chức năng luận chúng tôi sẽ đi vào phân tích các khía cạnh của ca khúc cách mạng như: những người tham gia hoạt động và quan hệ giữa họ; những qui tắc, chuẩn mực
phải theo; nội dung hoạt động; công cụ, vật liệu được sử dụng trong hoạt động; chức năng được thực hiện bởi hoạt động
Lý thuyết liên ngành Mỹ học tiếp nhận, Nghệ thuật học, Mỹ học âm nhạc: sẽ
nhìn đối tượng nghiên cứu theo hướng chủ thể sáng tạo, chủ thể tiếp nhận và sản
phẩm Trong mỗi nhóm, sẽ vận dụng các lý thuyết của Nghệ thuật học và Mỹ học âm
nhạc để giải quyết vấn đề về những đặc thù trong phản ảnh hiện thực, những đặc trưng tâm lý cơ bản trong sáng tác, những khuynh hướng tư tưởng qua ca từ trong tác phẩm của người sáng tạo
Nguồn tư liệu trong nghiên cứu: từ các công trình nghiên cứu, bài phỏng vấn
nhân vật; bài viết, hồi ký của văn nghệ sĩ và những người làm công tác văn nghệ trong kháng chiến; từ các văn bản âm nhạc có giá trị trong giai đoạn 1954-1975…
Trang 147 Bố cục luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia
thành ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Đây là chương trình bày các vấn đề thuộc về lý luận và thực tiễn để làm tiền đề nghiên cứu cho các chương sau Nội dung sẽ nêu các hướng tiếp cận, các lý thuyết Văn hóa học, các lý thuyết liên ngành được vận dụng và các khái niệm liên quan đến
đề tài nghiên cứu Đồng thời chương này cũng nêu lên tổng quan về âm nhạc Việt
Nam và những bối cảnh chính trị, xã hội tác động đến quá trình phát triển của dòng ca
đó, sẽ đi sâu vào việc phân tích, làm rõ những đặc thù trong quá trình phản ánh hiện thực, đồng thời làm rõ những cách thể hiện khuynh hướng tư tưởng trong tác phẩm cũng như tâm lý của nhạc sĩ trong quá trình sáng tạo Ngoài ra, nội dung chương còn
đề cập đến mảng tiếp nhận của công chúng đối với thể loại ca khúc cách mạng Công
chúng tiếp nhận ở đây được mở rộng với các đối tượng các nhà phê bình, lý luận, các nhà báo, những người làm công tác âm nhạc và cả công chúng thưởng thức
Chương 3: Ca khúc cách mạng từ góc nhìn văn hóa nghệ thuật
Nghiên cứu âm nhạc cách mạng theo hướng văn hóa nghệ thuật, xem âm nhạc cách mạng như một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cơ bản có quan hệ hữu cơ trong
một cấu trúc chặt chẽ Làm nổi bật được hệ thống những giá trị mà ca khúc cách mạng
mang đến trong bối cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam giai đoạn 1954-1975, đồng thời cũng có những đối chiếu so sánh giá trị đó với bối cảnh xã hội hiện thời
Như vậy, với góc nhìn Văn hóa học, đối tượng nghiên cứu sẽ được tiếp cận với hướng liên ngành Đây là một cố gắng của người nghiên cứu trong việc vận dụng tối
đa các lý thuyết liên ngành và các tài liệu của chuyên ngành Lịch sử âm nhạc để đi đến
được một cái nhìn tổng hợp về ca khúc cách mạng
Trang 15đó cho thấy văn hóa luôn luôn “động” và “mở”, không có định nghĩa nào có thể dung chứa được hết nội hàm của khái niệm này Tuy nhiên, có thể kể ra một số định nghĩa
về văn hóa mà trong giới học thuật thường sử dụng, như:
E.B Tylor đề cập trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy (1871): “Văn hóa hay
văn minh theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách thành viên của xã hội” [76: tr.13]
Đây là định nghĩa văn hóa đầu tiên Theo định nghĩa này thì văn hóa vật chất bị đẩy ra khỏi khái niệm văn hóa, chưa phân biệt rõ văn hóa với văn minh và định nghĩa này hướng vào việc mô tả cho nên tính khái quát sẽ không cao và cũng không thể liệt
kê đầy đủ các yếu tố cần có Tuy nhiên đây là một trong những định nghĩa mang tính phổ quát, là cơ sở để phát triển cho những định nghĩa về sau Điều thấy được ở định
nghĩa này là E.B Tylor đã xác định rõ nghệ thuật là một thành tố của văn hóa
Tổ chức UNESCO đưa ra định nghĩa về Văn hóa:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá
Trang 16trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [dẫn theo 17: tr.39]
Ở định nghĩa này ta thấy tổ chức UNESCO theo hướng định nghĩa nêu đặc trưng, có khuynh hướng xem văn hóa là những sản phẩm Chúng tôi đã có kế thừa
định nghĩa này để giải quyết các vấn đề giá trị, thẩm mỹ, bản sắc của âm nhạc
Ở Việt Nam, trong giới Văn hóa học cũng có rất nhiều định nghĩa về văn hóa:
Tác giả Trần Ngọc Thêm trong quyển Những vấn đề Văn hóa học Lý luận và
Ứng dụng xuất bản năm 2013, định nghĩa văn hóa đã được tác giả bổ sung hoàn chỉnh
như sau: “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [48: tr.56]
Ở định nghĩa này chúng tôi đã có thêm khái niệm âm nhạc (là thành tố của văn hóa) là một hệ thống giá trị Và đồng thời thấy được quá trình sáng tạo của nhạc sĩ cũng không đi ra ngoài qui luật chung của văn hóa
1.1.1.2 Khái niệm Giá trị văn hóa
Giá trị (value) là một khái niệm của nhiều bộ môn khoa học khác nhau Toán học, Kinh tế học, Triết học, Xã hội học, Nghệ thuật học, Văn hóa học… Ở mỗi bộ môn khái niệm giá trị sẽ mang hàm nghĩa khác nhau
J.H.Ficheter, một nhà xã hội học người Mỹ đã đưa ra định nghĩa về giá trị như
sau: “Theo cách mô tả chúng ta có thể nói rằng, tất cả những gì có lợi ích, đáng ham
chuộng hoặc đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm, đều là “có một giá trị”1
[dẫn theo 49: tr.22] Đã nói đến khái niệm văn hóa thì không thể tách rời các khái niệm giá trị Quan niệm coi văn hóa là giá trị thuộc khuynh hướng xem văn hóa là những sản phẩm Tính giá trị là một đặc trưng quan trọng của văn hóa Tính giá trị cần có
trong nghiên cứu văn hóa để nhằm phân biệt giữa giá trị với phi giá trị
Tác giả Ngô Đức Thịnh đã đưa ra khái niệm giá trị như sau:
Giá trị, trước nhất là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Do vậy, giá trị văn hoá
1 Ngô Đức Thịnh (2010), Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới
và hội nhập, Nxb Khoa học và xã hội
Trang 17nói ở đây là giá trị xã hội, nó gắn bó mật thiết với hoạt động sống của con người, sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội [88]
Xem xét sự vật dưới góc độ bản sắc khi ta muốn nói đến cái đặc thù, cái căn cước của một nền văn hóa, một dân tộc Khi xem xét sự vật dưới góc độ giá trị là ta muốn nói đến tính hữu ích, tính đáp ứng của bản sắc văn hóa với nhu cầu của xã hội Sản phẩm do con người tạo ra đều hướng đến lợi ích thiết thực nào đó; nhưng lợi ích
đó không thể đi trái với lợi ích cộng đồng, không đi ngược lại với xu thế phát triển của
xã hội loài người thì khi ấy những sản phẩm đó mới được xem như có Tính giá trị Cũng chính từ đó mà ta xác định được tính chất của các hiện tượng trong đời sống sẽ thuộc văn hóa hay phi văn hóa Dù với khái niệm nào thì giá trị vẫn bao hàm các nghĩa
là cái nhu cầu, cái ao ước, cái có ích… Cái giá trị văn hóa hướng đến sự thỏa mãn cho khát vọng của cộng đồng vươn tới chân – thiện – mỹ
Với khái niệm giá trị đã cung cấp công cụ khảo sát và đánh giá ca khúc cách
mạng một cách hiệu quả Từ đây, có thể tổng kết được những giá trị mà ca khúc cách mạng mang lại cho cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước và cũng thấy
được giá trị mang đến cho nền văn hóa âm nhạc
1.1.2 Mỹ học tiếp nhận và vấn đề liên quan đến âm nhạc
năm 60 của thế kỷ XX ở Cộng hòa liên bang Đức với tư tưởng cho rằng, vấn đề chính của sáng tác nghệ thuật không phải là do cấu trúc tinh vi, phức tạp như thế nào, mà quan trọng nhất là người thưởng ngoạn tác phẩm đó đã tiếp nhận nó ra sao Có thể xem
đây là một quan điểm chủ đạo của trường phái Mỹ học tiếp nhận của Đức Theo đó,
các nhà Mỹ học tiếp nhận cho rằng: lịch sử nghệ thuật không chỉ bao gồm lịch sử sáng tác mà còn phải bao gồm lịch sử tiếp nhận Mỹ học tiếp nhận đã mở ra một hướng nhìn, một lối đi mới cho Mỹ học sáng tạo và đồng thời nó góp phần lớn vào việc xây
dựng nền Mỹ học hiện đại
Có quan điểm cho rằng mối liên hệ giữa nghệ sĩ và công chúng chỉ một chiều (sơ đồ 1.1) Tức là người nghệ sĩ chỉ làm nên tác phẩm và tác phẩm đó có đi đến công chúng với những hiệu ứng như thế nào đi nữa thì cũng không tác động trực tiếp trở lại người sáng tạo Nhưng với quan điểm của Mỹ học tiếp nhận thì tác phẩm và nghệ sĩ phải chịu sự tác động theo hướng ngược lại từ công chúng, thậm chí còn là sự tác động quyết định Từ đó đã hình thành nên chức năng giao tiếp trong Mỹ học tiếp nhận
Trang 18Sơ đồ 1.1: Mối liên hệ giữa các thành tố trong cấu trúc tiếp nhận nghệ thuật
Công chúng không chỉ đóng vai trò thụ động trong việc cảm thụ mà họ sẽ phản hồi tích cực và tác động đến tác phẩm đang thưởng thức dưới nhiều hình thức Qua tác động của công chúng đến tác phẩm mà người nghệ sĩ sẽ có những điều chỉnh, định hướng trong sáng tác nhằm phù hợp với thực tế sinh động mà công chúng luôn đặt ra yêu cầu đối với người sáng tác Trong Mỹ học tiếp nhận, công chúng đóng vai trò quan trọng, trung tâm và tác động ngược lại tích cực đối với quá trình sáng tạo Với
quan điểm này, sáng tạo và tiếp nhận luôn gắn liền nhau, công chúng đã phát huy tính
tích cực của mình trong quá trình sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật Công chúng phải bao gồm: biên tập viên các báo, đài; giám đốc nhà xuất bản; nhà phê bình; người thưởng thức Với chiều hướng tác động ngược lại một cách tích cực, rõ ràng muốn nâng cao trình độ tác phẩm thì phải nâng cao trình độ công chúng Công chúng sẽ đánh giá và định hướng tác phẩm, là thành tố quan trọng trong tiến trình nghệ thuật
Nhìn trên bình diện rộng, ta có thể thấy mối quan hệ rất chặt chẽ giữ công
chúng và nghệ sĩ cũng như các sản phẩm của nghệ thuật qua hình sau:
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ tương tác giữa công chúng và các thành tố nghệ thuật
Qua sơ đồ này, ta thấy công chúng đóng vai trò trung tâm và có mối liên hệ hữu
cơ với các thành tố khác, ngoài thành tố nghệ sĩ Công chúng tác động đến cả tác phẩm, đến các loại hình nghệ thuật và các trào lưu trường phái; cho nên có thể nói công chúng đã tạo nên một nền văn hóa nghệ thuật tương ứng trên nền tảng của những ước vọng, tình cảm, niềm tin… của cộng đồng
Trang 19Với góc nhìn hẹp hơn, trên cơ sở lấy tác phẩm (sản phẩm của sự sáng tạo) làm
hệ qui chiếu ta có sơ đồ 1.3 biểu thị mối liên quan chặt chẽ giữa các thành tố của quá trình tiếp nhận và sự tác động của chúng đến tác phẩm:
Sơ đồ 1.3: Ảnh hưởng của công chúng đối với quá trình sáng tạo
Ở sơ đồ này, ta thấy được các thành tố của công chúng ảnh hưởng như thế nào đối với quá trình sáng tạo Công chúng ở đây phải nhìn thấy bao hàm cả nhà xuất bản, nhà phê bình và phát hành Khi tác phẩm ra đời, nếu không được tổ chức biểu diễn thì
nó mãi mãi là con số không; nếu có tổ chức biểu diễn mà không được sự ủng hộ của truyền thông thì sức lan tỏa bị hạn chế ở tầm địa phương mà thôi; nếu không có sự ủng
hộ của báo chí thì các ý kiến cũng như bài phê bình sẽ không phản hồi được đến với người sáng tạo Một mắc khâu trong quá trình này bị gián đoạn thì sẽ kéo theo hiệu quả thấp trong quá trình sáng tạo và tiếp nhận
Như vậy, với sơ đồ 1.2 và 1.3 đã thấy rõ được vai trò trung tâm của công chúng trong quá trình tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Muốn tác động đến văn hóa nghệ thuật thì phải tác động đến công chúng, đây phải là vấn đề cốt lõi trong nhận thức của các nhà quản lý và hoạt động văn hóa nghệ thuật Muốn nâng tầm của tác phẩm thì phải nâng tầm thẩm mỹ của công chúng, phải có sự tương tác phản hồi từ công chúng thì
mới kích thích được nghệ sĩ sáng tạo Công chúng lúc này đã đóng vai trò “đồng sáng
tạo” với nghệ sĩ Biểu hiện của đồng sáng tạo ở chỗ tác phẩm khi được thưởng thức sẽ
bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người tiếp nhận, và công chúng vốn dĩ đa dạng, phức tạp và là khối không đồng nhất trong những thời điểm khác nhau nên hiệu ứng của đồng sáng tạo cũng khác nhau theo thời gian Người sáng tạo từ khi “thai nghén” cho đến khi ra đời tác phẩm của mình luôn phải trăn trở về việc cùng lúc phải đáp ứng
được giới công chúng phổ thông (còn gọi là phổ cập) và đồng thời cũng đáp ứng được cho lớp công chúng lý tưởng (còn gọi là nâng cao), đây là việc làm khó nhất của
người sáng tạo Có giải quyết được chỗ vướng mắc kể trên thì tác phẩm mới có thể chấp cánh và trường tồn
Trang 20Trong Mỹ học tiếp nhận còn có khái niệm quan trọng là “Chân trời chờ đợi”,
đó là khi cần tái cấu trúc lại xã hội, cần chuyển đổi mô hình thì người dân luôn mong ước, chờ đợi một điều gì đó từ tác phẩm Có khi mơ ước được đáp ứng, được thỏa mãn nhưng cũng lắm khi bị thất vọng Khi thất vọng họ có một “Chân trời chờ đợi” Vì
vậy, đã có quan điểm trong Mỹ học tiếp nhận: công chúng nào thì nghệ thuật ấy
Tóm lại, dưới lăng kính của Mỹ học tiếp nhận, ta thấy khi sáng tác người nghệ
sĩ luôn chịu tác động của công chúng; công chúng cùng với nghệ sĩ sáng tạo nên một nền văn hóa, một kiểu thức văn hóa nghệ thuật đặc thù, tương hợp giữa trình độ của nghệ sĩ và công chúng Cốt lõi của quan điểm này là sáng tạo và tiếp nhận có liên hệ hữu cơ; muốn phát triển hay quản lý nghệ thuật phải nắm chắc các mối quan hệ trong cấu trúc này và có cách tác động thích hợp, hữu hiệu
Với quan điểm nhìn ca khúc cách mạng dưới ánh sáng Mỹ học tiếp nhận, bằng
động tác phân rạch ròi giữa hai mảng sáng tạo và tiếp nhận, đã chỉ ra được hướng tác động tích cực trong mắc khâu liên hệ này phải bắt đầu từ người tiếp nhận Với quan điểm này còn giúp cho cấu trúc của đề tài nghiên cứu có tính logic và cung cấp cơ sở
lý luận vững chắc trong việc nghiên cứu văn hóa - nghệ thuật và âm nhạc
1.1.3 Thuyết Cấu trúc – chức năng
Việc phân tích xã hội bằng cách loại suy nó với cơ thể hữu cơ sinh học và xem xét các thiết chế xã hội trong vai trò của chúng đóng góp cho xã hội, đây là tiền đề cơ bản của cách phân tích cấu trúc - chức năng trong xã hội học Lý thuyết này đã phát triển mạnh mẽ trên thế giới ở những năm 1940-1950, và đã không còn gói gọn trong phạm vi ngành Xã hội học mà còn được nhiều ngành khác quan tâm, vận dụng Với ngành Văn hóa học ở Việt Nam, lý thuyết Cấu trúc – chức năng cũng vẫn còn là một điểm tựa trong nghiên cứu các hiện tượng xã hội, các hình thái ý thức xã hội, đặc biệt đối với nghiên cứu nghệ thuật
Lịch sử phát triển của thuyết Cấu trúc chức năng đi qua nhiều chặng đường bởi
sự tham gia của nhiều nhà khoa học Nhìn chung, các tác giả của thuyết chức năng đều nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi
bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với
tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững
Chức năng luận của Herbert Spencer: Herbert Spencer là học giả của thời
kỳ Xã hội học cổ điển Ông sử dụng phép loại suy hữu cơ để so sánh một cách có hệ thống giữa xã hội với cơ thể sống
Trang 21Quan điểm về lý thuyết của ông: mỗi cấu trúc được khác biệt hóa phục vụ cho những chức năng nhất định để duy trì sự tồn tại của cái tổng thể Các cấu trúc và chức năng được khác biệt hóa đòi hỏi sự liên kết thông qua sự phụ thuộc lẫn nhau Mọi cấu trúc chỉ có thể tồn tại và vận hành thông qua sự phụ thuộc của chúng vào những cấu trúc khác Mỗi cấu trúc đã khác biệt hóa, đến lượt nó, lại cũng là một tổng thể riêng biệt bao gồm những thành tố tạo nên nó Mỗi tổng thể lớn hơn bao giờ cũng chịu sự tác động của những quá trình diễn ra trong các thành tố của nó
Chức năng luận của Durkheim: Emile Durkheim được xem là người đầu
tiên xây dựng khái niệm chức năng một cách có hệ thống và áp dụng vào nghiên cứu khoa học chặt chẽ đối với đời sống xã hội Ông xem xã hội như một tổng thể hữu cơ, mỗi bộ phận hợp thành của nó hoạt động để duy trì các bộ phận còn lại, cũng giống như các bộ phận của cơ thể hoạt động để duy trì cả cơ thể
Durkheim đưa ra hai cách: giải thích chức năng và cách giải thích lịch sử Kiểu giải thích chức năng nhằm tìm cách lý giải sự tồn tại của một hiện tượng hay một hành động bằng cách chỉ ra đóng góp của nó vào việc duy trì một tổng thể xã hội Cách giải thích lịch sử nhằm lý giải sự phát triển theo trình tự thời gian của cùng một hiện tượng hay hoạt động Với luận thuyết của Durkheim về giải thích chức năng và giải thích lịch
sử đã cung cấp cho chúng tôi cách nhìn để giải quyết vấn đề trong luận văn, đã vận dụng để thấy được chức năng, vai trò của âm nhạc cách mạng trong bối cảnh lịch sử nhất định
Nhân chủng học chức năng: trường phái này với hai đại diện nổi bật Alfred R
Radcliffe-Brown và Bronislaw Malinowski Radcliffe-Brown đưa ra khái niệm “các
điều kiện cần thiết để tồn tại”, trong đó chỉ ra không có những nhu cầu mang tính phổ
quát, thay vào đó là một câu hỏi mang tính thực nghiệm: các điều kiện nào cần cho sự
tồn tại của một hệ thống cụ thể đang được nghiên cứu Radcliffe-Brown cho rằng một
điều kiện tất yếu cho sự tồn tại của một xã hội là ở chỗ phải có một sự liên kết tối thiểu các thành tố của nó, việc phân tích chức năng đối với một hiện tượng xã hội là tìm kiếm xem nó có đóng góp gì vào việc duy trì liên kết của xã hội Đặc biệt, Malinowski nhấn mạnh đến tầm quan trọng của phân tích thiết chế và đưa ra một khung phân tích thiết chế mà ngày nay vẫn có thể ứng dụng tốt Ông đưa ra các thao tác cụ thể khi phân
tích một thiết chế: những người tham gia hoạt động và quan hệ giữa họ; những qui
tắc, chuẩn mực phải theo; nội dung hoạt động; công cụ, vật liệu được sử dụng trong hoạt động; chức năng được thực hiện bởi hoạt động
Trang 22Từ lý thuyết của Brown và Malinowski, chúng tôi đã có được cơ sở để vận dụng phân tích âm nhạc cách mạng như một thiết chế xã hội và xem xét vai trò của nó trong việc duy trì liên kết xã hội
Thuyết Cấu trúc - chức năng của Talcott Parsons: Talcott Parsons đưa ra
lược đồ AGIL nổi tiếng khi cần khảo sát về chức năng của một hệ thống Ông cho
rằng: “Một chức năng là một phức hợp các hoạt động trực tiếp hướng tới sự gặp gỡ
một nhu cầu hay những nhu cầu của hệ thống” [21: tr.146]
Theo Talcott Parsons, để tồn tại, một hệ thống phải thực hiện bốn chức năng:
Thích nghi (Adaption): một hệ thống phải đương đầu với các nhu cầu khẩn thiết của hoàn cảnh bên ngoài Nó phải thích nghi với môi trường của nó và làm cho môi trường thích nghi với các nhu cầu của nó;
Đạt đượcmục tiêu (Goal attainment): một hệ thống phải xác định và đạt được các mục tiêu cơ bản của nó;
Hòa hợp (Integration): một hệ thống phải điều hòa mối tương quan của các thành tố bộ phận Nó cũng phải điều hành mối quan hệ trong ba yếu tố tất yếu chức năng còn lại (A, G, L)
Sự tiềm tàng (Sự duy trì khuông mẫu) (Latency): một hệ thống phải cung cấp, duy trì và tân tạo cả động lực thúc đẩy của các cá thể cũng như các khuôn mẫu văn hóa đã sáng tạo và duy trì động cơ thúc đẩy [21: tr.146]
Ngoài ra, Talcott Parsons còn đem đến khái niệm “Một mô hình của sự biến đổi
tiến hóa”, trong đó ông đề cập đến sự khác biệt và sự nâng cấp tính thích nghi
Nếu sự phân biệt mang lại một hệ thống tiến hóa, cân bằng hơn, mỗi tiểu cấu trúc tách biệt mới… phải tăng khả năng thích ứng để thực hiện chức năng cơ bản của nó, khi đem so với việc thực hiện chức năng này ở cấu trúc phổ biến hơn trước đó… Chúng ta có thể gọi quá trình này là khía cạnh nâng cao tính thích nghi của chu kì biến đổi tiến hóa [21: tr 160]
Trong phân tích về hệ thống xã hội, Parsons cơ bản chú ý tới các thành tố cấu trúc của nó Ngoài mối quan tâm đến địa vị - vai trò, Parsons chú ý tới các thành tố vĩ
mô của các hệ thống xã hội như các tập thể, các tiêu chí và các giá trị
Các lý thuyết cấu trúc chức năng có xu hướng tập trung vào văn hóa, các tiêu chí, các giá trị nhưng lại xem nhẹ tính lịch sử Lý thuyết này có ưu thế trong việc phân
Trang 23tích các cấu trúc tĩnh và tỏ ra có điểm yếu trong việc phân tích, xử lý quá khứ hay tiến trình biến đổi của xã hội đương thời
Tóm lại, tư tưởng cơ bản của thuyết cấu trúc chức năng là: bất kỳ một hệ thống nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau, chúng cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định hệ thống Có thể xem là hiểu được một bộ phận trong hệ thống khi hiểu được cái cách mà nó đóng góp vào sự vận hành của hệ thống Sự đóng góp vào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng Các bộ phận có tầm quan trọng chức năng khác nhau đối với hệ thống Từ cách nhìn này, chúng tôi vận dụng vào đề tài trong việc xem xét âm nhạc cách mạng nằm trong hệ thống văn nghệ cách mạng do Đảng và nhà nước lãnh đạo, quản lý; và cũng làm rõ được cái cách mà âm nhạc cách mạng đóng góp trong việc ổn định xã hội thời
kháng chiến, qua đó khẳng định được giá trị xã hội của ca khúc cách mạng
1.2 Tổng quan âm nhạc Việt Nam và các đặc trưng
1.2.1 Đặc trưng của âm nhạc
1.2.1.1 Tính hiện thực của âm nhạc
Nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng không phải là một sự bắt chước, một
sự sao chép cuộc sống một cách máy móc Việc phản ánh hiện thực vào trong nghệ thuật là một cách làm có nét đặc thù riêng của người nghệ sĩ Người nhạc sĩ chỉ phản ánh cái ý niệm của mình về hiện thực chứ không hề tả thực theo tự nhiên chủ nghĩa Mỗi tác phẩm là một ý niệm về hiện thực
Khởi nguyên của âm nhạc là từ ngôn ngữ, thông qua ngữ điệu mà hình thành nên thanh điệu trong âm nhạc Ngữ điệu thể hiện những sắc thái, cấp độ của tình cảm cho nên có thể nói âm nhạc là tiếng nói của tình cảm Thuộc tính của âm nhạc là phản ảnh tình cảm, tư tưởng con người, mà tình cảm cũng lại là một thực tế khách quan nên cũng có thể nói âm nhạc cũng có thuộc tính phản ánh hiện thực Việc phản ánh hiện thực trong âm nhạc thực sự là phản ánh mối quan hệ thẩm mỹ của người nghệ sĩ với hiện thực khách quan Người nghệ sĩ thông qua góc độ tình cảm, bằng phương thức trữ tình để biểu hiện, đây là một đặc trưng của âm nhạc Khi biểu hiện trung thực một trạng thái tình cảm trong tác phẩm thì âm nhạc cũng phản ánh được hoàn cảnh làm nảy sinh tình cảm ấy Như vậy, âm nhạc vẫn phản ánh được cái hiện thực Vậy tác phẩm
âm nhạc đã là một “bức tranh cuộc sống” được phản ánh, chính điểm này là tiền đề tạo nên “hình tượng âm nhạc”
Trang 24Trong một tác phẩm, cái phản ánh không phải là cái bề ngoài, cái miêu tả mà phải là cái bên trong, cái tinh thần; nó phải là nội dung của cái được bộc lộ, được trình bày Tác phẩm nghệ thuật nào cũng nhằm biểu hiện cho được thế giới tinh thần, thế giới nội tâm phong phú của con người Cách biểu hiện thế giới tinh thần trong tác phẩm của mỗi chuyên ngành nghệ thuật có những đặc thù khác nhau, nhìn chung có thể chia thành hai hướng:
Hướng miêu tả: đưa đối tượng trực tiếp vào trong tác phẩm, qua tác phẩm người
nghệ sĩ muốn khơi dậy, gợi lên những cảm xúc, rung động, suy nghĩ, đánh giá của người thưởng thức;
Hướng biểu hiện: người nghệ sĩ không đưa đối tượng trực tiếp vào tác phẩm mà
họ lại biểu hiện những rung động, cảm xúc, suy nghĩ, đánh giá của chính mình theo một cách thức riêng vào trong tác phẩm
Tóm lại, tính hiện thực trong âm nhạc là sự phản ánh mối quan hệ tinh thần giữa con người (trong đó có tác giả) với cuộc sống chung quanh Mối quan hệ tinh thần giữa con người và thế giới khách quan gắn bó chặt chẽ với hoàn cảnh lịch sử, nó mang tính lịch sử cụ thể Âm nhạc có khả năng vô cùng to lớn trong việc làm sống lại không khí tinh thần của một thời đại hoặc một giai đoạn lịch sử nhất định Bức tranh
mà tác phẩm âm nhạc vẽ nên, là bức tranh về tình cảm của con người, về mối quan hệ tinh thần của con người với thế giới thẩm mỹ khách quan và hơn nữa là không khí tinh thần của một thời đại Tính hiện thực trong âm nhạc là sự gợi mở về một thái độ cảm nhận hiện thực cho người nghe; từ sự cảm nhận đó người nghe sẽ có dữ liệu, cơ sở để dựng nên bức tranh cuộc sống trong âm nhạc
1.2.1.2 Ngôn ngữ âm nhạc và những thành tố
Mỗi ngành nghệ thuật đều có những chất liệu riêng, đó là những phương tiện vật chất đặc thù để xây nên hình tượng trong tác phẩm Người nghệ sĩ dùng những cách thức để vận dụng, điều khiển các chất liệu đó để tạo nên tác phẩm, cách thức đó gọi là những phương tiện diễn tả nghệ thuật Mỗi loại hình nghệ thuật đều có những phương tiện diễn tả nghệ thuật đặc thù riêng
Đối với sáng tạo nghệ thuật, chất liệu không chỉ là các yếu tố vật chất khách
quan mà còn phải quan tâm đến chất liệu bên trong, chất liệu tinh thần là các cảm xúc,
hình ảnh, ký ức, kỷ niệm… Theo J.Dewey thì:Nghệ thuật là sự biểu hiện, tình cảm của con người Biểu hiện (expression) khác sự bộc lộ (discharge) Bộc lộ là sự phát lộ trực tiếp của cái bên trong, còn biểu hiện là sự phát lộ cái bên trong thông qua các chất liệu
Trang 25bên trong và bên ngoài: “Chỉ ở đâu chất liệu được sử dụng như một phương tiện thì ở
đó mới có sự biểu hiện và nghệ thuật” [89: tr.14]
Như vậy, hệ thống những phương tiện diễn tả là cách thức sắp xếp, tổ chức chất liệu nhằm biểu hiện nội dung của tác phẩm, nhằm thực hiện ý đồ của tác giả trong quá trình phản ánh quan hệ thẩm mỹ với hiện thực khách quan, hướng đến mục tiêu xây dựng nên “ngôn ngữ âm nhạc” và “hình tượng âm nhạc”
Nhìn khái quát, ngôn ngữ âm nhạc chính là âm thanh Âm thanh ở đây khác với loại tiếng động, âm thanh phải có tính nhạc, phải được sắp xếp theo hệ thống cao độ,
có trục âm, có quãng biểu hiện khoảng cách giữa các âm Trong giai đoạn sơ khai của loài người âm nhạc chỉ thuần về tiết tấu (bộ gõ); dần dần theo đà tiến hóa của con người âm nhạc cũng trưởng thành theo và xác lập được tổ hợp các thành tố cao độ, trường độ từ đó tạo nên giai điệu Với góc độ chi tiết hơn nữa khi xét quan hệ về cao
độ phải nói đến quãng và khi nói đến quan hệ trường độ là nói đến tiết tấu Cao độ và
trường độ cũng như quãng và tiết tấu tạo nên giai điệu Giai điệu đứng vai trò chủ đạo trong âm nhạc, không có giai điệu thì không có âm nhạc
Trong ca khúc, ngoài giai điệu ra thì ca từ cũng là một phương tiện diễn tả âm nhạc có vai trò quan trọng không kém Để chuyển tải khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm có lẽ ca từ sẽ có thế mạnh hơn hẵn Ca từ có nguồn gốc từ ngôn ngữ nên nó vận hành theo qui luật của ngôn ngữ, nhưng do là một bộ phận hữu cơ của ca khúc nên ca
từ bị tính chất âm nhạc chi phối và đi theo qui luật của âm nhạc
Tóm lại, những phương tiện diễn tả âm nhạc có thể kể ra bao gồm các thành tố
sau: giai điệu, tiết tấu, hòa thanh, phức điệu và phối khí; cùng với hệ thống diễn tả đặc
thù, các thành tố này tạo nên hình thức tác phẩm âm nhạc
1.2.1.3 Ca từ trong âm nhạc, trong ca khúc và hình tượng ca từ trong ca khúc
Trong lịch sử, ngôn ngữ xuất hiện trước âm nhạc, qua việc trao đổi thông tin bằng lời nói với nhau, con người nhận được ngoài ngữ nghĩa còn có một phần vô cùng quan trọng là ngữ điệu Ngữ điệu thể hiện cấp độ sâu của tình cảm, cảm xúc mà con người muốn thông tin cho nhau Từ ngữ điệu, đã trở thành cơ sở đầu tiên, là nguồn gốc của âm nhạc (nhạc hát) Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong âm nhạc nói chung; riêng với nhạc hát thì ngôn ngữ cùng với giai điệu giữ vị trí và vai trò bình đẳng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và xây dựng nên hình tượng âm nhạc Ngôn ngữ của mỗi dân tộc đều có nét đặc thù riêng biệt, điều đó dẫn đến âm nhạc của dân tộc đó cũng mang một dấu ấn riêng, một bản sắc riêng Đây là một trong nhiều yếu tố để nhận
Trang 26biết tính dân tộc trong âm nhạc Hơn nữa, nội dung ca từ trong ca khúc cũng đem đến
cho ta những nhận biết về hiện thực, về lịch sử một giai đoạn cụ thể
Trong âm nhạc (nói chung), việc có mặt của ngôn ngữ có vai trò không nhỏ trong việc tạo nên tính xác định của nhiều mặt như: tiêu đề bài, tiêu đề chương, các chỉ định về sắc thái, tốc độ, các hướng dẫn cần thiết của nhạc sĩ đối với người diễn tấu… Riêng trong ca khúc thì ngoài vai trò chung nói trên, ca từ đã góp công không ít vào việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm và đây là thế mạnh của ca từ Hơn nữa,
ca từ còn mang cả chức năng, nhiệm vụ cùng với âm nhạc xây dựng nên hình tượng trong tác phẩm Giống như phương cách thể hiện của hình tượng âm nhạc, hình tượng trong ca từ không phải là miêu tả, kể chuyện mà cần phải hiểu đó là bức tranh về tâm trạng của con người xã hội Hình tượng ca từ phải giải quyết thấu đáo được mối quan
hệ giữa cái chung và cái riêng, nêu được tính điển hình Nếu coi nhẹ cái riêng, chạy theo cái chung sẽ làm cho bài hát chạy theo biểu ngữ, nặng nề, khô khan Nếu coi nhẹ cái chung, đặt nặng cái riêng thì tác phẩm trở thành tiếng nói lạc lõng, xa lạ khó có thể tìm được những người tri âm
Trong hệ thống của ngôn ngữ có loại từ không có nghĩa, được gọi là hư từ; Khi
hư từ đi vào âm nhạc thì sức mạnh về mặt ngữ điệu của hư từ như được “bừng sáng” lên Từ chỗ không nghĩa nó đã mang lại ý nghĩa riêng, thích hợp với tình cảm của đoạn
nhạc, bài hát mà nó có mặt Với Ca khúc cách mạng, để thực hiện tốt vai trò cổ động,
hiệu triệu thì sức mạnh của ca từ có khi đã lấn át giai điệu Nhưng trong đa số các trường hợp không cần phải làm nhiệm vụ đó, ca từ sẽ lùi về sau giai điệu, chịu sự chi phối của qui luật âm nhạc nhiều hơn
1.2.1.4 Hình tượng nghệ thuật và Hình tượng âm nhạc
Hình tượng nghệ thuật là phương thức đặc thù của nghệ thuật để mô tả hiện thực và thể hiện tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ Đó là sự thống nhất của ba mặt phản ánh – sáng tạo – cảm thụ nghệ thuật; là ranh giới phân định thế giới nghệ thuật
với thế giới hiện thực Theo Đặng Văn Bông: “Hình tượng âm nhạc là sự tổng hợp các
chất liệu, mô-típ, giai điệu, chủ đề âm nhạc, thông qua các phương pháp biểu hiện ngôn ngữ âm nhạc mà phản ánh trạng thái tâm hồn con người trước tự nhiên và xã hội”[10: tr.26]
Hình tượng âm nhạc thuộc loại hình biểu hiện, nó nhằm vào việc bộc lộ sự cảm nhận của nhạc sĩ trước thế giới hiện thực khách quan Là loại hình nghệ thuật biểu hiện nên hình tượng âm nhạc có tính ước lệ cao Do âm nhạc thuộc nghệ thuật thời gian,
Trang 27nên hình tượng âm nhạc không đến với người thưởng thức tức khắc mà nó dần đến theo từng dòng âm thanh, nó giống như trò chơi ghép tranh, đến khi kết thúc tác phẩm thì khi ấy người thưởng thức mới thực sự cảm nhận được hình tượng âm nhạc Nếu vì
lý do nào đó, dòng âm thanh bị ngưng lại lưng chừng thì người thưởng thức sẽ không
có một chút nào về hình tượng âm nhạc, âm nhạc lúc này chưa đủ thời gian cho quá trình hoàn thành hình tượng của mình nên sẽ bị tan biến
Việc xây dựng hình tượng trong tác phẩm của nhạc sĩ chính là việc phác thảo nên bức tranh cuộc sống trong tác phẩm Bức tranh đó không được vẽ bằng cách thức miêu tả trọn vẹn thực tế mà vẽ bằng những xúc cảm, hứng khởi của người nhạc sĩ trước thực tế cuộc sống họ chứng kiến Nên ta nói âm nhạc phản ánh hiện thực bằng phương thức trữ tình Hình tượng âm nhạc được xây dựng và phát triển lên từ “tứ nhạc” Đứng trước một đối tượng khách quan, nếu có được một phút bất chợt bị lay động, xúc cảm trước đối tượng đó thì có thể từ đó trong đầu người nhạc sĩ một “tứ nhạc” xuất hiện Tứ nhạc này chỉ mới là một nguồn âm thanh bật ra từ cảm xúc chứ chưa vẽ nên được toàn cảnh hình tượng âm nhạc, chỉ khi tứ nhạc phát triển lên và được sắp xếp theo hệ thống những phương tiện diễn tả âm nhạc thì khi ấy mới trở thành hình tượng âm nhạc
Có thể xem “tứ nhạc” như một “phôi âm nhạc” sản sinh nên “hình tượng âm
nhạc” Cái tứ nhạc xuất hiện rồi chuyển hóa thành hình tượng âm nhạc trong tác
phẩm, sứ mệnh của tứ nhạc kết thúc Thông thường khi thưởng thức tác phẩm ta chỉ chú trọng đến hình tượng âm nhạc mà không nhớ đến tứ nhạc Thế nhưng, nếu trong sáng tác coi thường hoặc bỏ qua bước tìm ra tứ nhạc mà chỉ cố gắng dựng trực tiếp nên hình tượng âm nhạc từ những ý tưởng thì hậu quả sẽ nhận được một tác phẩm thô thiển, gượng ép, giả tạo
1.2.2 Tân nhạc Việt Nam những bước hình thành
1.2.2.1 Âm nhạc mới (tân nhạc)
Trong lĩnh vực âm nhạc, các thuật ngữ “nhạc mới”, “tân nhạc”, “nhạc cải cách” nhằm xác định đối tượng âm nhạc bắt đầu manh nha xuất hiện từ năm 1858, khi thực dân Pháp bắt đầu vào Việt Nam Dòng âm nhạc này hoàn toàn không giống với các loại hình âm nhạc cổ truyền của Việt Nam trước đó như dân ca, Tuồng, Chèo, Ca trù,
Ca Huế, Nhạc lễ, Chầu văn… mà nó đã có sự tiếp thu, học tập âm nhạc cổ điển phương Tây, được xây dựng bằng hệ thống ngôn ngữ âm nhạc hoàn toàn mới Sau này,
Trang 28khi phát triển vững vàng thì dòng nhạc này bắt đầu có xu hướng dung hợp giữa âm nhạc mới với âm nhạc dân tộc
Văn hóa Việt Nam, kể từ 1858, đã bắt đầu xáo trộn, có sự phản ứng hoặc dung hợp, tiếp biến với văn hóa phương Tây Đã có phong trào “Cải lương”, “Chèo cải cách”, “Áo tân thời”, “Thơ mới” nên lúc đó người ta có xu hướng gọi âm nhạc mới là
“Nhạc cải cách” Tuy nhiên, không giống như một số loại hình nghệ thuật khác (ngoại trừ Thơ mới) khi ra đời đã có sẵn cơ sở nền từ cái vốn của dân tộc, riêng âm nhạc được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn mới, nên khi dùng khái niệm “Âm nhạc cải cách” cho dòng nhạc này xét ra là một thuật ngữ chưa có tính thuyết phục cao nếu xét về nguồn gốc và sự kế thừa, tiếp nối
Khi so sánh với “Thơ mới”, ta thấy dòng âm nhạc mới này có nhiều điểm tương
đồng, cho nên chúng tôi chấp nhận “Âm nhạc mới” (tân nhạc) là một thuật ngữ chuyên
ngành, nhằm xác định dòng âm nhạc mới của Việt Nam manh nha xuất hiện kể từ
1858 Chúng tôi đồng tình và đi theo với quan điểm xác lập khái niệm “Âm nhạc mới”
trong công trình nghiên cứu Âm nhạc mới Việt Nam – Tiến trình và thành tựu của tập
thể tác giả do Tú Ngọc làm chủ biên Đây là cơ sở quan trọng để chúng tôi xác định các khái niệm chuyên ngành Từ đây chúng tôi thống nhất cách gọi tên “tân nhạc” trong suốt quá trình nghiên cứu
1.2.2.2 Các bộ phận của tân nhạc
Nguồn du nhập nhạc mới vào Việt Nam chủ yếu từ các dàn nhạc của quân đội Pháp, từ các Linh mục Thiên Chúa giáo và một phần từ những gia đình của sĩ quan Pháp đóng quân ở Việt Nam Tân nhạc bắt đầu từ phong trào hát bài ta theo điệu Tây
và phong trào này còn kéo dài cho đến những năm đầu 40 của thế kỷ XX Do điều kiện lịch sử của giai đoạn này, nên bên cạnh những sinh hoạt văn hóa công khai còn có một đời sống âm nhạc bí mật của phong trào cách mạng Động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy
âm nhạc phát triển lúc này là tinh thần dân tộc của những người yêu thích và hoạt động
ca nhạc ở các thành thị Đây có thể xem như là sản phẩm văn hóa thành thị ở Việt Nam trong những ngày tháng ban đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây
Do đặc thù của lịch sử như thế nên Tân nhạc lúc này chia thành ba dòng:
Dòng ca khúc lãng mạn
Sau cơn khủng hoảng trắng của cách mạng 1930-1931, giai cấp tư sản dân tộc không dám đấu tranh bằng chính trị và quân sự chống đế quốc, họ né tránh thực tại
Trang 29bằng cách chuyển sang đấu tranh bằng văn hóa, chống phong kiến Mặt khác, cùng với
sự hình thành giai cấp tư sản và tiểu tư sản ở thành thị với những đổi mới trong nếp sống, nếp suy nghĩ, cảm xúc và cùng với sự tiếp xúc với văn chương lãng mạn Pháp đã
tác động đến việc hình thành nên dòng ca khúc lãng mạn của Việt Nam Sự ảnh hưởng
của văn chương lãng mạn đến âm nhạc có thể thấy ở đề tài, ca từ, thể loại Ngoài ra,
còn có yếu tố nội sinh thúc đẩy việc hình thành dòng ca khúc lãng mạn chính là phong
trào Thơ mới và Tự lực văn đoàn
Dòng âm nhạc này, lúc bấy giờ ít nhiều là sự quay lưng với thực tế, nó là tiếng nói thoát ly về chính trị của giai cấp tiểu tư sản thành thị và tiểu tư sản trí thức, phần nào thể hiện thái độ yếu đuối hoặc lãng tránh thực tế Xét trên phương diện tính chất
âm nhạc thì âm nhạc dòng ca khúc lãng mạn không có tính chiến đấu cao như hai dòng
ca khúc yêu nước tiến bộ và ca khúc cách mạng
Do xu hướng lãng mạn lấn át, nên dòng này tôn vinh cái “đẹp” lên cao nhất và gần như độc chiếm Do thoát ly với đời sống thực tế nên cái “đẹp” trong dòng nhạc này là cái đẹp ở cõi mơ, thoát tục, hình tượng âm nhạc mang đến thường là cõi thiên thai, vườn địa đàng…
Dòng ca khúc yêu nước tiến bộ
Dòng nhạc này còn được gọi là dòng Hùng ca Đây là tiếng nói đấu tranh của
bộ phận trí thức, thanh niên tiến bộ trong thành thị
Trong không khí chung của phong trào đấu tranh cách mạng, quyết giành độc lập dân tộc của các phong trào yêu nước trước 1930, phần đông tiểu tư sản và trí thức tiến bộ đã tỏ ra có tinh thần dân tộc, tham gia có mức độ các phong trào cách mạng Tuy nhiên, lập trường tư tưởng của lực lượng này không ổn định, có khi tỏ thái độ yêu nước công khai, có khi sợ hãi lẫn tránh Chính vì vậy mà từ lực lượng này đã cho ra
đời hai dòng ca khúc lãng mạn và ca khúc yêu nước tiến bộ Đến 1930, khi chính đảng của giai cấp công nhân ra đời, cũng là tiền đề cho việc ra đời của dòng ca khúc cách
mạng, thì các tác giả của dòng Hùng ca có xu hướng hòa nhập vào dòng ca khúc cách mạng triệt để hơn Quá trình hình thành dòng ca khúc yêu nước tiến bộ có mối liên hệ
với dòng ca khúc lãng mạn Cả hai dòng đều nằm trong trào lưu “điệu Tây, lời ta” và lực lượng sáng tác đều có tác phẩm ở cả hai dòng nhạc này Dòng nhạc Hùng ca đã thể
hiện khuynh hướng tư tưởng: tình cảm dân tộc, lòng yêu nước và lý tưởng dấn thân vì nghĩa lớn một cách nhất quán Khuynh hướng tư tưởng đó thể hiện ở ba thang bậc cảm hứng khác nhau:
Trang 30Cảm hứng tươi sáng, lạc quan gắn liền với cảnh trí tươi đẹp của thiên nhiên hoặc các danh lam thắng cảnh của đất nước;
Cảm hứng xông pha, quật khởi và dấn thân là cảm hứng nổi trội nhất của dòng nhạc này Sáng tác gắn liền với hình ảnh chiến trận, chiến tích và truyền thống anh hùng của lịch sử dân tộc;
Cảm hứng đau thương, uất hận cũng bắt nguồn từ lòng yêu nước, tình cảm dân tộc, nó mang tính suy tư và hướng nội
Tóm lại, dòng Ca khúc yêu nước tiến bộ mang những thang bậc cảm xúc và tình cảm thẩm mỹ thể hiện đậm nét nhất là “cái cao cả” và “cái bi” Cái “bi” này không phải là bi quan, bi lụy mà là “bi hùng”, thể hiện được cái cao cả, cái anh hùng
Dòng ca khúc cách mạng
Để có cái nhìn khái quát về dòng ca khúc cách mạng này, xin trích dẫn nguyên văn từ công trình Âm nhạc mới Việt Nam, tiến trình và thành tựu (2000) của Tú Ngọc,
sách giới thiệu như sau:
Dòng ca khúc cách mạng ở Việt Nam được hình thành và phát triển từ khi có
phong trào yêu nước và cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo Dòng ca khúc này phản ánh tư tưởng, tình cảm và ước vọng của quần chúng lao động và nhiều tầng lớp khác trong xã hội có tinh thần yêu nước trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng nhằm đánh đổ bọn thống trị thực dân và phong kiến để giải phóng dân tộc, giành quyền dân sinh, dân chủ, hướng tới xây dựng một đất nước độc lập, thống nhất, một xã hội ấm no, công bằng và hạnh phúc [42: tr.120]
Ca khúc cách mạng thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, cổ động quần chúng đứng
lên chống giặc, là tiếng kèn xung trận, là tiếng chim gọi đàn trong công cuộc đấu tranh chống kẻ thù giai cấp, chống thực dân Thành công nhất của dòng nhạc này là hình thành nên thể loại bài hát hành khúc Hành khúc ở đây không hoàn toàn theo lối âm
điều đó mang đến cho Hành khúc một nhạc tính của người Việt Nam, với chất “hùng tráng” nổi trội nhất
Mỗi dòng âm nhạc kể trên đều là đại biểu cho tiếng nói tinh thần của mỗi giai
cấp, mỗi tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng chúng đều là những giá trị mới trong đời
sống âm nhạc dân tộc Trong quá trình hình thành và phát triển của ba dòng này ta
2 Theo GS Phan Ngọc
Trang 31luôn thấy tác phẩm luôn đậm dấu tinh thần dân tộc và thể hiện sự tiếp biến linh hoạt từ
kỹ thuật sáng tác cho đến nội dung tác phẩm
1.2.2.3 Ca khúc
Ca khúc là một tác phẩm âm nhạc thuộc thể loại nhạc hát (thanh nhạc) được biểu diễn bằng giọng hát của con người, có hoặc không có nhạc đệm Ca khúc gắn liền với thanh giọng, ngữ điệu của con người Nó là hình thức âm nhạc có từ rất sớm Trong ca khúc có hai bộ phận gắn bó chặt chẽ với nhau đó là giai điệu và ca từ
Giá trị một ca khúc chia làm hai phần: một nửa cho giai điệu, tiết tấu và một nửa cho ca từ Trong âm nhạc, yếu tố giai điệu đẹp là cái quyết định của một tác phẩm Tuy nhiên, do đặc thù của ngôn từ có trong ca khúc nên ảnh hưởng của ca từ đến tinh thần và tư tưởng người nghe nhiều hơn giai điệu
Ca khúc phản ánh thế giới thực tại thông qua phương cách sáng tạo đặc thù của người nhạc sĩ Bằng hình thức cụ thể hay trừu tượng, ca khúc có thể miêu tả hay mô phỏng một cách sinh động những thực tại đó Ngoài ra, ca khúc còn thông qua ca từ để
có thể nói lên những ý niệm, những tư tưởng sâu xa, uyên bác và đem đến cho con người những mỹ cảm
Trong ca khúc, tính biểu cảm không thuần nhất trong phương thức phản ánh như ở nhạc đàn; ca khúc do đặc thù có hai bộ phận cùng có vai trò và giá trị như nhau
là giai điệu và ca từ nên nơi đây dung hợp cả hai tính miêu tả của ngôn ngữ và tính biểu hiện của giai điệu trong phương thức phản ánh Trong ca khúc có thể xảy việc
“tranh chấp” giữa giai điệu và ca từ; có thể xảy ra hai trường hợp:
Tính biểu hiện của giai điệu lấn át tính miêu tả của ca từ Lúc này vai trò của ca
từ là thứ yếu, tính giai điệu lấn át, dẫn dắt Nếu lúc này ngữ điệu, thanh điệu không phù hợp với giai điệu sẽ dẫn đến tình trạng bị bẻ gãy, vỡ vụn của ca từ, thậm chí lời bài hát trở nên thô vụn, ngớ ngẩn;
Tính biểu hiện của âm nhạc phụ thuộc hoàn toàn vào ca từ Lúc này ca khúc
nghiêng hẳn về tính mô tả, nội dung bài hát dễ rơi vào “tự nhiên chủ nghĩa”
Điều hiển nhiên, khi sáng tác ca khúc, người nhạc sĩ phải biết tìm hướng dung hòa, điều hợp tỉ trọng giữa tính biểu hiện và tính mô tả trong tác phẩm Thế nhưng, ranh giới giữa hai vấn đề này thật sự mong manh, người sáng tác khó giữ được thế cân bằng, có khi tác phẩm như một thứ hát thơ, có khi chỉ nghe được giai điệu mà ca từ như đang cố tình phá hoại lại những gì tốt đẹp mà giai điệu đang làm Ca từ với khả
Trang 32năng miêu tả cụ thể, đã làm nhiệm vụ “đóng khung” cho hình tượng âm nhạc của ca khúc, làm cho ca khúc ít bay bổng hơn mà mang tính xác định nhiều hơn khí nhạc
Ở dòng ca khúc cách mạng, với chức năng hàng đầu là tuyên truyền cổ động
nên việc giữ được tính biểu hiện của âm nhạc trong tác phẩm là một điều hết sức khó khăn Làm được điều đó đòi hỏi người nhạc sĩ phải có khối tri thức chuyên - liên ngành, một bản lĩnh nghệ thuật và cả một bản lĩnh chính trị cần thiết Cho nên khi xác định tính giá trị của một ca khúc sẽ có những điều tương đối khó khăn hơn đối với nhạc đàn Cần phải có sự dung hòa giữa biểu hiện và miêu tả trong tiêu chuẩn đánh giá phương thức phản ánh của nhạc sĩ, ngoài ra còn phải đặt trong bối cảnh lịch sử, xã hội
cụ thể để thẩm định tác giả, tác phẩm đó
Giữ quan điểm như thế, chúng tôi sẽ xem tiêu chí trên như một bộ lọc để chọn
ra những ca khúc cách mạng có giá trị trong giai đoạn 1954-1975 làm dữ liệu phục vụ
cho nghiên cứu đề tài của mình
1.2.2.4 Tính chất riêng biệt của ca khúc Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Lịch sử Mỹ học đã cho thấy mỗi loại hình, thể loại nghệ thuật mới ra đời đều nhằm đáp ứng nhu cầu của lịch sử, của thời đại Việc hình thành cái mới là nhằm đến thỏa mãn nhu cầu sáng tạo của thời đại cũng như đáp ứng cho khả năng biểu cảm của
con người trước một hoàn cảnh xã hội có thay đổi về chất thực sự so với xã hội cũ Ca
khúc cách mạng giai đoạn 1954-1975 là sự phân kỳ của dòng ca khúc cách mạng có từ
năm 1930 Vừa có những tính chất chung của dòng nhạc mới như đã đề cập ở mục trên, nhưng trong giai đoạn này lại có thêm những nhánh phát triển và những đặc tính mới do hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động
Giai đoạn này, đất nước Việt Nam có hoàn cảnh hết sức đặc biệt: miền Bắc vừa xây dựng và kiến thiết đất nước, vừa từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội; trong khi đó miền Nam thuộc quyền kiểm soát của Mỹ và chính quyền thân Mỹ Cả miền Nam tiến hành cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, hướng đến thống nhất đất nước Đặc biệt hơn nữa, trong lòng của đô thị miền Nam đã nổi lên phong trào của sinh viên, học sinh
dùng âm nhạc như một vũ khí đấu tranh với giặc Chính vì thế, ca khúc cách mạng giai
đoạn này có nhiều nét phong phú, đa dạng về chủ đề và nhiều mảng hiện thực mới được phản ánh trong tác phẩm
Trong giai đoạn 1954-1975, ca khúc cách mạng là sự tiếp nối của giai đoạn
trước và từng bước đi vào giai đoạn trưởng thành, phát triển Dòng ca khúc này đã
Trang 33xuất hiện những bộ phận khác nhau phản ánh tình cảm, cảm xúc, nguyện vọng và phục
vụ cho nhiệm vụ chính trị của hai niềm Nam - Bắc Tình hình xã hội mới, đã làm nên
thể loại, loại hình mới trong âm nhạc; ca khúc cách mạng ra đời là một hình thái phù hợp với qui luật Trong bối cảnh đặc thù, ca khúc cách mạng đã đảm nhiệm vai trò
xung kích trong âm nhạc, đã hòa cùng với các loại hình nghệ thuật khác chung vai gánh lấy trách nhiệm đấu tranh trên mặt trận văn hóa, tư tưởng
Trong giai đoạn này đã xuất hiện hai mảng đề tài mới, đó là: công trường, nông trường và đấu tranh thống nhất đất nước Kể từ khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời thì chủ đề đấu tranh thống nhất đất nước trở nên chủ đạo Lúc này về mặt thể loại phát triển hết sức đa dạng, mỗi thể loại đáp ứng cho từng loại đối tượng và hoàn cảnh trong cuộc kháng chiến Có thể kể ra các thể loại như: hành khúc,
ca khúc quần chúng, ca khúc trữ tình, những bài hát vui, hài hước, những liên đoạn và trường ca Trong đó thể loại ca khúc quần chúng và ca khúc trữ tình là hai thể loại nổi trội, chiếm vị trí hạt nhân
1.3 Bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội và văn hóa Việt Nam từ 1954-1975
Đây là thời kỳ đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam Thời kỳ đất nước bị chia cắt thành hai miền và phát triển thể chế chính trị theo hai hướng khác nhau: ở miền Bắc là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Đảng cộng sản lãnh đạo tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong khi đó ở miền Nam là nhà nước Việt Nam Cộng hòa đi theo hướng tư bản chủ nghĩa với sự hậu thuẩn của đế quốc Mỹ Đất nước bị chia thành hai vùng với thể chế kinh tế, chính trị và xã hội khác nhau, đối đầu nhau Nhìn tổng thể, Việt Nam trong giai đoạn này diễn tiến trong tình trạng hết sức đặc biệt: vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh; vừa có xây dựng vừa có chiến đấu; vừa có cuộc sống đời thường vừa có cuộc sống thời chiến Chính vì vậy, trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật cũng có những mặt phản ánh tương thích với thực tế lịch sử, xã hội
1.3.1 Tình hình chính trị, xã hội ở miền Bắc
Giai đoạn 1954-1965: là khoảng thời gian đi vào kiến thiết xây dựng lại đất
nước sau chiến tranh chống Pháp đồng thời với việc phát triển văn hóa Đây cũng là giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm lần I (1961-1965) của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Công tác văn hóa văn nghệ, xuất bản được đẩy mạnh Nhiều đầu sách được xuất bản, có nhiều đội chiếu bóng lưu động phục vụ rộng khắp các địa phương
đã tạo điều kiện cho việc tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và góp phần nâng cao dân trí
Trang 34Đây là khoảng thời gian quí giá miền Bắc có được để tập trung xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa và ổn định về chính trị, củng cố quốc phòng Về mặt quân sự, trong thời kỳ này phát triển không ngừng về cả hai mặt số lượng và chất lượng, nhằm mục tiêu đảm nhiệm vai trò bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế Trong thời gian này đã hình thành nên các con đường chi viện cho miền Nam,
cụ thể là đoàn quân 559 trên bộ và 759 trên biển
Kể từ sự kiện Vịnh Bắc Bộ xảy ra vào 8-1964, đã đặt miền Bắc vào tình trạng báo động của chiến tranh
Giai đoạn 1965-1968: từ giai đoạn này cuộc tấn công của quân Mỹ và Việt
Nam Cộng hòa đã leo thang ác liệt với miền Bắc Miền Bắc vừa phải đảm nhiệm vai trò hậu phương chi viện cho miền Nam đồng thời cũng là một tiền tuyến đối đầu với các cuộc không kích của máy bay Mỹ Đây là một giai đoạn hết sức đặc biệt của đất nước nói chung và miền Bắc nói riêng
Việc leo thang đánh phá miền Bắc của Mỹ - Ngụy là nhằm đến mục đích ngăn chặn việc chi viện của miền Bắc cho cuộc kháng chiến đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân miền Nam Ngành Giao thông vận tải phát triển rất nhanh trong những ngày tháng chiến tranh nổ ra Phương tiện vận chuyển và mạng lưới đường bộ tăng nhanh đã góp phần quyết định củng cố và mở rộng tuyến đường chiến lược, nối miền Bắc với chiến trường miền Nam Do chiến tranh ác liệt, để hạn chế tổn thất nên các hoạt động tập hợp đông người như văn hóa, văn nghệ, lễ hội cũng bị hạn chế Lượng sách báo, văn hóa phẩm cũng không có được nhiều như trước đó
Một lần nữa các truyền thống quí báu của dân tộc như tinh thần yêu nước quật cường, tính đoàn kết, tính cộng đồng lại nổi lên mạnh mẽ trước cuộc tấn công của Mỹ
- Ngụy vào miền Bắc bằng không quân và hải quân Trong giai đoạn này các phong
trào thi đua yêu nước nở rộ: Tay búa, tay súng (trong công nhân); Tay cày, tay súng (trong nông dân); Ba đảm đang (của phụ nữ); Ba sẳn sàng (của thanh niên)…
Giai đoạn 1969-1975: Đây là giai đoạn hết sức khó khăn về mọi mặt của miền
Bắc Chiến tranh phá hoại của Mỹ đã tàn phá gần như hầu hết cơ sở hạ tầng, đời sống của nhân đân hoàn toàn đảo lộn, nhịp sống phụ thuộc vào nhịp độ của chiến tranh Vì vậy, giai đoạn này nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế được đặt lên hàng đầu với
ưu tiên phát triển nông nghiệp giải quyết nạn thiếu lương thực Bên cạnh đó vẫn đảm bảo đầy đủ và kịp thời những yêu cầu tăng cường sức chiến đấu cho miền Nam, triệt
để thực hiện khẩu hiệu: “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” Thanh niên lên
Trang 35đường nhập ngũ ngày càng tăng, việc tuyển quân đã trở thành một nét sinh hoạt truyền thống, đã trở thành ngày hội tòng quân Nền quốc phòng toàn dân càng thêm sức
mạnh, liên tục bổ sung lực lượng cho chiến trường miền Nam
Đến năm 1973, sau khi hiệp định Paris được ký kết, Đảng Cộng sản đã ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước quyết tâm đấu tranh thống nhất đất nước Bên cạnh nhiệm vụ to lớn là hậu phương chi viện cho cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam, miền Bắc còn phải khôi phục kinh tế, xây dựng đất nước, phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng trong tình trạng cơ sở hạ tầng gần như bị triệt phá hoàn toàn do các trận oanh kích của Mỹ
Việc củng cố và phát triển giao thông vận tải trong giai đoạn này vượt lên hàng đầu, nó quyết định cho việc khôi phục kinh tế và tăng sức mạnh quân sự chi viện cho miền Nam Tháng 3-1973, Bộ tư lệnh 559 được đổi thành Bộ tư lệnh Trường Sơn và cùng với đội ngũ thanh niên xung phong, bộ đội Trường Sơn đã mở rộng đường mòn
Hồ Chí Minh thành hệ thống nhiều làn đường chiến thuật nối giữa các mặt trận với đường chiến lược Đặc biệt với hệ thống vận chuyển xăng dầu bằng đường ống kéo dài 15.000 km từ Tổng kho dự trữ ở miền Bắc đến miền Đông Nam bộ đã tạo thuận lợi cho công tác vận chuyển nhanh chóng người và phương tiện chiến tranh vào chiến trường, góp phần không nhỏ vào kết quả thắng lợi của dân tộc.3
1.3.2 Tình hình chính trị, xã hội ở miền Nam
Giai đoạn 1954-1959: sau tháng 7 - 1954, cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc,
nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định Genève, các vùng kháng chiến giao lại cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát Với tham vọng hất chân Pháp ra khỏi Đông Dương nên Mỹ đã dựng lên chính phủ Ngô Đình Diệm, biến miền Nam Việt Nam thành tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á Chính quyền Sài Gòn đã gửi công hàm cho chính quyền Hà Nội chính thức từ chối Hiệp thương Tổng tuyển cử với lý do Chính phủ Sài Gòn không ký vào Hiệp định Genève Như vậy, với hành động phá hoại Hiệp thương và dựng nên chính quyền Ngô Đình Diệm, Mỹ đã can thiệp sâu vào tình hình
thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam
Với chính sách trả thù lực lượng kháng chiến của Ngô Đình Diệm đã gây cho lực lượng cách mạng còn ở lại miền Nam nhiều khó khăn, mất mát Chính quyền
3
Tổng hợp số liệu từ: Nguyễn Đình Lê (2010), Lịch sử Việt Nam 1954 – 1975, Nxb Giáo dục Việt Nam
Trang 36kháng chiến các cấp bị giải thể, miền giải phóng rộng lớn ở miền Trung và Nam bộ có được từ trước đã bị tái chiếm cứ và quản lý bởi chính quyền Ngô Đình Diệm
Việc thành lập lực lượng vũ trang Cách mạng miền Nam có tác dụng to lớn trong việc gìn giữ thực lực và thành quả của cuộc cách mạng Địa bàn đấu tranh lúc này chủ yếu diễn ra ở nông thôn, tập trung vào chống đàn áp, chống khủng bố, đòi đối phương phải thả tù chính trị, đòi thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước như Hiệp định Genève đã qui định Hoảng sợ trước tình hình phát triển của cách mạng miền Nam, Ngô Đình Diệm đã ra luật 10/59, thiết lập ba tòa án quân sự đặc biệt, công khai chém giết những người theo kháng chiến, đặt miền Nam vào tình trạng chiến tranh Việc làm của Ngô Đình Diệm đã gây cho cách mạng miền Nam nhiều tổn thất Từ thực tiễn cuộc đấu tranh, tháng 1-1959, Hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đưa ra phương hướng phát triển của cách mạng miền Nam:
“Phải dựa vào lực lượng chính trị là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang đánh đổ
đế quốc, phong kiến Phải tích cực chuẩn bị mọi mặt theo phương hướng căn bản là khởi nghĩa để lật đổ Mỹ - Diệm” 4 [34: tr.49]
Nghị quyết 15 ra đời từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (1-1959) đã thổi bùng lên ngọn lửa của 2 đợt Đồng Khởi (1-1960 và 4-1960) trên nhiều vùng ở miền Nam, đi đầu là tỉnh Bến Tre Kết quả diệt được nhiều đồn, bót, giải tán các trụ sở hội đồng xã và các tổ chức tay sai của chính quyền Mỹ - Diệm Đồng khởi đã tạo ra căn cứ địa liên hoàn nối liền giữa các tỉnh, huyện Trong vùng giải phóng, quyền làm chủ đã hoàn toàn thuộc về dân lao động, chính quyền tự quản ra đời giải quyết mọi mặt đời sống, xã hội Đồng khởi đã chuyển tư thế cách mạng từ giữ gìn lực lượng sang tiến công, từ đấu tranh chính trị là chủ yếu sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang Đồng khởi đã đập tan mưu đồ gây chiến, tấn công miền Bắc của Mỹ, buộc Mỹ phải quay lại đối phó với nhân dân miền Nam Theo lời kể của nhạc sĩ
Nguyễn Văn Long: “sau Đồng khởi, vùng giải phóng mở rộng, nhu cầu về văn nghệ
rất lớn ở vùng giải phóng nhưng do cán bộ đi tập kết nên lực lượng còn lại rất yếu Cán bộ phải sống nhờ vào nhà dân” [PL2, PV2: tr10]
Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập, đánh dấu một bước tiến mới của lực lượng cách mạng trong cuộc kháng chiến chống
4 Dẫn theo:Nguyễn Đình Lê (2010), Lịch sử Việt Nam 1954 – 1975, Nxb Giáo dục Việt Nam
Trang 37Mỹ Trong cương lĩnh hoạt động của mặt trận đã chú ý đến việc “xây dựng nền văn hóa, giáo dục dân tộc dân chủ” Đây là giai đoạn phát triển của cách mạng miền Nam:
Giai đoạn 1961-1965: trong giai đoạn này, lực lượng cách mạng miền Nam có
nhiều tổ chức ra đời: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (1962), thực chất là chính quyền tự quản của nhân dân miền Nam và thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam, Trung ương Cục miền Nam (1961) Về thực chất Trung ương Cục miền Nam là cơ quan đại diện cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
trực tiếp lãnh đạo cách mạng miền Nam Việt Nam
Văn hóa, kinh tế, xã hội trong vùng giải phóng có nhiều thay đổi Văn hóa, văn nghệ đóng vai trò giáo dục tinh thần yêu nước, yêu đồng bào, căm thù giặc và tay sai Phần lớn dân trong vùng giải phóng đều là nông dân, kinh tế theo hướng tự cung, tự cấp Nông nghiệp vẫn là vấn đề căn bản trong xây dựng kinh tế vùng giải phóng Đấu tranh chính trị lớn mạnh không ngừng, nổi bật nhất trong hoạt động này là đội quân tóc dài của phụ nữ miền Nam; đấu tranh của đồng bào Phật tử, tăng ni ở Huế Truyền thông phát huy hiệu quả, công tác tuyên truyền đấu tranh chính trị bằng văn nghệ được nâng tầm, mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế:
Đài Phát thanh Giải phóng miền Nam thực hiện buổi phát thanh đầu tiên vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 1-2-1962, truyền đi tiếng nói đấu tranh của quân dân miền Nam đến cả nước và trên thế giới Các chương trình được thực hiện bằng
5 thứ tiếng: Việt, Hoa, Khmer, Anh và Pháp Nhạc hiệu của Đài lúc đầu là bài Lên đàng quen thuộc với đồng bào Nam Bộ từ những ngày khởi nghĩa mùa Thu năm 1945, sau đó là bài Giải phóng miền Nam [44: tr.236]
Càng thất bại, Mỹ càng cay cú quyết tâm lao sâu vào cuộc chiến ở Việt Nam
Mỹ đã chuẩn bị oanh kích miền Bắc và tăng cường tối đa lực lượng quân sự cho cuộc chiến ở miền Nam Tăng cường càn quét, đánh phá các tỉnh xung quanh Sài Gòn và vùng đồng bằng sông Cửu Long với chiến thuật “thiết xa vận” và “trực thăng vận” Theo lời kể của nhạc sĩ, soạn giả Phong Quang:
Giặc tập trung dội bom và bao vây căn cứ đầu não của Trung ương Cục (R) rất quyết liệt Có khi đoàn phải lánh về phục vụ ở các địa phương Ở khu Tây Nam
bộ thì thường xuyên phải đối đầu với lối đánh “trực thăng vận” rất thần tốc, nguy hiểm của quân đội Mỹ và Việt Nam cộng hòa [PL4, PV14: tr14]
Trang 38Quân giải phóng miền Nam ngày càng được củng cố và lớn mạnh, cùng với việc đội quân được tăng cường từ miền Bắc vào đã tạo nên những chiến công vang dội như trận Ấp Bắc, Bình Giã Bộ đội chính qui ngày càng lớn mạnh, đã có khả năng mở những chiến dịch đánh lớn
Giai đoạn 1965-1968: để chống lại cách mạng miền Nam, ngoài việc tấn công
quân sự, Mỹ - Ngụy còn dùng hình thức dồn dân vào ấp chiến lược nhằm mục đích cô lập cách mạng với quần chúng nhân dân Vì vậy, vùng giải phóng trong những năm 1965-1968 bị giới hạn hơn giai đoạn trước Theo lời kể của soạn giả Trần Mộng: Cuộc chiến ác liệt xảy ra khắp nơi Việc di chuyển giữa các địa phương rất khó khăn Việc hỗ trợ giữa các tỉnh rất khó thực hiện Có nhiều tháng liền có đảng viên không thể về họp chi bộ, dẫn đến bị kỷ luật Mọi sinh hoạt của cán bộ,
chiến sĩ tuân thủ theo phương châm: “Đi không dấu, nấu không khói, nói đủ
nghe” [PL4, PV09: tr12]
Cuối năm 1967 đầu 1968, Bộ Chính trị của chính quyền Hà Nội đã có chỉ đạo
cụ thể cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam, thực hiện phương châm “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” Đêm giao thừa Tết Mậu Thân, đồng loạt các nơi trong miền Nam, quân cách mạng tấn công như vũ bão vào quân Mỹ và đồng minh Quân cách mạng đã đánh vào các nơi đầu não của giặc như Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc lập, Bộ Tổng tham mưu, Tổng Nha Cảnh sát, Đài phát thanh và gặp phải phản ứng quyết liệt Cả hai phía đều bị tổn thất hết sức nặng nề Cuộc nổi dậy Tết Mậu Thân đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán và chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện Cuộc nổi dậy này đã tạo ra cục diện mới trên chiến trường miền Nam, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc sang một thời kỳ mới
Song song với đấu tranh vũ trang, lực lượng cách mạng còn tổ chức đấu tranh chính trị hợp pháp tại các đô thị miền Nam Phong trào đấu tranh của tăng ni, phật tử
và trí thức, sinh viên ngày một lên cao trào, đã trở thành một lực lượng mạnh mẽ gây nhiều khó khăn cho quân Mỹ - Ngụy
Điều đáng chú ý là bắt đầu từ Đại hội Văn nghệ học sinh, sinh viên mừng Tết Quang Trung do Tổng hội Sinh viên và Hội đồng Đại diện Sinh viên Sài Gòn phối hợp
tổ chức vào ngày 26.1.1968 với sự tham gia của 21 phân khoa đại học, 53 trường trung học và Đoàn Văn nghệ Bừng Sáng tại sân trường Quốc Gia Hành chánh Sài Gòn, đã qui tụ trên 12.000 thanh niên, sinh viên, học sinh Với ca khúc Hát cho dân tôi nghe
Trang 39của nhạc sĩ Tôn Thất Lập đã mở đầu cho phong trào đấu tranh chính trị của sinh viên, học sinh trong các đô thị Tiếng nói đấu tranh hào hùng, dũng cảm của lớp trẻ yêu nước được dư luận quần chúng ủng hộ mạnh mẽ và khí thế đó đã lan tỏa ra cả sinh viên nước ngoài
Đêm 27-2-1969, tại trường Đại học Nông Lâm Súc Sài Gòn đã chính thức ra
mắt phong trào đấu tranh chính trị “Hát cho đồng bào tôi nghe” (những người đứng đầu phong trào này là Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn…) đã khẳng định rõ tính chiến đấu
của phong trào văn nghệ sinh viên – học sinh ở các đô thị miền Nam Tham gia phong trào này có các nhạc sĩ chuyên nghiệp đã nổi tiếng như: Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu, Phạm Thế Mỹ; Các nhạc sĩ nòng cốt và lớn lên từ phong trào này có thể kể đến: Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh, Nguyễn Xuân Tân, Nguyễn Văn Sanh, Trương Thình, Nguyễn Phú Yên, La Hữu Vang, Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Nam, Trần Xuân Tiến
Giai đoạn 1969-1975: tháng 6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam ra đời đã thúc đẩy cuộc kháng chiến mạnh mẽ, từ đó có thêm sức
mạnh ngoại giao Nhân dân miền Nam chính thức có chính quyền của mình
Sau cuộc tấn công 1968, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã tiến hành đánh phá
ác liệt vùng đồng bằng Nam bộ Mục đích nhằm thực hiện kế hoạch bình định với chiến lược “quét và giữ” Với kế hoạch này đã gây nhiều tổn thất cho quân cách mạng, nhiều vùng giải phóng đã bị chiếm lại Mở chiến dịch Lam Sơn 719, quân đội Việt Nam cộng hòa nhắm đến mục tiêu bịt tuyến đường chi viện từ Bắc vào Nam đồng thời thử sức kết quả của Việt Nam hóa chiến tranh Để đối phó, quân giải phóng miền Nam
đã tiến công, đánh tan âm mưu đó bằng Chiến thắng Đường 9 – Nam Lào và là điều kiện thuận lợi cho chiến lược tấn công giặc trên khắp chiến trường
Sau Hiệp định Paris, vào ngày 29-3-1973, Mỹ chính thức rút quân về nước Với
sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, toàn quân và toàn dân đã chuẩn bị khẩn trương cho công việc giải phóng hoàn toàn miền Nam Từ giữa năm 1973, quân giải phóng đã phản công quyết liệt, lấy lại các vùng bị tạm chiếm và đồng thời giữ vững được các vùng giải phóng Giai đoạn này miền Nam nhận được sự chi viện tối đa của miền Bắc nên các mặt trận phát triển mạnh Đến cuối 1974, lực lượng quân cách mạng lớn mạnh,
đã chủ động mở chiến dịch Phước Long vào 1-1975 Kết quả đã giải phóng được tỉnh Phước Long Sau chiến thắng này có cơ sở để quân cách mạng hạ quyết tâm giải phóng miền Nam Tháng 3-1975, lực lượng quân giải phóng mở đầu chiến dịch mùa
Trang 40Xuân với trận đánh vào Buôn Mê Thuộc Thị xã đã được giải phóng sau 2 ngày đêm chiến đấu Tiếp theo là chiến thắng dòn giã ở Chiến dịch Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, Xuân Lộc và đỉnh cao nhất là giải phóng toàn miền Nam vào 30-4-1975
Giai đoạn 1954-1975, có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử đấu tranh của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Thắng lợi này là cơ
sở để đất nước hoàn toàn thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội và cũng là tiền đề, là nội lực cho việc phát triển đất nước trong giai đoạn mới, giai đoạn xã hội dân chủ, hòa bình và hòa nhịp với xu thế toàn cầu hóa
1.3.3 Quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản về văn hóa – văn nghệ
Việc ra đời Đảng cộng sản, chính đảng của giai cấp công nhân vào năm 1930 là một bước phát triển vượt bậc của phong trào yêu nước chống giặc ngoại xâm sau nhiều ngày tháng khủng hoảng về đường lối, chiến lược Ngay từ đầu, Đảng cộng sản đã xác định mục đích của cuộc cách mạng là giải phóng dân tộc, xây dựng một nền văn hóa của dân tộc Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc sẽ làm hồi sinh các giá trị văn hóa và thúc đẩy văn hóa phát triển
Năm 1943, Đề cương Văn hóa ra đời đã là kim chỉ nam chỉ lối cho hoạt động văn hóa văn nghệ cách mạng Với định hướng “dân tộc, khoa học, đại chúng” từ đề cương, văn hóa văn nghệ đã từng bước trưởng thành, tiến đến “xây dựng một nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Từ bản Đề cương Văn hóa đã cho thấy cuộc
cách mạng trong mặt trận văn hóa cũng chính là cuộc cách mạng xã hội Mặt khác, Đề
cương văn hóa khi áp dụng vào đời sống và cuộc kháng chiến đã được đồng chí
Trường Chinh hướng dẫn cụ thể:
Điều kiện của kháng chiến hết sức thuận lợi cho việc xây dựng một nền văn hóa mới Chỉ cần các người hoạt động văn hóa mạnh dạn đứng lên, nắm lấy cơ hội
mà phát triển văn hóa nước ta trên nền tảng dân chủ mới Công việc thiết thực của các bạn ấy lúc này phải là: “dùng văn nghệ tuyên truyền, cổ động kháng chiến; quét sạch tàn tích nô lệ, thực dân trong văn hóa; phát triển văn hóa có tính dân tộc, khoa học và đại chúng” [11: tr.48, 49]
Suốt những năm tháng kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao khẩu
hiệu “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” Điều đó cho thấy định
hướng về tính chiến đấu của văn hóa Văn hóa trở thành một trong ba mặt trận quan trọng đối với vận mệnh dân tộc, đó là kinh tế - chính trị - văn hóa Đồng thời, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, ca khúc cách mạng đã vận hành theo quỹ đạo cách mạng, đi theo