1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng canh tân của đặng huy trứ và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở việt nam hiện nay

143 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 807,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Do tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của Đặng Huy Trứ trong dòng chảy lịch sử của dân tộc nên tư tưởng Đặng Huy Trứ nói chung, tư tưởng canh tân

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC

ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH– 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ LÝ

TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC

ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của TS Cao Xuân Long Kết quả lưu trong luận văn là trung thực chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Nguyễn Thị Lý

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 13

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ

XX VỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 13

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX với

sự hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 13 1.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX với sự hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 23

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 37

1.2.1 Truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam với sự hình thành, phát triển

tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 38 1.2.2 Tư tưởng của Tam giáo với sự hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 44 1.2.3 Tư tưởng tân thư về tự cường, tự trị của phương Đông, phương Tây với sự hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 51

1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ QUA CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM TIỂU BIỂU 53

1.3.1 Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ qua một số sự kiện tiêu biểu trong cuộc đời ông 54

Trang 5

1.3.2 Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ

qua một số tác phẩm tiêu biểu của ông 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 65

Chương 2 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN ĐẶNG HUY TRỨ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 67

2.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN ĐẶNG HUY TRỨ 67

2.1.1 Quan điểm canh tân về chính trị - xã hội 68

2.1.2 Quan điểm canh tân về kinh tế, quân sự 74

2.1.3 Quan điểm canh tân về văn hóa, giáo dục 80

2.2 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 89

2.2.1.Đặc điểm cơ bản trong tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 89

2.2.2 Giá trị và hạn chế trong tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 101

2.3.Ý NGHĨA CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 112

2.3.1 Cần phải nêu cao tinh thần đổi mới với nội dung toàn diện trên nguyên tắc giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia 112

2.3.2 Cần phải chống tham nhũng triệt để và có một vũ khí lý luận khoa học, phù hợp với yêu cầu lịch sử 117

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 121

PHẦN KẾT LUẬN 124

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại đang đứng trước những thời cơ, vận hội cũng như những thách thức lớn về mọi mặt trong đời sống xã hội của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế mang lại Mỗi quốc gia, dân tộc muốn tồn tại và phát triển không thể đứng ngoài tiến trình đó, không thể khép mình

trong “cái nếp cũ” đã trở nên lỗi thời, lạc hậu Việt Nam cũng không nằm

ngoài tiến trình ấy Xu thế toàn cầu hóa vừa tạo ra thời cơ lớn, vận hội lớn cho tất cả các nước nhưng nó cũng đem lại nhiều nguy cơ, thách thức cho mỗi quốc gia, dân tộc Song, làm thế nào để hòa nhập nhưng không hòa tan, không đánh mất bản thân mình? Một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc

là phải giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa của dân tộc mình Trong đó, kế thừa và phát triển những tư tưởng tiến bộ của những người đi trước là một trong những vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng Đúng

như, trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăng - ghen đã chỉ rõ: “một

dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có

tư duy lý luận” [69, tr 489], “Nhưng tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [69, tr 587] Nhận thức được tầm quan trọng của việc đúc kết “toàn bộ triết học thời trước”, việc “giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa của dân tộc” ngay trong Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương đảng khóa VIII đã chỉ rõ: “xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại, v.v… phục vụ

Trang 7

đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [33, tr 54] Do đó, việc nghiên cứu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại nói chung, và lịch sử tư tưởng của Việt Nam nói riêng, là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực

Lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn có sự biến động to lớn, để lại những dấu ấn cực kỳ sâu sắc về mọi mặt “Đó là thế kỷ khoa học

và công nghệ tiến nhanh chưa từng thấy, giá trị sản xuất vật chất tăng lên hàng chục lần so với thế kỷ trước, kinh tế phát triển mạnh mẽ xen lẫn những cuộc khủng hoảng lớn của chủ nghĩa tư bản thế giới và sự phân hóa giàu nghèo giữa các nước, các khu vực” [34, tr 61] Sự biến động ấy đã đặt ra nhiều vấn đề, trong đó vấn đề bức thiết nhất là tìm tòi, xác định về con đường, cách thức để giải phóng dân tộc, giải phóng con người thoát khỏi ách

áp bức bóc lột và những bất công trong xã hội Chung dòng chảy lịch sử ấy, Việt Nam thời kỳ này cũng rất đặc biệt, với những biến đổi sâu sắc trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa – xã hội, mà nguyên nhân chủ yếu của nó chính là sự xâm lược và đặt ách thống trị thuộc địa vô cùng tàn bạo lên đất nước ta của thực dân Pháp, biến nước ta từ một nước phong kiến độc lập, có chủ quyền thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Trong hoàn cảnh lịch sử - xã hội như vậy, cùng với phong trào đấu tranh rộng khắp của nhân dân cả nước ta đứng lên chống lại thực dân Pháp xâm lược để giành lại nền độc lập, tự do cho đất nước, đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng lớn, có tư tưởng canh tân, nhằm phục hưng đất nước, cứu nguy cho dân tộc tiêu biểu như: Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch Trong số đó, Đặng Huy Trứ (1825 – 1874), được xem là một trong những ngôi sao sáng trên bầu trời lịch sử tư tưởng Việt Nam trong thế kỷ XIX và

Trang 8

cũng là một trong những ngọn cờ đầu trong phong trào duy tân giải phóng dân tộc, là “một trong những người trồng cái mầm khai hóa đầu tiên ở Việt Nam” [79, tr 21] Đặc biệt, tư tưởng canh tân của ông, giữ một vị trí quan trọng trong đời sống lịch sử - xã hội Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX, với giá trị lý luận và thực tiễn xã hội to lớn Những quan điểm canh tân của Đặng Huy Trứ về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự,

xã hội, về giáo dục, đạo đức, về văn hóa, tinh thần, tín ngưỡng đến ngày nay vẫn có những giá trị và ý nghĩa lịch sử to lớn Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục quá trình đổi mới toàn diện, sâu sắc để phát triển nước giàu, dân mạnh, thì việc kế thừa, tiếp thu, vận dụng tư tưởng đổi mới tri thức khoa học của thế hệ cha ông là điều cần thiết Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, phân tích một cách hệ thống và sâu sắc tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ, làm

rõ nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng canh tân Đặng Huy Trứ trong điều kiện đổi mới hiện nay là việc làm cần thiết Do đó, em đã chọn:

“Tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ và ý nghĩa của nó đối với công cuộc

đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Do tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của Đặng Huy Trứ trong dòng chảy lịch sử của dân tộc nên tư tưởng Đặng Huy Trứ nói chung, tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ nói riêng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực nhưng tựu chung có thể khái quát thành ba hướng sau:

Hướng thứ nhất, những công trình nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp, tư

tưởng … của Đặng Huy Trứ trong dòng chảy lịch sử Việt Nam Tiêu biểu

cho hướng nghiên cứu này trước tiên phải kể đến công trình Đại cương lịch

sử Việt Nam, Toàn tập, của GS Trương Hữu Quýnh, GS Đinh Xuân Lâm,

Trang 9

PGS Lê Mậu Hãn (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003 Hay

cuốn Lịch sử Việt Nam, gồm 2 tập, của Ủy ban Khoa học xã hội, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, Tiến trình lịch sử Việt Nam, PGS TS

Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2004… Nhìn chung trong các tác phẩm nêu trên, các tác giả đã nghiên cứu và trình bày một cách hệ thống các vấn đề về kinh tế, văn hóa, chính trị - xã hội … giai đoạn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Ngoài ra, nghiên cứu về sự phát triển tư tưởng Việt Nam giai đoạn thế kỷ XIX đến thế kỷ XX còn có tác

phẩm Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng

tháng Tám của GS Trần Văn Giàu, gồm 3 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1996 Công trình đề cập đến quá trình chuyển biến, xen kẽ, đấu tranh của các hệ tư tưởng: hệ ý thức phong kiến, hệ ý thức tư sản, hệ ý thức vô

sản Ngoài ra, còn có công trình nghiên cứu “Bước chuyển tư tưởng Việt Nam

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” do PGS.TS Trương Văn Chung và PGS.TS

Doãn Chính (đồng chủ biên) Trong công trình này các tác giả đã nêu bật được tiền đề xuất hiện tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nội dung, đặc điểm và bài học lịch sử của tư tưởng Việt Nam ở thời kỳ này

Đặc biệt trong cuốn Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam do PGS.TS

Doãn Chính (chủ biên), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, công trình này được kết cấu thành 5 chương, 1051 trang: Chương 1 khái quát lịch

sử, kinh tế, xã hội và tư tưởng của người Việt thời kỳ dựng nước; Chương 2

tư tưởng triết học Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc; Chương 3 Tư tưởng triết học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV; Chương 4 tư tưởng triết học Việt Nam

từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX; Chương 5 tư tưởng triết học Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; Trong đó, chương 4 của công trình từ trang 753

Trang 10

đến trang 778 các tác giả đã trình bày một cách khái quát nội dung tư tưởng của Đặng Huy Trứ trong dòng tư tưởng canh tân ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các quan điểm về tự cường tự trị, về kinh tế, quân sự, giáo dục …

Trong cuốn Lịch sử triết học Phương Đông do PGS.TS Doãn Chính

(chủ biên), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, công trình này được kết cấu thành 3 phần, 12 chương, 1395 trang: Phần thứ nhất Lịch sử triết học Ấn Độ; Phần thứ hai lịch sử triết học Trung Quốc; Phần thứ ba lịch

sử tư tưởng triết học Việt Nam – chương 5 của phần này từ trang 1184 đến trang 1206 và từ trang 1286 đến trang 1291 các tác giả đã trình bày một cách khái quát nội dung tư tưởng của Đặng Huy Trứ trong dòng tư tưởng canh tân

ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Còn trong tác phẩm Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX

của Lê Thị Lan, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002 Tác giả đã trình bày khá sâu sắc các điều kiện xuất hiện các tư tưởng cải cách ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, một số đóng góp căn bản trên phương diện tư tưởng của các nhà canh tân, chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc các đề nghị cải cách không được thực hiện hóa, đồng thời tác giả cũng nêu lên vị trí,

ý nghĩa của tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX trong lịch sử cũng

như trong hiện tại Hay trong công trình Đại cương lịch sử triết học Việt Nam

của TS Huỳnh Công Bá, nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2006, với 349 trang, ngoài phần mở đầu, phần dẫn luận, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, nội dung của tác phẩm được kết cấu thành 3 chương: Chương 1 – Tư tưởng triết học; Chương 2 – Tư tưởng chính trị; Chương 3 – Tư tưởng tôn giáo Trong tác phẩm này tác giả không đi sâu phân tích về các nhà tư tưởng nói chung và

Trang 11

Đặng Huy Trứ nói riêng, mà chủ yếu là thể hiện quan điểm của các nhà tư tưởng thông qua các phần Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và tư tưởng canh tân của các nhà tư tưởng Việt Nam dưới triều Nguyễn Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, nội dung tư tưởng cơ bản của các nhà tư tưởng tiêu biểu nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng được các nhà khoa học nghiên cứu

và công bố trên các tạp chí chuyên ngành như: Mấy suy nghĩ tìm hiểu thêm về

lý do thất bại của việc thực hiện tư tưởng canh tân dưới triều Nguyễn, Tạp

chí Khoa học Đại học sư phạm Huế, số 3, 1994; Tìm hiểu một số quan điểm

chi phối tư duy các nhà cải cách Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, Tạp chí Triết

học, số 1, 1995; Nhân tố quyết định tới sự xuất hiện tư tưởng cải cách ở Việt

Nam thế kỷ XIX, Tạp chí Triết học, số 4, 1999 …

Hướng thứ hai, Các công trình nghiên cứu một cách trực tiếp những

khía cạnh khác nhau như văn học, tư tưởng, đặc điểm, ý nghĩa … trong tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ Tiêu biểu cho hướng này, trước tiên phải

kể đến cuốn Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm của nhóm Trà Lĩnh, nhà

xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1990 Đây là công trình khảo cứu đồ sộ,

hệ thống và đáng tin cậy với nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại khác nhau như thơ, văn, câu đối mà Đặng Huy Trứ đã sáng tác trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình do nhóm Trà Lĩnh sưu tầm và biên soạn, trong đó các tác giả đã thể hiện về cuộc đời, tác phẩm của Đặng Huy Trứ qua các giai đoạn: Từ thời tuổi thơ (gồm 10 tác phẩm), đến giai đoạn ở quê ( gồm 33 tác

phẩm), đến thời kỳ đi dạy học (gồm 26 tác phẩm), đến bước đầu ra làm quan (gồm 47 tác phẩm), thời kỳ làm ngự sử (gồm 27 tác phẩm), thời gian làm bố

chánh Quảng Nam (gồm 20 tác phẩm), giai đoạn đi sứ lần thứ nhất (gồm 40

tác phẩm), hay giai đoạn làm bình chuẩn ở Hà Nội (35 tác phẩm), đến thời kỳ

Trang 12

đi sứ lần hai (gồm 55 tác phẩm), cho đến giai đoạn làm khâm phái quân vụ ở

Bắc Kỳ (gồm 15 tác phẩm), qua đó thể hiện được sự hình thành, phát triển và những chuyển biến trong từng giai đoạn cũng như những quan điểm phong phú, đặc sắc trong tư tưởng của Đặng Huy Trứ Ngoài ra, còn phải kể đến

công trình Đặng Huy Trứ tư tưởng và nhân cách, do Đặng Việt Ngoạn (sưu

tầm, biên soạn), nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000; đây là công trình tập hợp những bài viết, những công trình nghiên cứu có giá trị, dưới

nhiều khía cạnh trong tư tưởng và cuộc đời của Đặng Huy Trứ cụ thể: Đặng

Huy Trứ, người tri thức chân chính trước những vấn đề của dân tộc và thời đại của Vũ Khiêu, Tư tưởng Đặng Huy Trứ của Lê Sỹ Thắng, Ngôn trách, bút quyền một tư tưởng tiền phong của Phạm Xuân Khanh, Đặng Huy Trứ - một trí thức tiêu biểu của thế kỷ XIX của Trần Hữu Duy, Đặng Huy Trứ - một trong những nhà cải cách đầu tiên của Lê Thị Lan, Phật giáo trong thơ văn Đặng Huy Trứ của Thanh Lương, Đặng Huy Trứ thái độ đối với quỷ thần của

Tường Hữu, Đặng Huy Trứ và những trăn trở đổi mới về phong tục, tập quán

tín ngưỡng của nhân dân của Trần Đại Vinh, Đức tính dũng trong thơ văn Đặng Huy Trứ của Tảo Trang, Đặng Huy Trứ - một tấm gương sáng một nhà giáo xứng danh “Phụ tử” của Vũ Đình Liên, Đặng Huy Trứ - một vị lương

sư của Nguyễn Thế, Đặng Huy Trứ - cuộc đời và thơ của Khương Hữu Dụng, Thi hào Đặng Huy Trứ - một hồn thơ đôn hậu và một tinh thần thi giáo lớn

của Ngô Linh Ngọc, Tấm lòng ưu ái trong thơ Đặng Huy Trứ của Trần Lê

Văn … Nhìn chung đây là tác phẩm có nội dung khá phong phú, đặc sắc và

có những nhận định xác đáng về Đặng Huy Trứ trong dòng lịch sử tư tưởng của dân tộc Đặc biệt, nghiên cứu theo hướng này còn có công trình “tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ” do TS Cao Xuân Long làm chủ nhiệm đề

Trang 13

tài, năm 2014, nội dung của đề tài này được kết cấu thành 2 chương: chương

1, Những điều kiện, tiền đề và quá trình trình hình thành, phát triển tư tưởng của Đặng Huy Trứ từ trang 19 đến trang 79; chương 2, Nội dung, đặc điểm

và giá trị, hạn chế chủ yếu trong tư tưởng của Đặng Huy Trứ Nghiên cứu

theo hướng này còn có công trình Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều

Nguyễn do Đỗ Bang, Trần Bạch Đằng, Đinh Xuân Lâm, Lưu Anh Rô, Hoàng

Văn Lân, Nguyễn Quang Trung Tiến, Nguyễn Trọng Văn nghiên cứu và biên soạn Trong công trình này các tác giả đã tập trung nghiên cứu các nhà tư tưởng canh tân thời Nguyễn như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch,

Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ … Ngoài ra, trong tác phẩm Nho giáo và phát

triển ở Việt Nam của Vũ Khiêu, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997

Trong cuốn sách này liên quan đến đề tài có phần 1, chương 4 tác giả đã nhận định rằng: “Đặng Huy Trứ đã nhìn ra ánh sáng, nêu lên những cái mới của thời đại để từ đó đổi mới đất nước” [57, tr 45 - 46]

Hướng thứ ba: Những công trình đánh giá về đặc điểm, giá trị, hạn chế

về tư tưởng của Đặng Huy Trứ nói chung và tư tưởng canh tân của Đặng Huy

Trứ nói riêng Trước hết, phải kể đến công trình Phan Bội Châu toàn tập,

gồm 10 tập, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1990, đặc biệt trong tập 2, khi nhận định về giá trị của Đặng Huy Trứ, Phan Bội Châu đã đánh giá rất cao và

cho rằng Đặng Huy Trứ là “người trồng cái mầm khai hóa đầu tiên” ở Việt Nam thời Tự Đức Bên cạnh đó, trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 2

của Lê Sỹ Thắng (chủ biên), nhà xuất bản Khoa học, Hà Nội, 1997 Đây là công trình khá phong phú về các nhà tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX, liên quan đến đề tài là chương XV từ trang 332 – 353, tác giả đã nhận định “nhà canh tân Đặng Huy Trứ không chỉ nổi bật trong lĩnh

Trang 14

vực tư tưởng mà còn là người duy nhất trong số các nhà canh tân của dân tộc

ta hồi nửa cuối thế kỷ XIX đã trực tiếp kinh doanh thương nghiệp, không chỉ bằng văn tự mà còn bằng việc làm cụ thể ở tầm vĩ mô, ông đã góp phần to lớn vào việc chọc thủng bóng đen của hệ tư tưởng phong kiến và mở đường cho tư tưởng và hoạt động canh tân, duy tân của dân tộc ta hồi nửa cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX” [86, tr 352 - 353] Ngoài ra, còn phải kể đến bài:

Đặng Huy Trứ - nhà yêu nước canh tân thế kỷ XIX của Phạm Tuấn Khanh từ

trang 90 đến trang 99 Bài viết đã khái quát những tư tưởng cơ bản của Đặng Huy Trứ, từ đó đi đến một nhận định chung về giá trị trong tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ là để cứu nước, để chống ngoại xâm bảo vệ độc lập của tổ

quốc, để cứu dân thoát khỏi cảnh nghèo … Hay trong bài Trữ tình – nét đặc

sắc riêng trong thơ Đặng Huy Trứ của Hoàng Công Khanh, Tạp chí thông tin

Khoa học công nghệ, Huế, số 3, 1995, trong bài này tác giả đã viết: Ông “đã bền bỉ vững chải như cột đá sừng sững giữa bão lũ cuộc đời, đồng thời lại vẫn vận động sáng tạo theo hướng tích cực, thích hợp khít khao với từng chặng đường lịch sử rối ren cuối thế kỷ XIX” [75, tr 274] Hoặc trong bài

Tư tưởng của Đặng Huy Trứ của TS Cao Xuân Long, Tạp chí khoa học –

chuyên san Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Huế, tập 76B, số 7, 2012, trong tác phẩm này tác giả đã khẳng định rằng: nội dung tư tưởng của Đặng Huy Trứ khá phong phú và đặc sắc trên nhiều lĩnh vực như tự cường, tự trị, kinh tế, quân sự, giáo dục … những tư tưởng đó có giá trị nhân văn sâu sắc Tuy nhiên, do những điều kiện chủ quan, khách quan cho nên tư tưởng đó chưa đưa con tàu Việt Nam đi đến bến bờ tự cường tự trị như ông mong muốn Nhưng nếu lọc bỏ những hạn chế nhất định trong các tư tưởng này thì

có thể trở thành những bài học bổ ích trong quá trình phát triển đất nước của

Trang 15

chúng ta hiện nay Trong bài Tư tưởng Đặng Huy Trứ với nho giáo triều

Nguyễn của Đỗ Thị Hòa Hới, Tạp chí triết học số 6, 2000 Trong công trình

này tác giả bài viết đã phân tích và chỉ ra mối liên hệ cũng như những đặc trưng trong tư tưởng của Đặng Huy Trứ với Nho giáo triều Nguyễn Còn

trong bài Đặng Huy Trứ - một trong những nhà tư tưởng cải cách đầu tiên

của Lê Thị Lan, Tạp chí triết học, số4, 1992, tác giả cũng đã trình bày một cách khái quát về những tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ trên các lĩnh vực tư tưởng, kinh tế, quân sự, chính trị … từ đó có những nhận định, đánh giá khá sâu sắc, xác đáng về ông

Như vậy, tư tưởng Đặng Huy Trứ đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng chưa có công trình nào

mang tính chuyên biệt và tập trung đi sâu nghiên cứu làm rõ tư tưởng canh

tân của Đặng Huy Trứ Từ đó rút ra ý nghĩa và bài học kinh nghiệm cho sự

nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, những công trình kể trên đều

là những tài liệu quý báu để tác giả kế thừa, phát triển trong đề tài này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của đề tài là làm rõ những quan điểm trong tư tưởng canh

tân của Đặng Huy Trứ qua các khía cạnh như: chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục, đạo đức, … Qua đó, rút ra ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm

vụ chủ yếu sau:

Một là, trình bày, phân tích để làm rõ điều kiện lịch sử - xã hội, tiền đề

hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ

Hai là, phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng canh tân của Đặng Huy

Trứ qua các khía cạnh về thế giới quan, nhân sinh quan, chính trị - xã hội

Trang 16

Ba là, thông qua những nội dung canh tân của Đặng Huy Trứ từ đó rút

ra những đặc điểm, giá trị, hạn chế và ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu, nội dung tư tưởng triết học của Đặng Huy

Trứ và vấn đề đổi mới ở nước ta hiện nay

Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu trong giới hạn

tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nêu trên, luận văn

được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ

Chí Minh

Bên cạnh đó, luận văn dựa trên công trình Đặng Huy Trứ con người và

liệu căn bản để nghiên cứu đề tài này, đồng thời dựa vào các Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam, Hiến pháp nước cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam để định hướng cho nghiên cứu, và ngoài ra luận văn còn kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học về tư tưởng của Đặng Huy Trứ

Về phương pháp nghiên cứu, để nghiên cứu đề tài này tác giả đã sử

dụng những phương pháp nghiên cứu sau: phân tích và tổng hợp; diễn dịch và

quy nạp; so sánh và đối chiếu, lịch sử và lôgích, khái quát hóa, hệ thống …

Trang 17

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Về ý nghĩa khoa học, luận văn góp phần hệ thống và làm rõ hơn những

nội dung trong tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ qua các vấn đề chính trị, kinh tế, giáo dục, đạo đức, tự cường, tự trị

Về ý nghĩa thực tiễn, từ những đặc điểm, giá trị, hạn chế và ý nghĩa

lịch sử mà luận văn rút ra trong tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ có thể

góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và nghiên cứu tư tưởng canh tân ở Việt Nam giai đoạn giữa thế kỷ XIX – nửa đầu thế

kỷ XX, là bài học lịch sử cho công cuộc đổi mới ở nước ta Và luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn được kết cấu thành 02 chương, 06 tiết và 14 tiểu tiết

Trang 18

Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ

KỶ XX VỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

Tư tưởng là một bộ phận trong kiến trúc thượng tầng, thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội Nó là sản phẩm của quá trình nhận thức của con người ở trình độ phát triển cao Nó ra đời, vận động và biến đổi phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, trong đó cơ sở kinh tế - xã hội là nhân tố quan trọng nhất, quyết định nội dung, tính chất của tư tưởng Tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ cũng vậy, nó ra đời gắn liền với những điều kiện kinh

tế, chính trị, xã hội … của Việt Nam và thế giới vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới, thế kỷ XIX – đầu thế kỷ

XX với sự hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ

Lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là giai đoạn có nhiều biến động, ảnh hưởng hết sức to lớn trên mọi mặt trong quá trình phát triển

của lịch sử - xã hội loài người Trước hết, ở Phương Tây, nhờ sự phát triển

mạnh mẽ của khoa học – kỹ thuật, sức sản xuất phát triển vượt bậc, làm cho chủ nghĩa tư bản phát triển chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai

đoạn đế quốc chủ nghĩa, với năm đặc trưng: một là, sự tập trung sản xuất và

tư bản hình thành các tổ chức độc quyền; hai là, hình thành tư bản tài chính

và đầu sỏ tài chính; ba là, xuất khẩu tư bản; bốn là, sự phân chia thế giới về

Trang 19

kinh tế; năm là, sự phân chia thế giới về lãnh thổ Đồng thời, để mở rộng thị

trường, thu lợi nhuận nhiều hơn cho giai cấp tư sản Các nước tư bản đã hướng cỗ máy xâm lược, bóc lột đến các dân tộc chậm phát triển đặc biệt là các nước ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh, điều này dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trên các mặt của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội … trên phạm vi thế giới và gây ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam

Về kinh tế, trong lịch sử loài người, nếu như các giai cấp chủ nô, quý

tộc áp dụng các phát minh khoa học vào cuộc sống, chủ yếu phục vụ nhu cầu giải trí, chiến tranh thì đến giai cấp tư sản là giai cấp đầu tiên trong lịch sử đã

áp dụng khoa học - kỹ thuật vào quá trình sản xuất, thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh chóng, làm cho diện mạo của đời sống xã hội thay đổi Cho nên, có thể khẳng định, giai cấp tư sản có vai trò rất lớn trong việc mở đường, phát triển khoa học - kỹ thuật nhằm thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh chóng, thể hiện tính cách mạng trong lịch sử, đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen nhận định: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”[69, tr 603].Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản, do quy luật phát triển không đồng đều nên dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh

tế những năm 1900 – 1903, sau đó tổng khủng hoảng và cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất Do vậy, để mở rộng thị trường, các nước tư bản đã tiến hành xâm lược và áp dụng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào các dân tộc phương Đông, làm biến đổi sâu sắc các mặt của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa … của các dân tộc này, đúng như nhận xét của

C.Mác và Ph.Ăngghen trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Nó

Trang 20

buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản Nói tóm lại, nó tạo ra cho nó một thế

giới theo hình dạng của nó” [69, tr 602] Mặt khác, với sự phát triển về kinh

tế dẫn đến sự phân hóa xã hội sâu sắc, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai

cấp vô sản ngày càng gay gắt, quyết liệt Bởi vậy, Ph.Ăngghen trong Lời nói

đầu quyển Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônnapactơ đã viết: “Nước

Pháp, hơn bất cứ nước nào hết, là nơi mà những cuộc đấu tranh lịch sử bao giờ cũng đạt đến kết cục triệt để, và do đó là nơi mà các hình thức chính trị luôn luôn thay đổi - tức là những hình thức trong đó cuộc đấu tranh giai cấp

ấy diễn ra, những hình thức biểu hiện kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp ấy – đã có những hình thù rõ rệt nhất Là trung tâm của chế độ phong kiến thời trung cổ, là xứ sở kiểu mẫu của nền quân chủ tập quyền từ thời Phục hưng, của nước Pháp trong cuộc Đại cách mạng của mình đã phá hủy chế độ phong kiến và đã dựng lên một cách hết sức rõ nền thống trị thuần túy của giai cấp

tư sản, mà không một nước nào khác ở châu Âu đã từng đạt được Ở cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đang trỗi dậy chống giai cấp thống trị, cũng mang những hình thức gay gắt chưa từng thấy ở nước nào khác” [71, tr 373]

Về chính trị, trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản dần dần củng cố

và phát triển nền dân chủ tư sản - một giá trị văn hóa, có ý nghĩa rất to lớn đối với giai cấp tư sản, nó tạo nên bước chuyển từ chế độ quân chủ sang dân chủ; từ quân quyền, thần quyền sang pháp quyền … có ảnh hưởng rất lớn đến

sự phát triển của các quốc gia phong kiến Tuy nhiên, cuối thế kỷ XIX, nền dân chủ tư sản đã bộc lộ bản chất phản động, một số nước tư bản nhanh chóng trở thành chủ nghĩa đế quốc liên kết với nhau đi xâm lược mở mang

Trang 21

thuộc địa ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ - La tinh điều này thì lại không thể xem là có dân chủ Mặc dù vậy, nền dân chủ tư sản vẫn là giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được và trở thành vấn đề chính trị lớn có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với thế giới, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là những nhà nhạy cảm trước thời cuộc, trước những tiến bộ của nhân loại như Đặng Huy Trứ

Về cơ cấu xã hội, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chính trị, cơ

cấu giai cấp trong xã hội phương Tây cũng có sự thay đổi bên cạnh giai cấp

tư sản, địa chủ quý tộc, nông dân, thì sự xuất hiện, phát triển ngày càng lớn mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng của giai cấp công nhân, đã tạo nên mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản ngày càng sâu sắc, quyết liệt hơn Dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh tự phát, quy mô lớn của công nhân thế giới chống lại giai cấp tư sản đã nổ ra Tiêu biểu nhất là khởi nghĩa của công nhân dệt thành phố Li-ông (Pháp) những năm 1831, 1834; phong trào Hiến chương của công nhân Anh (1838 - 1848), khởi nghĩa của công nhân dệt thành phố Xilêdi (Đức) năm 1844, v.v…Sự thất bại của các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản tất yếu đòi hỏi cần phải có một hệ tư tưởng mới để dẫn dắt phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đi đến những bến bờ thắng lợi Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác xuất hiện đáp ứng yêu cầu lịch

sử - xã hội đó và trở thành ngọn cờ lý luận cho giai cấp công nhân Với sự soi đường, dẫn lối của Chủ nghĩa Mác đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản trên thế giới đã giành được những thành công to lớn, đã mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân loại Những thành công của phong trào cách mạng vô sản như một luồng gió mới nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, đã ít nhiều tác động đến tư tưởng canh tân ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong đó có tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ

Trang 22

Về khoa học và kỹ thuật, những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

cũng có nhiều bước tiến vượt bậc, góp phần to lớn vào sự phát triển của kinh

tế, chính trị, xã hội của nhiều nước trên thế giới như: học thuyết về sinh học của Đácuyn (Charles Darwin), di truyền học của Menđen (Gregor Mendel); trong lĩnh vực y học có phát minh quan trọng về vắcxin của Paxtơ (Louis Pasteur), hóa học có Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học của Menđêlêép (Dmitri Ivanovitch Mendeleiev); hay Anhstanh (Albert Einsetein) với học thuyết tương đối của mình đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong ngành vật lý học … Còn trên lĩnh vực kỹ thuật, nét nổi bật ở thời kỳ này là những phát minh về điện như: phát minh của Moocxơ (Samuel Morse) về điện báo; Êđixơn (Thomas Edison) về bóng đèn và xây dựng nhà máy điện; tiếp theo là những phát minh về điện thoại, điện ảnh, vô tuyến truyền thanh và phát hiện

ra tia Rơnghen … Với những phát minh khoa học và những tiến bộ kỹ thuật nêu trên đã góp phần làm tăng nhanh chóng sản lượng của các ngành công nghiệp như C.Mác đã viết: “sự chinh phục những lực lượng tự nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu thủy chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá toàn bộ lục địa, việc điều hòa sông ngòi …” [69, tr 603] Có thể nói, sự

nở rộ nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật ở các nước tư bản phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho con người nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, hiểu biết tự nhiên, xã hội sâu sắc hơn Vì thế, khi đánh giá về vai trò của những thành tựu khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển của lịch sử - xã hội thời kỳ này, Đặng Huy Trứ cũng cho rằng sự phát triển của khoa học - kỹ thuật đã thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội và đã có những tác động nhất định làm thay đổi những quan niệm, nhận thức của con người về chính

Trang 23

bản thân mình và vị trí, vai trò của mình trong thế giới góp phần đẩy lùi những quan điểm thần quyền, mê tín vào quá khứ Nhưng xét tình hình trong nước và nhận thức của bản thân, Đặng Huy Trứ đã viết:

“Thiên văn, toán học ta đều chưa biết hết nên sao hiểu được cơ trời để sớm lo toan cho dân

Nay, năm nghìn trai gái đã thành ra lửa kiếp, không còn nữa và trăm vạn của công, của tư đều biến thành xác vờ

Chim ô thước còn khôn hơn ta để biết dời tổ, chim viên cư còn thông minh hơn ta để lánh biển

Trải qua việc, mới biết tài học ta nông cạn Văn chương có bao giờ chống nổi gió bão” [79, tr 271] Vì vậy, khi được chứng kiến những thành tựu nhà máy ảnh của phương Tây đem lại, ông đã tỏ ra khâm phục những lợi ích mà khoa học - kỹ thuật có thể đem lại cho con người, từ đó Đặng Huy Trứ mong “Muốn sang Tây vực để vẽ bức tranh toàn cảnh” [79, tr 343], để tìm hiểu, học hỏi và tiếp nhận những tri thức khoa học tiến bộ đó

Về văn học nghệ thuật, giai đoạn này cũng có sự phát triển mới Các

tác phẩm văn học nghệ thuật thời kỳ này đã phản ánh khá rõ nét những khía cạnh của cuộc sống Với những thành tựu về khoa học - kỹ thuật mà các công trình khoa học, các tác phẩm văn học được xuất bản phổ biến, rộng rãi, thì trong lĩnh vực in ấn, xuất bản được nhiều người đón nhận từ các nhật báo đến tạp chí, từ chuyên luận cổ điển đến tiểu thuyết hiện đại, đã tạo điều kiện thuận lợi cho con người nâng cao nhận thức về thế giới tự nhiên, về nhân sinh, về xã hội Bên cạnh đó, với sự phát triển của văn hóa, khoa học - kỹ thuật lại làm sâu sắc thêm trong lĩnh vực tư tưởng, đó là xuất hiện các trào lưu tư tưởng tiến bộ về mặt thế giới quan duy vật Sự xuất hiện, phát triển của

Trang 24

các tư tưởng tiến bộ không những chỉ rõ các mâu thuẫn trong xã hội mà còn chỉ ra những con đường, những phương pháp để con người hướng đến cải tạo

xã hội, đưa đến cuộc sống tốt đẹp cho con người Nó có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ nói riêng và các nhà yêu nước Việt Nam thời kỳ này nói chung

Cùng với sự phát triển rực rỡ về mọi mặt ở các nước phương Tây thì những thành tựu to lớn của phong trào canh tân đất nước trên lập trường tự cường, tự trị ở Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan … đã có sự tác động hết sức mạnh mẽ đến sự hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ

Trước hết, tại Nhật Bản, chúng ta biết rằng đến giữa thế kỷ XIX, chế

độ phong kiến rơi vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc, nguy cơ không thể chống nổi sự đe dọa của phương Tây như: Bồ Đào Nha, Hà Lan, Mỹ, Anh Nhân dân Nhật Bản đã sớm nhận thức được sự lạc hậu của chế độ phong kiến

và sức mạnh ưu việt của nền văn minh phương Tây, định hướng được con đường đúng đắn cần phải đi là mở cửa, học tập khoa học – kỹ thuật phương Tây để thoát khỏi họa mất nước, để phát triển Chính vì vậy, ngày 6 tháng 4 năm 1868, Thiên hoàng Minh Trị đã thực hiện cuộc cải cách lớn như dời kinh

đô từ Kyôtô đến Êđô, tập trung quyền lực và ý chí tập thể về tay Thiên hoàng, mọi lãnh địa được trao trả về cho Thiên hoàng, các lãnh chúa Đaimyô, các võ sĩ Samurai từ đây trở thành thường dân; phát triển giáo dục, khuyến khích học tập trong nước, mời các nhà khoa học nước ngoài về dạy, gửi người đi nước ngoài tiếp thu các tri thức mới để xây dựng đất nước Nguyễn Hiến Lê nhận định: “Trong thời gian rất ngắn: ba chục năm Các sĩ phu đều hăng hái học tập phương Tây, dịch sách Âu, Mỹ, nghiên cứu chính thể kỹ nghệ Chính phủ đón thầy Âu dạy học cho dân: kỹ sư Anh dạy cách cất

Trang 25

đường xe lửa và đóng tàu, người Pháp dạy về Luật và binh bị, giáo sư Đức dạy về y học và hóa học, nhà chuyên môn Hoa Kỳ tổ chức giáo dục, các nghị

sĩ Ý thì dạy âm nhạc và điêu khắc” [64, tr 143] Như vậy, Nhật Bản đã sớm nhận thức được sự lạc hậu của chế độ phong kiến và sức mạnh ưu việt của nền văn minh phương Tây, định hướng được con đường đúng đắn phải đi là

mở cửa, học tập khoa học, kỹ thuật phương Tây; nhờ những chính sách duy tân đó mà Nhật Bản đã vươn lên thành một cường quốc về mọi mặt như kinh

tế, khoa học - kỹ thuật, quân sự Khi nhận định về những thành tựu và bài học của Nhật Bản khi duy tân, Đặng Huy Trứ đã cho rằng: “Nước Nhật Bản ở biển Đông là nước nhỏ không đáng kể cũng vì biết căm phẫn mà trở thành hùng cường" [79, tr 437] Với thành công của công cuộc duy tân tự cường,

tự trị ở Nhật Bản không chỉ ảnh hưởng lớn trên trường quốc tế mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam Sự nghiệp duy tân của Nhật Bản đã thôi thúc các nhà canh tân Việt Nam đi tìm lời giải đáp cho dân tộc về vấn đề độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và phát triển đất nước

Ở thời kỳ này, tại Trung Quốc, đang ở giai đoạn cuối thời đại Mãn

Thanh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội đi vào con đường suy thoái cùng với sự chạy đua xâu xé của tư bản phương Tây, Trung Quốc từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa Tình hình đó, ngày càng làm biến đổi xã hội Trung Quốc trên các mặt: kinh tế,

chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng … cụ thể: Về kinh tế, với chính sách khai

thác thuộc địa của thực dân, Trung Quốc xuất hiện các xí nghiệp, hầm mỏ, bắt đầu hình thành những khu công nghiệp khai thác, chủ yếu phục vụ cho sự

vơ vét của cải của các nước tư bản xâm lược Trong lúc đó, nông nghiệp của

Trang 26

Trung Quốc vẫn là nền nông nghiệp lạc hậu theo phương thức sản xuất phong kiến, làm cản trở đến sự phát triển của công nghiệp Thủ công nghiệp truyền thống khá phát triển, nhưng bị thực dân thu mua giá rẻ, chèn ép thị trường nên nguồn lợi rơi vào tay các nhà tư bản Cho nên, nền kinh tế của Trung Quốc vẫn là nền kinh tế lạc hậu, phát triển què quặt, phục vụ cho nền kinh tế

của các nước tư bản đế quốc Về chính trị, Với hệ tư tưởng lạc hậu cùng với

chính sách bảo thủ của triều đình Mãn Thanh làm cho xã hội Trung Quốc ngày càng đi sâu vào con đường suy tàn Dẫn đến đời sống nhân dân hết sức khổ cực, cả dân tộc Trung Quốc rơi vào thảm cảnh “một cổ hai tròng” Tuy nhiên, nhân tố kinh tế tư bản dân tộc đã được hình thành và không ngừng lớn mạnh vào những năm 70 của thế kỷ XIX đã tạo tiền đề cho sự ra đời của các luồng tư tưởng mới ở Trung Quốc Người đầu tiên là Hồng Tú Toàn với

phong trào Thái bình thiên quốc nhằm lật đổ triều đại phong kiến Mãn

Thanh, thực hiện bình đẳng xã hội, bình đẳng nam nữ, đòi xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất của phong kiến … cuộc cách mạng không thành công Sau đó lịch sử Trung Quốc lại xuất hiện sự nổi dậy mới bằng cuộc chính biến một trăm ngày của Khang Hữu Vi với những nội dung chủ yếu, cơ bản là: phải phát triển khoa học - kỹ thuật, phát triển ngành nghề, trang bị máy móc, kỹ thuật hiện đại, đề cao dân chủ, phế bỏ quan lại bất lực, cải cách văn hóa, giáo dục theo kiểu phương Tây Những nội dung duy tân của Khang Hữu Vi đề ra mặc dù không được thực thi, do bị ràng buộc những điều kiện lịch sử, nhưng phù hợp với yêu cầu đổi mới của dân tộc Phong trào này còn truyền bá các học thuyết chính trị phương Tây, tư tưởng dân chủ tư sản, tự do, bình đẳng và phổ biến khoa học tự nhiên Từ đó, tạo nên một làn sóng chống lại tư tưởng thủ cựu của chế độ phong kiến, thổi một luồng sinh khí mới về tư tưởng vào

Trang 27

đời sống xã hội Và luồng sinh khí mới đó cũng đã bắt đầu thổi vào nước ta, thức tỉnh dân tộc ta cần phải duy tân đất nước

Còn tại Thái Lan, các nhà chính trị và tư tưởng cũng đã đưa ra chủ

trương cải cách ôn hòa trong lĩnh vực chính trị - xã hội, tăng cường buôn bán với phương Tây và đã bảo vệ được nền độc lập của mình

Trước những thành tựu duy tân về tự cường, tự trị của các nước, ngay chính bản thân Đặng Huy Trứ cũng đã nhiều lần tự hỏi mình là chọn con đường nào, chọn mô hình nào, hay chọn nước nào để liên minh, hoặc dựa vào nước nào để gửi gắm niềm tin, nhằm đánh đuổi kẻ thù xâm lược giành lại độc lập cho đất nước, tự do cho nhân dân Ông đã viết:

“Bọn quỷ trắng đâu chịu nghe những lời thiện, mà ta cũng không thể

để mất nhân dân và đất đai được

Trong triều không thiếu những vị quan to, áo xanh, áo tía thực là một

sự giúp giập lớn, ấy là chưa kể văn thân của ba tỉnh thì chưa thể biết được

Trông cậy nước Anh ư, không thể được, vì như vậy chẳng khác gì rước chó sói vào cửa sau Trong núi đã có hổ, biết cử ai ra đánh hổ đây” [79, tr 390]

Tóm lại, vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với sự phát

triển nhanh chóng của chủ nghĩa đế quốc đã làm cho thế giới có nhiều biến động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học – kỹ thuật , việc phân chia thị trường thế giới của các nước đế quốc hầu như đã hoàn tất Đa số các nước phong kiến ở phương Đông, các nước lạc hậu ở châu Phi, châu Mỹ Latinh đã bị xâm chiếm làm thuộc địa Bên cạnh đó, khuynh hướng canh tân đất nước cũng đã xuất hiện ngày càng nhiều trên thế giới và đã có những kết quả nhất định Đặc biệt ở Nhật Bản, Trung Quốc

đã tạo ra sự phát triển kinh tế, xã hội, làm biến đổi bộ mặt đất nước, thay đổi

Trang 28

căn bản chế độ chính trị Những thành tựu của các nước đó không chỉ là niềm động viên, khích lệ, thôi thúc Đặng Huy Trứ đi theo con đường tự cường, tự trị mà theo ông đó còn là liều thuốc hữu hiệu để “chữa căn bệnh” về con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân đã đè nặng trong tâm trí, suy nghĩ của ông bấy lâu nay Ông viết: “Quả thật trước đây, tôi không tính toán được như vầy, chỉ tính việc nhỏ nhặt đã cho là tận tâm với phần việc của mình Nay được Tôn ông thẳng thắn chỉ giáo khiến tôi

đột nhiên bệnh tình giảm nhẹ, hơn cả Tần Thái Hư được xem bức tranh Võng

xuyên đồ của Vương Ma Cật vậy!” [79, tr 438]

1.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam, thế kỷ XIX – đầu thế kỷ

XX với sự hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ

Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một trong những điều kiện hết sức quan trọng cho sự hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ nói riêng, các nhà tư tưởng Việt Nam thời

kỳ này nói chung

Trước khi thực dân Pháp xâm lược (từ 1858 trở về trước), Việt Nam

vẫn là một nước phong kiến lạc hậu, đời sống nhân dân hết sức khó khăn Những mầm mống đầu tiên của chủ nghĩa tư bản trong nước đã được manh nha, trong khi quan hệ kinh tế phong kiến bảo thủ, lạc hậu đã và đang thống trị xã hội Việt Nam suốt bao thế kỷ qua Dẫn đến sự mâu thuẫn đối kháng giữa chúng, làm cho Việt Nam rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh

tế - xã hội Năm 1802, sau khi đánh bại triều Tây Sơn, thống nhất đất nước, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long lập ra nhà Nguyễn Các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802 – 1819), Minh Mạng (1820 -1840); Thiệu Trị (1841 – 1847), đến Tự Đức (1848 – 1883) kế tiếp nhau xây dựng và củng cố

Trang 29

nền thống trị bảo vệ chế độ phong kiến Tuy nhiên, trong hơn nửa thế kỷ tồn tại dưới triều Nguyễn, mọi mặt trong đời sống xã hội Việt Nam hầu như không phát triển, trong khi đó tình hình trên thế giới đã có nhiều biến đổi to lớn, mâu thuẫn xã hội sâu sắc làm bùng lên hàng loạt cuộc khởi nghĩa của nhân dân và cuối cùng trở thành đối tượng xâm lược của các nước phương Tây

Về tình hình kinh tế - xã hội, trước khi thực dân Pháp xâm lược, kinh tế

nước ta căn bản mang tính chất tự nhiên với một nền nông nghiệp tự cấp, tự túc với phương thức sản xuất cổ truyền, trong phạm vi các làng xã kìm hãm mọi mặt phát triển Bên cạnh đó, để đảm bảo mọi khoản thu chi trong ngân sách quốc gia, triều đình nhà Nguyễn thực hiện chế độ thuế khóa nặng nề làm cho đời sống của nông dân trở nên điêu đứng, cùng quẫn; ngoài ra thiên tai, mất mùa, dịch bệnh thường xảy ra liên miên đã ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân Họ mất hết ruộng đất, phải đi tha phương cầu thực: “năm 1806 theo báo cáo của quan lại Bắc Thành, nhân dân tiếp tục phiêu tán đến hơn

370 thôn xã, năm 1820 theo quan lại Bắc Thành 13 huyện trong hạt trấn Hải Dương, nhân dân vì đói kém phiêu tán đến 108 xã thôn, ruộng đất bỏ hoang hơn 12700 mẫu … cho đến những năm 1830 diện tích đất bỏ hoang đã lên đến 1314927 mẫu” [82, tr 448] Đặng Huy Trứ khi phân tích về tình hình đất nước lúc bấy giờ đã nhận định: “Trước đó địa hạt này nhiều năm lụt lội, quân dân cực khổ Giặc dã ở Tây Bắc lại nổi lên Phía tả ngạn sông Nhị hà, phía Tây sông Hát giang, giặc tụ tập đông như ong, như kiến, tràn tới bá đạo Từ Liêm chỉ cách tỉnh thành chừng vài dặm Mấy vạn sinh linh ở ngoại thành nơm nớp lo về nạn binh đao Các giới sĩ, nông, công thương đều không yên tâm làm ăn” [79, tr 361], bên cạnh đó thì “bọn phỉ điên cuồng, cam tâm chôn

Trang 30

vùi hết lương tri Lúc đầu thì ô hợp không còn gì bằng nhưng rồi ngày càng hung ác hơn cú diều Nơi biên khu phần nhiều lại đút tay vào túi mà thế giặc thì nguy cấp như cháy đến lông mày” [79, tr 241]

Trước tình hình đó, nhà Nguyễn đã thi hành nhiều chính sách như khai hoang, mở rộng diện tích canh tác … Hoặc một số biện pháp trong công tác trị thủy và thủy lợi như hình thành các cơ quan, quan lại phụ trách thủy lợi, xây dựng và sữa chữa đê điều, nạo vét khơi thông sông ngòi … thế nhưng do thiếu phối hợp và quy hoạch chung, do tác động của môi trường sinh thái, lụt lội, vỡ đê vẫn liên tiếp xảy ra Từ năm 1802 đến năm 1858 cả nước phải chịu

38 lần mưa bão lụt lội lớn, trong đó có 16 lần vỡ đê Điều đó kéo theo mất mùa, đói kém thường xuyên xảy ra khiến cho đời sống nhân dân lại càng thêm bi đát

Về công thương nghiệp, dưới triều Nguyễn thủ công nghiệp giữ vị trí

vô cùng quan trọng, nhà Nguyễn nắm trong tay những ngành nghề chủ yếu như đóng thuyền, đúc tiền, đúc súng … và các xưởng nhỏ chuyên chịu trách nhiệm chế tạo mọi thứ cần dùng cho bộ máy chính quyền phong kiến; mặc dù thủ công nghiệp có bước phát triển, nhưng phương thức sản xuất hầu như không thay đổi Các làng thủ công vẫn gắn liền với nông nghiệp như xưa, không hình thành các phường với quy chế riêng điều đó kìm hãm sự phát triển của thủ công nghiệp, mặt khác các ngành nghề thủ công trong nhân dân cũng không có điều kiện để phát triển do chính sách của nhà nước cũng thiếu chất khuyến khích với những luật lệ, sự cấm đoán của triều đình đã làm bóp nghẹt tài năng của những người thợ giỏi Bên cạnh đó, Nhà nước còn giữ độc quyền mua một số sản phẩm như sa, lượt, lụa là … đã vậy, người thợ thủ công vừa phải đóng thuế thân lại vừa phải nộp thuế sản phẩm, đặc biệt là các

Trang 31

sản phẩm thủ công quý như “dân hai làng Yên Thái, Hồ Khẩu (Hà Nội) hàng năm mỗi người phải nộp 5000 tờ giấy, người già và người tàn tật phải nộp một nửa; dân Bát Tràng (Hà Nội) mỗi năm phải nộp chung cho nhà nước 600 tấm sa các màu …” [82, tr 152]

Còn đối với thương nghiệp, khác với các triều đại trước, ở thời

Nguyễn triều đình nắm độc quyền ngoại thương: nhà nước giữ độc quyền buôn bán nguyên liệu công nghiệp như đồng, thiếc, chì, kẽm … và một số lâm sản quý giá như quế, gạc hưu, gỗ quý …Hoặc ngay cả những mặt hàng thiết yếu trong đời sống nhân dân như gạo, muối … cũng bị đánh thuế rất nặng khiến cho hàng hóa trong nước không thể tập trung và thống nhất Mặt khác, với chính sách “bế quan tỏa cảng” đã hạn chế tới mức thấp nhất mọi quan hệ với các nước phương Tây, kìm hãm sự phát triển của công thương nghiệp ở Việt Nam, “bịt mắt toàn thể nhân dân” trước những đổi thay đang diễn ra trên toàn thế giới

Về cơ cấu xã hội, ở giai đoạn này xã hội Việt Nam chia làm hai giai

cấp lớn đó là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị; trong đó giai cấp thống trị bao gồm vua quan, thơ lại trong hệ thống chính quyền và giai cấp địa chủ Còn giai cấp bị trị bao gồm toàn bộ nông dân, thợ thủ công, thương dân, một

số dân nghèo thành thị, lớp người bị lưu đày, nô tỳ cùng gia quyến sống ở các đồn điền Giai cấp thống trị bằng nhiều cách thức bóc lột đã làm cho cuộc sống của nhân dân trở nên cùng cực, đói kém; cũng chính sự áp bức đó, nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân đã nổ ra “theo tính toán của các nhà nghiên cứu, dưới triều Nguyễn có đến 500 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ các loại; riêng thời Gia Long có khoảng 90 cuộc, thời Minh Mạng khoảng 250 cuộc; thời Thiệu Trị 50 cuộc" [82, tr 457] Còn thời Tự Đức tình hình chính trị, xã hội bất ổn,

Trang 32

bọn côn đồ cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời sống của nhân dân càng trở nên điêu đứng, khi chứng kiến cảnh này Đặng Huy Trứ đã đau đớn thốt lên rằng: “bọn côn đồ nhằm lúc sơ hở quấy nhiễu xóm thôn, một ngọn lửa thiêu trụi hơn bốn mươi nóc nhà Giọt nước sông xa khó làm sống lại con cá nằm trong vết xa cạn, thành cháy làm vạ lây đến cá trong ao

Nhặt nhạnh cho vào túi, vào đẫy sau khi đám tro đã tàn, thôn ấp điêu linh như vừa bị hạn lâu ngày” [79, tr 314] Trong điều kiện xã hội đó, ông đã khẳng định việc “dẹp trộm cướp, yên dân lành là việc trọng yếu nhất” [79, tr 314], nhưng vấn đề xã hội đặt ra “lúc này, ai là người làm được việc ấy” [79,

tr 314], hay đường lối nào, cách thức nào để giải quyết vấn đề Việt Nam lúc này Những câu hỏi mà lịch sử xã hội đặt ra khiến ông trăn trở, suy tư và cố gắng đưa ra một phương án trả lời nhằm giúp đất nước thoát khỏi sự xâm lăng của kẻ thù, đưa đến một cuộc sống yên bình cho người dân

Như vậy, có thể thấy rằng giai đoạn trước khi thực dân Pháp đặt ách đô

hộ lên đất nước ta, Đặng Huy Trứ trên quan điểm Nho giáo, với lập trường chủ chiến, ông đã cổ vũ cho các phong trào yêu nước chiến đấu chống lại quân xâm lược, nhưng khi chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước đó, ông đã nhận thấy rằng để giành thắng lợi trong cuộc chiến này thì ý chí, lòng quyết tâm không thôi là chưa đủ, mà cần phải xây dựng sức mạnh nội lực cho đất nước bằng phương pháp tự cường, tự trị mới có thể chống lại

kẻ thù xâm lược Ông viết:

“Năm xưa gác bút nghiên, chí ở việc trừ giặc, nay lại theo ta để tính việc lỗ lãi

Cái khí mạnh của đất nước là ở sự giàu có, nền nếp đạo nghĩa của gia đình vốn sẵn có ở sách Lễ

Trang 33

Muốn thành đạt việc lớn phải đợi thử từ việc nhỏ, con người muốn đắc dụng trong tương lai trước tiên phải tích lũy đã

Bát cơm thơm, chén rượu ngọt từ đâu mà có?

Hãy gắng đem tấm lòng son nhìn về cửa khuyết” [79, tr 379]

Về văn hóa, giáo dục, ngay từ thế kỷ XVIII, đã xuất hiện nhiều tác

phẩm của các nhà Nho nghiên cứu, bình giảng các kinh sách chủ yếu của

Nho giáo và Phật giáo tiêu biểu như: Luận ngữ Ngu án của Phạm Nguyễn

Du, Tính lý đại toàn tiết yếu của Bùi Huy Bích, Xuân Thu lược chuyện, Kim

cương kinh chú giải của Lê Quý Đôn, Xuân Thu quản kiến của Ngô Thì

Nhậm … Đáng chú ý có những tác phẩm đề cập đến những đề tài cũng như những vấn đề nghiên cứu độc lập với các tác phẩm kinh điển như: Lê Quý

Đôn với tác phẩm Vân đài loại ngữ, Quần thư khảo biện; Trần Văn Trứ có

Dịch nghi thuyết, đặc biệt Ngô Thì Nhậm với tác phẩm Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh … Qua những tác phẩm trên, tác giả đã bộc lộ khuynh hướng

muốn phá vỡ công thức chỉ thuật lại sách xưa, bước đầu đi vào những đề tài

và vấn đề nghiên cứu mới Tạo đà cho các nhà tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX

có bước tiến mới vượt ra khỏi hệ tư tưởng phong kiến

Dưới triều Nguyễn, cũng như dưới các triều đại trước Nho giáo và các tác phẩm của Trung Quốc như Tứ Thư, Ngũ Kinh … vẫn là nội dung cơ bản

và chủ yếu của học hành, thi cử Phương pháp dạy và học thì lấy thuộc lòng và nhớ sách làm trọng, lối học nặng về từ chương, khoa cử, chú trọng nhiều đến các sự kiện lịch sử Trung Quốc, coi khinh và không chú trọng đến khoa học –

kỹ thuật Bản thân các vua đầu triều Nguyễn đã ít nhiều nhận thấy những khuyết điểm của lối học và lối thi đương thời, có ý định cải cách giáo dục,

Trang 34

nhưng vì đặc quyền, đặc lợi mà triều Nguyễn đã không đưa ra được một biện pháp nào để cải tiến học thuật, nâng cao trình độ nhận thức của nhân dân

Từ khi thực dân Pháp xâm lược (từ 1858 về sau), Năm 1858 Pháp nổ

súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng, mở đầu cho công cuộc xâm

lược Việt Nam Khi vào việt Nam với những chính sách khai thác, bóc lột về

kinh tế, thống trị về chính trị, nô dịch về văn hóa … đã làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, từ một nước Việt Nam phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến, cụ thể:

Về kinh tế, Với hai đợt khai thác thuộc địa ở Đông Dương lần thứ nhất

(1897 - 1914); lần thứ hai (1919 – 1929), thực dân Pháp đã thực hiện nhiều chính sách kinh tế nhằm vơ vét, bóc lột triệt để đối với nhân dân ta, những

chính sách đó tập trung vào ba nội dung chính Một là, về vấn đề bán hàng

hóa chúng dùng chính sách độc chiếm thị trường, mua rẻ nông phẩm (chủ yếu là gạo, tơ tằm) và bán đắt các sản phẩm công nghiệp cho nhân dân, độc

quyền ngoại thương; hai là, độc quyền các ngành kinh doanh quan trọng từ

khai thác mỏ, giao thông đến làm muối, nấu rượu, độc quyền ngân hàng và

đầu tư vào các ngành có lợi cho việc vơ vét thuộc địa để xuất khẩu; ba là, lợi

dụng quyền thống trị về chính trị duy trì bộ máy quan liêu, cường hào và những luật lệ, chính sách sưu thuế phong kiến để ra sức chiếm đoạt ruộng đất tạo ra các vùng sản xuất hàng xuất khẩu (cao su, cà phê, gạo, …) tăng cường bóc lột tô thuế sưu dịch, làm phá sản nông dân và thợ thủ công tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt phục vụ cho các công trình xây dựng khai thác của chúng,

trong đó: về nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa, cà phê, cao su … giữ nguyên

tình trạng độc canh cùng với trình độ sản xuất lạc hậu của phương thức sản xuất phong kiến cổ truyền, năng suất thấp Thực dân Pháp không quan tâm

Trang 35

đến ứng dụng, phát triển khoa học trong nông nghiệp Nông nghiệp chưa tạo

ra nền tảng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân Còn về công

nghiệp, các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp nhẹ và chế biến

quặng được hình thành và ngày càng phát triển: công ty than ở Hồng Gai (Quảng Ninh), Đông Triều, Phấn Mễ (Thái Nguyên), nhà máy xay xát gạo và nấu rượu ở Hải Dương, Nam Định; nhà máy tơ sợi và dệt ở Hà Nội, Nam Định, Chợ Lớn Một số trung tâm công nghiệp như Hải Phòng, Hồng Gai, Hà Nội, Vinh, Đà Nẵng cũng đã dần dần hình thành Bộ mặt một số đô thị đã khởi sắc, nhưng nền kinh tế nước ta vẫn không được công nghiệp hóa mà bị thực dân Pháp biến thành thị trường tiêu thụ, là nơi cung cấp nguyên liệu cho

thương nghiệp Pháp Đối với tiểu thủ công nghiệp, mặc dù có phát triển

nhưng vẫn là ngành kinh tế phụ, chủ yếu hỗ trợ cho kinh tế nông nghiệp, công nghiệp Nó vẫn nằm trong khuôn khổ phương thức sản xuất phong kiến

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với mục đích phục vụ các cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đẩy mạnh phát triển giao thông vận tải Hệ thống đường sắt, đường bộ, cầu cống được xây dựng và hoàn thiện Hệ thống đường thủy, cảng biển được mở mang và xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu kinh tế, văn hóa, tư tưởng giữa các vùng trong cả nước,

Về thương nghiệp, với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân

Pháp đã phá vỡ chính sách “bế quan tỏa cảng” [7, tr 218] của triều đình nhà Nguyễn Thương nghiệp đã có điều kiện phát triển hơn trước, nhưng thực dân pháp làm cho Việt Nam phụ thuộc vào Pháp thông qua việc tạo ra hàng rào thuế quan nghiêm ngặt

Kết quả của chính sách đó là nền kinh tế nước ta có sự phát triển ở mức độ nào đó theo hướng tư bản chủ nghĩa nhưng cơ bản là nền kinh tế

Trang 36

thuộc địa, phát triển mất cân đối, hoàn toàn phụ thuộc vào kinh tế tư bản Pháp: nền kinh tế tự nhiên cổ xưa bị phân giải, sự lưu thông hàng hóa phát triển, tỷ trọng kinh tế tư bản chủ nghĩa tăng nhanh, nước ta bị kéo vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản, nhưng không được công nghiệp hóa mà lại bị biến thành một thị trường tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu, hàng xuất khẩu cho thương nghiệp Pháp Lợi nhuận vào túi tư bản Pháp còn nhân dân ta thì bần cùng hóa, phá sản trở thành nguồn nhân công đông đảo và rẻ mạt cho các hãng buôn, các chủ thầu, chủ đồn điền của Pháp

Khi phân tích về tình hình kinh tế Việt Nam lúc này, Đặng Huy Trứ đã viết: Việt Nam ta là “một giải đất chạy dọc theo bờ biển, mỗi năm thu nhập chỉ đủ cung cấp cho việc chi tiêu Từ năm Mậu Ngọ (1858) đến nay, lũ lụt, hạn hán, bão tố, hoàng trùng, binh đao, tật dịch, chi phí ngày càng nhiều, tài chính ngày càng thiếu hụt Ba tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường ở Nam

Kỳ là những nơi tài nguyên nhiều, đất đai rộng thì đã bị bọn Phú – lang – sa (Pháp) chiếm đóng, lại còn đòi bồi thường hàng năm như 28 vạn 8 nghìn lạng bạc Hòa ước đã công bố cho mọi người nghe rồi, tưởng Tôn ông đã biết rõ Biên cương bị chiếm chưa khôi phục được, đó là điều tôi cho là khổ Cơ quan

Tư nông cho biết công quỹ thiếu hụt” [79, tr 435]

Về chính trị - xã hội, bên cạnh điều kiện về kinh tế thì điều kiện về

chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng góp phần quan trọng vào việc hình thành tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ

Chúng ta biết rằng, để phục vụ kịp thời và đắc lực cho công cuộc “bảo

hộ” của mình Thực dân Pháp đã thực hiện chủ trương “chia để trị”, thực dân

Pháp đã chia Việt Nam làm ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ với ba chế

độ chính trị khác nhau Ở Bắc kỳ, Trung kỳ, thực dân Pháp áp dụng chính

Trang 37

sách bảo hộ, vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến bù nhìn Còn Nam kỳ cùng với Lào và Campuchia hợp thành Liên bang Đông Dương, chúng thực hiện chính sách thuộc địa, hoàn toàn nằm dưới sự quản lý của thực dân Pháp với mục đích xóa bỏ tên Việt Nam, Lào và Campuchia trên bản đồ thế giới Điều này đã tác động rất lớn đến đời sống tinh thần người Việt, đặc biệt là các nhà tư tưởng

Bên cạnh đó chúng còn thiết lập một bộ máy cai trị và tay sai để đàn áp

và bóc lột nhân dân ta Chúng triệt để thực hiện chính sách “dùng người Việt trị người Việt”, “dùng binh lính thuộc địa, để bảo vệ thuộc địa”, hoặc để lấn chiếm thuộc địa Vì vậy, thực dân Pháp đã tăng cường lực lượng vũ trang bằng các chính sách bắt lính, thiết lập hệ thống nhà tù dày đặc trên khắp Việt Nam và bằng nhiều thứ thuế để bóc lột nhân dân ta Trước sự áp bức, bóc lột

đó, nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân đã nổ ra, Đặng Huy Trứ đã viết:

“vì nước quên mình, đương đầu với giặc như Tán lý Nguyễn, như Bố chánh Khánh Hòa Nguyễn Đăng Hành Là thế cô, sức yếu vẫn chửi giặc mà chết như Hàn lâm thị độc Phạm Hinh Là lương tận, viện hết, gieo mình xuống sông mà chết như tri phủ Phú Bình Doãn Chính Là xông pha tên đạn, vạn tử nhất sinh như Binh bộ Biện lý Ông Ích Khiêm Là ra vào nơi man địa, không

sợ lam sơn chướng khí như Tiễu phủ sứ Nguyễn Tấn Là bốn mặt bị vây, cố thủ trong cô thành như các quan ở Hải Dương Là khi giặc Tây hạ thành thì

đi khắp đông tây lo cứu nước như các chí sĩ Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường” [79, tr 435 - 436]

Cùng với những điều kiện về kinh tế, chính trị - xã hội thì văn hóa,

giáo dục cũng là một trong những điều kiện quan trọng hình thành nên tư

tưởng canh tân ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong đó có

Trang 38

Đặng Huy Trứ Thực dân Pháp dùng chính sách ngu dân về giáo dục, đầu độc

về văn hóa, chúng một mặt duy trì những phong tục tập quán lỗi thời, lạc hậu,

mê tín dị đoan, mặt khác chúng tuyên truyền, phổ biến lối ăn chơi trụy lạc Chúng cho biên soạn khảo cứu, dịch thuật các loại văn hóa phẩm của Pháp không phải nhằm mục đích mở rộng kiến thức, đẩy mạnh giao lưu văn hóa cho người dân Việt Nam, mà mục đích của chúng là nhằm gây tâm lý sợ Pháp, phục tùng Pháp trong quần chúng nhân dân ta đặc biệt là thế hệ trẻ Mặc dù, thực dân Pháp đặt ách nô dịch về văn hóa, giáo dục nhưng một bộ phận có ý thức tự tôn dân tộc trong đó tiêu biểu như Đặng Huy Trứ không chỉ

có thêm những hiểu biết mới về thế giới xung quanh, về chính trị, xã hội, văn hóa … mà còn chủ động tiếp thu tư tưởng tiến bộ của phương Tây nói riêng

và nhân loại nói chung để truyền bá trong đời sống tinh thần

Về tư tưởng, thực dân Pháp và chính quyền tay sai tiếp tục duy trì và

củng cố ý thức hệ phong kiến đã lỗi thời, để củng cố sự cai trị của chúng Ngay khi Gia Long lên ngôi, ông đã quyết định lấy tư tưởng Nho giáo làm nền tảng tư tưởng của triều đại mới, lấy mô hình Trung Quốc làm khuôn mẫu

cho xây dựng xã hội Việt Nam Đến Minh Mạng đã ban bố rộng rãi Huấn

điều gồm 10 mục nhằm chấn hưng Nho giáo; Còn Tự Đức cũng cho ấn hành

rộng rãi Thập điều diễn nghĩa nhằm duy trì, củng cố nho phong Triều đình

nhà Nguyễn và các nhà Nho lúc bấy giờ quan niệm ý của trời là thiên mệnh, trời là lẽ định trước, sức mạnh không thể thay đổi được Mệnh trời như trái nùi đè nặng lên con người, con người cố vùng vẫy nhưng không thể thoát khỏi thiên mệnh Mệnh trời như một vũ khí chính trị, Vua lĩnh mệnh trời trị dân, mặt khác mệnh trời cũng có tác dụng an thần đối với tầng lớp nhân dân lao khổ, tất cả đều do mệnh: sướng khổ buồn vui được mất hưng vong …

Trang 39

Tuy nhiên, thi thoảng cũng có tư tưởng cho rằng con người cũng có thể chống lại “mệnh trời” nhưng vô cùng yếu ớt Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, ở nước ta vào thế kỷ XIX từ trong triều đình qua tầng lớp nho sĩ ra đến thứ dân,

từ trong sách vở cho đến phong tục tập quán, đâu đâu cũng thấy dấu vết ảnh hưởng của thuyết “âm dương ngũ hành” [39, tr 161] Triều Nguyễn cũng lấy ngũ luân mà trung tâm là tam cương, ngũ thường làm nền tảng đạo đức xã hội, trung hiếu là yếu tố quan trọng nhất trong ngũ luân Như vậy, có thể thấy thế giới quan và nhân sinh quan thời Nguyễn, đặc biệt là tầng lớp bên trên như vua, quan, Nho sĩ đã ứng dụng cải biên, cụ thể hóa Nho giáo cho phù hợp với yêu cầu lịch sử - xã hội Việt Nam trong thế kỷ XIX

Tuy nhiên, việc Nho giáo trở lại vị trí độc tôn ở thời kỳ này lại bộc lộ

sự lạc hậu về tư tưởng của triều Nguyễn và khi lấy Nho giáo làm cơ sở lý luận cho triều đại các vua Nguyễn nói chung chỉ đề cao những quan điểm phù hợp với mục đích chính trị của mình “hiện Nho học triều Nguyễn là một tập hợp những tư tưởng duy tâm trong lịch sử Nho học” [94, tr 154], tư tưởng mệnh trời được vua quan nhà Nguyễn đặc biệt đề cao bởi nó giúp biện minh cho tính chính thống của triều đại và củng cố ngôi báu Tất cả điều đó cho thấy Việt Nam thời kỳ này quả thiếu kiến thức về khoa học tự nhiên Không những vậy, các chuẩn mực đạo đức tam cương, ngũ thường … của Nho giáo làm giường cột cho đạo đức chính thống, cho chế độ cai trị triều Nguyễn trở nên rất hà khắc và thiếu tính nhân bản, nhưng vẫn được đề cao để nhằm suy tôn uy quyền

của người gia trưởng, của vua Trong cuốn Về vấn đề xây dựng con người mới

của GS.Phạm Như Cương đã giải thích rõ thêm: “nửa cuối thế kỷ XIX, khi bọn thực dân pháp đã dùng vũ lực để xâm lược nước ta, thì cái đạo làm người phong kiến vẫn được triều Nguyễn duy trì và bảo vệ một cách ngoan cố Nhà

Trang 40

vua và quần thần vẫn lấy cái đạo làm người ấy để giáo dục bàn dân thiên hạ và làm thước đo cho phẩm chất của mọi người Nhưng cái đạo làm người ấy đã hết sức lạc hậu và phản động, cho nên nó chỉ có thể đẻ ra được sự hèn nhát và

mê muội của nhà vua và những kẻ quyền thần của triều Nguyễn trong tình huống phải đối phó với nhiều sự tiến công của kẻ thù” [25, tr 277]

Kết cấu và tính chất xã hội, cùng với những chính sách thống trị về

chính trị, nô dịch về văn hóa, giáo dục làm cho xã hội Việt Nam có những biến

đổi sâu sắc về giai cấp cũng như tính chất Bên cạnh những giai cấp cũ như

nông dân, địa chủ phong kiến thì với sự xâm lược, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp làm xuất hiện thêm những giai cấp mới như công nhân, giai cấp tư sản Việt Nam, tiểu tư sản thành thị Trong đó, giai cấp địa chủ lớn được thực dân pháp nâng đỡ nên thế lực kinh tế và chính trị của giai cấp này ngày càng tăng, các giai cấp như nông dân, thợ thủ công bị bần cùng hóa và phá sản ngày càng nhiều Còn giai cấp tư sản dân tộc mới ra đời còn non yếu, lại bị thực dân Pháp chèn ép nặng nề nên phát triển rất chậm chạp Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa nói chung và sự lớn lên của tầng lớp tư sản dân tộc nói riêng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp thu các trào lưu tư tưởng bên ngoài đang thổi vào nước ta Sự phân tầng như vậy dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt diễn ra trong xã hội đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và sau đó là nhân dân với địa chủ, quan lại phong kiến Giáo sư Trần Văn Giàu đã khẳng định: “biết rằng lúc ấy xã hội Việt Nam chưa cấp bách đòi hỏi phải phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng công cuộc chống ngoại xâm lại cấp bách đòi hỏi phải duy tân, tự cường, bằng không, bằng trễ thì mất nước” [45, tr 53] Như vậy, chỉ khi Pháp tiến hành xâm lược Việt

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[15]. Trường Chinh (1957), Cách mạng Tháng Mười và cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, Nxb.Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tháng Mười và cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb.Sự Thật
Năm: 1957
[16]. Doãn Chính (chủ biên, 1994), Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
[17]. Doãn Chính, Nguyễn Thế Nghĩa (chủ biên, 2002), Lịch sử triết học - Tập 1 Triết học cổ đại, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học - Tập 1 Triết học cổ đại
Nhà XB: Nxb.Khoa học xã hội
[18]. Doãn Chính (chủ biên, 2004), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
[19]. Doãn Chính (2009), Từ điển triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
[20]. Doãn Chính, Trương Văn Chung (đồng chủ biên, 2005)), Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
[21]. Doãn Chính (chủ biên, 2012), Lịch sử triết học phương Đông, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Đông
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật
[22]. Doãn Chính (chủ biên, 2013), Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật
[23]. Ngô Vinh Chính, Vương Miện Qúy (chủ biên, 1994)), Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
[24]. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên, 2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
[26]. Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường (1998), Một số vấn đề về pháp chế thời Nguyễn. Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về pháp chế thời Nguyễn
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1998
[27]. Will Durant (bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, 1971), Lịch sử văn minh Trung Quốc, Nxb.Vạn Hạnh, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh Trung Quốc
Nhà XB: Nxb.Vạn Hạnh
[28]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (gồm 2 tập), Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (gồm 2 tập)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1982
[29]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1986
[30]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
[31]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[32]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[33]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khoá VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
[34]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[35]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w