1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh bình phước lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 1997 2012

153 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng bộ tỉnh bình phước lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 1997 – 2012
Tác giả Lê Thị Thủy
Người hướng dẫn TS. Trần Hùng
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trong tỉnh cần có chính sách cụ thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đồng bào dân tộc thiểu số --- 98 3.2.3.. Vì vậy, lãnh đạo thực hiện tốt chính s

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

_

LÊ THỊ THỦY

ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH PHƯỚC LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

GIAI ĐOẠN 1997 – 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

_

LÊ THỊ THỦY

ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH PHƯỚC LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu nghiêm túc của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Hùng

Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

Học viên

Lê Thị Thủy

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các thầy cô giáo khoa Lịch sử, những nhà giáo đã trang bị cho tôi rất nhiều kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo – Tiến sĩ Trần Hùng, người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các cơ quan ban ngành, đoàn thể: Ủy ban nhân dân tỉnh; Ban Dân tộc; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Y tế; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em; Thư viện tỉnh; Bộ Chỉ huy quân sự trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin, số liệu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn

Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, quý thầy cô khoa Cơ bản – Trường Đại học Tài chính – Marketing đã luôn động viên, giúp đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Học viên

Lê Thị Thủy

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐBKK : Đặc biệt khó khăn

ĐBQH : Đại biểu quốc hội

DTTS : Dân tộc thiểu số

GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

HĐND : Hội đồng nhân dân

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

PT&TH : Phát thanh và truyền hình

TTCX : Trung tâm cụm xã

UBND : Ủy ban nhân dân

VHTT&DL : Văn hóa thể thao và du lịch

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài - 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề - 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài - 4

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - 6

6 Nguồn tư liệu nghiên cứu - 6

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - 6

8 Kết cấu của đề tài - 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC TỈNH BÌNH PHƯỚC - 8

1.1 Cơ sở lý luận về chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam - 8

1.1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc - 8

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và chính sách dân tộc - 14

1.1.3 Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta - 20

1.2 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm dân tộc tỉnh Bình Phước - 27

1.2.1 Điều kiện tự nhiên - 27

1.2.1.1 Vị trí địa lý - 27

1.2.1.2 Khí hậu - 27

1.2.1.3 Tài nguyên đất - 28

1.2.1.4 Tài nguyên rừng - 28

1.2.1.5 Tài nguyên khoáng sản - 29

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội - 29

1.2.2.1 Hành chính - 29

Trang 8

1.2.2.2 Dân số - 301.2.2.3 Tiềm năng du lịch - 311.2.3 Đặc điểm dân tộc tỉnh Bình Phước - 33

CHƯƠNG 2 ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH PHƯỚC LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC (1997 – 2012) - 42

2.1 Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa - hiện đại hóa - 42

2.1.1 Những quan điểm cơ bản - 42 2.1.2 Những nhiệm vụ cần thực hiện - 45

2.2 Đảng bộ tỉnh Bình Phước cụ thể hóa và lãnh đạo thực hiện chính sách

dân tộc (1997 – 2012) - 49

2.2.1 Chủ trương và giải pháp - 49 2.2.2 Qúa trình thực hiện - 52

2.3 Những thành tựu đạt được trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách

dân tộc từ 1997 đến 2012 của Đảng bộ tỉnh Bình Phước - 66

2.3.1 Chính sách phát triển kinh tế ở vùng dân tộc thiểu số - 66 2.3.2 Thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất - 69 2.3.3 Thực hiện chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng đồng bào dân

tộc thiểu số - 71 2.3.4 Thực hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực định canh định cư - 72 2.3.5 Thực hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục và

chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số - 74 2.3.6 Chính sách phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số - 80 2.3.7 Thực hiện chính sách nhằm giữ vững ổn định chính trị và bảo

đảm an ninh quốc phòng - 84

CHƯƠNG 3 NHỮNG HẠN CHẾ, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT

SỐ KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN

TỘC TỈNH BÌNH PHƯỚC - 89

Trang 9

3.1 Những hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ

tỉnh Bình Phước - 89

3.1.1 Về kinh tế - 89

3.1.2 Về văn hóa, xã hội - 92

3.1.3 Về tình hình an ninh chính trị - 93

3.2 Những kinh nghiệm trong việc lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Bình Phước - 95

3.2.1 Cần nhận thức chính sách dân tộc là một bộ phận không tách rời chính sách kinh tế - xã hội của Đảng - 96

3.2.2 Thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trong tỉnh cần có chính sách cụ thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đồng bào dân tộc thiểu số - 98

3.2.3 Phải hiểu rõ các điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán, lối sống, sinh hoạt, văn hóa của từng dân tộc thiểu số để có nội dung và phương pháp thích hợp - 101

3.2.4 Phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải kết hợp với xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh - 104

3.2.5 Phát triển kinh tế - xã hội phải đi liền với xóa đói giảm nghèo và nâng cao trình độ dân trí - 104

3.2.6 Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi việc thực hiện chính sách dân tộc tỉnh Bình Phước - 105

3.3 Một số kiến nghị trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở Bình Phước trong thời gian tới - 108

3.3.1 Cụ thể hóa chính sách dân tộc trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế phù hợp với nguồn lực của địa phương và thị trường tiêu thụ - 108

3.3.2 Tập trung xây dựng có trọng điểm cơ sở hạ tầng vùng sâu, vùng xa - 112

3.3.3 Thực hiện tốt chính sách giáo dục – đào tạo, văn hóa, y tế, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào các dân tộc - 114

Trang 10

3.3.4 Phát huy nội lực của từng vùng, từng dân tộc, khắc phục tâm lý

tự ti mặc cảm - 115

3.3.5 Phát huy vai trò của các cơ quan làm công tác dân tộc - 117

3.3.6 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện chính sách dân tộc - 118

KẾT LUẬN - 121

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 124

PHỤ LỤC - 132

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, theo thống kê hiện nay nước ta có 54 dân tộc,

đa số là dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số, còn 53 dân tộc thiểu số chiếm 13,8% dân số

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn khẳng định tầm quan trọng của vấn đề đại đoàn kết dân tộc Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã xem xét và giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin Hồ Chí Minh đã nghiên cứu nghiêm túc

và vận dụng sáng tạo tư tưởng lý luận của C Mác và V I Lênin để đề ra những quan điểm đúng đắn giải quyết những vấn đề phát triển của các dân tộc thiểu số nước ta theo phương hướng là đoàn kết các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam trên nguyên tắc bình đẳng, thương yêu và giúp đỡ nhau để đấu tranh cho độc lập, tự do hạnh phúc chung Tư tưởng bình đẳng, đoàn kết các dân tộc được nêu từ cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm

1930, đã được các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam cụ thể hóa,

bổ sung và phát triển vì nguyện vọng tha thiết của tất cả nhân dân các dân tộc nước ta là thực hiện độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và ngày càng hoàn thiện chính sách dân tộc trên cơ sở ba nguyên tắc cơ bản: Đoàn kết - Bình đẳng - Tương trợ, tạo mọi điều kiện để các dân tộc từng bước trưởng thành trong sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm, đầu tư nghiên cứu, nhằm đáp ứng đòi hỏi tất yếu khách quan của sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay, vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức tạp vừa có những tác động đến quan hệ quốc tế lại vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia Dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, nhân quyền luôn là những vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng, coi đó như những đột phá khẩu

để chống phá sự nghiệp cách mạng của nước ta; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân mà

Trang 12

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dày công xây dựng, với nhiều thủ đoạn khác nhau nhằm gây mất ổn định cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng

Bình Phước là một tỉnh miền Đông Nam bộ, có vị trí và vai trò rất quan trọng đóng góp vào việc giữ vững an ninh - quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đây là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, có điều kiện thuận lợi về tự nhiên trong phát triển cây công nghiệp Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Bình Phước số lượng không nhiều nhưng lại sống trên một địa bàn chiến lược quan trọng

có đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia Vì vậy, lãnh đạo thực hiện tốt chính sách dân tộc là một vấn đề Đảng bộ tỉnh Bình Phước rất quan tâm, để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của khu vực cũng như của cả nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Vấn đề dân tộc

và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”

Trong những năm qua, việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Bình Phước đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào, nhưng bên cạnh đó còn rất nhiều hạn

chế cần phải khắc phục Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Đảng bộ tỉnh Bình Phước lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 1997 - 2012" là cần thiết và có ý nghĩa thiết

thực, được tác giả nghiên cứu dưới góc độ của chuyên ngành khoa học Lịch sử Đảng, nhằm làm sáng tỏ những thành tựu, hạn chế, rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở Bình Phước trong những năm vừa qua để tiếp tục thực hiện tốt hơn trong thời gian tới

Trang 13

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề dân tộc thiểu số cũng như văn hóa của các dân tộc thiểu số, chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số đang thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu hoạch định chính sách, của các nhà khoa học từ nhiều góc độ tiếp cận khác

nhau Tiêu biểu là các công trình sau:

- Đề tài khoa học cấp bộ: Lịch sử đấu tranh cách mạng của đồng bào các dân tộc

ít người ở nước ta của Ủy ban Dân tộc và Miền núi do TS Trình Mưu làm chủ nhiệm

- Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi: Vấn đề dân tộc và định hướng

xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2004

- Ủy ban Dân tộc - Viện Dân tộc: Một số vấn đề đổi mới nội dung quản lý nhà

nước và phương thức công tác dân tộc, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2004

- Nguyễn Văn Diệu, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp: Văn hóa các dân tộc thiểu số

ở Việt Nam, Nxb Giaó dục, Hà Nội, 1997

- Phạm Văn Vang: Kinh tế miền núi và các dân tộc – thực trạng, vấn đề, giải

pháp, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1996

- Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh Quốc Tuấn: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân

tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999

- Hà Minh: Chăm lo đời sống ở vùng dân tộc Bình Phước, Tạp chí dân tộc, Tháng

2/2011

- Huỳnh Thanh: Thực trạng và một số giải pháp bảo tồn phát huy các giá trị bản

sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Phước, Ban dân tộc tình

Bình Phước, Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 18, tháng 5/2011

- Bùi Như Diệu: Các dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Phước – Thành quả và thách

thức, Ban dân tộc tình Bình Phước, Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 19, tháng

8/2011

Trang 14

- Điểu Lành: Đời sống đồng bào dân tộc ở Bình Phước sau 15 năm tái lập và phát

triển, Ban dân tộc tình Bình Phước, Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 21, tháng

2/2012

Ngoài ra còn rất nhiều bài trong các báo và các tạp chí khoa học đề cập đến chính sách dân tộc, văn hóa các dân tộc thiểu số như: Các Nghị quyết của Tỉnh Ủy và Hội đồng nhân dân; các Báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân tỉnh, của các ngành, các cơ quan Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về lĩnh vực khoa học lịch sử Đảng và quá trình Đảng bộ tỉnh Bình Phước lãnh đạo, thực hiện chính sách dân tộc

Các công trình nghiên cứu và một số tài liệu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến

đề tài luận văn được tôi tiếp thu, kế thừa những kết quả đó trong quá trình nghiên cứu đề

tài luận văn: Đảng bộ tỉnh Bình Phước lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 1997 – 2012

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích

- Trên cơ sở quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và chính sách dân tộc, đề tài phân tích một cách có hệ thống sự lãnh đạo và quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Bình Phước từ năm 1997 đến năm 2012

- Làm rõ sự tác động của chính sách dân tộc đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Bình Phước Thông qua thực tế phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh sẽ tạo nên niềm tin vào đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với các dân tộc

- Đề tài còn đưa ra một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong quá trình lãnh đạo chính sách dân tộc đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bình Phước

Trang 15

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được những mục đích trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:

- Trình bày những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và chính sách dân tộc

- Phân tích và làm rõ quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Bình Phước giai đoạn 1997 – 2012

- Nêu rõ những thành tựu, thiếu sót, từ đó rút ra những kinh nghiệm chủ yếu từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Phước về thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn 1997 – 2012

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

- Đề tài được hoàn thành trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và quyền dân tộc tự quyết; tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc

- Quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách dân tộc và đại đoàn kết dân tộc

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, trao đổi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp thu thập và xử lý số liệu thống kê… Trong đó đi sâu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu lịch sử như: Phương pháp nghiên cứu tư liệu, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp liên ngành trong nghiên cứu lịch sử, phương pháp tổng kết thực tiễn

Trang 16

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Dưới góc độ lịch sử, đề tài chỉ đi sâu tìm hiểu sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Bình Phước và tập trung vào thời kỳ từ năm 1997 đến năm

2012

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian là từ năm 1997 đến năm 2012

- Về không gian là địa bàn tỉnh Bình Phước

6 Nguồn tƣ liệu nghiên cứu

- Nguồn tư liệu được sử dụng chủ yếu trong đề tài là các Văn kiện của Đảng, đặc

biệt là các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, những Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư của Trung ương Đảng và Chính phủ, các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh cũng như các tài liệu của Sở, Ban, Ngành nói về phát triển kinh tế - xã

hội vùng dân tộc thiểu số

- Những bài nói, bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh và của các đồng chí lãnh đạo

Đảng, Nhà nước ta về chính sách dân tộc và đoàn kết dân tộc

- Kế thừa có chọn lọc các bài viết, đề tài của các tác giả khác xung quanh chính

sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

- Những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu thực tế địa phương các

huyện, thị có dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh Bình Phước

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Khẳng định tính đúng đắn những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề dân tộc Tìm ra những ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng thông qua thực tiễn

ở Bình Phước

Trang 17

- Đề tài cung cấp thêm những tư liệu về thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở vùng dân tộc thiểu số, giúp các cơ quan của tỉnh nghiên cứu chỉ đạo việc hoạch định các

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận, quan điểm chỉ đạo chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam và đặc điểm dân tộc tỉnh Bình Phước

Chương 2: Qúa trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Bình Phước giai đoạn 1997 – 2012

Chương 3: Những hạn chế, bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị trong việc lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Bình Phước

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC TỈNH BÌNH PHƯỚC 1.1 Cơ sở lý luận về chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc

Mác và Ăngghen sống trong thời đại tư bản chủ nghĩa trước độc quyền Quan điểm của Mác, Ăngghen về vấn đề dân tộc thể hiện rõ khi hai ông nghiên cứu phong trào đấu tranh dân tộc ở Balan, Airơlan, các nước vùng Ban Căng và các nước khác, và cũng thể hiện rõ khi hai ông phê phán các Chính phủ Anh và Nga sa hoàng trong vấn đề Ba

Lan cũng như Airơlan Mác và Ăngghen đã kêu gọi: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc

lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” [23, tr.624]

Hai ông đã nêu ra khẩu hiệu nổi tiếng “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!”

Tư tưởng đoàn kết giai cấp công nhân toàn thế giới, đấu tranh chống áp bức bóc lột, xóa bỏ tình trạng người bóc lột người để từ đó xóa bỏ tình trạng dân tộc này nô dịch dân tộc khác là nguyên tắc lý luận, đồng thời cũng là nền tảng của chính sách dân tộc mác xít của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản Điều đó đã thể hiện thái độ chính trị của những người cộng sản, thái độ của giai cấp công nhân nói chung trong cuộc đấu tranh giai cấp nhằm đánh đổ chủ nghĩa tư bản Quan điểm đó cũng chỉ rõ chiến lược, giải pháp cơ bản tập hợp lực lượng giai cấp công nhân tất cả các dân tộc vùng lên đấu tranh chống áp bức, nô dịch, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc

Những quan điểm của Mác và Ăngghen nêu trên được coi là cương lĩnh đầu tiên,

là nguyên tắc lý luận, kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản giải quyết vấn

đề dân tộc Quan điểm đó thể hiện hai vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất: Chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là cơ sở sinh ra nạn người bóc

lột người; nạn áp bức giai cấp, áp bức dân tộc Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì nạn

Trang 19

bóc lột và áp bức giai cấp, áp bức dân tộc càng nặng nề Vì vậy, muốn xóa bỏ nạn áp bức giai cấp, tình trạng dân tộc này đi nô dịch, bóc lột dân tộc khác thì phải xóa bỏ tận gốc rễ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, cơ sở kinh tế xã hội sinh ra nạn áp bức giai cấp, nạn nô dịch dân tộc

Thứ hai: Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản xét

về bản chất là một cuộc đấu tranh quốc tế - toàn bộ giai cấp vô sản chống lại toàn bộ giai cấp tư sản, nhưng ban đầu lại diễn ra trong phạm vi dân tộc mang hình thức đấu tranh dân tộc Vì thế, trước tiên giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền ở nước mình, phải tự mình trở thành dân tộc, phải biến lợi ích của mình thành lợi ích của dân tộc, biến lợi ích của dân tộc thành lợi ích của mình, để trở thành người lãnh đạo toàn thể dân tộc trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới

Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại mà Lênin sống và hoạt động cách mạng, vấn đề bình đẳng và tự quyết dân tộc lại càng bức thiết hơn Trong những điều kiện ấy, Lênin đã phát triển những luận điểm của Mác và Ăngghen về vấn đề dân tộc Lênin đã phát hiện 2 xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tộc và trong mối quan

hệ dân tộc

Xu hướng thứ nhất là: Sự thức tỉnh của đời sống dân tộc và của các phong trào dân

tộc, cuộc đấu tranh chống mọi ách áp bức dân tộc, việc thiết lập các quốc gia dân tộc

Xu hướng thứ hai là: Việc phát triển và tăng cường đủ mọi thứ quan hệ giữa các

dân tộc, việc xóa bỏ những hàng rào ngăn cách của các dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư bản, của đời sống kinh tế nói chung, của chính trị, của khoa học… [104, tr.158]

Cương lĩnh dân tộc của những người Mác xít chú ý đến cả hai xu hướng đó

Từ những luận chứng khoa học về vấn đề dân tộc, Lênin đề ra cương lĩnh dân tộc

của các Đảng Cộng sản “các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự

quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại: Đó là cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới và kinh nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân” [105,

Trang 20

tr.375] Đây là tư tưởng chỉ đạo, nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về chính sách dân tộc

- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng:

Theo Lênin, bình đẳng dân tộc là quyền được đối xử như nhau của mọi dân tộc không phân biệt nhiều người hay ít người, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hay thấp, không phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo… Thực chất đây được coi là quyền con người

Theo Lênin: “Nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn gắn liền chặt chẽ với việc đảm bảo

quyền lợi của các dân tộc thiểu số … bất cứ một thứ đặc quyền nào dành riêng cho một dân tộc, và bất cứ một sự vi phạm nào đến quyền lợi của một dân tộc thiểu số, đều bị bác bỏ” [104, tr.179]

Quyền bình đẳng dân tộc, theo Lênin, bao gồm tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội Đây là cơ sở pháp lý chung giải quyết các quan hệ dân tộc trên thế giới, trong khu vực hay trong quốc gia Bình đẳng giữa các dân tộc cũng chính là kết quả đấu tranh của nhân dân lao động các nước, là thành quả của văn hóa văn minh và tiến bộ xã hội

Lênin chỉ rõ: “ý nghĩa thật sự của việc đòi quyền bình đẳng chung quy là đòi thủ

tiêu giai cấp” [107, tr.136]

Bình đẳng dân tộc, trước hết là sự bình đẳng về kinh tế Lợi ích kinh tế gắn liền với lợi ích giai cấp, dân tộc, quốc gia, bởi vậy giải quyết các mối quan hệ liên quan đến dân tộc, đều phải tính đến quan hệ kinh tế, lợi ích kinh tế Chỉ có trên cơ sở có sự bình đẳng về kinh tế, quyền bình đẳng trên các lĩnh vực khác mới được thực hiện đầy đủ Nếu tách rời các quyền bình đẳng dân tộc về kinh tế thì quyền bình đẳng dân tộc trên các lĩnh vực khác chỉ là những khẩu hiệu có tính chất cải lương

Bình đẳng chính trị cũng là quyền thiêng liêng của mỗi dân tộc Đối với các dân tộc bị áp bức, bị lệ thuộc, đấu tranh giành quyền bình đẳng về chính trị, chính là điều kiện

để có bình đẳng trên các phương diện khác của đời sống xã hội

Nhận thức và giải quyết đúng vấn đề bình đẳng chính trị và quyền tự quyết trong các quốc gia cụ thể, nhất là các quốc gia đa dân tộc là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với

Trang 21

giai cấp vô sản và những người mác xít chân chính trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình Để thực hiện bình đẳng về chính trị, những người mác xít phải đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phản động dưới mọi hình thức

Lênin chỉ rõ: “Chủ nghĩa Mác không thể điều hòa được với chủ nghĩa dân tộc, dù

là chủ nghĩa dân tộc “công bằng”, “thuần khiết”, tinh vi và văn minh đến đâu nữa”

[104, tr.167]

Bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa – xã hội:

Lênin cho rằng, bình đẳng về văn hóa không tách rời bình đẳng về chính trị, kinh

tế Đó là lý do Lênin phê phán khẩu hiệu “tự trị dân tộc về văn hóa” của những người

dân chủ xã hội Áo và những người thuộc phái Bun Vì khẩu hiệu đó đã thu hẹp quyền bình đẳng và tự quyết dân tộc rộng lớn chỉ vào một lĩnh vực văn hóa

Theo Lênin, khẩu hiệu “tự trị dân tộc về văn hóa” là một ảo tưởng

Trong chừng mực mà các dân tộc khác nhau còn chung sống trong một quốc gia, thì họ gắn bó với nhau bằng hàng triệu mối liên hệ về kinh tế, pháp luật và tập quán Vậy làm thế nào lại có thể tách việc giáo dục khỏi những mối liên hệ này? Liệu có thể “tách” công việc đó “ra khỏi quản lý” của Nhà nước được không? Như công thức của phái Bun

đã tuyên bố, một công thức điển hình về cách nhấn mạnh một điều vô nghĩa? Nếu như nền kinh tế gắn bó các dân tộc cùng sống trong một quốc gia với nhau, mà lại toàn chia cắt họ một cách dứt khoát trong lĩnh vực những vấn đề “văn hóa” và nhất là vấn đề giáo dục, thì thật là ngu ngốc và phản động

Trái lại, cần phải ra sức liên hợp các dân tộc lại trong lĩnh vực giáo dục để cho cái đang được thực hiện trong cuộc sống thì đã được chuẩn bị ngay trong nhà trường [104, tr.221]

Sau cách mạng tháng Mười Nga, nguyên tắc bình đẳng dân tộc được nêu trong Tuyên ngôn dân quyền của nước Nga, sau đó được ghi vào Hiến pháp Liên Xô, quy định quyền bình đẳng của mọi công dân Xô Viết không phụ thuộc dân tộc, trong mọi lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, nó là một pháp lệnh bất di bất dịch

Trang 22

Trong phạm vi quốc tế, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dân tộc gắn với cuộc đấu tranh phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa Sô vanh, chủ nghĩa phát xít mới, đồng thời cũng đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi

Có như vậy mới thực hiện được sự bình đẳng thực sự giữa các dân tộc

- Các dân tộc có quyền tự quyết:

Theo Lênin, quyền tự quyết là quyền tự chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh của dân tộc mình, là đảm bảo thực thi dân chủ trong đời sống xã hội

Quyền tự quyết bao gồm: Tự quyết định về chính trị - xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình Quyền tự quyết cũng được thể hiện ở quyền tự do phân lập thành quốc gia độc lập hay quyền tự nguyện liên hiệp lại của các dân tộc trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc vì mục tiêu phát triển hòa bình, phồn vinh và hữu nghị

Trong “Đề cương cách mạng xã hội chủ nghĩa và quyền dân tộc tự quyết”, Lênin

viết:

Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất quyết phải được thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn, và do đó, không những làm cho các dân tộc hoàn toàn bình quyền với nhau, mà còn thực hành quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức, tức là quyền tự do phân lập về mặt chính trị Cả hiện nay, lẫn trong thời kỳ cách mạng, và sau khi cách mạng thắng lợi, các Đảng xã hội chủ nghĩa nào mà không chứng minh bằng toàn bộ hoạt động của mình rằng

họ sẽ giải phóng các dân tộc nô dịch và sẽ xây dựng quan hệ của mình với các dân tộc đó trên cơ sở một liên minh tự do và liên minh tự do sẽ là một lời dối trá – nếu nó không bao hàm quyền tự do phân lập thì Đảng đó sẽ phản bội chủ nghĩa xã hội [106, tr.323-324]

Lênin luôn luôn thể hiện quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét và giải quyết vấn đề

tự quyết của các dân tộc Những năm trước cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười, Lênin ủng hộ yêu sách của các dân tộc bị áp bức đòi phân lập Yêu sách đó góp phần làm suy yếu chế độ Nga hoàng, làm thất bại chính sách dân tộc Sô vanh Đại Nga, tạo điều kiện đưa cách mạng đi tới thắng lợi Sau cách mạng Tháng Mười, Lênin ủng hộ nguyện vọng liên hiệp lại của các dân tộc, vì điều đó là tất yếu và cần thiết để đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc, xóa bỏ những hằn thù để liên kết các dân tộc tạo thành một

Trang 23

quốc gia rộng lớn nhằm bảo vệ những thành quả cách mạng đã giành được và cùng nhau xây dựng xã hội mới

Phân tích ý nghĩa về quyền tự quyết và quan hệ của nó với chế độ liên bang, Lênin cho rằng:

Quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn chỉ có nghĩa là các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ Nói một cách

cụ thể, yêu sách đòi dân chủ chính trị có nghĩa là hoàn toàn tự do tuyên truyền cho việc phân lập và có nghĩa là giải quyết vấn đề phân lập bằng con đường trưng cầu dân ý trong dân tộc muốn phân lập Như vậy là yêu sách đó hoàn toàn không đồng nghĩa với yêu sách đòi phân lập, phân tán, thành lập những quốc gia nhỏ Nó chỉ là biểu hiện triệt để của cuộc đấu tranh chống mọi áp bức dân tộc [106, tr.327]

- Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc:

Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định rằng quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc không phải tự nhiên có được và đương nhiên thực hiện, ngược lại, chúng là kết quả của cuộc đấu tranh chống mọi thế lực xâm lược, áp bức dân tộc và gây nên sự đồng hóa cưỡng bức đối với nhiều dân tộc Đồng thời, bình đẳng và tự quyết dân tộc cũng tùy thuộc vào sự đoàn kết, thống nhất giai cấp công nhân các dân tộc trong từng quốc gia cũng như trên toàn thế giới Chỉ có đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân mới thực hiện được quyền bình đẳng và tự quyết đúng đắn, khắc phục được thái độ kỳ thị và thù hằn dân tộc Cũng từ đó mới đoàn kết được nhân dân lao động các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

Chính vì vậy, nội dung đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc được nêu trong cương lĩnh không chỉ là lời kêu gọi mà còn là biện pháp hữu hiệu đảm bảo việc thực hiện quyền bình đẳng và tự quyết dân tộc Nội dung đó đóng vai trò liên kết cả ba nội dung của Cương lĩnh thành một chỉnh thể

Lênin cho rằng: Sự giải phóng khỏi ách tư bản, sự xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là nhiệm vụ quốc tế của tất cả những người vô sản, của tất

cả nhân dân lao động Chủ nghĩa quốc tế vô sản thể hiện tính chất chung của những quyền lợi cơ bản và những ý nguyện tiến bộ của nhân dân lao động của tất cả các dân tộc,

Trang 24

về nguồn gốc và bản chất của nó đối lập với chủ nghĩa dân tộc tư sản, gây sự hằn thù và chia rẽ giữa các dân tộc Người nhấn mạnh:

Chỉ có sự thống nhất và sự hợp nhất như vậy mới có thể bảo vệ được nền dân chủ, bảo vệ được lợi ích của công nhân chống lại tư bản – tư bản này đã trở thành có tính chất quốc tế, bảo vệ được những lợi ích của sự phát triển loài người tới một phương thức sinh hoat mới, không có bất cứ đặc quyền và sự bóc lột nào [104, tr.151]

Với bản chất quốc tế và những ưu điểm vốn có, giai cấp công nhân các dân tộc vừa đại diện cho lợi ích, nguyện vọng của giai cấp công nhân vừa đại diện cho lợi ích nhân dân lao động và lợi ích dân tộc Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc cũng chính

là sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế cao cả của giai cấp công nhân các nước

Những người cộng sản lấy đoàn kết công nhân tất cả các dân tộc làm mục tiêu phấn đấu và tổ chức lực lượng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc

Những quan điểm về vấn đề dân tộc và giải quyết các quan hệ dân tộc được Lênin khái quát thành Cương lĩnh chung cho các Đảng mác xít, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trên phạm vi toàn thế giới, trong từng quốc gia cũng như từng dân tộc

Thực tế, thời đại ngày nay không bác bỏ Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà ngược lại còn cung cấp thêm sự kiện, con số để xác nhận sự đúng đắn của Cương lĩnh đó và đòi hỏi chi tiết hóa Cương lĩnh đó khi vận dụng vào mỗi quốc gia, từng dân tộc cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của quốc gia dân tộc đó

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và chính sách dân tộc

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu thực tiễn vấn đề dân tộc ở Đông Dương, phương Đông và ở Việt Nam Từ đó nêu quan điểm giải quyết các vấn đề dân tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin Hồ Chí Minh đã nghiên cứu nghiêm túc và vận dụng sáng tạo tư tưởng lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin để đề ra những quan điểm đúng đắn giải quyết vấn đề phát triển của các dân tộc thiểu số và miền núi nước ta theo phương hướng là đòan kết các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam trên nguyên tắc bình đẳng, thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau để đấu tranh cho độc lập, tự do và hạnh phúc chung Tư

Trang 25

tưởng bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ là nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc được nêu từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và chính sách dân tộc được thể hiện rõ ở những điểm sau:

- Một là: Về giải phóng dân tộc và con đường giải phóng dân tộc Việt Nam

Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến giàu truyền thống yêu nước, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được nỗi đau của một dân tộc mất nước Với lòng yêu nước, thương nòi, Người quyết định ra đi tìm đường cứu nước với khát vọng giải phóng dân tộc

Trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, Người đến nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều dân tộc ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ Ở đâu Người cũng gặp cảnh những người dân lao động có cuộc sống khổ cực, bần hàn, đối lập với cuộc sống ăn chơi xa xỉ của các giai cấp thống trị, Người chứng kiến sự áp bức bóc lột tàn bạo của bọn đế quốc, thực dân đối với đại đa số nhân dân lao động ở các nước thuộc địa

Trước khi gặp chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường của Cách mạng tháng Mười vĩ đại, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu nhiều học thuyết và các hình mẫu cách mạng điển hình như cách mạng tư sản Pháp và Mỹ Hồ Chí Minh đã nhận rõ điều căn bản của các cuộc cách mạng đó là không triệt để giải phóng người lao động và các dân tộc bị áp bức, ngược lại các cuộc cách mạng đó nhằm duy trì tình trạng áp bức, bóc lột chỉ thay đổi về hình thức bóc lột mà thôi

Từ hiện thực trái ngược với những Tuyên ngôn của hai cuộc cách mạng ở Pháp và cách mạng ở Mỹ và khi yêu sách của nhân dân Việt Nam mà Người gửi tới Hội nghị Véc xây năm 1918 không được chú ý tới, Hồ Chí Minh đã thấy rõ những tuyên bố của giai

cấp tư sản “chỉ là trò bịp lớn”, Người càng khẳng định ý tưởng phải giải quyết vấn đề dân

tộc và vấn đề con người theo học thuyết khoa học – cách mạng khác các học thuyết tư sản và bằng một con đường cách mạng triệt để

Lần đầu tiên Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin khi Người đọc luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo Người viết:

“Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên

Trang 26

như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!” [61, tr.127].

Như vậy, xuất phát từ yêu cầu giải phóng dân tộc, từ chủ nghĩa yêu nước, Người

đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thu truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và sớm ý thức được rằng, cách mạng thuộc địa, cách mạng giải phóng dân tộc là bộ phận của cách mạng vô sản thế giới

“Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới” [59, tr.301].

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã sớm ý thức được tính chất của thời đại mới, thời đại thắng lợi của cách mạng vô sản mở đầu bằng thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Người so sánh hình ảnh của chủ nghĩa đế quốc là con đỉa có hai cái vòi, một vòi hút máu nhân dân lao động chính quốc, một vòi kia bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa Muốn đánh đổ chủ nghĩa đế quốc phải chặt cả hai vòi của nó; cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng ở thuộc địa phải như hai cái cánh của một con chim, phải thực hiện được sự liên minh chiến đấu giữa vô sản ở “chính quốc” với vô sản và nhân dân các thuộc địa; phải xóa bỏ ách áp bức của thực dân ở thuộc địa, cách mạng thuộc địa không nhất quyết phải chờ đợi, phải phụ thuộc vào cách mạng ở

“chính quốc” mà phải chủ động, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, cách mạng thuộc địa

có thể giành thắng lợi trước, từ đó giúp cho cách mạng vô sản ở “chính quốc” giành thắng lợi

Với sự xác định con đường cách mạng đúng đắn, Hồ Chí Minh đã thành lập chính đảng đó là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, đường lối cách mạng nước ta được xác định rõ: làm cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do giai cấp công nhân lãnh đạo, đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa mà mục đích cuối cùng là thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam

- Hai là: Hồ Chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò quan trọng của đồng bào dân

tộc thiểu số và miền núi trong sự nghiệp cách mạng của cả nước

Theo Hồ Chí Minh: “Miền núi nước ta chiếm một vị trí quan trọng đối với quốc

phòng, đối với kinh tế” [61, tr.134] Và là một khu vực rất quan trọng cả về công nghiệp

Trang 27

và nông nghiệp, về bảo vệ môi trường sinh thái và khai thác tài nguyên Hồ Chí Minh chỉ

rõ: “Miền núi có tài nguyên rất phong phú, có nhiều khả năng để mở mang công nghiệp

và nông nghiệp Những điểm đó nói rõ rằng miền núi có một điạ vị cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và cả quốc phòng của nước ta” [64, tr.608] Vùng núi là nơi sinh sống

của phần lớn đồng bào các dân tộc Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc cả nước phải coi trọng vấn đề dân tộc và nhìn nhận đó là

bộ phận quan trọng có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam, liên quan trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của đất nước

- Ba là: Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng việc đề ra các biện pháp và

những bước đi thích hợp là có ý nghĩa vô cùng to lớn để xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc và miền núi

Theo Hồ Chí Minh điều quan trọng trước hết cần hiểu mỗi dân tộc có bản sắc riêng rất phong phú, rất đa dạng, cho nên trong công tác chỉ đạo, tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc thiểu số phảo đặc biệt lưu ý tính đặc thù dân tộc, hiểu biết đầy đủ những khác biệt cụ thể của từng vùng, từng dân tộc mà bổ khuyết chính sách, tránh những biểu

hiện chủ quan, áp đặt Hồ Chí Minh nhắc nhở: “một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào

Mèo, thì tuyên truyền huấn luyện đối với đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải

có sự thay đổi cho thích hợp Bởi vì đời sống, trình độ của đồng bào Mèo và đồng bào Thái khác nhau, cho nên tuyên truyền huấn luyện phải khác” [61, tr.128] Do đó, Hồ Chí

Minh yêu cầu cán bộ phải gắn bó thật sự với đồng bào, nắm vững và phân tích đúng tình hình, hiểu rõ phong tục tập quán mọi nơi và làm cho đồng bào tin yêu mà tiến hành công tác vận động đồng bào miền núi cụ thể, thiết thực, phù hợp, dễ hiểu để đồng bào làm được Các chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển kinh tế, văn hóa ở miền núi đòi hỏi phải thực hiện khẩn trương, nhưng không thể nóng vội, rập khuôn máy móc mà phải thận trọng, vững chắc, toàn diện, hiệu quả, đem lại lợi ích cho đồng bào ta

- Bốn là: Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm khẳng định kịp thời những thành

công đã đạt được của đồng bào các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giữ gìn an ninh quốc gia và động viên đồng bào các dân tộc miền núi tiếp tục phấn đấu vươn lên

Trang 28

Hồ Chí Minh rất vui mừng khi thấy: “Đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi

đã có nhiều tiến bộ, về cả hai mặt vật chất và tinh thần” [61, tr 132] Hồ Chí Minh biểu

dương từng thành tựu của đồng bào các dân tộc thiểu số và tin tưởng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền núi Theo Hồ Chí Minh việc gì khả năng điều kiện cho phép thì địa phương miền núi và đồng bào các dân tộc thiểu số phải tự giải quyết, tự vươn lên, ví như công trình thủy lợi nhỏ, các đường giao thông nhỏ Trung ương có trách nhiệm xây dựng, trang bị những công trình lớn Hồ Chí Minh nhắc nhở

đồng bào các dân tộc thiểu số “cũng phải khắ phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc

hẹp hòi, tự ti dân tộc, người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo Cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc bé nhỏ, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được rồi không cố gắng” [61, tr.136] Hồ Chí Minh đặt một niềm tin sâu sắc

và nêu rõ: “Đồng bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt Nếu nói đúng thì đồng bào nghe,

đồng bào làm và làm được” [61, tr.138]

- Năm là: Hồ Chí Minh xác định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, nhiệm vụ quản

lý của Nhà nước, của cơ quan Trung ương và sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc là một yếu tố rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa ở miền núi nước ta

Là một lãnh tụ đã nhiều năm sống trong lòng nhân dân các dân tộc thiểu số và miền núi, Hồ Chí Minh hiểu rõ tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của đồng bào, thông cảm sâu sắc và kêu gọi đồng bào các dân tộc giúp đỡ nhau làm hết sức mình để vươn lên, đặc biệt trong việc vận động định canh và định cư, phải đoàn kết đồng bào các dân tộc, làm cho đồng bào vùng thấp biết giúp đồng bào trên rẻo cao như ruột thịt của mình Đồng

thời, chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu “Trung ương Đảng và Chính phủ mà trực tiếp là các

cấp ủy đảng, các ủy ban địa phương, các cô, các chú phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc” [61, tr.134-135]; phải có kế hoạch đẩy mạnh phong trào miền núi lên, về kinh tế cũng như về văn hóa, tất cả các mặt” [61, tr.137]

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước kiên trì đấu tranh với các quan điểm sai trái và đề ra những chính sách thiết thực xây dựng mối quan hệ bình đẳng, tin tưởng, tôn trọng, học tập lẫn nhau tránh ban ơn, làm thay, để đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc

Trang 29

- Sáu là: Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số và coi đây là nhân tố có tính quyết định để thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng ta, là một yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam

Vấn đề cán bộ vốn đã có vị trí đặc biệt quan trọng đối với miền núi và vùng dân tộc thiểu số càng quan trọng hơn nhiều vì ở vùng núi dân trí thấp, ít người biết tiếng phổ thông và chữ phổ thông, việc tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách của chúng ta lại ít dùng tiếng dân tộc cho nên khả năng tiếp thu của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế Ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vai trò của cán bộ địa phương có ý nghĩa quyết định trực tiếp Nhân dân các dân tộc hiểu biết, tin tưởng vào Đảng và Nhà nước thông qua những cán bộ đảng viên tận tâm, gắn bó với dân Hồ Chí Minh coi cán bộ

là cái gốc của mọi công việc, cho nên cần đặc biệt chú trọng đến đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, đồng thời tăng cường đoàn kết giữa cán bộ tại chỗ và cán

bộ ở nơi khác đến, làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi Hồ Chí Minh coi cán bộ là những người đem chính sách của Đảng

và Nhà nước giải thích cho quần chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của nhân dân báo cho Đảng và Nhà nước hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng

Trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt gặp tư tưởng Lênin về cách mạng vô sản và vấn đề dân tộc thuộc địa Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, căn cứ vào thực tiễn Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, Bác đã nhiều lần căn dặn chúng ta về việc quan tâm đến đời sống của đồng bào các dân tộc Người nói:

“Chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Đảng ta thấy rõ rằng trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân Cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng của nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo và chính quyền nhân dân thực chất là chính quyền của công nông” [66, tr.17-18].

Người luôn kêu gọi đòan kết các dân tộc, bởi đòan kết là một yếu tố cực kỳ quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam Người chỉ rõ:

“Nhờ sức đoàn kết đấu tranh chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều

Trang 30

như anh chị em trong cùng một nhà, không còn sự phân chia nòi giống, tiếng nói làm gì nữa Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa” [61, tr.110]

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách chung của cả nước Người nhắc nhở phải tìm cách vận dụng đường lối chính sách chung ấy sao cho phù hợp với điều kiện các dân tộc, đồng thời Người cũng quan tâm đến việc hoạch định và thực hiện những chính sách cho riêng đồng bào các dân tộc thiểu số, cho riêng miền núi

Đặc biệt trong Di chúc Bác Hồ đã căn dặn:

“Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” [63, tr.511]

1.1.3 Quan điểm chỉ đạo chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc được thể hiện trong cương lĩnh dân tộc của Lênin gồm ba nội dung chủ yếu: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc có quyền tự quyết, đoàn kết nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh xóa bỏ

áp bức dân tộc và xây dựng mối quan hệ mới giữa các dân tộc

Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, thực chất của bình đẳng dân tộc là xóa bỏ sự nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác Từng bước xóa bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, việc thực hiện bình đẳng dân tộc sẽ góp phần thực hiện bình đẳng xã hội Sự bình đẳng này phải được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…Để thực hiện được điều ấy chỉ có đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân mới thực hiện được quyền bình đẳng và tự quyết đúng đắn, khắc phục được thái độ kỳ thị và mới đoàn kết được nhân dân lao động các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người, đưa các dân tộc tiến tới bình đẳng, công bằng, dân chủ, văn minh

Trang 31

Đặc điểm nổi bật trong quan hệ dân tộc – tộc người ở Việt Nam là có truyền thống đoàn kết gắn bó từ lâu đời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Do đặc điểm lịch sử của cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt và chống giặc ngoại xâm, các dân tộc ở Việt Nam, thiểu số cũng như đa số tuy trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán…khác nhau, nhưng đều có chung truyền thống đoàn kết thống nhất, tương thân, tương ái, đồng cam cộng khổ trong công cuộc dựng nước và giữ nước Truyền thống đó

đã được phát huy cao độ trong các cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất

Tổ quốc và đang được phát huy trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, và nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc; xuất phát từ đặc điểm tình hình các dân tộc ở nước ta, Đảng ta luôn luôn đề ra chính sách dân tộc đúng đắn ngay từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiếp tục hoàn thiện và thể hiện cụ thể trong các Nghị quyết của các Đại hội đại biểu toàn quốc, trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và được khẳng định trong Hiến pháp

Chính sách dân tộc được thể hiện trong các giai đoạn, trên cơ sở cụ thể hóa những nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng:

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tháng 8-1952, Nghị quyết của Bộ Chính

trị về công tác dân tộc của Đảng đã chỉ rõ: “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam

đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến và kiến quốc” [46, tr.38]

Sau khi miền Bắc được giải phóng, đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng, miền Bắc trở thành hậu phương lớn của cả nước Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III đã đề ra chủ trương:

Đảng và Nhà nước cần có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển kinh tế và văn hóa ở miền núi, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc

đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của mình [46,

tr.46]

Trang 32

Sau khi miền Nam được giải phóng, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta chủ trương tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân, đồng thời, coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam

Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ IV của Đảng đã chỉ ra một cách cụ thể hơn về chính sách dân tộc của Đảng:

Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo ra những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc phát triển về mọi mặt, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ [45, tr.46]

Đại hội Đảng lần thứ VI cũng đã chỉ rõ con đường phát triển các dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc:

Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo của mỗi dân tộc [48, tr.16]

Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ VII của Đảng đã chỉ rõ:

Thực hiện chính sách bình đẳng đòan kết tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mặt thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam [51, tr.16].

Xuất phát từ tình hình phát triển không đồng đều giữa các dân tộc trong lịch sử và

sự chênh lệch lớn về đời sống kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, giữa các vùng, miền, Đảng và Chính phủ Việt Nam trong lãnh đạo công cuộc đổi mới ngày càng nhận rõ việc xóa bỏ sự chênh lệch giữa các vùng miền, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng dân tộc

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ:

Trang 33

Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xây dựng Luật dân tộc Từ nay đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được ba mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định

và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh [53, tr.125-126].

Để cụ thể hóa các Nghị quyết đổi mới của Đảng từ Đại hội VI, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 22 (ngày 27/11/1989) về một số chủ trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế -xã hội miền núi

Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị đã nêu quan điểm chỉ đạo rất quan trọng là: Phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân Một mặt, các địa phương miền núi có trách nhiệm góp phần thực hiện chủ trương chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chung của cả nước Mặt khác, việc cụ thể hóa

và tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách chung ở miền núi phải tính đầy đủ những đặc điểm về tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán của miền núi nói chung và của riêng từng vùng, từng dân tộc; trong việc này cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò năng động, sáng tạo của địa phương và cơ sở

Ngày 18/3/1990 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra quyết định số

72 về chủ trương chính sách cụ thể nhằm phát triển kinh tế - xã hội miền núi, nâng cao mức đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo đà phát triển mới cho các vùng đồng bào bằng các chương trình dự án cụ thể, phù hợp với từng vùng, từng địa bàn cư trú của các dân tộc ít người

Chỉ thị 68 – CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI)

về công tác ở vùng đồng bào dân tộc S’tiêng Chỉ thị đã phân tích những nguyên nhân chủ yếu của một số sai lầm tồn tại trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào S’tiêng trong thời gian qua; đồng thời vạch ra kế hoạch phát triển toàn diện

Trang 34

về kinh tế, đời sống, văn hóa, xã hội, an ninh chính trị, công tác quần chúng, xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ người S’tiêng

Với mục tiêu huy động mọi nguồn lực tại chỗ, phối hợp lồng ghép các chương trình trên địa bàn để xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu ở mỗi trung tâm cụm xã, nhằm tạo động lực đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng Thúc đẩy các hoạt động văn hóa – xã hội trong tiểu vùng, tạo

sự giao lưu giữa các bản, làng và giữa các cụm xã với đô thị để phát huy sức mạnh cộng đồng, quản lý mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng nông thôn mới vùng dân tộc và miền núi

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 25/1997/QĐ-TTg, ngày 13/01/1997 phê duyệt Chương trình xây dựng trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao

Chỉ thị số 15/1998/CT-TTg ngày 28/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội củng cố quốc phòng an ninh ở các

xã, phường biên giới, hải đảo Để tiếp tục thực hiện Chỉ thị 23-CT/TW ngày 29/11/1997 của Bộ Chính trị và triển khai thực hiện tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương

lần thứ IV (khóa VIII) về nhiệm vụ “tăng cường và nâng cao hiệu quả hỗ trợ các vùng

nghèo, xã nghèo” trong đó có các xã, phường biên giới, hải đảo

Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23/7/1998 về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 1998-

2000 Đây là một chương trình tổng hợp có tính chất liên ngành nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với mục tiêu: giảm tỉ lệ hộ đói nghèo trong tổng

số hộ của cả nước xuống còn 10% năm 2000

Tiếp theo là Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng

Thông qua các hệ thống văn bản, từ văn kiện của Đảng, Chính phủ, pháp luật của Nhà nước cũng như các văn bản dưới luật, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Trang 35

ngày càng được quan tâm cả trong phương diện hoạch định chính sách đến việc thể chế hóa và thực hiện trong đời sống

Chính sách dân tộc không chỉ nêu lên những nội dung xuyên suốt, bao trùm cả một thời kỳ dài (thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước) mà còn được xác định rõ những nhiệm vụ cụ thể, những mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ, giai đoạn

Để làm được điều đó, cần phải thực hiện đầy đủ các nội dung cụ thể trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng

Về kinh tế: Nhiệm vụ kinh tế trong chính sách dân tộc chính là các chủ trương,

chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi và các vùng dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy tiềm năng và các nguồn lực, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế hàng hóa, từng bước khắc phục sự chênh lệch về tốc độ phát triển kinh tế giữa các vùng, miền, giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số

Nội dung kinh tế trong chính sách dân tộc bao gồm nhiều nhiệm vụ, nhiều chương trình cụ thể liên quan đến các cấp, các ngành, từ Trung ương đến các địa phương và cơ

sở Đó là việc xây dựng cơ cấu kinh tế ở miền núi và các vùng dân tộc thiểu số trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ đến việc đẩy nhanh ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Phát triển kinh tế miền núi, các vùng dân tộc thiểu số cũng gắn liền với những nhiệm vụ cụ thể trong điều chỉnh quan hệ sản xuất, đổi mới quản lý, giải phóng nguồn nhân lực sản xuất ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số Các chính sách, chủ trương phù hợp với các địa bàn, địa phương và những đặc điểm canh tác, sản xuất của các tộc người

Nội dung kinh tế của chính sách dân tộc cũng đòi hỏi phải xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện phát triển giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc để phát triển sản xuất,

ổn định và nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số

Về chính trị: Nội dung bao trùm, xuyên suốt của chính sách dân tộc là thực hiện sự

bình đẳng, đòan kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc Đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như đa số đều có quyền làm chủ, có đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ công dân, có quyền lợi và trách nhiệm xây dựng thể chế chính trị mới, phát huy vai trò của hệ thống chính trị, dân chủ hóa đời sống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số Ý thức chính

Trang 36

trị, văn hóa chính trị (mà trước hết là những thông tin, tri thức về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền lợi, nghĩa vụ công dân…) được chú ý quan tâm trong chính sách dân tộc

Về văn hóa: Nội dung nhiệm vụ văn hóa cũng được phản ánh rất phong phú trong

chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bao hàm các nội dung bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa, phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng đời sống văn hóa mới của các dân tộc thiểu số, bài trừ thủ tục, mê tín dị đoan, chống các tệ nạn xã hội… tạo nên sự thống nhất trong sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam

Về xã hội: Chính sách xã hội bao hàm nội dung giải quyết các vấn đề xã hội Có

rất nhiều nội dung, nhiệm vụ cụ thể thuộc chính sách xã hội được triển khai đan lồng trong nhiều chủ trương, chính sách: Chính sách xóa đói, giảm nghèo đối với các vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; chính sách tạo việc làm, chính sách đền ơn đáp nghĩa; chính sách bảo trợ xã hội; các chính sách về kế hoạch hóa dân số… Những chính sách đó đều phản ánh nội dung xã hội, trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Về an ninh, quốc phòng: Chính sách dân tộc được hoạch định và thực hiện cũng

chính là tạo điều kiện củng cố, xây dựng an ninh, quốc phòng ngày càng vững chắc Bởi vậy, xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng chính là thực hiện và đáp ứng những yêu cầu về ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội

Quán triệt đầy đủ các yêu cầu, nội dung nhiệm vụ của chính sách dân tộc đòi hỏi chúng ta phải nhận thức sâu sắc rằng, thực hiện đúng đắn chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là trách nhiệm chung của tất cả mọi người, của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp của nước ta chứ không chỉ riêng đồng bào các dân tộc thiểu số

Lĩnh vực dân tộc, chính sách dân tộc có nội dung rộng lớn đòi hỏi việc hoạch định chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước phải luôn luôn được hoàn thiện, bổ sung, chi tiết hóa, pháp luật hóa

Từ những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh

về dân tộc và chính sách dân tộc, các địa phương ở nước ta đã quán triệt, vận dụng để

Trang 37

lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc phù hợp với địa phương mình, trong đó có tỉnh Bình Phước – một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ

1.2 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm dân tộc tỉnh Bình Phước

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Bình Phước là một tỉnh miền núi ở phía Tây của vùng Đông Nam Bộ, nằm ở toạ

độ địa lý 11,32 vĩ độ Bắc, 106,54 kinh độ Ðông, cách thủ đô Hà Nội 1.840 km Giáp với

Campuchia ở phía Bắc và Tây Bắc, Tỉnh Bình Phước còn có địa giới tỉnh liền kề với Đăk Nông ở phía Đông Bắc, giáp Đồng Nai và Lâm Đồng ở phía Đông Phía Nam giáp Tây Ninh và Bình Dương Bình Phước có vị trí chiến lược là cửa ngõ phía Đông – Bắc vùng Đông Nam Bộ, nối liền vùng Đông Nam Bộ với vùng Tây Nguyên thông qua Quốc lộ 13

và Quốc lộ 14; đồng thời cũng nối liền Đông Nam Bộ với Campuchia thông qua Quốc lộ

13 và cửa khẩu Hoa Lư

Nằm trong vùng dồi dào nắng Tổng số giờ nắng trong năm từ 2400 - 2500 giờ Số giờ nắng bình quân trong ngày từ 6,2 - 6,6 giờ Thời gian nắng nhiều nhất vào tháng 1,2,3,4 và thời gian ít nắng nhất vào tháng 7,8,9

Lượng mưa bình quân hàng năm biến động từ 2045 - 2325 mm Mùa mưa diễn ra

từ tháng 5 - 11, chiếm 85-90% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa lớn nhất 376mm (tháng 7) Mùa khô từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 5 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10 - 15% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 2,3

Trang 38

Lượng bốc hơi hàng năm khá cao từ 1113 - 1447mm Thời gian kéo dài quá trình bốc hơi lớn nhất vào tháng 2,3,4

Do chế độ mưa theo mùa nên biên độ giao động về độ ẩm không khí giữa mùa mưa và mùa khô khá lớn Độ ẩm trung bình hàng năm từ 80,8 - 81,4% Bình quân năm thấp nhất là 45,6 - 53,2%, tháng có độ ẩm cao nhất là 88,2%, tháng có độ ẩm thấp nhất là 16%

1.2.1.3 Tài nguyên đất

Tỉnh Bình Phước có 687.599 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó: Diện tích đất lâm nghiệp là 187.599 ha (chiếm 27%); diện tích đất nông nghiệp là 431.751 ha (chiếm 63%); diện tích đất chuyên dùng là 26,133 ha (chiếm 3,8%); diện tích đất ở là 5.251 ha (chiếm 0,8%) và đất chưa sử dụng là 34.865 ha (chiếm 5,4%)

Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 28.393 ha (chiếm 6,57%), riêng đất lúa là 11.891 ha (chiếm 41,88% diện tích đất trồng cây hàng năm); diện tích đất trồng cây lâu năm là 392.002 ha (chiếm 90,79%); diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 626 ha

Diện tích đất trống, đồi trọc cần phủ xanh là 20.183 ha, đất có mặt nước chưa được khai thác là 2.590 ha, đất chưa sử dụng khác là 1.932 ha

Bình Phước có gần 61,2% đất có chất lượng cao, trong đó có trên 415 ngàn ha là đất đỏ Bazan (chiếm 60,6%) Đây là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với nhiều ngành kinh tế, nhất là đối với ngành nông – lâm nghiệp, cho phép phát triển tốt các loại

cây công nghiệp nhiệt đới dài ngày như cao su, điều, cà phê, tiêu…

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010)

1.2.1.4 Tài nguyên rừng

Tổng diện tích đất có rừng hiện có của tỉnh Bình Phước là 198.677,75 ha Trong

đó có 168.177 ha rừng tự nhiên và 30.500,75 ha rừng trồng Rừng của tỉnh Bình Phước gồm 2 loại rừng chính: Rừng kín với đặc trưng cây cọ dầu chiếm ưu thế (huyện Bù Gia Mập, Bù Ðăng, Ðồng Phú) và rừng cây thưa họ dầu rụng lá theo mùa (huyện Lộc Ninh, Hớn Quản)

Trang 39

Hệ động, thực vật rừng khá đa dạng và phong phú: Hệ thực vật bao gồm 801 loài, thuộc 129 họ nằm trong 5 ngành thực vật bậc cao có mạch; hệ động vật rừng có 89 loài thuộc 29 họ, 15 bộ, thú, có các loài quý hiếm như tê giác, bò tót…

Vị trí của rừng tỉnh Bình Phước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái của vùng Đông Nam Bộ, có tác dụng tham gia điều hoà dòng chảy của các con sông

1.2.1.5 Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản được phân bố rải rác chủ yếu vùng phía tây và một ít ở trung tâm Đã phát hiện được 91 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng hoá với 20 loại khoáng sản có tiềm năng triển vọng khác nhau thuộc 4 nhóm: nguyên liệu phân bón, kim loại, phi kim loại, đá quý và bán quý Trong đó nguyên vật liệu xây dựng (đá, cát, sét, laterit, puzơlan) kaolin, đá vôi là loại khoáng sản có triển vọng và quan trọng nhất của tỉnh

- Khoáng sản là nguyên liệu vật liệu xây dựng và nguyên liệu làm sứ, bao gồm: Ðá magma xâm nhập có trữ lượng 39,619 triệu m3; đá phun trào trung tính: 85,5 triệu m3; đá phun trào bazơ: 204,4 triệu m3; cát kết: 18,6 triệu m3; cát cuội sỏi: 0,818 triệu m3; laterit

và đất san lấp: 116,34 triệu m3; kaolin: 13,8 triệu tấn; sét gốm: 3 triệu tấn; thạch anh mạch: 16 nghìn tấn

- Khoáng sản kim loại: Có 3 điểm vàng gấm, 3 điểm vàng sa khoáng

- Khoáng sản than: Than bùn có khoảng 70 nghìn tấn

Hiện nay tỉnh mới chỉ khai thác một số mỏ như đá vôi, đá xây dựng, cát sỏi, sét gạch ngói đáp ứng một phần cho sản xuất tiêu dùng, xây dựng trong tỉnh, còn lại các mỏ khác đang tiến hành thăm dò để có cơ sở đầu tư khai thác

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

1.2.2.1 Hành chính

Tỉnh Bình Phước được thành lập theo Nghị quyết kỳ họp lần thứ 10, Quốc hội khóa IX trên cơ sở 5 huyện trung du miền núi phía Bắc của tỉnh Sông Bé cũ, bao gồm: Phước Long, Đồng Phú, Bù Đăng, Lộc Ninh, Bình Long và đi vào hoạt động từ 01/01/1997

Trang 40

Ngày 1 tháng 9 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định 90/1999/NĐ-CP thành lập thị xã Đồng Xoài Ngày 20 tháng 2 năm 2003, Chính phủ Ban hành nghị định số 17/2003 NĐ-CP thành lập huyện Chơn Thành và Bù Đốp được tách ra từ huyện Bình Long và Lộc Ninh Ngày 1 tháng 5 năm 2003, hai huyện Chơn Thành và Bù Đốp chính thức đi vào hoạt động Tỉnh Bình Phước có 8 huyện, thị, 94 xã phường và thị trấn

Ngày 11 tháng 8 năm 2009, theo Nghị quyết số 35/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ, chia huyện Bình Long thành thị xã Bình Long và huyện Hớn Quản; chia huyện Phước Long thành thị xã Phước Long và huyện Bù Gia Mập Hiện nay tỉnh Bình Phước

có 10 đơn vị hành chính, bao gồm 3 thị xã và 7 huyện (với 111 xã, phường, thị trấn):

Theo số liệu tổng điều tra dân số toàn quốc ngày 01/04/2011 thì dân số trên địa

bàn tỉnh Bình Phước là: 905.300 người Trong đó dân số các dân tộc thiểu số là 177.553 người, chiếm 19,61% dân số toàn tỉnh Mật độ dân số trung bình là 132 người/km²

Trên địa bàn Bình Phước hiện có 41 dân tộc trên mọi miền đất nước cùng sinh cơ lập nghiệp Trong đó:

Dân tộc Kinh là lực lượng chiếm số đông với727.747 người (chiếm 80,39%) Dân tộc S’tiêng có 80.584 người (chiếm 8,9%)

Dân tộc Nùng có 25.851 người (chiếm 2,85%)

Dân tộc Tày có 20.630 người (chiếm 2,28%)

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Phước, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Phước (2002), Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1954 – 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1954 – 1975)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Phước, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Phước
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (1/2009), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 8, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 8
3. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (10/2008), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 7, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 7
4. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (12/2007), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 3, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 3
5. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (12/2009), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 12, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 12
6. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (2/2012), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 21, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 21
7. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (2007), Đặc san dân tộc Bình Phước, kỷ niệm 10 năm tái lập tỉnh Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc san dân tộc Bình Phước
Tác giả: Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước
Năm: 2007
8. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (2011), Báo cáo số 15/BC-BDT Tổng kết Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30/10/1998 của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, dân tộc tỉnh Bình Phước, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 15/BC-BDT Tổng kết Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30/10/1998 của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, dân tộc tỉnh Bình Phước
Tác giả: Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước
Năm: 2011
9. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (3/2008), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 4, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 4
10. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (5/2009), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 9, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 9
11. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (5/2011), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 18, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 18
12. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (7/2008), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 6, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 6
13. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (8/2009), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 10, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 10
14. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (8/2011), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 19, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 19
15. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (9/2007), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 1, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 1
16. Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước (9/2009), Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 11, Bình Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin dân tộc thiểu số và miền núi, số 11
17. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2002), Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
21. Bế Văn Đằng (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi
Tác giả: Bế Văn Đằng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
22. Bùi Thiết (1999), 54 dân tộc ở Việt Nam và các tên gọi khác, Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 54 dân tộc ở Việt Nam và các tên gọi khác
Tác giả: Bùi Thiết
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 1999
23. C. Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w