1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở việt nam hiện nay

153 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay thu hút được sự

Trang 1



LƯU THỊ QUỲNH

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN TRỌNG NGHĨA

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Trọng Nghĩa Nội dung của luận văn

là trung thực và chưa được bất cứ một tác giả nào công bố

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2015

Học viên cao học

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy, Cô trong khoa Triết học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí minh cùng với các anh em, bạn bè đã tạo môi trường học tập thuận lợi, giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn Đặc biệt tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Trọng Nghĩa – thầy đã hướng dẫn và dìu dắt tôi trên con đường khoa học

Trang 4

2 ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

3 FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

4 GDP bình quân: Thu nhập bình quân trên đầu người

5 GDP: Tổng sản phẩm nội địa

6 HDI: Chỉ số phát triển con người

7 MDGs: Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

8 NEF: Quỹ Kinh tế Mới

9 USD: Đô la Mỹ

10 WTO Secertariat: Ban Thư ký của Tổ chức Thương mại Thế giới

11 WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 5

Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP theo các khu vực kinh tế (2006 - 2008)

Bảng 2.2: Số liệu GDP, GDP bình quân đầu người, tỷ lệ tăng

trưởng GDP và FDI giai đoạn 2005 – 2010 của Việt Nam

Bảng 2.3: Số liệu Thống kê trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa

của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu GDP năm 2005, 2010 và 2014 của Việt Nam

71

74

77

72

Trang 6

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

VÀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA

1.1 Khái niệm phát triển kinh tế thị trường và xây dựng nền văn hóa

1.1.1 Khái niệm phát triển kinh tế thị trường

1.1.2 Khái niệm xây dựng nền văn hóa

1.2 Vai trò của phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam

hiện nay

1.2.1 Vai trò của phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt

Nam hiện nay

1.2.2 Vai trò của xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với

việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt

Nam hiện nay

Chương 2: NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO KẾT HỢP CHẶT CHẼ, HÀI HÒA GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỚI VIỆC XÂY

Trang 7

nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt

Nam hiện nay

2.1.1 Những thành tựu và nguyên nhân của mối quan hệ giữa kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa

đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay

2.1.2 Những hạn chế và nguyên nhân của mối quan hệ giữa kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa

đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay

2.2 Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc

dân tộc ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Phương hướng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt

Nam hiện nay

2.2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo kết hợp chặt chẽ, hài hòa

giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc

xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tư duy và quan niệm về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tại Đại hội, Đảng đã chủ trương từ bỏ mô hình kinh tế phi hàng hóa, phi thị trường, phát triển nền kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước Đến Đại hội VII

(năm 1991), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Phát triển nền kinh tế

hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” [21, tr.9-10] Cùng với thực tiễn của công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng về vấn đề này ngày càng rõ ràng và đầy đủ hơn Khái niệm Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được chính thức đưa vào văn kiện của Đại hội IX và Đảng ta coi “Đó là

mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa

xã hội chủ nghĩa xã hội” [26, tr.88] Như vậy, xuyên suốt từ Đại hội VI đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Sau gần ba mươi năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ hơn của văn hóa, để nó thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống và thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội Thực tiễn đổi mới ở nước ta

đã chứng minh, sức mạnh kinh tế không thể tách rời sức mạnh văn hoá Đồng thời, sức mạnh con người và sức mạnh của văn hoá phải được hiện thực hoá trong sức mạnh kinh tế Giữa kinh tế và văn hóa có mối quan hệ biện chứng

Trang 9

với nhau Kinh tế không thể phát triển bền vững nếu thiếu nền tảng văn hóa

và ngược lại, văn hóa không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế Do đó, xây dựng và phát triển văn hóa phải dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa với phát triển kinh tế Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với văn hoá trở thành nhu cầu

và đòi hỏi khách quan đối với Việt Nam

Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và xây dựng văn hóa là

sự biểu hiện của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội Trong đó, kinh tế thuộc về cơ sở hạ tầng, thể hiện đời sống vật chất, còn văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng, thể hiện đời sống tinh thần Bàn về vai trò và mối quan hệ biện chứng của phát triển kinh tế và xây dựng văn hóa đối với sự phát triển của xã hội, Các Mác (1818-1883) đã chỉ rõ:

Toàn bộ những quan hệ sản xuất xã hội tạo thành cơ cấu kinh tế của

xã hội, tức là cơ sở hiện thực, trên đấy xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và tương ứng với cơ sở đó có những hình thái ý thức xã hội nhất định Sự phát triển văn hóa tinh thần bị quy định bởi những nhân tố kinh tế nhưng đến lượt mình, sự phát triển văn hóa tinh thần lại ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế [31, tr.50]

Kế thừa quan điểm trên của chủ nghĩa Mác - Lênin, tại Hội nghị Trung ương 5, Khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là động lực vừa là mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội" [24, tr.55] Tư duy về văn hóa của Đảng ta tiếp tục có sự phát triển khi Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX) khi nhận định: Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội;

Trang 10

tạo nên sự phát triển đồng bộ cả ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định

để bảo đảm cho sự phát triển toàn diện bền vững của đất nước Cương lĩnh

xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát

triển năm 2011) cũng đã chỉ rõ: "Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển" [29, tr.75-76] Như vậy, xuyên suốt các quan điểm của Đảng, văn hóa có vai trò là sức mạnh mềm - sức mạnh nội sinh, nền tảng tinh thần của dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói riêng và đất nước nói chung

Thực tiễn quá trình đổi mới của cho thấy, phát triển kinh tế thị trường

có những tác động tích cực đến khuynh hướng phát triển đa dạng, phong phú trong hoạt động của văn hóa Các chính sách kinh tế mới đã tạo ra cơ sở kinh

tế - xã hội mới cho các hoạt động văn hóa Nhờ đó, những năng lực văn hóa vốn tiềm ẩn được bộc lộ, phát triển với nhiều hình thức phong phú khác nhau

Ở đây thể hiện sự phát triển cùng chiều giữa kinh tế thị trường và văn hóa Về phương diện đạo đức, lối sống, sự ảnh hưởng tích cực của kinh tế thị trường

là từng bước hình thành nhân cách tự chủ, tự lập, rèn luyện con người ý thức lao động, bản lĩnh, năng động, thích nghi và sáng tạo

Bên cạnh đó, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng có những tác động tiêu cực đến nền văn hóa dân tộc Ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa vị kỷ và sự suy thoái nhân tính trong quan niệm sống và lối sống đang có chiều hướng gia tăng trong xã hội ở các tầng lớp, các đối tượng khác nhau, từ những người sản xuất, kinh doanh đến cán bộ công chức nhà nước và trong thế hệ trẻ Sự tha hóa đạo đức đã dẫn tới hàng loạt những vụ

Trang 11

phạm tội nghiêm trọng gây nguy hại cho xã hội Sự ích kỷ, vụ lợi dẫn đến những hành vi ứng xử bất chấp đạo lý, tình nghĩa, sự lấn át của đồng tiền có sức vùi dập, bóp chết cả những gì thuộc về tinh thần, đạo đức của con người

Vì thế, các quan hệ tình cảm cao đẹp, ấm áp tình người có nguy cơ bị băng giá Một trong những nguyên nhân dẫn đến các biểu hiện tiêu cực đó là do quan điểm lệch lạc, phiến diện khi xem xét và giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và xây dựng văn hóa Trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập như hiện nay, nếu không khắc phục được những hạn chế nêu trên thì sự phát triển của kinh tế nói riêng và đất nước nói chung sẽ bị kìm hãm

Trước thực trạng đó, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc cần phải được tìm hiểu, phân tích, làm rõ và lý giải Đó là một yêu cầu cấp bách, tất yếu và góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển của đất nước Vấn đề này luôn được các nhà triết học, các nhà khoa học quan tâm tìm hiểu Vậy, làm thế nào để kinh tế và văn hóa phát triển hài hòa trong xã hội, để văn hóa trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và kinh tế thực sự là điều kiện và tiền đề để phát triển văn hóa? Làm thế nào đảm bảo sự thống nhất trong mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc? Để vừa

có sự phát triển kinh tế bền vững, vừa giữ vững và phát huy được những bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc chúng ta phải làm gì? Đó là những vấn đề quan trọng cần giải quyết

Đề tài Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay sẽ góp phần giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đã đặt ra

Trang 12

Luận văn trình bày các khái niệm về kinh tế thị trường, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, văn hóa và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Sau

đó, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Đồng thời, phân tích và đánh giá thực trạng của quá trình phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay Từ đó, luận văn đưa ra một số quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay thu hút được

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu với cách tiếp cận, mức độ nghiên cứu khác nhau Ở Việt Nam, nghiên cứu về vấn đề này có khá nhiều tài liệu được chia thành ba hướng chính như sau:

Hướng thứ nhất, những công trình nghiên cứu và tác phẩm tìm hiểu về

phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trước tiên chúng ta phải kể đến Định hướng xã hội chủ nghĩa trong

phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp do Phạm

Văn Dũng chủ biên (2009) [20] Tác phẩm này tổng hợp những tham luận khoa học về định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam Nội dung của nó đã phân tích sâu sắc rất nhiều vấn đề khác nhau của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Trong bài viết của mình, các tác giả Đỗ Thị Thu Hằng, Mai Thị Thanh Xuân, Nguyễn Ngọc Hồi và Đỗ Thế Tùng đã trình bày về quá trình hình thành, phát triển tư duy lý luận của Đảng về kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng

Trang 13

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ trước đổi mới cho đến năm 2009 Tuy cách phân chia giai đoạn khác nhau nhưng điểm chung của các bài viết là đều chỉ

ra quá trình hình thành quan điểm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta từ chỗ phủ nhận đến thừa nhận thị trường và khẳng định xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Ngoài ra, tác giả Nguyễn Ngọc Hồi còn chỉ ra thực trạng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta với những thành công và yếu kém của nó;

và đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước để đảm bảo giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay

Trong tác phẩm, Lê Cao Đoàn đã phân tích và làm rõ sự khác biệt của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với nền kinh tế thị trường hiện đại nói chung; đồng thời, ông chỉ ra những nét đặc trưng trong trình độ phát triển và tính chất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn đổi mới vừa qua Tác giả nhận định, nước ta đang chuyển từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa, với đặc điểm sản xuất hàng hóa nhỏ, giản đơn còn phổ biến; kinh tế hàng hóa lớn tập trung ở khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có bước tiến lớn

Bên cạnh đó, bài viết của Nguyễn Kế Tuấn đã bàn về vai trò sở hữu trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; cũng nói về mô hình kinh tế này nhưng Đinh Văn Thông lại quan tâm về quan hệ phân phối; còn tác giả Phạm Thị Hồng Điệp thì lại bàn về chính sách an sinh xã hội Dù đề cập đến những yếu tố khác nhau nhưng các bài viết có điểm chung là đều chỉ ra khái niệm, vai trò, thực trạng của chúng

Trang 14

và đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của từng nhân tố trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Quan tâm đến một khía cạnh khác, Trần Ngọc Hiên nghiên cứu và chỉ

ra cơ sở khoa học và thực tiễn của định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường Việt Nam Trong đó, biện chứng giữa hình thái kinh tế với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất xã hội là cơ sở khoa học; còn sự phát triển của kinh tế tri thức, toàn cầu hóa kinh tế và đường lối chính sách của Đảng là

cơ sở thực tiễn Từ đó, tác giả đã đưa ra các quan điểm định hướng và giải pháp thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường của nước

ta

Góp phần nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

còn có công trình Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam do Vũ Đình Bách chủ biên (2004) [3] Tác phẩm gồm ba

nội dung chính: một số đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa; một số vấn đề về thể chế kinh tế thị trường và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trong đó, mỗi nội dung bao gồm nhiều bài viết khác nhau của các tác giả

Bàn về đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mỗi tác giả đi vào phân tích các khía cạnh khác nhau Hoàng Đạt chỉ ra các đặc trưng về định hướng mục tiêu, thể chế kinh tế, thể chế quản lý, quan

hệ phân phối, vai trò quản lý của Nhà nước Còn Lưu Bích Hồ lại đi vào vấn

đề sở hữu, công bằng xã hội, các loại thị trường và đặc trưng của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa – tác giả Nguyễn Văn Nam cũng có bài viết phân tích về vấn đề này và ông đã chỉ ra được bốn đặc điểm cơ bản về xuất phát điểm, trình độ khoa học công nghệ, mục tiêu phát triển và vai trò

Trang 15

của sở hữu công cộng trong nền kinh tế thị trường mà Việt Nam đang xây dựng Khác với các tác giả trên, Nguyễn Đình Nam lại đi vào tìm hiểu đặc trưng của kinh tế thị trường nói chung Sau khi đưa ra ba đặc trưng, ông đã đi vào so sánh điểm giống và khác nhau giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa Từ đó, tác giả đã đưa ra định hướng mục tiêu và cơ chế của kinh tế thị trường ở nước ta Đồng thời, ông còn nhấn mạnh

để có một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cần giải quyết ba vấn đề là tạo cơ chế kinh tế thuận lợi cho doanh nghiệp có thể tự chủ sản xuất – kinh doanh thực sự; thực hiện những chính sách thích hợp phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và phát triển mạnh mẽ thị trường

Phân tích về một số vấn đề về thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam, bài viết của Nguyễn Trí Dĩnh và Từ Điển cùng bàn về vấn đề quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sau khi trình bày tính tất yếu của quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Nguyễn Trí Dĩnh đã làm rõ nội dung và đặc trưng quản lý nhà nước Đồng thời, ông còn đề ra một số giải pháp nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước qua việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăng cường công cụ quản lý

vĩ mô và đẩy mạnh cải cách hành chính Trong khi đó, Từ Điển lại tập trung vào phân tích vấn đề chuyển đổi nền kinh tế, nhà nước và thị trường

Trong phần thứ ba của tác phẩm, các tác giả bàn về việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với các nội dung khác nhau Trong đó, Lê Du Phong, Hoàng Việt và Phạm Văn Sinh đều tập trung và vấn đề động lực phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Bàn về vấn đề sở hữu nhà nước, doanh nghiệp nhà nước có bài của Nguyễn Cúc; Vũ Đình Bách quan tâm đến phát triển kinh tế

tư nhân; Nguyễn Công Nghiệp lại tìm hiểu về phân phối; Lê Đăng Doanh

Trang 16

quan tâm về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế; còn các tác giả Nguyễn Đình Hương và Hoàng Văn Hoa thì lại nghiên cứu về việc phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nước…

Tác phẩm Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở

Việt Nam của Hà Huy Thành (2006) [58] cũng góp phần nghiên cứu về nhiều

vấn đề của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày khái niệm, nội dung và quá trình hình thành, phát triển của thể chế kinh tế thị trường Trong nội dung của thể chế kinh tế thị trường, ông phân tích về quyền sở hữu, thị trường, nhà nước, mối quan hệ với phúc lợi xã hội và phạm vi, tính chất của thể chế kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa Bên cạnh đó, công trình còn làm rõ đặc điểm của thể chế kinh tế thị trường của các nước tư bản phát triển, các nước đang phát triển và đặc biệt phân tích một cách sâu sắc thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc; từ đó, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm trong mỗi mô hình thể chế kinh tế thị trường Ngoài ra, Hà Huy Thành còn khái quát quá trình định hình hệ thống thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam và thực trạng của nó về thị trường, chế độ sở hữu và cấu trúc chủ thể Đồng thời, ông chỉ ra tám đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Sau khi phân tích thực trạng, tác giả cũng chỉ ra các vấn đề đặt ra cần phải giải quyết là định rõ chức năng Nhà nước – thị trường và xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với nền kinh

tế thị trường Cuối cùng, tác phẩm đưa ra hệ thống quan điểm và sáu giải pháp

vĩ mô nhằm hoàn thiện và phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Ngoài các công trình nghiên cứu trên còn rất nhiều những bài báo đăng trên các tạp chí viết về phát triển kinh tế thị trường ở nước ta như "Kinh tế thị

Trang 17

trường và định hướng xã hội chủ nghĩa" của Bùi Ngọc Chưởng, được đăng

trên Tạp chí Cộng sản, số 468, năm 1994, trang 42 – 46 Và bài "Đặc điểm

phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế" của tác giả Nguyễn Văn

Nam đăng trên báo Thông tin Khoa học xã hội, năm 2003, số 243, trang 10 –

16 Hay "Từ phương diện triết học suy nghĩ về đặc điểm của nền kinh tế thị

trường ở nước ta hiện nay" của Nguyễn Hữu Vượng, đăng trên Tạp chí Triết

học, năm 1998, số 101, trang 55 – 58… Tóm lại, các tác phẩm này đã khái

quát các nội dung, đặc điểm cũng như thực trạng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, một số tác giả

đã đưa ra những phương hướng, giải pháp giúp cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế được bền vững

Hướng thứ hai, những công trình nghiên cứu về xây dựng nền văn hóa

đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Hồ Bá Thâm về Văn

hóa và bản sắc văn hóa dân tộc (2011) [61] Tác phẩm đã phân tích rất nhiều

vấn đề quan trọng về văn hóa, xây dựng và phát triển văn hóa ở nước ta Tác giả đã trình bày về khái niệm và những đặc trưng của văn hóa Việt Nam; đồng thời, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của nền văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay Mặt khác, ông đã chỉ ra tính tiên tiến và bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.Trong

đó, Hồ Bá Thâm đặc biệt nhấn mạnh về chủ nghĩa yêu nước và khẳng định đây là động lực của nền văn hóa Ngoài ra, tác giả còn đi sâu phân tích về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trước thử thách của toàn cầu hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường Xuất phát từ tình hình thực tiễn, Hồ Bá Thâm đã nêu những tác động tích cực và tiêu cực của kinh tế thị

Trang 18

trường đối với văn hóa dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay Từ đó, ông khẳng định phải bảo tồn và phát triển làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Công trình nghiên cứu tiếp theo có thể kể đến là Xây dựng và phát triển

nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc - Thành tựu và kinh nghiệm do Đỗ Thị Minh Thúy chủ biên (2004) [69] Đây là tổng hợp các bài

tham luận của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và quản lý văn hóa tham dự hội thảo "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc - Thành tựu và kinh nghiệm" của viện văn hóa tổ chức Tác phẩm

đã phân tích làm rõ một số vấn đề chung quán triệt những quan điểm chỉ đạo

cơ bản của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa Theo tinh thần Nghị quyết, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội; và nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng; trong đó, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân và văn hóa còn là một mặt trận Bên cạnh đó, công trình đã phân tích thực trạng vấn đề văn hóa ở nước ta trong thời kỳ đổi mới về vai trò, mối quan hệ với kinh tế, tính bền vững của bản sắc dân tộc và hệ giá trị văn hóa dân tộc….Trong đó, vấn đề xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa được đặc biệt chú ý làm rõ Bối cảnh toàn cầu hóa đã mang lại những thuận lợi và thách thức đối với quá trình xây dựng nền văn hóa dân tộc Chính vì vậy, trong tác phẩm này nhiều tác giả đã đưa ra những đề xuất xây dựng các chính sách văn hóa, củng

cố và hoàn thiện thể chế văn hóa nhằm bảo tồn văn hóa dân tộc

Ngoài các công trình đã kể trên, còn có đề tài Một số chuyên đề văn hóa

và phát triển của Giang Thị Huyền (2011) [40] Ở đây, tác giả đã trình bày

khái niệm văn hóa theo nhiều cách khác nhau; đồng thời, nêu ra những giá trị

Trang 19

của nó Tiếp đó, tác phẩm đã khái quát tiến trình cũng như những giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam Trong tiến trình phát triển của truyền thống văn hóa nước ta, được chia làm năm giai đoạn: thời kỳ đầu, thời kỳ chịu

đô hộ của phong kiến phương Bắc, thời kỳ độc lập tự chủ, thời kỳ ảnh hưởng của văn hóa phương Tây và từ năm 1975 đến nay Ngoài ra, tác giả đã chỉ ra các đặc điểm của nền văn hóa Việt Nam truyền thống Nội dung của tác phẩm cũng đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam; từ đó, đề ra những phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển nền văn hóa đó Các vấn đề như phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và văn hóa lối sống trong nền văn hóa dân tộc cũng được tác giả phân tích

Đề tài Đề cương Văn hóa Việt Nam và sự nghiệp xây dựng nền văn hóa

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Nguyễn Thị Trà Vinh [74] đã phân tích

về ý nghĩa và tính chất của văn hóa được thể hiện trong Đề cương Văn hóa

Việt Nam Trong đó, dân tộc, khoa học và đại chúng là ba tính chất cơ bản của

nền văn hóa dân tộc Từ đó, tác giả chỉ ra điều kiện để phát triển nền văn hóa mới ở nước ta hiện nay

Ngoài ra, góp phần nghiên cứu về việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam hiện nay còn các bài viết "Bản sắc văn hoá các dân tộc trong cơ chế kinh tế thị trường" của Quế Lâm và Thanh Minh in trên

Tạp chí Văn hóa các dân tộc, số 8 và 9 năm 1995; "Giữ gìn và phát huy bản

sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện hiện nay: Diễn đàn văn hóa các dân tộc"

của tác giả Bá Đạt in trên Tạp chí Văn hóa các dân tộc, số 3, năm 1998; hay

"Một số vấn đề văn hoá và văn hóa học trong bối cảnh kinh tế thị trường" của

tác giả Nguyễn Thế Nghĩa in trên Tạp chí Khoa học Xã hội, số 5, năm

Trang 20

2001.… Nhìn chung, các tác phẩm này giúp người đọc hiểu thêm về các cách

tiếp cận văn hóa và vấn đề xây dựng ngành văn hóa ở nước ta cũng như việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Hướng thứ ba, các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát

triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng văn

hóa ở Việt Nam hiện nay

Đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nên có rất nhiều

công trình viết về nó Trước tiên, chúng ta có thể kể đến Sự biến đổi các giá

trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay do Nguyễn Duy Bắc chủ biên (2008) [6] Trong tác phẩm này, Nguyễn

Duy Bắc cùng các tác giả đã xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa, biến đổi giá trị văn hóa ở nước ta; đồng thời, nó còn chỉ

ra thực trạng biến đổi các giá trị văn hóa, phát triển văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Từ cơ sở lý luận và các thực trạng đó, công trình đã góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống đường lối, chính sách về phát triển văn hóa và con người, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hình thành các giá trị văn hóa mới trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt, tác phẩm đã phân tích những giá trị văn hóa Việt Nam trước thách thức của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

và đưa ra các giải pháp xây dựng những giá trị văn hóa trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Tiếp theo, Phạm Duy Đức có đề tài Những thách thức của văn hóa Việt

Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế [30] Sau khi trình bày khái quát

Trang 21

về quá trình hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam và những đặc điểm tiêu biểu, các giá trị nổi bật của nền văn hóa dân tộc; công trình đã phân tích, đánh giá thực trạng tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc

tế đối với văn hóa Việt Nam hiện nay về mặt tích cực và tiêu cực Từ đó, tác giả nêu lên những vấn đề đặt ra đối với nền văn hóa dân tộc trước yêu cầu mới của đất nước Trên cơ sở đó, ông đưa ra bốn phương hướng và bốn giải pháp nhằm phát huy những ưu thế đồng thời vượt qua thách thức để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Ngoài ra, đề tài Những thay đổi về văn hóa, xã hội trong quá trình

chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước châu Á do Dương Phú Hiệp

và Nguyễn Duy Dũng chủ biên (1998) [34] cũng đã góp phần nghiên cứu làm

rõ hơn về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và xây dựng văn hóa Tác phẩm này bao gồm các bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nước bàn về những thay đổi về văn hóa, xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Lào, Việt Nam và một số nước châu Á nói chung Các tác giả đi vào làm rõ sự thay đổi trong các khía cạnh văn hóa, xã hội, mối quan hệ cá nhân và xã hội, vấn đề giáo dục gia đình, lối sống, phúc lợi xã hội,…Qua đó, chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn

về tác động của kinh tế thị trường đến văn hóa, xã hội ở một số nước châu Á

và thấy được những điểm giống và khác nhau trong sự thay đổi văn hóa xã hội ở các nước Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích và cần thiết cho nước ta về thành công hoặc không thành công của các nước trong việc giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế thị trường, kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 22

Từ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và văn hóa, mỗi quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững buộc phải có đường lối, chính sách để phát triển hài hòa, đồng bộ kinh tế với văn hóa Chính vì vậy, đây là một trong những định hướng lớn trong tiến trình xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Góp phần vào nghiên cứu vấn đề này,

Hồ Bá Thâm có công trình Phát triển đồng bộ và tương xứng văn hóa với

kinh tế (2011) [62] Trong tác phẩm, Hồ Bá Thâm đã trình bày các khái niệm

về phát triển văn hóa và phát triển đồng bộ trong quan hệ với khái niệm phát triển bền vững Tác giả cũng làm rõ tương quan đồng bộ và không đồng bộ trong quan hệ biện chứng giữa phát triển văn hóa và kinh tế hiện nay; từ đó, ông chỉ ra những yêu cầu và tiêu chí cửa sự đồng bộ trong quan hệ biện chứng giữa phát triển văn hóa với phát triển kinh tế Mặt khác, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng và rút ra nguyên nhân của việc phát triển văn hóa đồng bộ

và chưa đồng bộ trong tương quan với phát triển kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Sau khi trình bày các cơ sở lý luận và thực tiễn, công trình đã phân tích làm rõ hệ thống quan điểm và định hướng phát triển với mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể nhằm phát triển đồng bộ văn hóa với kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh Từ quan điểm và định hướng đó, tác giả cũng đã đưa ra bốn nhóm giải pháp chính nhằm đảm bảo cho sự phát triển văn hóa đồng bộ, tương xứng, thúc đẩy phát triển kinh tế nhằm tạo ra sự phát triển bền vững ở thành phố Hồ Chí Minh

Ngoài các công trình kể trên, còn có nhiều bài viết về mối quan hệ giữa

phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay được đăng trên các báo, tạp chí như "Quan hệ giữa văn hoá và kinh tế trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa" của Vũ Ngọc Lân đăng trên Tạp chí Khoa học

Trang 23

Xã hội, số 6, năm 2001; Tác giả Lê Thanh Sinh có đề tài "Vai trò động lực

của văn hoá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta hiện nay" đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội, số 2, năm 2001; "Văn hoá Việt Nam đối mặt với kinh tế thị trường" của Trần Ngọc Thêm đăng trên Tạp

chí Cộng sản, số 484, năm 1995 Hay bài "Văn hoá – nguồn lực nội sinh cho

sự phát triển bền vững trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường" của Đặng

Hữu Toàn đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội, số 5, năm 2001… Các công

trình nghiên cứu đó đã phân tích, làm rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay Nhưng các tác giả mới chỉ tập trung đi vào nghiên cứu về một số khía cạnh trong mối quan hệ giữa chúng Trong đó, có tác giả tập trung vào phân tích mối quan hệ, có tác giả lại chú trọng vấn đề thực trạng, có tác giả lại quan tâm đến hệ thống giải pháp

Tóm lại, các nghiên cứu về vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay chia thành ba hướng chính như trên Trong hướng nghiên cứu thứ nhất, các công trình đã phân tích làm rõ vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Hướng nghiên cứu thứ hai đã đi sâu tìm hiểu về bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và vấn đề xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Và hướng nghiên cứu thứ ba, các đề tài nghiên cứu tập trung phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với xây dựng nền văn hóa dân tộc

Như vậy, mỗi hướng nghiên cứu đi sâu phân tích từng khía cạnh của phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam Nhưng các công trình hầu hết chưa

Trang 24

khai thác chi tiết yếu tố xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và mối quan hệ biện chứng giữa nó với việc phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Do đó, luận văn sẽ đi vào tổng hợp, khái quát, hệ thống lại

về khái niệm của phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay Đồng thời, luận văn sẽ phân tích thực trạng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay, đánh giá những thành tựu, hạn chế của quan hệ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ đó, đề tài chỉ ra nguyên nhân của mặt hạn chế và đưa ra các quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Đặc biệt là đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa

đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn:

Luận văn nhằm tìm ra giải pháp đảm bảo kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau:

Trang 25

Thứ nhất, trình bày các khái niệm về kinh tế thị trường, kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, văn hóa và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Thứ hai, luận văn phân tích mối quan hệ biện chứng giữa phát triển

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Thứ ba, phân tích và đánh giá thực trạng của quá trình phát triển kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Thứ tư, luận văn khuyến nghị một số quan điểm và giải pháp phát triển

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm

đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc có phạm vi rất rộng Xuất phát từ mục đích và nhiệm

vụ nghiên cứu, luận văn tập trung luận giải về vấn đề mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

5 C sở l luận và phư ng ph p nghiên cứu của luận văn

Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ

Trang 26

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Phương pháp nghiên cứu luận văn sử dụng là phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, diễn dịch và quy nạp, thống kê để làm rõ vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa lí luận và nghĩa thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Trên cơ sở trình bày các khái niệm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc; đồng thời, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa chúng, luận văn góp phần làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, luận văn đã khuyến nghị một số giải pháp nhằm đảm bảo kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn được xem như một tài liệu có ích, góp phần làm rõ cơ sở lí luận cho việc xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa đất nước Bên cạnh đó, luận văn cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập của những sinh viên chuyên ngành và những ai quan tâm đến vấn

đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn có 2 chương, 4 tiết

Trang 27

1.1.1 Kh i niệm ph t triển kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường và phát triển kinh tế thị trường

Kinh tế là một lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, nó tạo ra các điều kiện vật chất cần thiết để thỏa mãn các nhu cầu của con người Theo quan điểm mácxít, kinh tế là toàn bộ các lĩnh vực của một nền sản xuất xã hội

mà cơ sở của nó là các quan hệ cơ bản về sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức, quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm làm ra, trên nền tảng của một lực lượng sản xuất nhất định

Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng là quá trình thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất Trong lịch sử phát triển của nhân loại, tồn tại nhiều mô hình kinh tế khác nhau Mỗi mô hình đó

là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều kiện lịch sử cụ thể Nhưng bất cứ nền sản xuất xã hội nào cũng đều phải giải quyết ba vấn đề

cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào? Để giải quyết những vấn đề đó đã xuất hiện hai kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, đó là: kinh tế

tự nhiên và kinh tế hàng hóa

Kinh tế tự nhiên là hình thức kinh tế đầu tiên của xã hội loài người Sản

phẩm được sản xuất ra trong nền kinh tế này nhằm thỏa mãn trực tiếp nhu cầu

cá nhân của con người Nền kinh tế này có đặc trưng là không có sản xuất hàng hoá, không có thị trường và sản xuất mang tính tự cấp, tự túc, khép kín

Trang 28

theo từng vùng địa phương, lãnh thổ Người sản xuất quyết định về số lượng, chủng loại sản phẩm theo yêu cầu của mình, gắn với điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán cổ truyền Đó là một loại hình sản xuất có kĩ thuật thủ cựu, rất thô sơ, nhịp độ phát triển hết sức chậm, với kinh tế nông nghiệp chiếm địa vị thống trị, thậm chí còn dựa một phần vào hái lượm Trình độ phân công lao động, công cụ lao động, phương thức tổ chức sản xuất còn rất thấp và giản đơn Nền kinh tế này chiếm ưu thế trong các hình thái trước chủ nghĩa tư bản đó là xã hội nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ và phong kiến Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, kinh tế tự nhiên được thay thế bằng kinh tế hàng hoá

Trên cơ sở sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự tách biệt

về kinh tế của những người sản xuất, kinh tế hàng hóa ra đời Vì vậy, có thể

nói kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên và kế tiếp nó Đây là hình thức kinh tế trong đó người sản xuất ra sản phẩm không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để trao đổi và bán trên thị trường Do đó, số lượng và chủng loại sản phẩm suy cho cùng là do khách hàng quyết định Việc phân phối sản phẩm được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi (mua - bán) trên thị trường

Vào thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, kinh tế hàng hóa bắt đầu ra đời và nó từng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Hình thức

đầu tiên của nó là nền kinh tế hàng hóa giản đơn Đó là kiểu sản xuất do

những người nông dân, thợ thủ công tiến hành dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao động của chính bản thân người sản xuất Họ trực tiếp trao đổi sản phẩm với nhau trên thị trường Quan hệ hàng hóa - tiền tệ phát triển mạnh trong thời kì tan rã của phương thức sản xuất phong kiến quá độ

Trang 29

sang chủ nghĩa tư bản Đồng thời, đó cũng là quá trình chuyển từ kinh tế hàng hóa giản đơn lên kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa

Kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa là hình thức sản xuất hàng hóa cao

và phổ biến nhất trong lịch sử, dựa trên sự tách rời tư liệu sản xuất với sức lao động Nói cách khác, đặc điểm của nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa là dựa trên cơ sở chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê Nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa đã trải qua hai giai đoạn: kinh tế thị trường tự do (cổ điển) và kinh tế thị trường hỗn hợp (hiện đại) Như vậy, cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản,

kinh tế hàng hóa giản đơn đã chuyển sang kinh tế thị trường

Nói như vậy không có nghĩa là đồng nhất kinh tế thị trường với sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa Giữa chúng có những điểm giống nhau nhưng không phải là một Đã là kinh tế hàng hóa thì tất yếu phải sản xuất nhằm để trao đổi hay để bán, nên ắt phải có thị trường Nhưng không phải hễ

có thị trường là có kinh tế thị trường, nó là trình độ cao của kinh tế hàng hóa Trong đó, toàn bộ hoặc hầu hết đầu vào và đầu ra của sản xuất đều phải thông qua thị trường

Nhận thức về phạm trù kinh tế thị trường có nhiều quan niệm khác nhau Lý luận kinh tế học của Mỹ giải thích rằng kinh tế thị trường là một phương thức tổ chức kinh tế trong đó cung cầu quyết định mọi vấn đề liên quan đến sản xuất hàng hóa Và kinh tế thị trường là hình thức vận hành của nền kinh tế và cũng là phương pháp quản lý nền kinh tế" Tác giả người Mỹ Paul Anthony Samuelson (1915 - 2009) nói đến kinh tế thị trường nhưng ông lại đồng nhất kinh tế thị trường với cơ chế thị trường và đồng nhất cơ chế thị trường với chủ nghĩa tư bản Chính vì thế, ông không định nghĩa kinh tế thị trường mà lại định nghĩa về thị trường và cơ chế thị trường Ông viết: "Theo

Trang 30

nghĩa đen, thị trường là nơi mua bán hàng hóa"…và "thị trường là một quá trình trong đó người mua và người bán một thứ hàng tác động qua lại nhau để xác định giá cả và số lượng hàng" [55, tr.53] Còn "cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của

tổ chức kinh tế" [55, tr.51] Trong khi đó, David Begg (1946), nhà kinh tế học người Anh, không đề cập đến phạm trù kinh tế thị trường mà chỉ nói đến thị trường Ông cho rằng: "thị trường là sự biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và các quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được dung hòa bằng sự điều chỉnh giá cả" [19, tr.11] Nhìn chung, cách nói của các tác giả nói trên chưa rõ ràng, họ mới chỉ khái quát được biểu hiện bề ngoài của kinh tế thị trường chứ chưa vạch ra được bản chất bên trong

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin không sử dụng phạm trù kinh tế thị trường Phriđích Ăngghen (1820 - 1895) dùng phạm trù "kinh tế tiền tệ" để đối lập với "kinh tế tự nhiên" Ông viết:"…Chính từ đó mà nền kinh tế tiền tệ, đang phát triển đã thâm nhập, giống như một chất a-xít ăn mòn, vào phương thức sinh hoạt cổ truyền của các cộng đồng nông thôn, dựa trên cơ sở nền kinh tế tự nhiên" [16, tr.173] Vlađimia Ilích Lênin (1870 - 1924) cũng sử dụng phạm trù kinh tế tiền tệ để nói về một trong hai đặc trưng

cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa [76, tr.737] Bùi Ngọc Chưởng cho rằng kinh tế thị trường là một phương thức kinh tế đối lập với kinh tế tự nhiên, trong đó các sản phẩm xã hội được thực hiện thông qua lĩnh vực trao đổi bằng trung gian của tiền tệ

Trang 31

Có thể hiểu kinh tế thị trường là kinh tế tiền tệ vì nó là phương thức kinh tế độc lập với kinh tế tự nhiên, trong đó các sản phẩm xã hội được trao đổi thông qua vật trung gian là tiền tệ Các yếu tố hàng và tiền, người bán và người mua có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường Hoạt động của thị trường dần hình thành nên các quan hệ hàng - tiền, bán - mua, cung - cầu

và giá cả hàng hóa Trong đó, hàng - tiền là quan hệ cơ bản, biểu hiện của quan hệ kinh tế giữa các thành viên tham gia thị trường Nhìn chung, mỗi thành viên hoạt động trên thị trường đều phải có hàng - tiền hoặc một trong hai thứ đó Cũng có thể một người nào đó tham gia thị trường song không có hàng mà cũng không có tiền Trong trường hợp này, họ đóng vai trò trung gian như chất xúc tác để góp phần thúc đẩy sự gặp gỡ giữa cung và cầu

Trên thị trường quan hệ hàng - tiền thể hiện rất đa dạng Hàng hóa có thể là vật chất cụ thể hoặc là hàng hóa tinh thần Có thể là tư liệu sản xuất hoặc vật phẩm tiêu dùng Giống như hàng hóa, tiền tệ cũng rất đa dạng Đó là tiền vàng, tiền giấy, tiền tài chính, tiền tín dụng Kinh tế thị trường càng phát triển, càng xuất hiện nhiều loại tiền tệ khác nhau

Trong thế giới hàng - tiền đa dạng như vậy, người ta chia thành hai loại thị trường là thị trường hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ (còn gọi là thị trường đầu ra) và thị trường yếu tố sản xuất (còn gọi là thị trường đầu vào) Hai loại thị trường này biệt lập vơi nhau nhưng lại được nối liền với nhau thành một

hệ thống thông qua người sản xuất và người tiêu dùng Trong kinh tế thị trường không có ai chỉ bán mà không mua ngược lại không có ai chỉ mua mà không bán Trên thị trường, mỗi loại hàng hóa đều có giá cả của nó Giá cả là phạm trù kinh tế trung tâm, là công cụ quan trọng thông qua cung - cầu để kích thích và điều tiết hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế tham gia thị trường

Trang 32

Lợi nhuận là động lực chi phối hoạt động của người kinh doanh trong kinh tế thị trường Adam Smith (1723 - 1790) nhận định mỗi người hoạt động trong kinh tế thị trường chỉ biết tư lợi, chỉ thấy tư lợi và chỉ làm theo tư lợi C.Mác cho rằng nhà kinh doanh ghét cay ghét đắng tình trạng không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít Lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến các khu vực sản xuất những hàng hóa mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ các khu vực có ít người tiêu dùng Lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến việc sử dụng

kỹ thuật sản xuất có hiệu quả nhất, như vậy hệ thống thị trường sử dụng lỗ và lãi để quyết định các vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế

Kinh tế thị trường hoạt động trong môi trường cạnh tranh, do các quy luật kinh tế khách quan chi phối, là sự đua tranh giữa các thành viên tham gia Kiểu đua tranh này khác với đua tranh đoạt một giải thưởng Nếu đua tranh để đoạt một giải thưởng là cuộc đua tranh một lần thì cuộc đua tranh trong kinh

tế thị trường diễn ra liên tục Thomas Loren Friedman (1953) coi sự cạnh tranh như là môn "chạy nước rút 100 mét", liên tiếp, không ngừng nghỉ Dù bạn thắng trong ngày hôm nay thì bạn sẽ phải đua tiếp vào ngày mai Và "nếu bạn thua dù chỉ là một giây thì cũng giống như khi bạn thua trong một giờ" [68, tr.17] Trong cuộc cạnh tranh đó tất yếu có người được và người thua, nên sự phá sản của một bộ phận doanh nghiệp là khó tránh khỏi

Tóm lại, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, là thể thống nhất của các quan hệ kinh tế dựa vào thị trường để vận động

và phát triển Trong đó, sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất gắn chặt với thị trường Quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm biểu hiện qua thị trường, qua việc mua bán sản phẩm lao động của nhau Việc sản xuất đều xuất phát từ nhu cầu của thị trường Mọi sản phẩm đi vào sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đều phải thông qua thị trường Song thị

Trang 33

trường với tính tự phát của nó tất yếu dẫn tới phải có một sự kết hợp giữa thị trường với sự quản lý có kế hoạch từ chủ thể sản xuất, kinh doanh cũng như chủ thể quản lý ở tầm vĩ mô của nền kinh tế

Từ những quan niệm và nội dung nêu trên, có thể hiểu kinh tế thị

trường là nền kinh tế vận hành theo sự điều tiết của cơ chế thị trường, lấy sự tồn tại và phát triển của quan hệ hàng hóa - tiền tệ làm cơ sở, là kinh tế hàng hóa đạt tới trình độ xã hội hóa cao và trình độ kỹ thuật cao, trong đó toàn bộ hay hầu hết đầu vào và đầu ra của sản xuất đều phải thông qua thị trường, lấy thị trường là căn cứ để xây dựng và kiểm tra các kế hoạch kinh tế

Ở Việt Nam, quá trình nhận thức về kinh tế thị trường là một quá trình lâu dài Sau khi trải qua những đổi mới cục bộ, từng phần, theo hướng từng bước xóa bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, tạo môi trường

và điều kiện để mở rộng các quan hệ thị trường, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã dứt khoát từ bỏ mô hình kinh tế phi hàng hóa, phi thị trường; chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước Chủ trương đó đã đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tư duy của Đảng ta Cùng với thực tiễn của công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng về vấn đề này ngày càng rõ ràng và đầy đủ hơn Từ chỗ phủ nhận sự tồn tại của kinh tế hàng hóa, coi nó là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, Đảng Cộng sản Việt Nam dần thừa nhận kinh tế hàng hóa, coi việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có

sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là tất yếu Từ đó, Đảng đưa ra những chính sách nhằm từng bước xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Và đến Đại hội toàn quốc lần thứ IX, lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ: kinh tế thị trường

Trang 34

định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát và mục tiêu của đổi

mới kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Thực tiễn gần 30 năm tiến hành đổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi Những thành tựu đó, đã chứng minh con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta phải trải qua kinh tế thị trường, không phát triển kinh tế thị trường thì không thể đi tới chủ nghĩa xã hội Muốn đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam phải phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nội dung tiếp theo, luận văn sẽ trình bày khái niệm và những đặc trưng của kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam thì kinh tế thị trường là cái phổ biến toàn thế giới, với những nét tương đồng giữa kinh tế Việt Nam với mọi nền kinh tế thị trường khác Và định hướng xã hội chủ nghĩa là cái đặc thù của nước ta theo cách hiểu về chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng kinh tế thị trường Việt Nam có định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như định hướng xã hội chủ nghĩa về kinh tế của Việt Nam có kinh tế thị trường Tóm lại, về lý luận và

Trang 35

thực tiễn đều không thể tách riêng kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa

Đại hội lần thứ VI (12/1986) và lần thứ VII (6/1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định mục tiêu của cách mạng nước ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội Theo đó, thực hiện sự nghiệp đổi mới không phải từ

bỏ mục tiêu mà là tìm ra phương thức, con đường đúng đắn hơn, có hiệu quả hơn để đi đến mục tiêu Trên nguyên tắc đổi mới toàn diện, trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta đẩy mạnh quá trình chuyển nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường Trong quá trình này những thành tựu đạt được của đời sống kinh tế -

xã hội ở nước ta là rất lớn Nhưng thực tiễn phát triển cho thấy những yếu tố tiêu cực, trái với mục tiêu chủ nghĩa xã hội đã nảy sinh không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn ở các lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống… Trong bối cảnh đó, thuật ngữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” và “giữ vững định hướng

xã hội chủ nghĩa” xuất hiện ở Việt Nam

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một khái niệm mới

do Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra Đây thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế

- xã hội vừa dựa trên những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội Vì thế, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gồm hai “nhóm” nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau Đó là, nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của chủ nghĩa xã hội Theo đó, nhóm thứ nhất đóng vai trò động lực thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh và hiệu quả Còn nhóm thứ hai đóng vai trò định hướng sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu xác định, phát huy mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường

Trang 36

Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2001), tổng kết thành tựu thực tiễn và kết quả nghiên cứu lý luận, đã xác định rằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam, trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và vạch rõ những đặc trưng của nền kinh tế ấy, tóm tắt như sau:

1 Mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

2 Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại

3 Xây dựng quan hệ sản xuất có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền kinh tế vững chắc

4 Phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua phúc lợi xã hội

5 Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội, công bằng xã hội và giữ gìn môi trường

6 Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục

7 Nhà nước phát huy quyền làm chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý thỏa đáng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN [xem: 26]

Tháng 4 năm 2006, Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác nhận và khẳng định một lần nữa 7 điểm về mục tiêu và 8 đặc trưng của xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [27, tr.68] Đến Đại hội XI năm 2011, Đảng Cộng sản Việt Nam đã điều chỉnh mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thành "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" - điều này thể hiện một bước phát triển mới về tư duy, lý luận và thực tiễn của Đảng

Trang 37

Như vậy, thuật ngữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” dùng để chỉ mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà chúng ta cần đạt tới và những phương hướng cơ bản từng bước tiến tới mục tiêu đó Ở Việt Nam, định hướng xã hội chủ nghĩa bao quát trên nhiều lĩnh vực Về mặt kinh tế, biểu hiện ở sự vận động của nền kinh tế thị trường dựa trên nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, trong đó kinh tế nhà nước từng bước chiếm ưu thế, giữ vai trò chủ đạo bằng năng suất, chất lượng và hiệu quả Chức năng định hướng cho nền kinh

tế do Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước đảm nhiệm Và định hướng không có nghĩa là áp đặt, vi phạm tính khách quan của kinh tế thị trường

Về khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, văn

kiện Hội nghị Trung ương sáu khóa X (1/2008) viết: “Nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế trong đó các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành kinh tế thị trường được tự giác tạo lập và sử dụng để giải phóng triệt để sức sản xuất, từng bước cải thiện đời sống của nhân dân,

vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [28,

tr.139]

Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khóa X của

Đảng (01/2008), có thể khái quát năm đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như sau:

Đặc trưng thứ nhất, “mục tiêu phát triển là vì “dân giàu, nước mạnh, xã

hội công bằng, dân chủ, văn minh”; giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng, nâng cao đời sống nhân dân” [28, tr.139]

Đặc trưng này nói rõ mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là vì con người, vì sự giải phóng con người Trên cơ

sở giải phóng và phát triển mọi tiềm năng sản xuất, đẩy mạnh phát triển kinh

Trang 38

tế, để mọi người đều được hưởng thành quả của sự phát triển, để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi người Đây là một đặc trưng, là một mục tiêu thể hiện tính nhân văn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nhưng cũng là nhiệm vụ rất khó khăn Để đạt được mục tiêu, cần phải có sự nỗ lực phấn đấu lâu dài và liên tục của toàn Đảng, toàn dân trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

Đặc trưng thứ hai, “Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều

thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh

tế quốc dân” [28, tr.139]

Đặc trưng này nói rõ cơ cấu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại Các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật Đại hội lần thứ X của Đảng xác định nền kinh tế của nước ta hiện nay đang tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất là: sở hữu xã hội mà nhà nước là đại diện, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Trên cơ sở đó, nền kinh tế của nước ta tồn tại năm thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu hỗn hợp khác nhau là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh

tế tư nhân (bao gồm kinh tế hộ, tiểu chủ, tư bản tư nhân) và kinh tế có vốn đều tư nước ngoài Các thành phần kinh tế đều được tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật và quan hệ với nhau thông qua cơ chế thị trường Đến Đại hội XI của Đảng (01/2011) đã có bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối” [29, tr.73] và số lượng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp, là do nhu cầu khách quan của

Trang 39

sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất quyết định Đây là một bước tiến nhằm tạo một không gian mở cho quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất hoạt động, để có thể tránh giáo điều chủ quan Sự khác biệt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là ở cơ cấu kinh

tế Nền kinh tế thị trường của nước ta là cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh

tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế nhà nước nắm giữ toàn bộ tài nguyên đất đai, khoáng sản, nước, vốn… một nguồn lực rất lớn của nền kinh tế Đây là công cụ chủ yếu để Nhà nước điều tiết nền kinh tế, định hướng sự phát triển nền kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Đặc trưng thứ ba, “Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói,

giảm nghèo; từng bước làm cho mọi thành viên xã hội đều có cuộc sống ấm

no, hạnh phúc, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y

tế, giáo dục, bảo vệ môi trường…, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người” [28, tr.139-140]

Đặc trưng này thể hiện rõ bản chất của nền kinh tế nước ta là vì sự phát triển con người, vì sự tiến bộ và công bằng xã hội cho mọi người, chứ không phải vì sự tăng trưởng kinh tế đơn thuần Bản chất đó được thực hiện ngay trong từng bước phát triển Ngày nay, mỗi xã hội thực hiện công bằng xã hội với những nội dung khác nhau Việc giải quyết các chính sách xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển, lại là nhân tố hạn chế những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững Mặt khác, tăng trưởng kinh tế không thể tách rời các lĩnh vực

Trang 40

hoạt động khác của đời sống xã hội như văn hóa, y tế, giáo dục…Bởi lẽ, tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện để phát triển văn hóa, y tế, giáo dục… Ngược lại, chúng lại tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển bền vững

Đặc trưng thứ tư, “Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả

lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội” [28, tr.140]

Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp, chúng ta

đã thực hiện chế độ phân phối theo lao động Nhưng vì chưa chú ý đúng mức đến kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, nên phân phối theo lao động thực chất lại là phân phối bình quân Vì thế, người làm tốt, làm nhiều cũng không hơn gì người làm xấu, làm ít Điều đó đã không khuyến khích tính tích cực, sáng tạo trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người, tạo nên thói quen dựa dẫm, ỷ lại, làm cho mất động lực của sự phát triển sản xuất

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhất thiết phải thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế Nghĩa là thực hiện nguyên tắc ai làm nhiều, làm tốt sẽ được hưởng nhiều; ai làm ít, làm xấu sẽ được hưởng ít; ai có điều kiện sản xuất, có sức lao động mà không làm thì không được hưởng Chế độ phân phối này gắn kết chặt chẽ giữa lợi ích kinh tế với kết quả và chất lượng lao động, thể hiện sự công bằng trong lĩnh vực phân phối, kích thích tính tích cực của người lao động, tạo được động lực của nền kinh tế Ngoài ra, vốn và những nguồn lực khác như kinh nghiệm sản xuất, trình độ khoa học - công nghệ, thông tin…cũng có sự đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế Do vậy, phân phối còn phải theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.Smith (1977), Của cải của các dân tộc, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Của cải của các dân tộc
Tác giả: A.Smith
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1977
2. Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Đồng Tháp
Năm: 1998
3. Vũ Đình Bách (chủ biên) (2004), Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Bách (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
4. Ban tuyên giáo Trung ƣơng (2008), Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X (dành cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X
Tác giả: Ban tuyên giáo Trung ƣơng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
5. Nguyễn Trần Bạt (2006), Văn hóa và con người, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người
Tác giả: Nguyễn Trần Bạt
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2006
6. Nguyễn Duy Bắc (chủ biên) (2008), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Từ điển Bách khoa và Viện văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Từ điển Bách khoa và Viện văn hóa
Năm: 2008
7. Trần Văn Bính (2010), Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới – Những thời cơ và thách thức, Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới – Những thời cơ và thách thức
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội
Năm: 2010
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Giáo trình kinh tế - chính trị Mác - Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế - chính trị Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
10. C. Mác – Ph. Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác – Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
11. C. Mác – Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác – Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
12. C. Mác – Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác – Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
13. C. Mác – Ph. Ăngghen (1999), Toàn tập, tập 39, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác – Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
14. C. Mác – Ph. Ăngghen (2000), Toàn tập, tập 42, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác – Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
15. C.Mác – Ph. Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác – Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1980
16. C.Mác – Ph. Ăngghen (1984), Tuyển tập, tập 6, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác – Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1984
17. Nguyễn Ngọc Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý ( đồng chủ biên), (2001), Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý ( đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
18. Hà Chuyên (2009), Động lực phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của Việt Nam (Việt Nam có thể trở thành con rồng Châu Á?), Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động lực phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của Việt Nam
Tác giả: Hà Chuyên
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2009
19. David Begg (1992), Kinh tế học, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Tác giả: David Begg
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1992
20. Phạm Văn Dũng (chủ biên) (2009), Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Nxb.Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Phạm Văn Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2009
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w