Sơ lược lịch sử Myanmar Như các nhà Sử học thường nói, lịch sử là một dòng chảy liên tục, nhưng trong bài luận văn này, chúng tôi dựa vào các đặc trưng riêng của Myanmar từng thời kỳ và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THÁI THỊ THANH HƯƠNG
QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HÓA Ở MYANMAR CUỐI THẾ KỶ XX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XXI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THÁI THỊ THANH HƯƠNG
QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HÓA Ở MYANMAR CUỐI THẾ KỶ XX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XXI
(1988-2013)
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
MÃ SỐ: 60.31.50
TP HỒ CHÍ MINH – 2015
Trang 3Em xin gởi lời cảm ơn đến toàn thể các quý thầy cô trong Khoa Đông Phương Học trường Đại học KHXH&NV Tp.HCM Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Ngọc Dung, người đã hướng dẫn em thực hiện đề tài này Thầy đã hết lòng hướng dẫn tận tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn các bạn học viên cao học khóa 2011-2013 chuyên ngành Châu Á học đã đồng hành, hỗ trợ và động viên tôi hoàn thành đề tài này
Lần đầu tiên thực hiện một đề tài nghiên cứu tương đối mới và khó, với thời gian và khả năng nghiên cứu còn hạn chế, luận văn không thể tránh những thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý thầy cô cũng như tù các bạn học viên
Tp.HCM, ngày 04 tháng 11 năm 2015
Học viên
Thái Thị Thanh Hương
Trang 4NCA: Nationwide Ceasefire Agreement Thỏa thuận ngừng bắn toàn quốc
UEC: Myanmar’s Union Election
Commission
Ủy ban bầu cử liên bang Myanmar
SLORC: The State Law and Order
Hiệp hội đoàn kết và phát triển Liên bang
SPDC: The State Peace and Development
Council
Hội đồng hòa bình và phát triển liên bang
NLD: National League for Democracy Liên đoàn quốc gia vì dân chủ
NDF: National Democratic Force Lực lượng dân chủ quốc gia
USDP: Union Solidarity and Development
Party
Đảng đoàn kết và phát triển liên bang
ASEAN: Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ADB: Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á
IMF: International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
KIO/KIA: Kachin Independence Army
Organization
Nhóm quân đội độc lập Kachin
ODA: Official Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức
FDI: Foreign Development Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FII: Foreign Institution Investment Đầu tư gián tiếp nước ngoài
FIL: Foreign Investment Law Luật đầu tư nước ngoài
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DẪN NHẬP 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3.1 Một số công trình nghiên cứu Myanmar nằm trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á 7
3.2 Một số công trình nghiên cứu Myanmar trong phạm vi toàn thế giới và kiến thức về dân chủ và độc tài 8
3.3 Một số công trình nghiên cứu Myanmar riêng rẽ 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
6.1 Phương pháp tiếp cận cá biệt và so sánh 11
6.2 Phương pháp chính trị học 11
6.3 Phương pháp duy vật lịch sử 12
6.4 Phương pháp duy vật biện chứng 12
6.5 Phương pháp lịch sử - logic 12
6.6 Phương pháp tiếp cận liên ngành 12
7 Bố cục của luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HÓA Ở MYANMAR 13
1.1 Cơ sở thực tiễn 13
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 13
1.1.2 Điều kiện dân cư 14
1.1.3 Sơ lược lịch sử Myanmar 15
1.1.3.1 Thời kỳ phong kiến (trước năm 1886) 15
1.1.3.2 Thời kỳ thực dân Anh cai trị và quá trình giành độc lập (1886 – 1948) 16
Trang 61.1.3.3 Thời kỳ độc lập (1948 – nay) 20
1.1.4 Quốc gia Myanmar ngày nay 21
1.1.4.1 Đặc trưng hành chính của Myanmar 21
1.1.4.2 Hệ thống Đảng phái chính trị 22
1.2 Cơ sở lý luận 24
1.2.1 Dân chủ và Dân chủ hóa 24
1.2.1.1 Dân chủ 24
1.2.1.2 Dân chủ hóa 27
1.2.2 Độc tài 28
1.2.3 Cải cách 28
1.2.4 Cách mạng, Cách mạng màu, Cách mạng từ trên 29
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2: NHỮNG YẾU TỐ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HÓA Ở MYANMAR 31
2.1 Yếu tố trong nước 31
2.1.1 Chính sách của chính phủ độc tài quân sự SLORC và SPDC 31
2.1.2 Phong trào đấu tranh của các đảng chính trị và quần chúng nhân dân 35
2.1.3 Ảnh hưởng của cá nhân chính trị đương đại có tầm cỡ 39
2.1.3.1 Tổng thống Thein Sein 39
2.1.3.2 Lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi 41
2.1.3.3 Thống tướng Than Shwe 43
2.2 Yếu tố quốc tế 45
2.2.1 Xu thế của thời đại và bài học kinh nghiệm từ các nước độc tài 46
2.2.2 Sự ủng hộ của quốc tế đối với phong trào dân chủ ở Myanmar 46
2.2.3 Liên Hợp Quốc (UN) 48
2.2.4 Vai trò của Mỹ, EU và các nước trong khu vực 50
Tiểu kết chương 2 60
CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HÓA VÀ DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN DÂN CHỦ Ở MYANMAR 61
3.1 Dân chủ hóa thời chính phủ độc tài quân sự (1988-2010) 61
3.1.1 Dân chủ hóa thời chính phủ độc tài quân sự SLORC (1988-1997) 61
Trang 7Dưới sự lãnh đạo của chính phủ Saw Maung (1988-1992) 61
Dưới sự lãnh đạo của Than Shwe (1992-2010) 62
Quốc dân đại hội 63
3.1.2 Dân chủ hóa thời chính phủ độc tài quân sự SPDC (1997-2010) 65
Đối với các lực lượng vũ trang ly khai 67
Về vấn đề tự trị 68
ề kinh tế 69
3.2 Dân chủ hóa thời chính phủ dân sự (2011-2013) 72
3.2.1 Cải cách chính trị - Giai đoạn thứ nhất của cải cách dân chủ 73
3.2.2 Cải cách kinh tế xã hội - Giai đoạn thứ hai của cải cách dân chủ 77
3.2.3 Cải cách hành chính công - Giai đoạn thứ ba của cải cách dân chủ 81
3.2.4 Cải cách khu vực tƣ nhân - Giai đoạn thứ tƣ của cải cách dân chủ 81
3.2.5 Những thành công về mặt đối ngoại do cải cách dân chủ 83
3.3 Quá trình dân chủ hóa ở Myanmar thời hậu 2013 85
3.3.1 Giai đoạn 2014-2015: 85
3.2.2 Dự báo giai đoạn 2016-2020 88
Tiểu kết chương 3: 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
SÁCH TIẾNG VIỆT: 94
SÁCH TIẾNG ANH: 96
INTERNET: 99
PHỤ LỤC THỜI GIAN 105
NĂM 2010 105
NĂM 2011 105
NĂM 2012 106
NĂM 2013 107
NĂM 2014 108
NĂM 2015 108
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 109
Trang 8NGUỒN: dau-sau-24-nam.aspx 113
Myanmar là một trong số các quốc gia có vị trí địa chính trị rất quan trọng và có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, do đó Myanmar cũng là một nhân tố quốc tế quan trọng ở khu vực Đông Nam Á và thế giới
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, nhưng nhìn chung, tình hình chính trị ở Myanmar từ sau khi giành được độc lập (năm 1948) đến năm 2013 có rất nhiều biến động Trong đó có gần 50 năm do quân đội nắm quyền điều hành đất nước, với chính sách đóng cửa với bên ngoài và bên trong dùng bạo lực đàn áp, cai trị theo lối độc tài làm cho Myanmar rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về mọi mặt Đầu năm
2003, Thống tướng Than Shwe tiến hành cải tổ Nội các, bổ nhiệm Đại Tướng Khin Nyunt - Bí thư Thứ nhất của Hội đồng Hòa bình và Phát triển Liên bang làm Thủ
Trang 9tướng Sau khi nhận chức, Thủ Tướng Khin Nyunt thay mặt chính phủ Myanmar công
bố lộ trình dân chủ 7 bước để đưa Myanmar phát triển dân chủ nhưng thực hiện rất chậm đến bước 6
Tuy nhiên, bước 7 của Lộ trình chỉ được thực hiện rất nhanh với tốc độ như vũ bão khi chính phủ của Tổng Thống U Thein Sein được thành lập (ngày 30/3/2011) Việc thực hiện bước 7 này đã làm thay đổi căn bản diện mạo của Myanmar, khiến cho các nước lớn có cái nhìn khát khao hơn đối với Myanmar, xem đây như một điểm đến mới
trong các cuộc đầu tư của mình, là “quả trứng vàng” còn sót lại của Châu Á chưa
được khai phá Trong số các nhà đầu tư đó phải kể đến Nhật Bản, từ chỗ không có đường bay thẳng tới Myanmar sau mười hai năm ngừng hoạt động do tình hình chính trị bất ổn thì ngày 15/10/2012 hãng hàng không All Nippon Airways (ANA- All Nippon Airways) đã nhanh chóng mở lại đường bay thẳng tới Myanmar, với chặng bay (Narita-Yangon); Với Hoa Kỳ thì Tổng Thống Barack Obama sau khi tái đắc cử nhiệm
kỳ 2 thì ông đã đến Myanmar (ngày 06/11/2012), nhằm khẳng định Myanmar là một điểm đến quan trọng của Hoa Kỳ trong chính sách “Quay trở lại châu Á”; Ngày 02/11/2012, lần đầu tiên trong vòng hai mươi lăm năm kể từ năm 1987, Chính phủ Myanmar tuyên bố phá sản, Ngân Hàng Thế Giới (WB - World Bank) đã đồng ý hỗ trợ
80 triệu USD và một khoản vay cam kết dành cho Myanmar là 165 triệu USD khi Myanmar thanh toán khoản nợ quá hạn của họ; Ngày 28/10/2012, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB- Asian Developmet Bank) cũng công bố kế hoạch hỗ trợ cho Myanmar
và dự báo tiềm năng tăng trưởng kinh tế trong những năm tới Một thành công của Myanmar trên trường quốc tế nữa là vào năm 2014, Myanmar là chủ tịch luân phiên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), điều này chứng tỏ sự lớn mạnh vị thế của Myanmar đã và đang thay đổi theo chiều hướng tích cực và ngày càng phát triển cao hơn Ngày nay, thế giới xem Myanmar là “đối tác” chứ không còn là “đối tượng” nhờ vào các cải cách dân chủ của Chính phủ Tổng thống U Thein Sein Riêng
về mối quan hệ hữu nghị láng giềng với Việt Nam, thì cho tới nay mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Myanmar đã góp phần quan trọng vào tổng thu nhập quốc gia (GNP – Gross National Product) của Việt Nam
Trang 10Với chuyên ngành Khu vực học - Châu Á học và xuất phát từ việc muốn tìm hiểu,
nghiên cứu tình hình chính trị, lịch sử Myanmar, đặc biệt là Quá trình Dân chủ hóa ở Myanmar cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI (1988 – 2013) nên chúng tôi lấy đó
làm chủ đề và nghiên cứu một cách hệ thống hơn về vấn đề này cũng như là hệ quả của quá trình dân chủ hóa đã - đang và sẽ mang lại cho Myanmar Bên cạnh đó, sau khi đề tài này hoàn tất thì đây sẽ là nguồn tư liệu quan trọng nhằm phục vụ cho công tác học thuật hay chuẩn bị kiến thức về Myanmar cho những ai muốn nghiên cứu về đất nước này
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội để làm rõ quá trình dân chủ hóa ở Myanmar (1988 - 2013), từ đó rút ra những hệ quả mà quá trình dân chủ hóa đã mang lại cho người dân Myanmar nói riêng và thế giới nói chung thông qua lợi nhuận thu được do đầu tư vào Myanmar
Trước khi đi vào phân tích quá trình dân chủ hóa ở Myanmar, bước đầu luận văn
sẽ xác định cơ sở lý luận, lý thuyết tiếp cận vấn đề, giải thích các thuật ngữ liên quan đến đề tài
Tiếp theo, luận văn sẽ phân tích và làm rõ các nhân tố thúc đẩy quá trình dân chủ hóa ở Myanmar từ cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, cụ thể là từ 1988 – 2013
Cuối cùng, dựa vào các nhân tố ở trên, luận văn tiếp tục đi sâu và làm rõ quá trình dân chủ hóa diễn ra ở từng giai đoạn, từ đó đưa ra các dự báo xu hướng phát triển tương lai ở Myanmar cũng như xác định các lợi ích của quá trình dân chủ hóa mang lại cho người dân Myanmar
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về Myanmar chủ yếu là về các vấn đề lịch sử, kinh tế, quan hệ quốc tế, văn hóa, tôn giáo, xung đột sắc tộc… Nhưng cho tới hiện tại thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về quá trình dân chủ hóa ở Myanmar từ 1988 đến 2013 Đề tài này rất mới và mang tính cập nhật nên cũng khó khăn cho chúng tôi trong việc tìm nguồn tư liệu chính thống, đặc biệt là trong giai đoạn cuối của đề tài (2010 – 2013) Tuy nhiên để hoàn thành luận văn này, chúng tôi
Trang 11vô cùng biết ơn và trân trọng các học giả trong và ngoài nước đã có những công trình nghiên cứu về Myanmar ở các lĩnh vực riêng rẽ khác nhau hay nghiên cứu Myanmar trong khu vực Đông Nam Á nói riêng và toàn thế giới nói chung
3.1 Một số công trình nghiên cứu Myanmar nằm trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á
Lịch sử Đông Nam Á , Lương Ninh (cb) – Đỗ Thanh Bình – Trần Thị Vinh 2008:
Nxb Giáo dục, Hà Nội Công trình này cho chúng ta kiến thức sơ lược về tình hình chính trị - xã hội và kinh tế của Myanmar giai đoạn (1989-2005) Ngoài ra, còn có các cuốn sách trình bày về về lịch sử, tôn giáo, văn hóa của Myanmar như:
Những tương đồng giữa các lễ hội cổ truyền Đông Nam Á, Trần Bình Minh 2000:
Nxb Văn hóa thông tin
Lịch sử Đông Nam Á, Hall D.G.E 1997: Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội
Tôn giáo trong đời sống văn hóa Đông Nam Á, Trương Sỹ Hùng 2010: Nxb Văn
hóa Thông tin
Địa lý Đông Nam Á Môi trường tự nhiên và các đặc điểm nhân văn, kinh tế - xã hội, Huỳnh Văn Giáp 2003: Nxb Đại học Quốc gia Tp HCM
Đông Nam Á những vấn đề văn hóa – xã hội, Nhiều tác giả 2000: Nxb Đại học
Quốc gia Tp HCM
Những phong tục độc đáo của Đông Nam Á, Ngô Văn Doanh, Vũ Quang Thiện
1994: Nxb Văn hóa thông tin
Văn hoá lễ hội của các dân tộc ở Đông Nam Á, Phan Hữu Dật (chủ biên)1992:
NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội
Văn hóa Đông Nam Á, Mai Ngọc Chừ 1999: Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội
Sự hình thành chủ nghĩa khu vực ASEAN, Nguyễn Ngọc Dung 2002: Nxb Đại học
Quốc gia Tp HCM
Trang 12ASEAN trong chính sách hướng đông của Ấn Độ, Võ Xuân Vinh 2013: Nxb
Chế độ dân chủ nhà nước và xã hội, N.M Voskresenskaia, N.B Davletshina, Phạm
Nguyên Trường (biên dịch) 2009: Nxb Tri Thức Cuốn sách này cho chúng ta kiến thức về dân chủ, xã hội và các giá trị dân chủ, quyền con người trong xã hội dân chủ, các đảng chính trị và tổ chức xã hội
Thể chế chính trị thế giới đương đại, Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn An (chủ biên)
2003: Nxb CTQG Hà Nội
Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu 2001:
Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Dân chủ với phát triển cộng đồng, Trần Quang Nhiếp 2006: Nxb CAND
Dân chủ hóa và phát huy nội lực, Hồ Bá Thâm 2007: Nxb Phương Đông
Về vấn đề dân chủ và độc tài ở một số nước như Philippine, Hàn Quốc, Liên Xô, Mỹ… đã được nghiên cứu làm rõ nhưng quá trình dân chủ hóa ở Myanmarlà một vấn
đề chưa được tìm hiểu sâu
3.3 Một số công trình nghiên cứu Myanmar riêng rẽ
Lịch sử Myanma, Vũ Quang Thiện 2005: Nxb KHXH Hà Nội Trong công trình
này đã cho chúng ta biết tổng quan về lịch sử, đất nước và con người Myanmar từ thiên niên kỷ I Trước Công Nguyên (TCN) cho đến năm 2005
Quá trình phát triển của Myanma, Vũ Quang Thiện 1997: Nxb KHXH Hà Nội
Trong công trình này cho chúng ta thấy rõ quá trình phát triển của Myanmar từ sau khi giành độc lập từ Anh năm 1948 - 1996
Trang 13Mianma lịch sử và hiện tại, Chu Công Phùng 2011: Nxb CTQG-Sự Thật Hà Nội
Công trình này cho chúng ta kiến thức tổng quan về lịch sử, kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội của Myanmar từ lúc hình thành nhà nước tới năm 2010
Myanmar cuộc cải cách vẫn đang tiếp diễn, Nguyễn Duy Dũng (chủ biên) 2013:
Nxb Tư liệu Bách Khoa Hà Nội Công trình này cho chúng ta kiến thức khái quát về đất nước và con người Myanmar, tiến trình cải cách kinh tế chính trị của quốc gia này
từ năm 2003 đến nay và tác giả còn dự báo xu hướng và triển vọng phát triển của Myanmar
Đối thoại với các nền văn hóa: Miến Điện, Trịnh Huy Hóa 2005 giới thiệu đất
nước và văn hóa Miến Điện từ điều kiện tự nhiên, nguồn gốc dân tộc, lịch sử, kinh tế, ngôn ngữ, tôn giáo, lễ hội, phong tục cho chúng ta thấy toàn cảnh về đất nước và con
người Myanmar
The Roadmap = Lộ trình, Suragamika 2011: Nxb Silkworm Book, Thailand Tác
phẩm này cho chúng ta thấy những hoạt động ngầm cho phong trào dân chủ ở Myanmar chống lại chế độ độc tài quân đội từ năm 1988 đến năm 2010
The Burma road to capitalism economic growth versus democracy = Miến Điện con đường đi lên sự tăng trưởng kinh tế của chủ nghĩa tư bản đi ngược với dân chủ,
Mya Maung 1998: Nxb Praeger, The USA Trong công trình này cho chúng ta kiến thức về điều kiện kinh tế của Myanmar giai đoạn (1948 - 1995), quan hệ kinh tế đối ngoại, chính trị và chính phủ độc tài
Myanmar (Burma): A Lonely Planet travel survival kit = Cẩm nang du lịch sống còn của một hành tinh đơn lẻ, Joe Cummings, Tony Wheeler1996, Lonely Planet
Publisher
Myanmar: Beyond Politics to Societal Imperatives = Myanmar: Phía sau các hoạt động chính trị tới những cấp bách xã hội, Kyaw Yin Hlaing; Robert H Taylor; Tin
Maung Maung Than 2005 Singapore
Myanma 's Long Road to National Reconciliation = Chặng đường dài tiến tới hòa giải dân tộc của Myanmar, The Australian National University, 2006
Trang 14State Dominance in Myanmar: The Political Economy of Industrialization = Sự cầm quyền của nhà nước ở Myanmar: Nền kinh tế chính trị của công nghiệp hóa, Tin
Maung Maung Than 2007, Singapore
Phim The Lady (2011): do đạo diễn người Đức là Luc Besson sản xuất với nội
dung nói về câu chuyện của nhà hoạt động dân chủ ở Myanmar(Aung San Suu Kyi) Qua bộ phim này tác giả đã tái hiện lại cảnh cuộc đời của Aung San Suu Kyi - nhà hoạt động dân chủ của Myanmar từ lúc bà mới 2 tuổi và những thăng trầm của cuộc đời bà sau này
Phim tư liệu Aung San Suu Kyi Lady of No Fear (2013): do Tạp chí Thế giới
(World Magazine) thực hiện Qua bộ phim này chúng ta hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời của người phụ nữ với thân hình nhỏ nhắn hơi gầy nhưng bà lại có một sức mạnh đấu tranh phi thường để đòi dân chủ cho người dân của Đất nước Chùa vàng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Qua tên đề tài luận văn là “Quá trình Dân chủ hóa ở Myanmar cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI (1988 – 2013)” thì đối tượng nghiên cứu chính là quá trình dân
chủ hóa ở Myanmar thể hiện qua các mặt như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Thông qua các mặt đó sẽ làm rõ được quá trình dân chủ ở Myanmar (1988 – 2013)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian nghiên cứu, luận văn chủ yếu tập trung tìm hiểu, phân tích làm rõ quá trình dân chủ hóa ở Myanmar, bên cạnh đó luận văn cũng đề cập đến các mối quan
hệ quốc tế và các đối tác kinh tế của Myanmar như Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, Ấn
Độ, Trung Quốc, Việt Nam…
Về thời gian, luận văn xác định mốc thời gian từ 1988 – 2013 Luận văn sử dụng mốc thời gian này là vì thời gian này xảy ra cuộc nổi dậy của nhân dân Myanmar (08/8/1988) để chống lại sự cai trị của chính phủ độc tài Ne Win hay còn gọi là Phong trào Dân chủ 8888
Trang 155 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Sau khi đề tài này hoàn tất thì sẽ góp phần làm sáng tỏ quá
trình dân chủ hóa ở Myanmar nói riêng và ở các nước đang phát triển nói chung Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những tư liệu mới, thông tin mới liên quan đến quá trình phát triển ở Myanmar, đặc biệt là quá trình dân chủ hóa (1988 – 2013)
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể giúp cho sinh viên
có được nguồn tài liệu tham khảo về các bước chuyển đổi hiện nay ở Myanmar, và giúp các doanh nghiệp hay cá nhân muốn hợp tác làm ăn với Myanmar sẽ có thêm kiến thức để hiểu rõ đối tác, từ đó ra quyết định nên đầu tư và hợp tác vào lĩnh vực nào sẽ mang lại lợi ích lớn hơn
6 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp tiếp cận cá biệt và so sánh, phương pháp chính trị học, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lịch sử và phương pháp tiếp cận liên ngành
6.1 Phương pháp tiếp cận cá biệt và so sánh
Tiếp cận cá biệt là nghiên cứu tách biệt Myanmar với các nước khác để làm bộc lộ quá trình dân chủ ở Myanmar vì bản chất và nét đặc thù của mỗi chủ thể sẽ khác nhau Tiếp cận so sánh là so sánh quá trình dân chủ ở Myanmar với các nước khác và so sánh quá trình dân chủ ở Myanmar từng giai đoạn lịch sử để làm rõ quá trình dân chủ ở Myanmar
6.2 Phương pháp chính trị học
Thông qua cơ chế bầu cử, cơ chế quyền lực, thể chế chính trị và nhà nước, các phong trào dân chủ và hoạt động của các đảng chính trị để làm rõ quá trình dân chủ hóa
ở Myanmar
Trang 166.3 Phương pháp duy vật lịch sử
Lực lượng sản xuất (LLSX), quan hệ sản xuất (QHSX), cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến trúc thượng tầng (KTTT) ở Myanmar luôn vận động và tác động qua lại lẫn nhau làm cho hình thái kinh tế xã hội (HT KT-XH) ở Myanmar cũng luôn vận động
6.4 Phương pháp duy vật biện chứng
Myanmar không phải là một ngoại lệ, từ lúc hình thành nhà nước tới nay thì luôn vận động nhưng cũng có lúc đứng yên hoặc thụt lùi do hoàn cảnh lịch sử riêng Nhưng quy luật tất yếu vẫn là từ thấp tới cao, cho dù Myanmar có lúc thụt lùi nhưng đến một lúc nào đó đã tích lũy đủ mọi nhân tố thì sẽ tạo nên một bước nhảy vọt về mọi mặt
6.5 Phương pháp lịch sử - logic
Dựa trên những tư liệu thực tiễn của lịch sử mà phân tích để rút ra các nhận định
về dân chủ ở Myanmar Qua mỗi sự kiện xẩy ra nó có liên quan gì tới quá trình dân chủ hay không
6.6 Phương pháp tiếp cận liên ngành
Sử dụng kiến thức từ những lĩnh vực như lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị
để xem xét quá trình dân chủ ở Myanmar
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục thì luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn nghiên cứu quá trình dân chủ hóa ở Myanmar Chương 2: Những yếu tố thúc đẩy quá trình dân chủ ở Myanmar
Chương 3: Quá trình dân chủ hóa ở Myanmar và dự báo xu hướng phát triển dân chủ ở Myanmar
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH
DÂN CHỦ HÓA Ở MYANMAR 1.1 Cơ sở thực tiễn
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Myanmar1 nằm ở lục địa Đông Nam Á, có tổng diện tích khoảng 676.578km2 Phía Bắc Myanmar giáp với Trung Quốc, tổng chiều dài biên giới khoảng 2.185km; phía Đông tiếp giáp với Lào và Thái Lan, đường chung biên giới với Lào dài 238km và với Thái Lan là 1.799km; phía Tây giáp với Ấn Độ và Bangladesh, trong đó đường biên giới chung với Ấn Độ dài 1.462km và với Bangladesh là 72km; phía Nam giáp biển Andaman và vịnh Bengal Tổng chiều dài đường bờ biển của Myanmar là 2.965km Nhờ có đường bờ biển dài và vị trí chiến lược rất quan trọng - nối Đông Nam
Á với Tây Á và gần những tuyến đường hàng hải lớn đi qua Ấn Độ Dương, do đó, Myanmar luôn là một trong những địa điểm đến đầy thu hút đối với các chuyến hàng hải và du lịch trên thế giới
Địa hình Myanmar trải dài, thấp dần từ Bắc xuống Nam Phía Bắc, phía Tây, phía Đông của Myanmar đều có núi bao quanh, tạo thành thế khép kín với các nước láng giềng Dãy núi Hengduan giáp với Trung Quốc là dãy núi cao nhất Myanmar Với đỉnh núi Hkakabo Riza cao 5.881m so với mặt nước biển
Myanmar có ba con sông lớn chảy từ Bắc xuống Nam là sông Ayeyarwady2 dài nhất Myanmar 2.150km, sông Thanlwin3 dài 1.660km và sông Sittang4 dài 420km Ba con sông này bồi đắp nên những đồng bằng rộng lớn và màu mỡ cho Myanmar, trong
đó đồng bằng Irrawaddy rộng 35.000km2 Ba con sông lớn này không chỉ tạo ra các đồng bằng màu mỡ, nguồn thủy sản phong phú, các cánh đồng phì nhiêu nơi nó chảy qua mà còn là tuyến đường thủy quan trọng, giúp cho việc lưu thông giữa các vùng miền dễ dàng hơn, đây cũng chính là nguồn thủy điện tiềm năng to lớn của đất nước Myanmar
1 Myanmar là quốc hiệu của Myanmar từ tháng 5 năm 1989, trước đó là Burma (Miến Điện)
2
Ayeyarwady còn có tên cũ là Irrawady.
3 Thanlwin còn có tên cũ là Salween.
4 Sittang còn có tên mới là Sittoung
Trang 18Về khí hậu, Myanmar bị chi phối bởi chu kỳ gió mùa hằng năm, tạo thành hai mùa chính là mùa khô (tháng 12 – tháng 4) và mùa mưa (tháng 6 – tháng 9), xen giữa một thời kỳ ngắn chuyển tiếp, với nhiệt độ trung bình trong năm là 27oC Mặc dù khí hậu ở Myanmar có sự pha trộn giữa nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa, song do địa hình trải dài từ Bắc xuống Nam, được che chắn ở các dãy núi cao phía Bắc, nên những đặc điểm này đã đem đến cho đất nước Myanmar nhiều cảnh sắc thiên nhiên phong phú và đa dạng
1.1.2 Điều kiện dân cƣ
Về dân cư và thành phần tộc người: Tính đến tháng 2/2012, dân số Myanmar khoảng 54.584.650 người Cũng giống như các quốc gia Đông Nam Á, Myanmar là một quốc gia đa tộc người, trong đó người bản địa Burma chiếm tỷ lệ đông nhất với 68%, ngoài ra còn có một số dân tộc khác như: Shan (9%), Karen (7%), Trung Quốc (3%), Ấn Độ (2%) và các dân tộc khác chiếm 5%
Các dân tộc khác nhau nói tiếng khác nhau, nhưng ngôn ngữ chính là tiếng Miến Điện và được Hiến pháp quốc gia công nhận Ngoài ra, vì từng là thuộc địa của Anh trong một thời gian khá dài nên người dân Myanmar cũng dùng tiếng Anh như ngôn ngữ phổ biến Qua chuyến đi thực tế ở Myanmar 10 ngày từ ngày 12- 21/05/2013, chúng tôi đã chứng kiến những người bán tạp hóa bình thường ở vùng núi xa thành phố cũng sử dụng thành thạo tiếng Anh trong việc buôn bán bình thường
Myanmar được mệnh danh là Đất nước Chùa vàng Phật giáo theo truyền thống Nam Tông (tiểu thừa) sớm du nhập, phát triển và được sùng bái ở quốc gia này Do vậy, có hơn 89% người dân Myanmar theo Phật giáo, còn lại thì theo đạo Hồi (4%), Thiên chúa giáo (4%) và các đạo khác [72]
Nhìn chung, là một quốc gia thuộc khu vực châu Á, Myanmar cũng có những đặc điểm đặc trưng mang đậm chất Phương Đông như là cái nôi của loài người, địa hình và khí hậu đa dạng, đa văn hóa, đa tộc người Tuy nhiên, ở Myanmar cũng có những bản sắc riêng có tạo nên một nền văn hóa Myanmar đặc trưng riêng biệt, là một điểm đến du lịch của nhiều du khách trên thế giới
Trang 191.1.3 Sơ lược lịch sử Myanmar
Như các nhà Sử học thường nói, lịch sử là một dòng chảy liên tục, nhưng trong bài luận văn này, chúng tôi dựa vào các đặc trưng riêng của Myanmar từng thời kỳ và tạm chia lịch sử Myanmar thành ba giai đoạn như sau: Thời kỳ phong kiến (trước năm 1886); Thời kỳ thực dân Anh cai trị và quá trình giành độc lập (1886 – 1948); Thời kỳ
độc lập (1948 – nay)
1.1.3.1 Thời kỳ phong kiến (trước năm 1886)
Châu Á với các đặc thù địa hình, sông ngòi dày đặc, với lượng lớn phù sa bồi đắp nên những đồng bằng lớn, màu mỡ, là nơi thích hợp cho con người hoạt động, sinh sống, do đó, nơi đây đã hình thành những quốc gia cổ từ rất sớm, và Myanmar cũng không ngoại lệ Chính vì vậy, ở Myanmar đã sớm hình thành các Nhà nước phong kiến
và có vai trò quan trọng trong tiến trình hình thành đất nước Myanmar hiện đại
Vào khoảng thế kỷ thứ III Trước Công nguyên, người Mon từ những vùng đất gần Thái Lan và Campuchia ngày nay đã tiến vào Miến Điện, di cư xuống vùng đồng bằng Ayeyarwady lập nên vương quốc Thanlwin và Sittang Khoảng thế kỷ I trước Công nguyên, một số bộ tộc Tạng – Miến trong đó có người Pyu và những bộ tộc liên minh với họ, từ sườn đông nam cao nguyên Tây Tạng họ “tiến về phía Nam” vào thung lũng thượng nguồn sông Ayeyarwady lập nên các quốc gia phong kiến ở miền Trung Miến Điện như Beikthano, Hanlin, Sri Ksetra (Thayekhittaya) Các triều đại của người Pyu phát triển rực rỡ trong khoảng 400 năm.[74] Tuy nhiên, đến các thế kỷ sau thì quốc gia này đã hoàn toàn bị biến mất Sau đó thì người Miến từ phía đông dãy Himalaya đến thay thế người Pyu (khoảng thế kỷ VIII-IX) ở vùng Trung Miến Điện và lập nên vương quốc riêng của mình ở đây
Có thể nói, những quốc gia của các tộc người kể trên là những triều đại phong kiến đầu tiên của Miến Điện Những thế kỷ tiếp theo là những khoảng thời gian chứng kiến sự phát triển, suy tàn của các vương triều phong kiến Miến Điện Lịch sử phong kiến Miến Điện được đánh dấu bởi ba đế chế phong kiến hùng mạnh: Thời kỳ đế quốc Miến Điện lần thứ nhất – triều đại Pagan (1044-1287), Thời kỳ đế quốc Miến Điện lần thứ hai – triều đại Toungoo (1551-1752), Thời kỳ đế quốc Miến Điện lần thứ ba – triều
Trang 20đại Konbaung (1752-1885) Xen giữa thời kỳ đế quốc lần thứ nhất và lần thứ hai là Thời kỳ chia cắt do bị quân Nguyên Mông đánh chiếm xâm lược, Thời kỳ đế quốc thứ hai được tiếp nối khi người Shan đẩy lùi được giặc ngoại quốc Đến đầu thế kỷ XVI, trên lãnh thổ Miến Điện hình thành bốn trung tâm quyền lực mang đậm chất chủng tộc: phía Bắc là quốc gia Ava (tên cũ là In-wa, tức là “lối vào hồ”) của người Shan; phía Nam là quốc gia Bago của người Mon; phía Đông là quốc gia Toungoo của người Miến; và phía Tây là quốc gia của người Rakhine
Trong số các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á lục địa, có lẽ Miến Điện là nước được người phương Tây ghé thăm và mô tả vào loại sớm nhất Người Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan lần lượt và đồng thời đến chiếm đóng, thực hiện những tham vọng
bá chủ của mình tại vùng đất “răng vàng” [15:74] này, cũng như là làm bàn đạp tấn công các quốc gia láng giềng khác Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XVIII, do nhiều nguyên
do khác nhau, tham vọng của các quốc gia này không được thực hiện và lần lượt đặt dấu chấm hết tại Miến Điện
Nhìn chung, cũng như các quốc gia châu Á khác, lịch sử phong kiến của Myanmar là chuỗi di cư và thành lập các tộc người khác nhau, ở đó có những cuộc xâm chiếm, tranh giành lãnh thổ và có cả những cuộc viếng thăm của người phương Tây Qua các năm tháng và biến động lịch sử, ở Miến Điện cũng hình thành nên các sắc thái văn hóa, tôn giáo, dân tộc, tộc người khác nhau tương ứng với lịch sử của từng thời kỳ
1.1.3.2 Thời kỳ thực dân Anh cai trị và quá trình giành độc lập (1886 – 1948)
Như ở mục trên đã nói, Miến Điện là quốc gia có sự xâm nhập của các nước phương Tây vào loại sớm nhất trong khu vực Đông Nam Á và đã kết thúc vào cuối thế
kỷ XVIII Tuy nhiên, với tham vọng “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh”
đã khiến Anh quốc một lần nữa thực hiện ý đồ bá chủ của mình tại Miến Điện khi nền móng thuộc địa của Anh được khẳng định vững chắc tại Ấn Độ Để thôn tính Miến Điện, người Anh đã tiến hành chính sách chia rẽ dân tộc, ủng hộ phong trào ly khai của các dân tộc thiểu số, tuy nhiên những hành động này của Anh không tạo được cho họ
sự “an toàn quyền lực” của mình, và thực dân Anh bắt đầu bộc lộ rõ sự hiếu chiến của
họ thông qua ba cuộc chiến tranh: Chiến tranh Anh – Miến lần thứ nhất (1824 – 1826);
Trang 21Chiến tranh Anh – Miến lần thứ hai (1852 – 1853); Chiến tranh Anh – Miến lần thứ ba (1885) Cuộc chiến tranh thứ nhất kết thúc bằng Hiệp ước mang tính chất bán nước (Hiệp ước Yandabo và Hiệp ước thương mại) [15:131] và đầu hàng của triều đình Ava
Từ thời điểm này, lịch sử Miến Điện chuyển sang một thời kỳ đau buồn và mất mát, trên danh nghĩa họ vẫn còn giữ chủ quyền nhưng thực sự họ đã mất dần chủ quyền lãnh thổ và các quyền cơ bản của một nhà nước – quốc gia độc lập Cuộc chiến thứ hai, người Anh dần mở rộng sự ảnh hưởng của mình xuống vùng Hạ Miến Đến cuộc chiến thứ ba, sau hơn 60 năm (1824 – 1886), thực dân Anh đã hoàn tất việc xâm lược Miến Điện, biến nơi này thành thuộc địa của mình và sáp nhập nó thành một bang của Ấn Độ thuộc Anh (người Myanmar gọi đó là “thuộc địa của thuộc địa”
Cùng với việc mất chủ quyền, sức người và nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác đến mức kiệt quệ là một điều sỉ nhục đối với nhân dân Miến Điện Lòng tự hào dân tộc với một vương quốc cổ đại với bao truyền thống vẻ vang đã bị thực dân Anh làm tổn thương khi người Anh dùng người Ấn Độ và người dân tộc thiểu số cai trị
họ, những người thuộc tầng lớp trên trong xã hội cũng bị đối xử không đúng mức Hơn nữa, chính sách chia để trị, phân vùng cai trị theo từng sắc tộc, đưa người Miến ra khỏi một số vị trí quan trọng trong bộ máy hành chính đã không gây dựng được lòng tin và
sự trung thành của người dân như hệ thống cai trị cũ dưới thời phong kiến Thêm vào
đó, trong quá trình thiết lập chế độ thuộc địa tại Miến của người Anh vấp phải nhiều sự phản đối của nhân dân khi xóa bỏ cơ cấu làng truyền thống và thay vào đó là mô hình cai quản mới kiểu đơn vị hành chính – dân sự Tất cả những nguyên do này đã tạo nên
sự phản ứng dữ dội trong các tầng lớp nhân dân Miến và là cơ sở cho phong trào dân tộc chủ nghĩa phát triển, đấu tranh chống thực dân Anh trong những thập niên đầu thế
kỷ XX
Cũng như hầu hết các quốc gia khác trong khu vực, phong trào giải phóng dân tộc chống thực dân Anh ở Miến Điện đầu thế kỷ XX cũng được dẫn dắt bởi tầng lớp tri thức yêu nước và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các tầng lớp trong nhân dân Mỗi tầng lớp trong xã hội đều đấu tranh vì một mục tiêu riêng nhưng trên hết vẫn là tinh thần yêu nước và chiến đấu ngoan cường của người dân Miến Điện đã được xây dựng
từ trong truyền thống
Trang 22Năm 1947, nhân dân Miến Điện đã giành độc lập từ Anh quốc Hơn nửa thế kỷ dưới ách thống trị của thực dân Anh, người dân Miến đã sử dụng hai hình thức đấu tranh Nghị trường và đấu tranh vũ trang để giành độc lập dân tộc Những sự kiện đáng chú trong thời kỳ này là:
Sau nhiều năm kiên trì đấu tranh trên Nghị trường, ngày 01/4/1937, thực dân Anh phải đồng tách “Bang Miến Điện” ra khỏi Ấn Độ, Miến Điện được thành lập một chính phủ riêng dưới sự quản l của Toàn quyền Anh Tuy chỉ độc lập trên danh nghĩa hành chính, nhưng việc Miến Điện tách ra khỏi Ấn Độ đã chấm dứt thời kỳ
“thuộc địa của thuộc địa” và được coi là một thắng lợi tinh thần quan trọng của nhân dân Miến Điện trong cuộc đấu tranh chống lại ách thống trị của thực dân Anh
Còn trên mặt trận đấu tranh vũ trang, đáng chú là ngày 28/12/1941, sau khi quân đội Nhật Bản đổ bộ vào cực Nam Miến Điện tuyên chiến với quân Anh, quân đội quốc gia Miến Điện (BNA- Burma National Army) được thành lập dưới sự chỉ huy của tướng Aung San và các đồng đội được đào tạo quân sự tại Nhật Bản Quân đội quốc gia Miến Điện phối hợp với quân Nhật vừa dẫn đường vừa tấn công, truy kích quân Anh Cuối tháng 5/1942, chỉ sau nửa năm giao chiến, quân đội Nhật Bản và quân đội quốc gia Miến Điện đã đánh đuổi quân Anh, Ấn và quân Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch ra khỏi Miến Điện
Sau khi Anh bị hất cẳng khỏi Miến Điện, người dân nơi đây bị mê hoặc bởi khẩu hiệu “Châu Á của người châu Á” do Nhật dựng nên và cho rằng nền độc lập của nước nhà sẽ đạt được thông qua sự giúp đỡ của người Nhật Lợi dụng tình hình, Nhật Bản đã dựng lên chính phủ bù nhìn do bác sỹ Ba Maw đứng đầu và tuyên bố Miến Điện là một nước độc lập với điều kiện phải đứng về phía Nhật chống lại Đồng Minh
và cam kết hợp tác cùng người Nhật xây dựng một khu “Đại Đông Á thịnh vượng” do người Nhật đứng đầu [15:430] Trước tình hình Phát xít Nhật lật lọng, không trao trả độc lập cho Miến Điện, ngược lại còn thực hiện chính sách thống trị dã man và vơ vét tài nguyên của Miến Điện, đã khiến cho người dân Miến vỡ mộng và làm cho cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Miến tăng cao hơn, nhất là từ năm 1944 Ngày 06/8/1944, Quân đội quốc gia Miến Điện và các lực lượng yêu nước khác thành lập Liên đoàn Tự do Nhân dân chống phát-xít (AFPFL - Anti-Fascist People of
Trang 23Freedom League) do tướng Aung San làm Chủ tịch tiến hành khởi nghĩa chống Nhật
và hợp tác với quân Đồng Minh cùng đánh đuổi quân Nhật Liên đoàn nhân dân chống phát xít ra điều kiện và được quân đội Anh chấp nhận “cam kết trao độc lập cho Miến Điện ngay sau khi kết thúc chiến tranh” Ngày 12/8/1945, quân Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện và rút khỏi Miến Điện
Với sự đấu tranh khôn khéo và cương quyết của tướng Aung San chống lại âm mưu của thực dân Anh muốn tiếp tục thống trị Miến Điện, ngày 27/01/1947, Anh buộc phải k với Miến Điện Hiệp ước Aung San – Attlee, công nhận nội các Aung San là chính phủ Miến Điện lâm thời có quyền lực của một Nội các tự trị Thực dân Anh hy vọng vẫn giữ được ảnh hưởng ở Miến Điện và từng bước chuyển giao chính quyền trong vòng 10 năm, nhưng đầu tháng 4/1947, trước sự ngỡ ngàng của người Anh, Miến Điện đã tổ chức bầu cử Quốc hội lập hiến, tuyên bố Miến Điện từ bỏ Khối cộng đồng Anh Tướng Aung San được Quốc hội bầu làm Thủ tướng chính phủ lâm thời
Trong khi cả đất nước Miến Điện đang háo hức chờ đợi ngày độc lập thì ngày 19/7/1947, Thủ tướng Aung San cùng 7 Bộ trưởng trong tân Nội các bị ám sát Cả đất nước Miến Điện choáng váng, năm đó Aung San mới 32 tuổi và Aung San Suu Kyi - con gái út của ông mới 2 tuổi (giờ đây Aung San Suu Kyi là người rất nổi tiếng được
cả thế giới biết đến như là một lãnh tụ dân chủ của Myanmar) Nghi phạm phía sau vụ
ám sát Thủ tướng Aung San và 7 Bộ trưởng là lực lượng đối lập trong Quốc hội do U Saw làm thủ lĩnh Năm 1948, trước sự căm phẫn của nhân dân Miến Điện, U Saw bị nhà cầm quyền Anh xử án, kết tội và treo cổ
Sau khi Aung San chết, Thống đốc Anh mời chủ tịch Quốc hội U Nu đứng ra lập Nội các mới Ngày 24/9/1947, Hội đồng lập pháp Miến Điện thông qua Hiến pháp mới, đặt tên nước là “Liên bang Miến Điện” Ngày 04/01/1948, vào lúc 4 giờ sáng – giờ Hoàng đạo theo các nhà chiêm tinh Miến Điện chọn – trước khi mặt Trời mọc, dưới ánh sáng lung linh huyền ảo tỏa ra từ chùa vàng Shwe Dagon ở Thủ đô Yangon, nhân dân Miến Điện hân hoan đón chào lễ độc lập Lá cờ Anh từ từ hạ xuống sau gần một thế kỷ ngang nhiên tồn tại, thay vào đó là quốc kỳ Miến Điện từ từ lên cao đón gió tung bay, mở đầu kỷ nguyên độc lập thật sự của đất nước Chùa Vàng Từ đây, Miến Điện trở thành một nước cộng hòa với Thủ tướng đầu tiên là U Nu và Tổng thống là
Trang 24Sao Shwe Thaik Nước Miến độc lập quyết định cắt mọi ràng buộc với Anh, kể cả việc
từ chối gia nhập Khối Thịnh vượng chung, ngoại trừ các mối quan hệ ngoại giao bình thường
1.1.3.3 Thời kỳ độc lập (1948 – nay)
Thời kỳ này Thế giới biết đến Myanmar như là một nơi xảy ra nhiều cuộc đảo chính và đầy bất ổn chính trị nhất ở khu vực Đông Nam Á Như vậy, có thể chia thời hiện đại này thành các giai đoạn nhỏ như sau:
Giai đoạn 1948 - 1962, Thủ Tướng U Nu lãnh đạo Myanmar theo mô hình dân chủ đại nghị của phương Tây
Giai đoạn 1962 – 2010, là giai đoạn mà chính phủ độc tài quân đội cầm quyền với ba thời kỳ nhỏ sau :
Từ năm 1962 đến 1988, là thời kỳ Tướng Ne Win cầm quyền thông qua cuộc
đảo chính quân sự ngày 03/02/1962, đã dẫn đến việc thành lập Hội đồng Cách mạng -
Cơ quan lãnh đạo tối cao của Nhà nước - do Tướng Ne Win làm Chủ tịch Năm 1988,
Ne Win từ chức, rồi Tướng Xein Luyn lên thay Ngày 12/8/1988, Xein Luyn từ chức, Tướng Maung Maung lên thay
Từ năm 1988 – 1992, sau khi thực hiện thành công cuộc đảo chính quân sự ngày
19/8/1988, Tướng Saw Maung lên cầm quyền Từ đây, Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp (SLORC - The State Law and Order Restoration Council), lực lượng lãnh đạo mới ở Myanmar đã bắt tay vào việc ổn định tình hình chính trị và phục hồi sự phát triển kinh tế
Từ năm 1992 – 2010, là thời kỳ do Thống Tướng Than Shwe cầm quyền do
Tướng Saw Maung về hưu vì l do sức khỏe ngày 23/4/1992 Ngày 15/11/1997, Hội đồng Khôi phục Luật pháp và Trật tự Quốc gia đổi tên thành Hội đồng Hòa bình và Phát triển Quốc gia (SPDC - The State Peace and Development Council)
Giai đoạn 2011 – 2013, là thời kỳ do Ông Thein Sein làm Tổng Thống thống qua cuộc tổng tuyển cử ngày 07/11/2010 Đây là giai đoạn Myanmar mở cửa và cải cách làm thay đổi bộ mặt và nâng vị thế Myanmar lên trong khu vực và thế giới Giai đoạn này Myanmar gặt hái được nhiều thành công trong nước và quốc tế: trong nước
Trang 25thì được nhân dân đồng tình và hưởng ứng, đối với khu vực thì được ASEAN tin tưởng
và giao trọng trách chức chủ tịch luân phiên năm 2014, đăng cai thành công Đại hội thể thao khu vực Đông Nam Á (SEA Games - Southeast Asia Games) vào tháng 12, và được Mỹ và Châu Âu nới lỏng các biện pháp cấm vận
Trong tương lai gần, chúng tôi chắc rằng Myanmar sẽ ngày một tốt hơn và Myanmar sẽ sớm nhường vị trí kém phát triển cho nước khác và vươn lên với một tốc
độ nhanh làm cho đời sống của nhân dân Myanmar được nâng cao
1.1.4 Quốc gia Myanmar ngày nay
Myanmar từ lúc giành độc lập từ tay người Anh đã trải qua nhiều chế độ khác nhau: Cộng hòa đại nghị (1948 - 1962), chế độ độc tài quân sự (1962 - 2011), chế độ cộng hòa tổng thống (2011 - 2015)
1.1.4.1 Đặc trƣng hành chính của Myanmar
Ngày quốc khánh của Myanmar là ngày 04/01/1948, lấy Quốc hiệu là Miến Điện (Burma) Ngày 01/01/1974, chính phủ Ne Win công bố Hiến pháp mới thay thế
Hiến pháp 1947, đặt tên nước là “Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Miến Điện”
Ngày 23/9/1988, Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp quốc gia tuyên bố đổi tên nước thành “Liên bang Miến Điện” Từ tháng 5/1989, Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp quốc gia quyết định đổi quốc hiệu Miến Điện (Burma) thành Myanmar với
l do không nên dùng tên do thực dân Anh đặt ra mà dùng tên gốc bản xứ Tên nước
chính thức được gọi là “Liên bang Myanmar” Ngày 22/10/2010, chính phủ Myanmar
quyết định đổi tên nước thành “Cộng hòa Liên bang Myanmar” (The Repubic of the Union of Myanmar) và thay đổi Quốc kỳ trước khi tiến hành Tổng tuyển cử Quốc kỳ mới của Myanmar có hình chữ nhật, chia thành ba phần ngang bằng nhau với 3 màu: từ trên xuống là màu vàng, xanh và đỏ, ở giữa ngôi sao 5 cánh màu trắng Trong đó, màu vàng tượng trưng cho tình đoàn kết giữa các dân tộc, cũng là màu Phật giáo; màu xanh tượng trưng cho ổn định, hòa bình và thống nhất; màu đỏ tượng trưng cho lòng dũng cảm và quyết đoán Ngôi sao năm cánh màu trắng tượng trưng cho sự thuần khiết, minh bạch
Trang 26Từ khi độc lập đến nay, Myanmar có 3 phiên bản Hiến pháp (1947, 1974, 2008) Theo Hiến Pháp 2008 thì Myanmar theo chế độ Cộng hòa Tổng thống Tổng thống là người đứng đầu nhà nước Liên bang với nhiệm kỳ 5 năm Cũng như các quốc gia khác, Myanmar gồm có ba cơ quan chính là Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp Quyền lập pháp nhà nước thì được phân bổ cho Nghị viện Liên bang, Nghị viện Bang, Vùng Nghị viện Liên bang gồm Thượng viện 440 ghế và Hạ viện 224 ghế Tại mỗi Vùng, Bang đều có Nghị viện Đứng đầu cơ quan hành pháp của nhà nước là Tổng Thống Còn quyền tư pháp của nhà nước được trao cho các Tòa án: Tòa án Tối cao Liên bang, Tòa án Cấp cao Vùng/Bang và Tòa án Các cấp
Về lĩnh vực địa lý hành chính, Myanmar được chia thành 7 bang và 7 vùng hành chính:
7 Bang: Kachin, Kayah, Kayin, Chin, Shan, Rakhine (Arakan) và Mon
7 Vùng: Sagaing, Taninthayi, Bago (Pegu), Magway, Mandalay, Yangon (Rangoon) và Ayeyawady (Irrawaddy)
Các vùng và bang có vị thế và quyền hạn ngang nhau Đứng đầu bang, vùng là thủ hiến Bang là khu vực hành chính có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Tên bang chính là tên dân tộc thiểu số đông nhất ở bang đó.Vùng là khu vực hành chính có nhiều người Miến sinh sống Các vùng hành chính được chia nhỏ tiếp thành các thành phố, khu vực và các làng Các thành phố lớn được chia thành các quận Các vùng và bang của Myanmar lại được chia thành các huyện (kayaing) Bang Shan là bang có nhiều huyện nhất Các bang Chin, bang Mon và bang Kayah chỉ có hai huyện mỗi bang
1.1.4.2 Hệ thống Đảng phái chính trị
Trong thời kỳ khủng hoảng Hiến pháp liên quan đến việc chia tách Miến Điện, thì tại nước này xuất hiện một số đảng phái chính trị mới Trong số này có hai đảng quan trọng và có vai trò nổi trội hơn là Đảng Sinyetha (Đảng của người nghèo) và Đảng Thakin (Đảng của người làm chủ đất nước)
Đảng Sinyetha do Tiến sỹ Ba Maw sáng lập, Đảng này chủ trương giảm thuế, bảo vệ người nông dân trước bọn cho vay nặng lãi và thực hiện giáo dục bắt buộc, phổ cập cho toàn dân chúng, không phân biệt đẳng cấp, tôn giáo, tín ngưỡng và sắc tộc
Trang 27Còn Đảng Thakin ra đời từ sự lớn mạnh của tổ chức với tên gọi là Dohbama Asiayonne (Hội Miến Điện của chúng ta) được thành lập vào năm 1929 bởi giới sinh viên Đại học Rangun Đảng này thu hút đông đảo giới tri thức, thúc giục người Miến đứng lên làm chủ đất nước Cũng gần giống như Sinyetha, Đảng Thakin ủng hộ việc phục hồi truyền thống văn hóa Phật giáo, nhưng lại cứng nhắc phải đối hệ thống giáo dục của Anh
Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, Thakin bị phân hóa, chia thành ba nhóm, trong đó có nhóm đi theo con đường đấu tranh của cộng sản, đứng đầu là Thakin Soe
và Thein Pe Nhóm này sau đó thành lập nên Đảng Cộng sản Miến Điện vào năm 1943; Nhóm thứ hai gồm đông đảo các thành viên của Thakin, đứng đầu là Aung San,
đi theo con đường xã hội dân chủ ; Nhóm còn lại đứng đầu là U Ba Swe và U Nu gồm những người trung hữu, muốn duy trì đường lối chính thống của Thakin [15:428-429]
Tuy nhiên, sau khi giành được độc lập và trong thời kỳ giao tranh quyền lực, tháng 3/1962, Tướng Ne Win thiết lập chế độ độc tài thông qua việc thành lập hệ thống đơn đảng Đảng Cương lĩnh Xã hội chủ nghĩa (BSPP - The Burma Socialist Programme Party) với những chính sách cai trị của Ne Win đã đẩy Myanmar khủng hoảng về mọi mặt Để đối phó với các cuộc biểu tình thì Hội đồng Khôi phục Trật tự
và Luật pháp Quốc gia (SLORC - The State Law and Order Restoration Council) đã đưa ra hệ thống đa đảng và hứa sẽ tỗ chức bầu cử dân chủ đa đảng vào năm 1990 Ngày 26/9/1988, SLORC công bố các quy định về đăng k đảng phái, tổng cộng có
174 đảng lớn nhỏ được thành lập Ngày 30/5/1989, Saw Maung thông báo luật bầu cử
và ủy ban tuyển cử dân chủ đa đảng được thành lập Thời điểm bầu cử là ngày 27/5/1990 Ngày 28/5/1990, kết quả của cuộc tổng tuyền cử là đảng Liên minh Dân tộc
vì Dân chủ (NLD - National League for Democracy) thắng cử với 72,5% số phiếu ủng
hộ và giành được 392 ghế Và tiếp theo là Đảng Dân chủ Dân tộc Shan (SNDP - Shan Nationalities Democratic Party) giành được 23 ghế; Đảng Phát Triển Quốc Gia Rakhine (RNDP - Rakhine Nationalities Development Party) giành được 11 ghế; Đảng Thống nhất Quốc gia (NUP - Nationai Democratic Party) giành được 10 ghế; có 12 đảng được 1 đại diện; 5 đảng được 2 đại diện; 4 đảng được 3 đại diện; 1 đảng được 4
và 6 ứng viên độc lập
Trang 28Trong xuyên suốt quá trình chính trị ở Myanmar giai đoạn độc lập thì có một số Đảng hoạt động mạnh mẽ và có nhiều đóng góp vào sự thay đổi nền chính trị từ độc tài sang dân chủ như: đảng Liên minh Dân tộc vì Dân chủ NLD là đảng đối lập lớn nhất ở Myanmar sau cuộc bầu cử bổ sung ngày 01/4/2012, đã giành được 43/45 ghế, đảng Dân chủ Dân tộc Shan, đảng đoàn kết và phát triển quốc gia USDP là đảng cầm quyền sau cuộc tổng tuyển cử ở Myanmar ngày 07/11/2010
Theo quan điểm của các nhà chính trị học ngày nay thường định nghĩa dân chủ
là hình thức tổ chức chính trị của xã hội dựa trên sự công nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, dựa trên quyền của nhân dân trong việc tham giải quyết những vấn đề quốc gia và trao cho các công dân một loạt quyền và quyền tự do thực sự
Theo quan điểm của cựu Tổng thống Mỹ R Reagon thì cho rằng dân chủ không chỉ là biện pháp cai trị mà còn là biện pháp để giới hạn quyền lực của chính phủ để nó không ngăn cản sự phát triển những giá trị quan trọng nhất mà con người nhận được từ gia đình và nhà trường
Theo quan điểm của Abraham Lincoln (Luật sư, nhà hoạt động chính trị, được bầu làm Tổng Thống Hoa Kỳ năm 1860) thì cho rằng dân chủ là quyền của nhân dân
do dân và vì dân
Đến giữa thế kỷ XX đã hình thành ba quan điểm chính về vấn đề dân chủ như sau:
Quan điểm về nguồn gốc: dân chủ là chính quyền của nhân dân
Quan điểm về mục đích: dân chủ là chính quyền hành động nhân danh và vì lợi
ích của nhân dân
Trang 29Quan điểm về thủ tục thành lập chính phủ: dân chủ là chính quyền do dân bầu
cử những người đại diện cho họ tham gia trực tiếp vào việc làm luật và đưa luật vào cuộc sống
Xét về hình thức thì dân chủ có hai loại đó là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện [21:32] Dân chủ trực tiếp ra đời trước rồi mới tới dân chủ đại diện Nhưng ngày nay thì tồn tại song song hai hình thức Trong thời kỳ cổ đại ở Hy Lạp, dân chủ xã hội như một hình thức cai trị xã hội trong các thành bang (Polis) Đó là các thành phố không lớn, mà ở đó chỉ có đàn ông mới được coi là các công dân tự do Tất cả các công dân tự do đều có thể tham gia trực tiếp giải quyết những vấn đề trong thành bang và đưa luật vào cuộc sống Các công dân tự do thường tụ tập trên quảng trường thảo luận
và thông qua một vấn đề nào đó Vậy dân chủ trực tiếp là hình thức cai trị mà các công dân trực tiếp tham gia vào quá trình giải quyết chính sách, ban hành luật và đưa các chính sách đó vào cuộc sống Dân chủ đại diện là hình thức cai trị trong đó công dân lựa chọn các nhà chức trách để quyết định các chính sách, ban hành luật pháp và đưa các chính sách đó vào đời sống Nghĩa là chúng ta giao cho công dân được chúng ta bầu lên một số quyền hạn và trách nhiệm thông qua các quy định
Theo Nguyễn Thanh Sơn [59:75-77] viết trong tạp chí lý luận chính trị số 03/2003 thì dân chủ là một hiện tượng xã hội, nó có cả nội dung lẫn hình thức biểu hiện cụ thể Không thể nói dân chủ một cách chung chung, trừu tượng Dân chủ không những gắn liền mà bao gồm các giá trị như: tự do, bình đẳng, công bằng Các giá trị này là các thành tố cấu thành dân chủ Dân chủ biểu hiện dưới hai hình thức là hình thức chính trị (dân chủ khi có nhà nước) và hình thức phi chính trị (dân chủ khi chưa
Trang 30Dân chủ cũng được phản ánh trong khoản 135 của tài liệu Kết quả năm 2005 của Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc: “Chúng tôi tái khẳng định rằng dân chủ
là một giá trị phổ quát dựa trên ý chí tự do bày tỏ của người dân để xác định hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của họ và tham gia đầy đủ của họ trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống của họ Chúng tôi cũng khẳng định lại rằng trong khi nền dân chủ chia sẻ tính năng phổ biến, có là không có mô hình duy nhất của nền dân chủ, rằng
nó không thuộc về bất kỳ quốc gia hoặc khu vực, và tái khẳng định sự cần thiết của sự tôn trọng chủ quyền và quyền tự quyết Chúng tôi nhấn mạnh rằng dân chủ, phát triển
và tôn trọng tất cả các quyền con người và các quyền tự do cơ bản là phụ thuộc lẫn nhau và củng cố lẫn nhau”.6
Năm 2007, Đại hội đồng lần thứ 62 của Liên Hợp Quốc đã quyết định thực hiện ngày 15 tháng 9 hàng năm là Ngày Quốc tế Dân chủ trong kỷ niệm về dân chủ và với mục đích nâng cao nhận thức của thúc đẩy dân chủ liên tục cả trong hiện tại và tương lai, đồng thời cũng khuyến khích các chính phủ thúc đẩy các nguyên tắc dân chủ và sự hiểu biết của công chúng về dân chủ
Như chúng ta đã biết, theo quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật lịch sử thì lịch sử
xã hội loài người phát triển từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện Lịch sử hình thái kinh tế xã hội loài người đi lần lượt từ thấp dến cao đó là: từ Công xã nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa,
Xã hội chủ nghĩa Tương tự thì dân chủ ở mỗi hình thái kinh tế xã hội cũng có một hình thức dân chủ đó là dân chủ thời Công xã nguyên thủy, dân chủ thời Chiếm hữu nô
lệ (dân chủ của giai cấp chủ nô), dân chủ thời Phong kiến (dân chủ của giai cấp địa chủ, phong kiến), dân chủ thời Tư bản chủ nghĩa (dân chủ tư sản - DCTS) và dân chủ thời Xã hội chủ nghĩa (dân chủ xã hội chủ nghĩa - DCVS) Đó là lộ trình dân chủ chung cho toàn nhân loại, nhưng ở mỗi quốc gia thì do điều kiện đặc thù nên lộ trình dân chủ
6
http://www.un.org/partnerships/situating.html
Trang 31cũng khác nhau Cụ thể ở Myanmar thì từ khi giành độc lập từ Anh năm 1948 tới nay thì lộ trình dân chủ ở Myanmar đi từ dân chủ sang độc tài rồi dần chuyển sang dân chủ
1.2.1.2 Dân chủ hóa
Theo Vương Bích Thủy [68:13-16], nếu dân chủ về bản chất là quyền lực thuộc
về nhân dân; thì dân chủ hóa, về thực chất, là một quá trình thực hiện và bảo đảm thực thi trên thực tế quyền lực đó trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến ý thức, tư tưởng, tinh thần Đó là quá trình đấu tranh lâu dài, diễn ra trên quy mô toàn xã hội, để xác lập, khẳng định quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, đồng thời tạo ra những đảm bảo xã hội cho giá trị của quyền lực đó
Trước hết, dân chủ hóa gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại sự chuyên chế, chống lại chủ nghĩa quan liêu, khắc phục sự tập trung quan liêu của nhà nước trong thể chế quản lý của mô hình cũ, để chống lại mọi biểu hiện của dân chủ hình thức, vi phạm dân chủ, bảo đảm dân chủ thực sự cho mọi người dân trong xã hội Như vậy, dân chủ mọi mặt của đời sống xã hội có nghĩa lớn lao đối với sự phát triển của con người và
xã hội Đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa ngày càng sâu rộng sẽ tạo ra môi trường lành mạnh cho sự phát triển cá tính, nhân cách, tài năng và sức sáng tạo của mỗi cá nhân Mỗi cá nhân được phát triển tự do, toàn diện sẽ tạo ra hợp lực thúc đẩy xã hội phát triển Dân chủ hóa là động lực to lớn cho sự tiến bộ xã hội và giải phóng con người, mang lại cho con người tự do đích thực
Vậy ta có thể xem dân chủ là mục tiêu thì dân chủ hóa là quá trình hướng tới mục tiêu, là quá trình đưa dân chủ thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội
Theo Đinh Minh Châu [55:36], dân chủ hóa là quá trình tổ chức vận dụng những nguyên l cơ bản của dân chủ trong đời sống xã hội gồm đời sống xã hội cấp vĩ
mô và cấp vi mô Thí dụ ở cấp toàn xã hội, một nhà nước, các tổ chức xã hội lớn hay nhóm xã hội, cho đến tận mối quan hệ trong gia đình Hay dân chủ là sự đối lập với tất
cả những gì độc tài, mệnh lệnh, áp đặt, áp bức…cho đến tận những định kiến xã hội Dân chủ hóa là sự xóa bỏ dần dần những đối lập với dân chủ trên đây
Tóm lại, có thể hiểu rằng, dân chủ là con người có quyền làm chủ được quyền lợi cũng như chịu trách nhiệm của trước mọi hành động của mình, dân chủ sẽ mang
Trang 32đến cho con người cuộc sống tốt đẹp hơn, công bằng, tự do, tôn trọng và được tôn trọng,… ; dân chủ hóa là cách thức thực hiện để đạt được kết quả của dân chủ
1.2.2 Độc tài
Chế độ độc tài trong trong tiếng Anh là Dictatorship Có thể hiểu nôm na rằng, độc là một, tài nghĩa là quản lý, tức là quản lý bởi một hay một nhóm cá nhân nào đó Nói một cách khoa học hơn, thì độc tài nghĩa là loại chế độ chính trị mà quyền lực đó tập trung trong tay một hay một nhóm cá nhân
Theo PGS.TS Hoàng Văn Việt, nói đến chế độc tài là nói đến một cấu trúc chính trị quản lý xã hội mà trong đó quyền lực chính trị tập trung vào tay một cá nhân hay một nhóm cá nhân cùng với việc giải tán hoặc làm giảm vai trò các cơ quan đại diện và các đảng phái chính trị đối lập Thông thường chế độ độc tài dựa vào sự ủng hộ
và hậu thuẫn vững chắc của quân đội [31:22]
Theo Từ điển Tiếng Việt, độc tài (chế độ chính trị): chỉ do một người hay một nhóm người nắm tất cả quyền hành, tự mình quyết định mọi việc, dựa trên bạo lực [29:439]
Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư thì chế độ độc tài là chế độ chính trị tập trung quyền hành vào tay một cá nhân, nhóm cá nhân hay một đảng phái cai trị độc đoán không bị ràng buộc bởi pháp luật hay cơ quan quyền lực nào
Trong cuốn Chế độ dân chủ [21:232], Nhà nước và xã hội do Phạm Nguyên Trường dịch, cũng có nhiều tác giả quan niệm về khái niệm này như: Chế độ độc tài là quyền lực tuyệt đối và phi pháp; Theo Benazir Bhutto [14:7], chế độc tài là vườn ươm của chủ nghĩa cực đoan; Theo Aung San Suu Kyi: chế độ độc tài có mọi thứ trong tay nhưng họ rất sợ dân chủ sớm muộn gì cũng bị sup đổ,… Nhìn chung, các quan điểm này đều nói về sức mạnh quyền lực chính trị của thiểu số người trong xã hội và có liên quan đến vấn đề quân đội, bạo lực
1.2.3 Cải cách
Cải cách [29:1522] là phương tiện chính trị mà giai cấp cầm quyền sử dụng với mục tiêu duy trì, bảo vệ quyền lực thống trị cũ, cứu vãn sự sụp đổ xã hội toàn diện và khai thông con đường phát triển
Trang 33Một số định nghĩa khác về cải cách:7
Theo quan điểm của Nguyễn Trần Bạt thì cải cách là một biện pháp được thực
hiện để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một khoảng thời gian nhất định
Theo quan điểm của Hồ Sĩ Quý thì cải cách là những biện pháp, những chương
trình được chủ thể thực hiện
Theo quan điểm của Yacovlev thì cải cách là một quá trình tổng thể của việc xây
dựng lại xã hội trên một giai đoạn mới, do chính quyền thực hiện với mục tiêu tạo bước nhảy vọt chất lượng trong phát triển kinh tế mà không cần áp dụng các biện pháp mạnh
Theo quan điểm của Marx - Lenin thì cải cách là một chương trình phát triển
kinh tế xã hội toàn diện do giai cấp thống trị bên trên chủ trương tiến hành nhằm tạo bước ngoặc phát triển nhất định
Nhìn chung, các quan điểm đều cho rằng cải cách là một bước tiến cần thiết trong xã hội bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau, cải thiện hoặc loại bỏ những cái cũ đã lỗi thời để nhắm đến mục tiêu phát triển trên nhiều lĩnh vực cụ thể, mà chủ yếu là lĩnh vực kinh tế, xã hội
Trang 34tranh bất bạo động và đầy sáng tạo Điển hình trong các cuộc cách mạng màu như:
Serbia năm 2000: Cách mạng tháng năm, Cách mạng tháng mười; Gruzia năm 2003:
Cách mạng Hoa hồng; Ucraina năm 2004: Cách mạng Cam; Kyrgyzstan năm 2005:
Cách mạng Hoa Tulip
Ở Myanmar vào năm 2007, các nhà sư cũng xuống đường biểu tình bất bạo
động để phản đối chính quyền Người ta thường gọi đó là cuộc cách mạng Áo Cà sa
hay Cách mạng màu Nghệ tây Màu nghệ tây là màu của hoa nghệ tây, tiếng Anh là
Saffron, màu này rất giống màu áo của nhà sư nam (hay còn gọi là Tăng) ở Myanmar
Cách mạng từ trên9 là việc thực hiện bởi giai cấp thống trị bên trên,
chuyển đổi các chương trình kinh tế, xã hội nhằm tạo ra một bước đột phá về chất
lượng của sự phát triển xã hội
Tiểu kết chương 1
Nhìn chung, Myanmar là một đất nước có hội đủ điều kiện để trở thành một
cường quốc kinh tế, nhưng vì chưa hội đủ Thiên - Thời - Địa - Lợi – Nhân - Hòa nên
chưa thể trở thành cường quốc được Nếu trong tương lai quá trình dân chủ hóa gặp ít
trở lực thì sẽ tạo đà cho Myanmar một bước nhảy vọt về kinh tế và có thêm cơ hội để
trở thành một trong những con hổ châu Á tiếp theo Theo một lộ trình tự nhiên thì một
nước có thể từ độc tài qua dân chủ bằng cách dân chủ hóa thông qua các cuộc cải cách
của giai cấp cầm quyền hay thông qua cuộc cách mạng của nhân dân nhằm lật đổ chế
độ và thay thế bằng một chế độ dân chủ Ở Myanmar thì cũng không ngoại lệ nhưng có
thêm một số yếu tố đặc thù là Myanmar đi từ độc tài tới dân chủ bằng cuộc cách mạng
từ trên thông qua các chương trình cải cách kinh tế- xã hội, chính trị từ năm 2003 tới
nay và nhờ sự tác động của cuộc cách mạng màu Áo Áo Cà Sa năm 2007 do các nhà sư
tiến hành đã làm cho quyết tâm cải cách của giới lãnh đạo Myanmar
9 Hoàng Văn Việt, Bài giảng môn cải cách và cách mạng, tài liệu lưu hành nội bộ 2012
Trang 35CHƯƠNG 2: NHỮNG YẾU TỐ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HÓA
Ở MYANMAR 2.1 Yếu tố trong nước
2.1.1 Chính sách của chính phủ độc tài quân sự SLORC và SPDC
Về bản chất thì SLORC và SPDC là một chỉnh thể thống nhất, là cơ quan quyền lực cao nhất của chính quyền độc tài quân sự ở Myanmar bao gồm: Hội đồng Khôi phục Trật tự và Pháp luật Quốc gia SLORC và Hội đồng Hòa bình và Phát triển Liên bang SPDC Ngày 18/9/1988, Bộ trưởng Quốc phòng - Đại tướng Saw Maung cùng các tướng lĩnh thân cận tiến hành cuộc đảo chính quân sự lật đổ chính quyền của Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa Miến Điện BSPP và thành lập Hội đồng Khôi phục Trật
tự và Pháp luật Quốc gia SLORC gồm 19 thành viên do Tướng Saw Maung làm Chủ tịch, theo đó Hội đồng nhà nước và Quốc hội cùng các Hội đồng địa phương bị giải tán
Ngày 15/11/1997, Hội đồng Khôi phục Trật tự và Pháp luật Quốc gia SLORC đổi tên thành thành Hội đồng Hòa bình và Phát triển Liên bang SPDC bao gồm 14 thành viên và do Thống tướng Than Shwe làm Chủ tịch đều là các tướng lĩnh cao cấp thân cận với ông
Tháng 5/1989, Hội đồng Khôi phục Trật tự và Pháp luật Quốc gia quyết định
đổi quốc hiệu Miến Điện (Burma) thành Myanmar, tên nước chính thức là “Liên bang
Myanmar” Từ tháng 6-10/1989, các trường Đại học đã bị đóng cửa trước đó nay được
mở cửa trở lại, các Hội sinh viên được phép hoạt động nhưng không được mang màu sắc chính trị Ngày 26/9/1989, SLORC công bố quy định về đăng k thành lập các đảng phái chính trị để tham gia Tổng tuyển cử Tổng cộng có 174 đảng lớn nhỏ được đăng k thành lập
Với chính sách của chính phủ độc tài quân sự về cơ bản được chia thành những nội dung như sau:
Chính sách đối nội:
Về chính trị, chính phủ độc tài quân đội Myanmar cai trị với bàn tay sắt, thẳng
tay đàn áp phong trào đấu tranh đòi dân chủ của quần chúng và các đảng đối lập, đóng
Trang 36cửa các trường đại học và bắt bỏ tù các thủ lĩnh của các đảng đối lập Chính quyền Myanmar rất cương quyết đối với các đảng phái đối lập, tìm mọi cách cách hạn chế hoạt động chống đối của họ Trong các năm 2003, 2006, 2008 chính quyền Myanmar
đã ra lệnh đóng cửa các trụ sở của đảng đối lập trên toàn quốc và kiểm soát chặt chẽ thủ lĩnh của các đảng đối lập Riêng Aung San Suu Kyi và đảng NLD được Mỹ và Phương Tây ủng hộ, là đối thủ nguy hiểm hàng đầu với chính quyền quân sự Myanmar Vì vậy, chính phủ độc tài Myanmar đối xử linh hoạt nhưng vẫn rất cương quyết với họ
Về kinh tế, SLORC thực hiện chính sách xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế thị trường Tháng 12/1988, ban hành luật đầu tư nước ngoài mới nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, coi trọng và khuyến khích lĩnh vực kinh tế tư nhân (trừ 8 lĩnh vực thuộc độc quyền của nhà nước), ưu tiên phát triển các ngành kinh tế thuộc thế mạnh của Myanmar như nông nghiệp, thủy hải sản, lâm nghiệp, khai thác dầu khí, đá qu … Trong lĩnh vực nông nghiệp, chính phủ Myanmar chú trọng xây dựng các công trình thủy lợi tưới tiêu, trợ cấp phân bón, thuốc trừ sâu cho nông dân
Từ năm 1996 trở đi, nhờ điện thủy lợi tăng gấp đôi năm 1988 nên mỗi năm Myanmar đều sản xuất được trên dưới 25 triệu tấn lương thực, xuất khẩu gần 1 triệu tấn gạo dù chất lượng chưa cao Năm 2010, chính phủ Myanmar đặt mục tiêu chiến lược cố gắng sớm khôi phục vị thế cường quốc xuất khẩu gạo của Châu Á như thời quá khứ vàng son
Về thương mại, chính phủ Myanmar cố gắng duy trì xuất siêu để bảo đảm dự trữ
ngoại tệ và chống lạm phát Đối phó với khó khăn thị trường xuất khẩu vì bị bao vây cấm vận, chính phủ Myanmar chủ trương gia tăng mậu dịch biên giới với các nước láng giềng, mở 18 cửa khẩu buôn bán biên giới (7 cửa khẩu với Thái Lan; 5 cửa khẩu với Trung Quốc; 4 cửa khẩu với Bangladesh; 2 cửa khẩu với Ấn Độ); đồng thời áp dụng chính sách thanh toán linh hoạt bao gồm hàng đổi hàng hoặc sử dụng đồng tiền nội địa của nước khác (như đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc) Chính sách mậu dịch biên giới giúp Myanmar có thêm nguồn hàng tiêu dùng, nguyên vật liệu sản xuất, giảm bớt khó khăn kinh tế do bị bao vây cấm vận [22:163]
Trang 37Tuy có nhiều sự thay đổi trong chính sách mở cửa và cải cách nhưng kinh tế Myanmar dưới chế độ độc tài SLORC và SPDC không mấy gì khởi sắc vì tình hình chính trị trong nước không ổn định và luật vẫn chưa thông thoáng, chưa tạo điều kiện
để phát triển toàn diện hơn về mọi lĩnh vực Bên cạnh đó, kinh tế Myanmar lại còn được “thừa hưởng” các khoản nợ công mà các chính phủ trước để lại, bị Mỹ và EU trừng phạt về kinh tế - cô lập về ngoại giao do chính sách đối nội bắt giam và đàn áp phong trào dân chủ nên hầu như Myanmar chỉ quan hệ với Trung Quốc, tạo ra tình thế khai thác tài nguyên không bền vững Đây cũng là một trong những lý do buộc Myanmar phải mở cửa và hội nhập sâu rộng với thế giới thông qua các cuộc cải cách dân chủ từ năm 2011 đến nay
Chính sách đối ngoại:
Kể từ lúc Myanmar giành độc lập từ Anh năm 1948, các chính quyền tại Myanmar dù là dân sự (1948-1962) hay quân sự (1962-2010) đều luôn chủ trương nêu
cao 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, “thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tích
cực và không liên kết vì hoà bình thế giới, quan hệ tốt với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia” (điều 41 trong Hiến pháp 2008); Hiến
pháp Myanmar năm 2008 cũng ghi rõ: Liên bang Myanmar sẽ không tiến hành xâm lược bất cứ quốc gia nào và cũng không cho phép quân đội nước ngoài đóng quân trên lãnh thổ Myanmar (điều 42 trong Hiến pháp 2008), tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế và khu vực
Chính sách đối ngoại độc lập đó của Myanmar được thực thi trên tám nguyên tắc cơ bản sau:
+ Nghiêm chỉnh quán triệt 5 nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia
+ Tránh sự không công bằng trong các vấn đề quốc tế, nhìn nhận sự thật một cách độc lập
+ Duy trì quan hệ thân thiện với tất cả các nước, đặc biệt là quan hệ thân thiện với các nước láng giềng
Trang 38+ Ủng hộ Liên Hợp Quốc, các tổ chức của Liên Hợp Quốc và tham gia tích cực vào các hoạt động của các tổ chức này
+ Tiến hành hợp tác song phương và đa phương trên cơ sở cùng có lợi trong khuôn khổ chính sách đối ngoại độc lập
+ Phối hợp và hợp tác với các nước khu vực trong các vấn đề kinh tế và xã hội tại khu vực
+ Phấn đấu cho một thế giới hoà bình, an ninh, chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân kiểu cũ và mới, không can thiệp hay áp đặt các vấn đề của nước này với nước khác
+ Chấp thuận các tài trợ quốc tế giành cho phát triển đất nước mà không kèm điều kiện
Đến nay, Myanmar có quan hệ ngoại giao với 84 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong đó có cơ quan đại diện thường trực tại 31 nước; tiếp nhận 33 Đại sứ quán nước ngoài tại Yangon, 3 Tổng lãnh sự quán của Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh tại Thành phố Mandalay Tại Thành phố Yangon, hiện có 6 cơ quan đại diện của Liên Hợp Quốc là: Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc UNDP, Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF, Tổ chức Nông Lương FAO, Tổ chức Y Tế thế giới WHO, Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn UNHCR, v.v…
Myanmar cũng là thành viên của Liên Hợp Quốc với nhiều tổ chức quốc tế trong khu vực như Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Tổ thức thương mại thế giới WTO, Phong trào không liên kết NAM và là Hội viên chính thức của Hiệp hội các nước Đông Nam
Á ASEAN vào ngày 23/7/1997
Tóm lại, mặc dù tình hình nội bộ trong nước vẫn còn nhiều bất ổn, mang tính chất độc tài, khắt khe nhưng trên trường quốc tế Myanmar vẫn luôn tỏ ra là một quốc gia năng động, liên tục tăng cường mối quan hệ đối tác, chiến lược với thế giới, đồng thời khẳng định được vị thế của Myanmar ngày một mạnh hơn
Trang 392.1.2 Phong trào đấu tranh của các đảng chính trị và quần chúng nhân dân
Năm 1987, mặc dù Ne Win không còn đứng đầu đất nước nhưng vẫn là chủ tịch đảng cầm quyền và đã thực hiện chính sách kinh tế tai hại khiến người dân Myanmar lâm vào cảnh khốn khó Ngày 11/12/1987, Chính phủ phải nộp đơn lên Liên Hợp Quốc trở thành một trong 41 nước kém phát triển nhất của thế giới để được hưởng quy chế
“tha nợ” [19:10] Sự việc này cộng với tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội, nội chiến kéo dài, quan chức tham nhũng,… đã làm tổn thương lòng tự tôn dân tộc của người dân, do đó, từ tháng 3-6/1988, sinh viên các trường Đại học ở Yangon liên tục xuống đường biểu tình chống chính phủ Liên bang Phong trào lan rộng ra các thành phố khác như Mandalay, Bago, Toongi, Mague, Molamayin, Akyab… Đáp lại, chính phủ Ne Win sử dụng biện pháp cứng rắn, huy động cảnh sát thẳng tay trấn áp, bắt bớ, khiến nhiều sinh viên và cảnh sát thiệt mạng Chính phủ phải ra lệnh đóng cửa các trường Đại học và giới nghiêm ở Thủ đô Yangon
Bất lực về an ninh chính trị trong nước và khó khăn về kinh tế đã khiến Đảng cương lĩnh xã hội chủ nghĩa rạn nứt ở cấp cao Ngày 23/7/1988, Đảng cương lĩnh xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đại hội bất thường, Chủ tịch đảng Ne Win tuyên bố từ bỏ chính trường, rút về tuyến sau với l do sức khỏe Quyền điều hành Chính phủ được giao cho Phó Chủ tịch Hội đồng cách mạng là Xein Luyn với cương vị mới là Chủ tịch Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa kiêm Thủ tướng Ngay sau khi nắm quyền, Thủ tướng Xein Luyn ra lệnh bắt giam các nhân vật chống đối và công bố thiết quân luật vào ngày 03/8/1988
Ngày 08/8/1988 hay còn gọi là 8888, nhân dân Yangon xuống đường biểu tình
với quy mô lớn, các thành phố lớn khác cũng hưởng ứng theo Chính phủ Xein Luyn tung quân đội vào cuộc Sau hai ngày ngăn cản biểu tình bất thành, quân đội đã nổ súng vào đoàn biểu tình, máu đổ ở nhiều nơi, hàng nghìn người chết, bị thương và bị bắt giam Tình hình chính trị trong nước leo thang, buộc Thủ tướng Xein Luyn từ chức ngày 12/8/1988, và tướng Maung Maung lên thay, bãi bỏ thiết quân luật, rút binh lính khỏi các đường phố Mặc dù Maung Maung đã thay đổi chính sách quân đội theo hướng thả lỏng hơn nhưng phong trào biểu tình của quần chúng vẫn tiếp diễn với sự tham gia của mọi thành phần xã hội Cuối tháng 8/1988, xảy ra cuộc nổi dậy ở nhà tù
Trang 40Insein, nhiều tù nhân trốn thoát, các tổ chức chính trị mới lần lượt ra đời như: Liên hiệp sinh viên toàn Miến Điện (ngày 28/8/1988), Liên minh vì dân chủ và hòa bình do cựu Thủ tướng U Nu thành lập ngày 29/8/1988
Tháng 4/1988, Aung San Suu Kyi 43 tuổi – con gái út cố Thủ tướng Aung San
từ Luân Đôn trở về Miến Điện thăm mẹ ốm Tại Yangon, Aung San Suu Kyi trực tiếp
chứng kiến “sự kiện 8888” và quyết định ở lại trong nước cùng nhân dân Miến Điện
đấu tranh chống lại chính quyền quân sự Miến Điện Ngày 15/8/1988, bà viết bức thư ngỏ cho chính phủ, đề nghị bầu cử đa đảng Ngày 24/9/1988, bà đồng sáng lập “Liên đoàn quốc gia đấu tranh vì dân chủ” NLD và được bổ nhiệm làm Tổng Thư k
Đầu tháng 9/1988, phong trào biểu tình chống đối của sinh viên và nhân dân lan rộng ra 50 thành phố lớn thu hút sự ủng hộ của nhiều quan chức trong chính phủ và đảng cầm quyền Các lực lượng chống đối yêu cầu chính phủ từ nhiệm để tuyển cử tự
do bầu chính phủ mới Cựu Thủ tướng U Nu cũng lập một chính phủ lâm thời gồm 26 thành viên để s n sàng tranh cử
Ngày 10/9/1988, đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa BSPP tuyên bố tán thành bầu cử đa đảng Tướng Maung Maung tuyên bố sẽ cố gắng tổ chức bầu cử trong thời gian sớm nhất và cho biết các lãnh tụ Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa sẽ không ra ứng cử Ngày 14/9/1988, nhân dân Yangon biểu tình lớn đòi chính phủ quân sự từ chức Trước tình hình biểu tình ngày một lan rộng gây bất ổn chính trị, Tướng Maung Maung đã ra lệnh cho các công chức trở về làm việc và tuyên bố khai trừ đảng tịch những đảng viên tiếp tục tham gia biểu tình
Sau Phong trào nổi dậy 888810, những cuộc biểu tình nhỏ lẻ vẫn liên tiếp diễn ra
và vẫn chịu sự đàn áp tàn bạo từ Chính phủ quân sự Nổi bật nhất trong số đó là cuộc Cách mạng màu Nghệ tây11 hay còn gọi là hay cuộc Cách Mạng Cà Sa Vào tháng