Lịch sử nghiên cứu vấn đề Từ góc nhìn lịch sử, địa lý, du lịch thì đã có nhiều công trình nhiên cứu thể hiện qua bài viết cũng như sách nghiên cứu, sách tham khảo tuy nhiên về vấn đề du
Trang 2NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
1 Công ty TNHH Công ty Trách nhiệm Hữu hạn
2 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
3 ĐHQG Đại học Quốc gia
4 KHXH & NV Khoa học Xã hội và Nhân văn
6 TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
7 TX Thị xã
8 UBND Ủy ban Nhân dân
9 VH – TT Văn hóa - Thông tin
10 VQG Vườn quốc gia
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do – mục đích nghiên cứu 5
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 9
4.1 Câu hỏi nghiên cứu 9
4.2 Giả thuyết nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 12
7 Bố cục của luận văn 12
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 14
1.1 Những cơ sở lý thuyết 14
1.1.1 Khái niệm 14
1.1.1.1 Khái niệm Du lịch 14
1.1.1.2 Khái niệm văn hóa 17
1.1.1.3 Tâm linh 19
1.1.1.4 Du lịch văn hóa 20
1.1.1.5 Du lịch văn hóa tâm linh 21
1.2 Tổng quan về Côn Đảo 22
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 22
1.2.1.1 Vị trí địa lý 22
1.2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 24
1.2.2 Lịch sử Côn Đảo 30
1.2.3 Nguồn gốc dân cư 33
1.2.4 Đặc điểm kinh tế 37
1.2.5 Đặc điểm văn hóa – xã hội 41
Tiểu kết chương 1 44
Trang 4CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở HUYỆN CÔN ĐẢO 45
2.1 Khái quát về hoạt động du lịch ở Côn Đảo 45
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 45
2.1.2 Thực trạng du lịch Côn Đảo 51
2.1.3 Cơ cấu tổ chức hoạt động du lịch 54
2.1.3.1 Hoạt động du lịch của nhà nước 54
2.1.3.2 Hoạt động du lịch của tư nhân 58
2.1.3.3 Sự tham gia của cộng đồng 60
2.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch 62
2.2.1 Giao thông 62
2.2.2 Điện 63
2.2.3 Nước 64
2.2.4 Thông tin liên lạc 65
2.2.5 Cơ sở lưu trú 65
2.3 Điểm tham quan du lịch 65
2.3.1 Điểm du lịch nhân văn 65
2.3.1.1 Di tích nhà tù 65
2.3.1.2 Di tích lịch sử 77
2.3.1.3 Công trình tưởng niệm, tín ngưỡng và tôn giáo 88
2.3.2 Các điểm du lịch tự nhiên 93
2.4 Những loại hình du lịch tại Côn Đảo 103
2.4.1 Du lịch về nguồn 103
2.4.2 Du lịch nghỉ dưỡng 103
2.4.3 Du lịch khám phá tự nhiên và biển đảo 104
2.4.4 Du lịch nghiên cứu và học tập 108
Tiểu kết chương 2 110
CHƯƠNG 3: SỰ LỰA CHỌN HÌNH THỨC DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH – LÝ GIẢI TỪ GÓC ĐỘ DU KHÁCH 111
3.1 Du lịch văn hóa tâm linh ở Côn Đảo 111
Trang 53.1.1 Sơ lược tình hình du lịch tâm linh ở Côn Đảo 111
3.1.2 Các hoạt động du lịch tâm linh du khách thực hiện tại côn đảo 114
3.1.2.1 Tham quan hệ thống di tích lịch sử 114
3.1.2.2 Tham quan các di tích tâm linh 116
3.1.2.3 Tham quan nghĩa trang và mộ Võ Thị Sáu vào lúc nửa đêm 116
3.1.2.4 Tham gia thực hành tín ngưỡng và lễ hội 118
3.2 Lí giải của du khách về sự lựa chọn hình thức du lịch văn hóa tâm linh tại Côn Đảo 122
3.2.1 Sức hút của du lịch văn hóa tâm linh ở Côn Đảo 122
3.2.1.1 Côn Đảo - một địa danh nổi tiếng 122
3.2.1.2 Côn Đảo - điểm du lịch mới nổi 125
3.2.1.3 Sự phong phú về các giai thoại truyền miệng 126
3.2.1.4 Côn Đảo – vùng đất gắn với sự linh thiêng của Liệt nữ Võ Thị Sáu và những những anh hùng liệt sĩ 127
3.2.2 Ảnh hưởng của sự quảng bá hình ảnh về Côn Đảo của các công ty du lịch 133
3.3 Tính văn hóa và tâm linh của du lịch tâm linh tại Côn Đảo 135
3.3.1 Hoạt động du lịch tâm linh và tâm nguyện, mong muốn của du khách 135
3.3.2 Sự tiếp nối văn hóa truyền thống của người Việt Nam 136
Tiểu kết chương 3 138
KẾT LUẬN 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
PHỤ LỤC 148
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do – mục đích nghiên cứu
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến, là cầu nối hữu nghị, phương tiện giữ gìn hòa bình và hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc, là một nhu cầu không thể thiếu của con người, nó được coi là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cuộc sống không chỉ ở các nước có nền kinh tế phát triển mà còn cả ở các nước có nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam Trong xu hướng phát triển kinh tế thế giới hiện nay, du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ phát triển nhanh và được xem là
một “ngành công nghiệp không khói”, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao cho các
quốc gia
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, Đảng và Nhà nước đã nhận thấy kịp thời xu hướng chung này và trong nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra đường lối: “Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử đáp ứng nhu cầu
du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển
du lịch trong khu vực ” Mới đây, Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ XI đã đề ra:
“Hình thành các trung tâm thương mại - dịch vụ lớn, vừa là trung tâm giao thương
trong nước, vừa là cửa ngõ giao thương với nước ngoài tại Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ Xây dựng một số trung tâm du lịch lớn trong nước, gắn kết có hiệu quả với các trung tâm du lịch lớn của các nước trong khu vực” (văn bản trích dẫn)
Du lịch phát triển tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội, khôi phục các làng nghề truyền thống, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, mở rộng giao lưu với bên ngoài, quảng bá giới thiệu đất nước, con người với bạn bè thế giới Ngày nay, khi cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao về mặt
Trang 7vật chất lẫn tinh thần thì nhu cầu được đi du lịch, tham quan, nghỉ ngơi sau những ngày làm việc căng thẳng càng được nhiều người quan tâm hơn
Hiện nay, đã có nhiều loại hình du lịch ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của con người như du lịch văn hóa, du lịch mạo hiểm, du lịch biển, du lịch MICE… Trong đó, có thể nói du lịch gắn liền với văn hóa tâm linh đang là một xu hướng phát triển mới mà con người đã và đang hướng đến Du lịch văn hóa được dự báo là loại hình thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và là cơ
sở thu hút khách nội địa bởi tiềm năng của tài nguyên nhân văn của Việt Nam
là rất lớn
Có thể nói, Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu là nơi tập trung một chuỗi lớn tài nguyên nhân văn và tự nhiên nổi tiếng, là tiền đề, là cơ sở hình thành du lịch văn hóa hóa tâm linh Côn Đảo sở hữu một hệ thống di tích lịch
sử và văn hóa nổi tiếng cả nước như hệ thống di tích nhà tù, nghĩa trang Hàng Dương và đặc biệt là mộ của nữ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu, cố tổng bí thư Lê Hồng Phong, Nguyễn An Ninh, chùa Núi Một, đình An Hội, miếu thờ chị Võ Thị Sáu, miếu thờ Cậu… Ngoài ra Côn Đảo còn được thiên nhiên ban tặng cảnh quan phong phú, trong đó có những bãi biển đẹp như biển Đầm Trầu, Bãi Nhát, Đất Dốc, Lò Voi, Ông Đụng… thích hợp cho du lịch nghĩ dưỡn Biển Côn Đảo còn có một hệ sinh vật đa dạng, có những rạn nhiều loài khác nhau với đủ màu sắc sặc sỡ, có rừng ngập mặn và khu bảo tồn rùa biển thích hợp cho du lịch khám phá Côn Đảo hội tụ đầy đủ các yếu tố để phát triển du lịch và đặc biệt là du lịch kết hợp giữa du lịch nghỉ dưỡng và du lịch văn hóa
Hiện tại Côn Đảo tương tự những điểm du lịch hành hương nổi tiếng khác trong nước như chùa Hương ở Mỹ Đức - Hà Nội, miếu bà chúa Xứ ở Châu Đốc - An Giang, nhà thờ Tắc Sậy… Cứ đến mùa lễ thì du khách đến hành hương rất đông Côn Đảo, phần lớn du khách đến vào dịp lễ giỗ của Võ Thị Sáu và ngày lễ thương binh liệt sĩ Điều đó cho thấy, yếu tố tâm linh tác động không nhỏ đến nhu cầu cũng như mục đích đi du lịch của du khách và điều này
Trang 8đang là một xu hướng để du khách có thể kết hợp giữa du lịch và văn hóa, trong
đó yếu tố tâm linh lại là yếu tố thể hiện rõ nhất ở đây
Với tất cả lý do nêu trên, tác giả luận văn chọn đề tài, DU LỊCH VĂN
HÓA TÂM LINH TẠI HUYỆN CÔN ĐẢO làm đề tài cho luận văn thạc sỹ
chuyên ngành Việt Nam học, với các mục tiêu chính yếu:
- Nhận diện rõ hơn các phương diện lý luận về du lịch nói chung và du lịch văn hóa tâm linh nói riêng ở huyện Côn Đảo
- Phân tích động cơ chi phối, dẫn dắt và thúc đẩy những người tham gia du lịch văn hóa tâm linh dựa trên những nền tảng văn hóa tâm linh lành mạnh
- Làm rõ thực trạng phát triển du lịch, du lịch văn hóa tâm linh ở huyện Côn Đảo trong những năm qua
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch - văn hóa tâm linh tại Côn Đảo Khách thể nghiên cứu: Là những người tham gia vào hoạt động du lịch, cư
dân địa phương, chính quyền địa phương và khách du lịch nhằm góp phần tạo nên tiếng nói chung cho đề tài
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu là hoạt động du
lịch của Huyện Côn Đảo - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong thời gian từ năm 2008 đến
nay
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ góc nhìn lịch sử, địa lý, du lịch thì đã có nhiều công trình nhiên cứu thể hiện qua bài viết cũng như sách nghiên cứu, sách tham khảo tuy nhiên về vấn đề du lịch kết hợp văn hóa tâm linh ở huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì vẫn còn là một nội dung mới đang còn bỏ ngõ, cần tìm hiểu, cần nghiên cứu cả chiều rộng lẫn
chiều sâu cũng như về mặt lịch đại cả đồng đại (đã nhắc trong mục đích chọn đề tài) Do sự hạn chế trong việc sưu tầm tài liệu, tác giả đã tiếp cận một số tài liệu
nghiên cứu liên quan đến luận văn như sau:
Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử Côn Đảo, nhà tù Côn Đảo như: Nhà tù Côn Đảo (1862 -1930) (2006) của tác giả Lê Hữu Phước, Nhà tù Côn Đảo (1862 -
Trang 91945) (2006) của tác giả Nguyễn Linh - Nguyễn Đình Thống - Hồ Sỹ Hành, Nhà tù Côn Đảo (1862 – 1975) Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Côn Đảo
từ góc nhìn lịch sử của tác giả Nguyễn Đình Thống NXB Tổng hợp… Những công
trình nghiên cứu này được các tác giả nghiên cứu về lịch sử của Côn Đảo qua từng thời kỳ, trong đó có giai đoạn trước khi Thực dân Pháp xâm lược Côn Đảo, giai đoạn từ năm 1862 – 1975 Thực dân Pháp chiếm Côn Đảo, xây dựng nhà tù với quy
mô lớn và nổi tiếng tàn bạo nhất của Thực dân ở Đông Dương Côn Đảo gắn liền với những trang sử oai hùng của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước Nghiên cứu về những phong trào đấu tranh của tù nhân qua các thời kỳ Kháng chiến chống Pháp và Kháng chiến chống Mỹ Phần còn lại, nghiên cứu về giai đoạn từ sau giải phóng năm 1975 – 2012, Côn Đảo từ huyện đảo của tỉnh Hậu Giang (1915-1979) sau đó thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (1979 – nay) Côn Đảo là đảo tiền tiêu của thềm lục địa Việt Nam với sự phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng
Nhóm công trình nghiên cứu về văn hóa, con người và thắng cảnh Côn Đảo như:
Hồn thiêng Côn Đảo của tác giả Vũ Văn Thoại, Võ Thị Sáu – con người và huyền thoại của tác giả Nguyễn Đình Thống, Sơ lược về khu di tích lịch sử và những truyền thuyết về Côn Đảo của Ban quản lý Côn Đảo… Nhóm công trình nghiên cứu
này, được các tác giả nghiên cứu về những công trình kiến trúc lịch sử văn hóa trên vùng đất Côn Đảo hiện nay Những diễn biến và hoạt động của con người đến những công trình kiến trúc này Nhóm nghiên cứu trên còn khắc họa thêm những công trình mới đang phục vụ cho đời sống kinh tế, văn hóa và du lịch tại Côn Đảo Ghi chép của những tác giả về một bức tranh cảnh sống động của cuộc sống thanh bình, yên ả của người dân Côn Đảo Phần nội dung nghiên cứu quan trọng là những con người anh hùng đã đi vào huyền thoại trong đó có Võ Thị Sáu, Nguyễn An Ninh, Lê Hồng Phong…
Nhóm công trình nghiên cứu về du lịch như: Nghiên cứu giải pháp đầu tư và khai thác tiềm năng văn hóa phục vụ du lịch tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu của Phạm Quan Khải, Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch Huyện Côn Đảo của tác giả Lê Thị
Trang 10Lợi Nội dung nghiên cứu về các loại tài nguyên du lịch, các tuyến du lịch đang được khai thác, thực trạng phát triển du lịch từ năm 1996 – 2007 ở Côn Đảo Những định hướng và giải pháp cho du lịch Côn Đảo, đề xuất năm mô hình khai thác du lịch kết hợp du lịch sinh thái với loại hình du lịch văn hóa ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Công trình nghiên cứu về văn hóa tâm linh, Luận văn thạc sĩ của Đoàn Thị Thùy Trang về Hoạt động Du lịch Văn hóa Tâm linh của người Hà Nội, năm 2010 Nghiên cứu này, nêu lên các quan điểm lý luận về du lịch văn hóa tâm linh và đưa
ra hiệu quả của du lịch văn hóa tâm linh Đồng thời, Tác giả trình bày các hình thức
tổ chức hoạt động du lịch văn hóa tâm linh của người dân ở quận Đống Đa , Hà Nội, các sản phẩm du lịch du lịch tượng ứng, các điểm đến của du lịch văn hóa hóa tâm linh, đặc điểm du khách tham gia vào hoạt động du lịch văn hóa tâm linh Ngoài ra, tác giả còn đưa ra những đề xuất và giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa tâm linh hợp lý vá tốt hơn đối với nhu cầu của người dân Hà Nội
Đây là các bài viết và sách có liên quan là những tài liệu tham khảo quý báu cho
đề tài của tôi, tôi đã kế thừa những vấn đề có liên quan đến đề tài của mình
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng Văn hóa tâm linh ở huyện Côn Đảo như thế nào?
Cư dân địa phương và du khách tiếp nhận văn hóa tâm linh ở Côn Đảo như
thế nào?
Nguyên nhân nào thúc đẩy khách du lịch đến tham quan du lịch văn hóa tâm
linh tại Côn Đảo?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Côn Đảo có đầy đủ điều kiện để phát triển du lịch như hệ thống di tích lịch
sử, văn hóa nổi tiếng, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp Đặc biệt đây là vùng đất linh thiêng đã được người dân địa phương truyền miệng cũng như các công ty du lịch quảng bá Chính vì điều này mà du lịch văn hóa tâm linh ở Côn Đảo đã đáp ứng được mục đích, nhu cầu tâm linh của du khách khi đến với Côn Đảo
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Trong giới hạn đề tài này tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu điền giả dân tộc học với tiếp cận định tính và vận dụng, những kĩ thuật sau đây:
Quan sát tham dự: là công cụ hỗ trợ hiệu quả nhất, giúp cho tác giả có cái nhìn
toàn diện và phổ quát nhất về vấn đề đang nghiên cứu Từ việc quan sát, tham dự tác giả tiếp cận được đối tượng nghiên cứu một cách trực quan nhất để định hướng
đi cho đề tài mình theo hướng tích cực Là phương pháp đặc thù trong ngành Nhân học, buộc người nghiên cứu phải sống, làm việc, sinh hoạt trong cộng đồng một thời gian dài Người nghiên cứu phải trở thành một thành viên của cộng đồng nghiên cứu, tham gia các hoạt động thường nhật của cộng đồng, càng tham gia nhiều vào cuộc sống và công việc của cộng đồng nghiên cứu càng tốt cho việc thu thập thông tin Đây là phương pháp chính tôi chọn khi thực hiện đề tài này Tôi rất may mắn vì công việc chính của tôi là làm du lịch, Côn Đảo là nơi tôi gắn bó được
8 năm nay Từ năm 2008 tôi đồng sáng lập công ty du lịch Cuộc Sống Côn Đảo và
là chủ trang web www.condaotour.com , tôi bắt đầu kinh doanh tour du lịch tâm linh và những loại hình du lịch khác từ năm 2008 nên tôi có điều kiện tham gia vào các hoạt động du lịch ở Côn Đảo Với những kiến thức từ một hướng dẫn viên cho tới nhà tổ chức du lịch trong suốt thời gian từ năm 2008 đến nay và khi nghiên cứu
về du lịch văn hóa tâm linh ở Côn Đảo, tôi đã khảo sát và tiếp cận được rất nhiều đối tượng như cư dân địa phương, Ban quản lý, nhà tổ chức, khách du lịch ngoài ra tôi còn tham gia nhiều hoạt động lễ hội tại Côn Đảo, trong đó nhiều nhất là lễ giỗ
Võ Thị Sáu Vì công việc gắn liền với Côn Đảo nên lễ giỗ Võ Thị Sáu là tôi tham
dự nhiều nhất
Kĩ thuật phỏng vấn: gồm phỏng vấn phi cấu trúc và cấu trúc
Phỏng vấn không chính thức: thực chất là phỏng vấn phi cấu trúc thường giống như cuộc trò chuyện, tán gẫu, diễn ra khi ta tham gia hoạt động chung của cộng đồng Việc phỏng vấn này thường tiến hành một cách linh hoạt với mục đích thu thập thông tin sơ bộ, bước đầu về đối tượng nghiên cứu Khi tiến hành phỏng vấn cá nhân phi chính thức, tôi đã thực hiện nhiều cuộc trò chuyện với các thành
Trang 12viên trong cộng đồng như Ban quản lý du lịch Côn Đảo, Giám đốc Công ty Du lịch Cuộc Sống, Giám đốc Công ty Du lịch Gia Phong, khách du lịch đến từ nhiều nơi trong nước, cư dân địa phương, tài xế du lịch tại Côn Đảo… nhằm bước đầu tìm hiểu sơ bộ về vấn đề nghiên cứu Phương pháp này khá linh hoạt và thuận tiện khi
sử dụng Người được phỏng vấn cũng không bị áp lực, họ chỉ nghĩ đó là cuộc trò chuyện bình thường nên rất cởi mở, điều này sẽ giúp tôi thuận lợi trong việc khai thác thông tin Tuy nhiên do cách tiếp cận thực hiện linh hoạt nên cuộc trò chuyện nhiều khi bị lệch hướng xa rời chủ đề, bị nhiều yếu tố ngoại cảnh chen ngang,…
Phỏng vấn chính thức: Phương pháp này được thực hiện một cách trang trọng, có ghi âm (dưới sự cho phép của người được phỏng vấn) và quy trình phải được tiến hành một cách bài bản khoa học Phương pháp này nhằm đào sâu thông tin về đối tượng nghiên cứu Khi thực hiện phương pháp này, tôi đã tiến hành chọn mẫu có chủ định: chọn phỏng vấn Công ty du lịch ở Côn Đảo, khách du lịch, hướng dẫn viên, cư dân địa phương, chính quyền địa phương Việc phỏng vấn chính thức mang lại thông tin chính xác và sâu sắc tuy nhiên khi tiến hành tôi gặp khá nhiều khó khăn vì: Côn Đảo cách xa đất liền nên việc đi lại bất tiện và tốn kinh phí nên tôi phải tận dụng những chuyến công tác để có thể thu thập dữ liệu cho bài luận văn này, tôi phải mất nhiều thời gian để hẹn lịch phỏng vấn và giải thích rõ cho người được phỏng vấn chịu hợp tác tham gia vào hoạt động cung cấp thông tin
Phương pháp điều tra bằng an-két đóng: An-ket đóng là hình thức người điều tra đưa ra câu hỏi cùng với nó là các phương án trả lời, theo đó người trả lời chọn một hoặc nhiều phương án trả lời phù hợp với ý kiến của mình (việc được chọn một hay nhiều phương án trả lời tùy vào nội dung, yêu cầu của từng câu hỏi cụ thể) Trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận thấy phương pháp này giúp tôi điều tra được
số lượng du khách tham gia vào những hoạt động du lịch tại Côn Đảo, phân loại được loại hình du lịch nào du khách tham gia nhiều nhất và đặc biệt là du lịch văn hóa tâm linh Từ đó góp phần làm sáng tỏ cho bài nghiên cứu của mình
– Ngoài ra, trong đề tài này tôi còn sử dụng thêm phương pháp thư tịch để thu thập thông tin bằng cách phân tích các sách báo, tạp chí du lịch, tư liệu, hiện vật ở
Trang 13bảo tàng Phương pháp này có thể tái hiện được lịch sử hình thành nên vùng đất Côn Đảo Đề tài nghiên cứu về du lịch văn hóa tâm linh nên phương pháp này giúp người nghiên cứu hiểu thấu đáo hơn ở mọi góc cạnh của văn hóa, lịch sử, đời sống con người cũng như về thiên nhiên của Côn Đảo để góp phần làm rõ lý do và nguyên nhân dẫn đến Côn Đảo phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh như ngày hôm nay
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Luận văn muốn góp phần tìm hiểu sâu về du lịch văn hóa
tâm linh và mục đích của du khách khi đến du lịch tại Côn Đảo trong thời gian gần đây và ghi nhận những ảnh hưởng tích cực của những hoạt động này tới đời sống văn hóa, tinh thần của người dân bản địa và du khách đến với Côn Đảo
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề
tài nghiên cứu có nội dung liên quan đến du lịch văn hóa tâm linh
- Làm cơ sở lý luận cho các dự án thúc đẩy du lịch văn hóa tâm linh Huyện Côn Đảo phát triển một cách hệ thống, toàn diện và mang tính khoa học
- Làm tài liệu tham khảo cho các công ty du lịch trong và ngoài tỉnh BRVT trong việc xây dựng sản phẩm phẩm du lịch, tour du lịch liên quan đến du lịch văn hóa tâm linh
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
Trong chương này, người nghiên cứu trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến
đề tài nghiên cứu để làm tiền đề triển khai các chương sau Phân tích sự kết hợp giữa văn hóa và du lịch, mối quan hệ qua lại giữa văn hóa và du lịch, các điều kiện của du lịch có thể phát triển du lịch văn hóa tâm linh Đồng thời, trình bày những điều kiện về địa lý tự nhiên, lịch sử, nguồn gốc dân cư, kinh tế và văn hóa – xã hội của Côn Đảo để làm rõ hơn cho sự phát triển du lịch tại Côn Đảo
Trang 14Chương 2: HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN TẠI HUYỆN CÔN ĐẢO
Chương 2 sẽ tập trung nêu thực trạng của ngành du lịch ở Côn Đảo đã và đang diễn ra trong những năm vừa qua Ngoài ra, còn nêu những cơ sở hạ tầng để đáp ứng và đảm bảo cho hoạt động du lịch tại Côn Đảo
Trình bày các giá trị của di tích lịch sử và các cảnh quan của Côn Đảo có thể đóng góp vào sự phát triển du lịch của Côn Đảo Trên cơ sở đó, phân tích các hoạt động của du đang diễn ra ở Côn Đảo và đặc biệt là hoạt động du lịch văn hóa tâm linh
Chương 3: SỰ LỰA CHỌN HÌNH THỨC DU LỊCH VĂN HÓA TÂM
LINH – LÝ GIẢI TỪ GÓC ĐỘ DU KHÁCH
Nội dung của chương này là tìm hiểu và phân tích động cơ của du khách khi tham gia du lịch ở Côn Đảo, nhìn nhận của du khách về du lịch của Côn Đảo Phân tích đánh giá sự ảnh hưởng và nổi tiếng của địa danh Côn Đảo góp phần thu hút khách du lịch Qua đó để lý giải tại sao du khách chọn du lịch văn hóa tâm linh tại Côn Đảo
Ngoài ra chương này cũng đi sâu, phân tích sự linh thiêng của Côn Đảo qua các giai thoại, câu truyện truyền miệng của người dân ở Côn Đảo Đặc biệt là sự linh thiêng của chị Võ Thị Sáu trong các câu truyện truyền miệng đã ảnh hưởng đến
sự phát triển của du lịch Côn Đảo trong đó du lịch văn hóa tâm linh là chủ yếu Trên
cơ sở này, người nghiên cứu đi phân tích khía cạnh đạt được tâm nguyện và mong muốn của du khách khi tham gia du lịch văn hóa tâm linh ở Côn Đảo
Đúc kết những hoạt động văn hóa tâm linh của người dân trên đảo cũng như khách du lịch, người nghiên cứu chứng minh phong tục tập quán của người dân trên đảo và du khách tham gia du lịch văn hoá tâm linh ở Côn Đảo là sự tiếp nối phong tục tập quán tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam
Trang 151.1.1.1 Khái niệm Du lịch
Du lịch là thuật ngữ đang còn nhiều tranh cãi chưa thống nhất do sự tiếp cận của các nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Du lịch là một ngành năng động, là ngành liên quan đến nhiều ngành nghề khác trong xã hội, vì thế, khi tìm hiểu về du lịch phải xét trên bình diện tổng thể và mang tính chất liên ngành, ở đây, luận văn chỉ đề cập các khái niệm liên quan đến những đặc trưng cơ bản của du lịch
+ Du lịch là nhu cầu hoạt động của con người: Xét về nghĩa, du lịch đã mang tính “động” Tính “động” này thể hiện ở việc có sự di chuyển từ nơi này đến
nơi khác do nhiều nhu cầu khác nhau của con người mà trong đó nhu cầu du ngoạn không thể thiếu Chính nhu cầu di chuyển buộc con người khi thực hiện du lịch phải rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian đã định trước Như vậy, chúng ta hiểu rằng du lịch là “sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung cấp”[Trần Đức Thanh 1999:14]
Khởi đầu, hoạt động du lịch xuất phát từ nhu cầu đi lại với nhiều mục đích khác nhau (tôn giáo, chiến tranh…) nhằm phục vụ cho sự di chuyển của cá nhân hay của nhóm người Khi xã hội phát triển ngày càng cao, thành tựu khoa học kỹ thuật được vận dụng vào trong đời sống thì du lịch không chỉ là vì mục đích tôn giáo, chiến tranh mà còn là nhu cầu khám phá vùng đất mới để trải nghiệm và hưởng thụ văn hóa Những hoạt động ấy không nằm ngoài mục đích thỏa mãn nhu
Trang 16cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của con người qua một quá trình lao động sản xuất vất vả “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rảnh rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị
về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” [Dẫn theo Dương Thanh Xuân 2011:8]
Theo Điều 4 của Luật Du lịch có ghi: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [Luật Du lịch 2005] Khái niệm này một lần nữa khẳng định du lịch ngoài việc thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ vật chất còn tiềm ẩn thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của con người
+ Du lịch là một hoạt động kinh tế - xã hội: Có thể nói, Thomas Cook đã
đánh dấu sự khởi đầu của việc kinh doanh du lịch trên thế giới, với việc di chuyển không còn là tự cung tự cấp mà có hệ thống tổ chức phục vụ từ khâu ăn, uống, ngủ, nghỉ, tham quan cho du khách Điều này chứng minh rằng du lịch cần có sự tham gia của nhiều lực lượng lao động khác trong xã hội để phục vụ khách du lịch nhằm mục đích kinh tế: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu
và các nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh
tế - chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” [Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa 2006:19,20]
Như vậy, du lịch là một hoạt động hết sức phức tạp với sự tham gia của nhiều ngành nghề khác trong xã hội, điều đó đã tạo cho hoạt động du lịch giống như một bức tranh nhiều màu sắc Thực tế, hoạt động du lịch đã mang lại nhiều lợi ích
về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Vì vậy, một số nước trong khu vực Đông Nam
Á đã đẩy mạnh du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, xem chính sách phát triển
du lịch là trọng tâm của đất nước, do đó, “vai trò phát triển của du lịch, sự đóng góp
Trang 17nổi bật của nó vào thu nhập, việc tìm kiếm ngoại tệ và công việc, đôi khi du lịch được nhắc đến rõ nhất trong những chính sách phát triển của nhiều quốc gia”[Richard Sharpley 2006:106]
Khai thác sản phẩm trong du lịch chính là khai thác các loại sản phẩm tài nguyên du lịch Phân loại tài nguyên du lịch với mục đích tìm rõ những tính chất ưu việt, riêng biệt của từng loại tài nguyên để có chính sách, chiến lược khai thác thích hợp tránh làm cạn kiệt, phá hỏng, thất thoát, biến dạng… tài nguyên du lịch quốc gia Trong đó, tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác Theo Điều 13 của Luật
Du lịch 2005, tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn được hiểu như sau:
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí
hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
+ Các loại hình du lịch
Việc phân loại các loại hình du lịch có ý nghĩa quan trọng, góp phần đánh giá tiềm năng du lịch của một đất nước, của một vùng đất, của địa phương một cách cụ thể, từ đó có phương án khai thác đầu tư và phát triển du lịch theo loại hình đã phân loại một cách có hiệu quả và hợp lý
Phân loại dựa vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch
Du lịch quốc tế: Là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau
Du lịch nội địa: Là hình thức đi du lịch mà điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia
Phân loại dựa vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch
Trang 181.1.1.2 Khái niệm văn hóa
Hiện nay trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa thậm chí trái ngược nhau Có thể nói, có bao nhiêu nhà nghiên cứu về văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa Vì văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, phong phú và phức tạp, do đó, khái niệm về văn hóa cũng rất đa dạng và tùy thuộc vào góc độ, quan điểm, cách nhìn
của nhà nghiên cứu Với định nghĩa miêu tả, cho rằng: “Văn hóa bao gồm hết thảy các phương diện sinh hoạt của loài người, từ sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần cho đến sinh hoạt xã hội” [Đào Duy Anh 1948:8] Còn quan niệm mang tính liệt kê của E.B Taylor, xem văn hóa “gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [E.B.Tylor (Huyền Giang dịch)
2001:13]
Khái niệm văn hóa được xây dựng theo nhiều cách hiểu tùy thuộc quan niệm
và hướng tiếp cận của người nghiên cứu, thí dụ để hiểu hết được những giá trị văn hóa một cách toàn diện, gần gũi với đời sống xã hội, chủ tịch Hồ Chí Minh cho
rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
Trang 19nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là
sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Dẫn theo Mạch Quang Thắng 2005:184]
Tất cả các quan niệm trên cho thấy văn hóa là một khái niệm hết sức phức
tạp và không hoàn toàn ổn định, vì thế, nếu xét theo hệ giá trị thì “văn hoá là một hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2007:18] Quan điểm này cho thấy con người
chính là chủ thể của văn hóa, con người là thực thể của giới tự nhiên, đã tác động vào
tự nhiên để tạo ra những giá trị văn hóa cho mình và những giá trị ấy được bồi đắp qua từng giai đoạn của lịch sử khi mối quan hệ giữa người với người được thiết lập hoàn chỉnh
Theo định nghĩa của UNESCO, văn hóa được hiểu là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền của con người cơ bản, truyền thống, tín ngưỡng
Dù trong thời đại nào, xã hội nào, trong quá khứ, hiện tại hay tương lai thì con người vẫn có nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần để đảm bảo sự tồn tại
và phát triển Xét về cấu trúc hai thành phần, văn hóa được chia ra hai loại: Văn hóa vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại, Văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương,
Với thuật ngữ mới, theo UNESCO có thể hiểu văn hóa bao gồm:
Văn hóa vật thể là tiểu hệ các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy bằng hoạt động biến đổi tự nhiên, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, có thể nhận biết bằng
Trang 20các giác quan, bao gồm những loại giá trị như đồ vật, nhà cửa, đình chùa, đền miếu, lăng mộ, v.v…
Văn hóa phi vật thể là tiểu hệ các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy không có biểu hiện vật chất, không thể nhận biết bằng các giác quan, bao gồm những loại giá trị như ngôn ngữ, huyền thoại, văn chương truyền khẩu, nghệ thuật trình diễn, âm nhạc, nghi thức, phong tục, kinh nghiệm y dược cổ truyền, bí quyết nấu ăn, bí quyết nghề thủ công truyền thống, v.v…
Từ đó, chúng ta thấy lễ hội truyền thống chính là một thành tố của văn hóa: văn hóa tinh thần - văn hóa phi vật thể Cho nên tìm hiểu về lễ hội truyền thống chính
là tìm về ký ức văn hóa của dân tộc được lan tỏa trong đời sống mọi tầng lớp cư dân
[ Nguyễn Hoàng Phương 1995: 8]
Như vậy tâm linh đang là một vấn đề được nhiều người quan tâm Vậy tâm linh là gì? Tác động của nó đến con người xã hội hiện đại như thế nào? Điều đó
được thể hiện ở khái niệm tâm linh theo Nguyễn Đăng Duy “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm ” [Nguyễn Đăng Duy 1996:14]
Ngày nay, con người đang cố chiếm lĩnh và cố kiểm soát hiệu quả ở thế giới bên ngoài, thiết lập nên một nền văn minh vật chất đa dạng và phong phú, nhưng ở đời sống tâm linh hay đời sống nội tâm của con người vẫn không thể tự kiểm soát hay luôn luôn bất ổn Điều mà người ta quan tâm nhất là giảm sút hoặc mất đi những hoạt động bên trong Đời sống bên ngoài của con người càng phát triển thì hoạt động của đời sống tâm linh càng được củng cố và cân bằng Vì thế, tâm linh là đối tượng của nghiên cứu khoa học Người ta đề ra những phương pháp phát triển
Trang 21tâm linh của con người bằng những thể nghiệm, những thực nghiệm về nó nhằm tạo được sự hài hòa giữa hai mặt của đời sống, chúng sẽ hỗ trợ cho nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển
Trong Từ điển Tiếng Việt, tâm linh được giải thích theo hai nghĩa: "1 Khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm 2.Tâm hồn, tinh thần, thế giới tâm linh." Còn trong Từ điển tiếng Anh có hai từ tương đương là spiritualism và psychic “Spiritualism mang hai nghĩa: thứ nhất là niềm tin tôn giáo – triết học về sự tồn tại sau cái chết; thứ hai là tâm trí, tâm hồn, tinh thần (nghĩa này ít dùng) Còn psychic lại được hiểu theo nghĩa hiện tượng dị thường, huyền bí” [Trần Đức Thanh,2008: 18]
Trong cuốn "Tâm linh Việt Nam", Nguyễn Duy Hinh quan niệm: Tâm linh là thể nghiệm của con người (Tâm) về cái Thiêng (linh) trong Tự nhiên và Xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền logíc không phân biệt thiện ác.[Nguyễn
Duy Hinh, 2007:52]
Theo tác giả giải thích tâm linh là một thể nghiệm của con người bằng cái tâm về sự linh thiêng trong xã hội và là một khát vọng trí tuệ của con người Để tồn tại, con người luôn có khát vọng tìm hiểu và lý giải tự nhiên (trời, đất, nước, muôn loài ) và bản thân để cải thiện cuộc sống của họ Qua trải nghiệm cụ thể, lâu dài mỗi dân tộc có một tâm linh riêng biệt, đặc sắc song cũng đều quy vào giải thích về trời đất và con người Giải thích về sức mạnh vô hình tác động đến đời sống của con người
Như vậy, khi đời sống Tâm linh của con người đạt mức cao hơn tâm linh tín ngưỡng thì nó sẽ phát tiển thành tâm linh tôn giáo Con người lại bắt đầu tin theo lời dạy của một giáo Chủ đạo giáo nào đó Từ đó, mỗi cộng đồng người tiếp thu một tâm linh tôn giáo khác nhau thông qua tâm linh tín ngưỡng của mình
1.1.1.4 Du lịch văn hóa
Luật du lịch Việt Nam năm 2005 có định nghĩa: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm
Trang 22bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [Điều 4, mục 20, khoản những quy định chung]
Theo Trần Đức Thành “Du lịch văn hóa là hoạt động diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn hay hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch văn hóa” [Đoàn Thị Thùy Trang 2010,30]
Du lịch văn hóa là một trong những loại hình du lịch bền vững, hấp dẫn du khách, có nhiều điều kiện, nguồn lực để phát triển, được quan tâm đầu tư phát triển
ở nhiều nước cũng như ở Việt Nam Trong đó, cộng đồng địa phương là người sản sinh, bảo tồn và sở hữu các giá trị văn hóa của địa phương Vì vậy, việc tổ chức phát triển du lịch văn hóa phải dựa vào cộng đồng địa phương để bảo tồn, nuôi dưỡng những giá trị văn hóa, tôn trọng nguyện vọng phong tục tập quán của cộng đồng và chia sẻ lợi nhuận, việc làm từ hoạt động du lịch với cộng đồng
1.1.1.5 Du lịch văn hóa tâm linh
“Du lịch tâm linh là tìm hiểu văn hóa, giá trị truyền thống, là thăm viếng
bằng tâm trí, trái tim, là nuôi dưỡng và mở rộng sự hiểu biết của du khách hướng
về cái thiện, hòa hợp với thiện nhiên, đồng loại, chúng sinh Du lịch tâm linh góp phần nâng cao được giá trị tâm hồn, hiểu rõ hơn về tâm linh và giá trị chân thực
của cuộc sống hiện tại” [Đoàn Thị Thùy Tràng:34]
Ở Việt Nam trong vài năm gần đây, người ta đã chú ý đến du lịch tín ngưỡng Thế nhưng nhiều người dường như vẫn còn nhầm lẫn hai loại hình du lịch văn hóa và du lịch tín ngưỡng
Du lịch tín ngưỡng là một hình thức du lịch phát triển rất mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới Du khách theo loại hình du lịch này thường tìm đến các đình, chùa, các thắng tích tôn giáo để vãn cảnh, cúng bái, cầu nguyện,…
Du lịch văn hóa tâm linh là sự kết hợp giữa du lịch và tâm linh – tín ngưỡng Điểm đến của các chuyến đi của sự kết hợp tâm linh và tín ngưỡng thường là những địa điểm thiêng liêng, có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng như chùa chiền, đền miếu, thánh đường hoặc những thánh tích,… Đến nơi ấy, họ không chỉ lĩnh hội được đầy
đủ thông tin về cội nguồn tín ngưỡng tôn giáo của mình mà trong suốt quá trình
Trang 23hành hương đó họ còn được sống cùng nhau trong một môi trường tâm linh: chiêm bái, cầu nguyện, thực tập phép an tâm để tu dưỡng tinh thần, tạo sức mạnh cho niềm tin và sự chuyển hóa tâm thức, thực hành các nghi thức truyền thống,
Văn hóa tâm linh và tính ngưỡng là hai nhu cầu cần thiết trong đời sống của con người, nhằm mang lại nét đẹp cho cuộc sống đi đôi với sự thăng hoa trong tâm hồn Du lịch nhằm mở mang kiến thức về thiên nhiên và con người nơi đến, cũng như giúp thư giãn rất hiệu quả Tâm linh ở đấy tức là nói đến tín ngưỡng Tín ngưỡng gồm có tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian làm thỏa mãn niềm tin đối với các biểu tượng thiêng liêng mà họ ngưỡng vọng Vì vậy, du lịch văn hóa tâm linh phải đáp ứng được mục đích của chuyến du lịch đặc thù dựa trên những cơ
sở đó
1.2 Tổng quan về Côn Đảo
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
và về phía Nam có Hòn Bà, Hòn Vung, Hòn Trắc Lớn, Hòn Trắc nhỏ, Hòn Tài Lớn, Hòn Tài Nhỏ và cách Côn Sơn 50 km là Hòn Anh – Hòn Trứng Lớn, Hòn Em – Hòn Trứng Nhỏ Nhìn trên bản đồ, Côn Đảo trông gần giống hình con thú há miệng
ra vịnh Đầm Tre, với phần đầu mũi Đông Bắc và núi Đường Chơi, Ông Cường, Con Ngựa Với chỏm sừng tạo hình nhờ các bãi Đầm Trầu và Ông Cường phía Tây Bắc, cùng các phần chân trên (Núi Nhà Bàn, núi Tàu Bể) chạy ra các mũi Chim Chim,
Tà Bé và chân dưới (Núi Thánh Giá) chạy ra Bãi Nhát và Núi Cá Mập hướng Đông Nam Thị Trấn nằm giữa thung lũng hướng ra vịnh Côn Sơn.[Kỹ yếu hội thảo khoa học, 2012:17]
Trang 24Theo các nhà địa chất, hệ sinh thái đồi núi đất đỏ bazan Côn Đảo có chung nguồn gốc núi lửa với Đông Nam Bộ và chỉ tách ra bởi những vận động tân kiến từ hàng chục triệu năm trước Diện tích đồi núi khoảng 6.328 hécta chiếm 88,4% cả quần đảo, với ngọn núi Chúa cao 515 mét, là ngọn núi cao nhất Địa hình đất bằng tập trung chủ yếu ở thung lũng bán nguyệt trên đảo Côn Lôn Về khí hậu, Côn Đảo chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Tây Nam vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa gió Đông Bắc với mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4), nhiệt độ trung bình năm 26,90C, lượng mưa trung bình năm đạt 2.200mm, độ ẩm trung bình năm 80% và dù
ở giữa biển với xích đạo đại dương, Côn Đảo rất ít bị bão tràn vào Về thủy văn, Côn Đảo có các dòng suối và khe lạch chảy từ các dãy núi lớn (núi Chúa, núi Thánh Giá) theo hướng bờ biển đổ nước vào nhiều đầm bàu với các hồ lớn nằm ngay thung lũng Vịnh Côn Sơn (Hồ Sen, Hồ Quang Trung, Hồ An Hải) Về thổ nhưỡng, đất Côn Sơn chủ yếu là đất đỏ vàng (6916ha = 90,1% quỹ đất Côn Đảo) với địa tầng mỏng (<50cm) phủ trên granit chưa phân dị (4397ha = 63,6%) và đất trên cát két (2519 ha = 36,4%) Đất cát biển (756ha = 9,9%) có độ dày lớn hơn (>100cm) Đây là dạng thổ nhưỡng chịu mặn phổ cập ở các hòn nhỏ (Hòn Bà, Hòn Trọc, Hòn Tre Lớn, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau) và trên đảo lớn tập trung ở triền thung lũng từ Đầm Trầu đến bảy Cạnh và thung lũng trung tâm Ma Thiên Lãnh trãi dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ núi Lò Vôi về An Hội Đất nghèo chất dinh dưỡng chỉ thích hợp cho các nương vườn cây trồng cạn ở sườn sát chân núi [Nguyễn Duy Hùng, 2012:18,19]]
Trên nền địa hình núi thấp dốc với các thung lũng và bãi cát biển viền chân núi, Côn Đảo nổi danh là Vườn Quốc gia thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo gồm các kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới, 4.778 ha rừng cây gỗ lá rộng, 109 ha rừng tre, 18 ha rừng ngập mặn Tài nguyên rừng Côn Đảo có thảm thực vật che phủ tới 92%, với thành phần phong phú, da dạng gồm 1044 loài thuộc 640 chi của 160 họ thực vật bậc cao có mạch (420 loài cây gõ, 273 loài cây bụi, 137 loài dây leo, 137 loài thảo mộc, 53 loài khuyết thực vật, 20 loài phụ); trong
đó có 44 loài đặc hữu, một số loài được xếp trong danh mục quý hiếm như găng
Trang 25néo, lát hoa, nhiều loài cây thuốc như thiên niên kiện, ngũ gia bì, sâm nam, hà thủ ô,
đỗ trọng, hương nhu, ngải cú, v.v.) Hệ động thực vật rừng Côn Đảo có 144 loài gồm 28 loài thú, 39 loài bò sát, 69 loài chim, 8 loài lưỡng cư; với nhiều loài đặc hữu như sóc mun, sóc đen, chuột hưu, thạch sùng, bồ câu incoba, chim điển mặt xanh, chim gầm ghì trắng, v.v [ Nguyễn Duy Hùng, 2012:19]
Hệ sinh thái biển Côn Đảo với 18 ha rừng ngập mặn, 200 ha cỏ biển và 1000
ha rạng san hô, có 1.493 loài (37 loài có tên trong danh sách đỏ Việt Nam, 44 loài là nguồn gen cực quý của biển Việt Nam), bao gồm 23 loài thực vật ngập mặn, 127 loài rong biển, 11 loài cỏ biển, 157 loài phù du thực vật, 342 loài san hô, 187 loài thân mềm, 202 loài cá rạn san hô, 116 loài giáp xác, 75 loài da gai, 130 loài giun nhiều tơ, 8 loài thú (Cá heo mõm dài, cá voi xanh, bò biển.v.v), và bò sát biển (rắn biển, rùa da, đồi mồi và đặc biệt là Vích, thường niên có 350 cá thể đẻ 1200 tổ trứng
và thả về biển 5 vạn con) Với đường viền nông nhiều đá ngầm tịch tụ trong rêu là môi trường sinh tụ các loài hải sản đới ven bờ, đặc biệt nhiều động vật thủy sinh
(đồi mồi, vích, rùa biển, bò biển, cá heo, ốc, cua, tôm cá, hải sâm.v.v) – những “lâm trường” và “ngư trường” phong phú sản vật cung ứng cho kinh tế săn bắt và hái
lượm của con người trên quần đảo này từ xưa cũng như nay [Nguyễn Duy Hùng, 2012:20]
1.2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Vườn quốc gia côn Đảo
Vườn Quốc gia (VQG) Côn Đảo có diện tích gần 6.000 ha trên cạn và 14.000 ha vùng nước Mối liên hệ của rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn
đã tạo nên một môi trường thuận lợi cho sinh sản, ươm giống và bảo tồn các loài sinh vật biển Vùng nước nông ven đảo cũng là nơi phân bố nhiều loài động vật quý như rùa biển, cá heo, bò biển (dugong) Sự đa dạng sinh học của vùng biển Côn Đảo có ý nghĩa quốc gia về bảo tồn thiên nhiên biển ở Việt Nam
Là một vùng đảo tương đối xa bờ, hoạt động của con người chưa làm biến đổi lớn tính tự nhiên của các hệ sinh thái biển Rạn san hô ở đây còn giữ được những đặc tính đặc trưng cho vùng biển Các nghiên cứu cho thấy san hô có độ phủ
Trang 26trung bình là 42,6% Trong số rạn san hô nghiên cứu, có đến 74,2% san hô đạt độ phủ cao, chỉ có 2,8% thuộc loại phủ thấp Mật độ cá sống ở rạn san hô đạt trung bình 400 con/m2 Đây là giá trị rất cao so với các vùng biển ven bờ khác ở Việt Nam
Có thể coi Côn Đảo như một cầu nối cho sự phát tán sinh vật từ trung tâm đa dạng của vùng biển Ấn Độ - Tây Thái Bình dương đến vùng biển ven bờ Việt Nam
Về đa dạng sinh thái, vùng nước nông Côn Đảo có cả rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn Trong đó, rạn san hô quần cư là khá phổ biến, có thể tìm thấy ở hầu hết vùng ven đảo Loại rạn riềm điển hình chiếm đến 59%, chứng tỏ rạn san hô này có điều kiện phát triển trong một thời gian dài Cỏ biển tuy không phân
bố rộng nhưng tập trung trên diện tích lớn, khoảng trên 200ha Đa dạng sinh thái tạo điều kiện cho sự phát triển của các loài sinh vật quý hiếm Nghiên cứu về môi trường biển cho thấy chưa có sự ô nhiễm biển ở đây
Hiện nay, Côn Đảo là vùng có nhiều rùa biển nhất ở Việt Nam, với hai loài thường gặp là đồi mồi và tráng đông Có 17 bãi cát được ghi nhận là bãi đẻ của rùa, trong đó có đến bốn bãi được ghi nhận là có 1.000 rùa mẹ lên đẻ hàng năm Côn Đảo cũng là nơi duy nhất ở Việt Nam còn tồn tại một quần thể bò biển (Dugong dugong) có cuộc sống không tách rời các thảm cỏ biển.Đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu về mối quan hệ giữa nguồn lợi ven biển và các hệ sinh thái nước nông Côn Đảo Dù sao, cùng với sự tồn tại của rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn và mối quan hệ sinh thái giữa chúng là môi trường thuận lợi cho sự sinh sản, ươm giống của nhiều nguồn lợi Các nghiên cứu của Viện Hải dương học về trứng cá, cá bột ở VQG Côn Đảo cho thấy số lượng trứng cao hơn rất nhiều lần so với các vùng biển khác của Việt Nam
Tài nguyên rừng
Tổng diện tích Vườn quốc gia Côn Đảo (phần rừng núi) là 5.990,7 ha, trong
đó diện tích đất có rừng là 4.897,7 ha, đất không có rừng là 622 ha và đất khác là
471 ha
Trang 27Trong diện tích đất rừng thì rừng cây gỗ lá rộng có diện tích 4.778 ha, rừng tre có diện tích 109 ha và rừng ngập mặn 18 ha Các đảo ở đây đều được che phủ bằng thảm thực vật rừng có độ che phủ tới 92% diện tích tự nhiên, bắt đầu từ mép nước biển lên đến đỉnh núi Rừng và tài nguyên rừng Côn Đảo có những đặc điểm như sau:
- Hệ sinh thái rừng của Vườn quốc gia Côn Đảo thuộc Hệ sinh thái rừng Nhiệt Đới Hải Đảo, với hai kiểu rừng chính:
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
+ Kiểu rừng kín nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới
- Về thành phần thực vật:
+ Qua kết quả điều tra thành phần thực vật rừng ở Vườn quốc gia Côn Đảo các năm 1993,1997 và 2000 của Phân viện điều tra Quy hoạch Rừng II TP.HCM đã thống kê được 1.077 loài thuộc 640 chi của 160 họ thực vật bậc cao có mạch, trong đó: cây gỗ 420 loài, cây bụi 273 loài, dây leo 137 loài, cây cỏ 137 loài, khuyết thực vật 53 loài và thực vật phụ sinh 20 loài
+ Các loài thực vật trên đai diện cho nhiều vùng trong cả nước như:
* Đại diện cho hệ thực vật bản địa miền Bắc Việt Nam gồm có các loài cây
trong họ Xoan (Meliaceae) tiêu biểu là loài Lát hoa (Chukrasia tabularis) đây là
loài cây gỗ lớn, thuộc nhóm thực vật quý hiếm phân bố rộng trong rừng hỗn loài ở các tỉnh Miền Bắc nước ta, nhưng ở các tỉnh Nam Bộ hầu như ít gặp
* Đại diện cho các loài thực vật ở miền Đông Nam Bộ là những loài cây gỗ lớn như: các loài cây trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Tử vi (Lythraceae)
Trong đó có loài Dầu Côn Sơn (Dipterocarpus condorensis) đây là loài cây gỗ lớn,
thuộc loài thực vật đặc hữu của Vườn quốc gia Côn Đảo và phân bố tự nhiên trên đảo Côn Sơn
* Đại diện cho thực vật vùng đồng bằng sông Cửu Long như Đước xanh
(Rhizophora mucronata), Mắm trắng (Avicennia alba), Vẹt dù (Brughiera gymnorhiza), Cóc vàng (Lumnitzera racemosa)…đại diện cho rừng ngập mặn và cây Tràm (Melaleuca cajeputi) đai diện cho rừng ngập nước úng phèn
Trang 28- Tính đa dạng của thực vật rừng:
+ Đa dạng về nguồn gien:
* Nguồn gien hệ thực vật di cư: Đại diện của 4 hệ thực vật di cư xâm nhập
là Hệ thực vật Malaixia - Inđonexia có họ Dầu (Dipterocarpaceae) với 7 loài; hệ thực vật Ấn Độ - Miến Điện có 3 họ đặc trưng: Họ Tử vi (Lythraceae) 12 loài, họ Bàng (Combretaceae) 9 loài, họ Gòn (Bombaceae) 3 loài; Hệ thực vật Himalaya - Vân Nam - Quí Châu Trung Hoa có 5 họ đặc trưng: Họ Re (Lauraceae) 16 loài, họ
Đỗ quyên (Ecicaceae) 1 loài; hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa có 6 họ đặc trưng: Họ Đậu (Fabaceae) 84 loài, họ Ba Mảnh Vỏ (Euphorbiaceae) 67 loài, họ Thị (Ebenaceae) 12 loài, họ Cà Phê (Rubiaceae) 68 loài, họ Cỏ (Poaceae) 30 loài,
họ Xoài (Anacardiaceae) 14 loài
* Nguồn gen thực vật Cổ xưa (Cổ nhiệt đới và á nhiệt đới) gồm đại diện của một số loài thực vật trong các họ đặc trưng sau: Họ Na (Annonaceae), họ Bứa (Clusiaceae), họ Trung quân (Acistroladaceae), họ Chuối (Musaceae), họ Dứa dại (Pandanaceae); thực vật cổ á nhiệt đới, với 6 họ đặc trưng: Họ Thiên tuế (Cycadaceae) 4 loài, họ Re (Lauraceae) 16 loài, họ Chè (Theaceae) 8 loài, họ Đỗ quyên (Ecicaceae) 1 loài
* Nguồn gien quý hiếm và đặc hữu: Những loài quý hiếm: Lát hoa
(Chukrasia tabularis), Găng néo (Manilkara hexandra), Quăng lông (Alangium salvifolium)…Từ phía Nam lên là luồng thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật
Malaixia - Indonexia với đặc trưng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae)
Trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã được phát hiện ở Côn Đảo thì
có 44 loài được các nhà khoa học tìm thấy đầu tiên ở Côn Đảo gồm: Cây gỗ 14 loài, dây leo 6 loài, Tiểu mộc 10 loài, Cỏ 13 loài, Khuyết thực vật 1 loài Trong đó có 11
loài được lấy tên “Côn Sơn” đặt tên cho loài: Bui Côn Sơn (Ilex condorensis), Gội Côn Sơn (Amoora poulocondorensis), Thạch trang Côn Sơn (Petrocosmea condorensis), Xà căn Côn Sơn (Ophiorrhiza harrisiana var condorensis), Đọt sành Côn Sơn (Pavetta condorensis), Lấu Côn Sơn (Psychotria condorensis), Xú hương Côn Sơn (Lasianthas condorensis), Thiệt thủ Côn Sơn (Glossogyne condorensis),
Trang 29Kháo Côn Sơn (Machilus thunbergii sieb-et-var condorensis), Dầu Côn Sơn (Dipterocarpus condorensis), Đậu Khấu Côn Sơn (Miristica guatterifolia)
+ Đa dạng về công dụng: Các loài thực vật rừng của Vườn quốc gia Côn Đảo ngoài khả năng cung cấp gỗ, củi; thì chúng còn các công dụng khác như cây có khả năng làm dược liệu có 98 loài (Trong đó có 4 loài có số lượng lớn như Ngũ gia bì
(Schfflera), Thiên niên kiện (Homolomena occulta), Gõ sữa (Ba gạc) (Rauwolfia reflexa) Cây có thể sử dụng làm cây cảnh 90 loài, trong đó có 18 loài thuộc họ
Phong lan (Orchidaceae), nhiều loài có khả năng cho nhựa, tanin, làm thực phẩm cho người và động vật gồm hoa quả, thân dễ
- Về thành phần động vật: Khu hệ động vật có xương sống trên cạn ở Vườn quốc gia Côn Đảo đã thống kê được 160 loài thuộc 65 họ, 32 bộ Trong đó, thú có
29 loài thuộc 16 họ, 10 bộ; Chim có 85 loài thuộc 32 họ, 17 bộ; Bò sát có 38 loài thuộc 13 họ, 4 bộ; ếch nhái có 8 loài thuộc 4 họ, 1 bộ
Nhóm Động vật đặc hữu của Côn Đảo: Có 3 loài Động vật đặc hữu của Côn Đảo Đó là những loài cần quan tâm bảo vệ đặc biệt vì chỉ còn có ở đây như: Sóc
mun (Callosciurus sp) Loài chưa định tên, song có thể nói là loài mới, ở Việt Nam mới chỉ gặp Sóc mun ở Côn Đảo; Sóc đen Côn Đảo (Rafuta bicolor condorensis): Loài phụ, chỉ có Côn Đảo; Thạch sùng Côn Đảo (Cyrtod tylus condorensis) cũng
chỉ mói biết ở Côn Đảo Loài này còn tương Đối phổ biến
Nhóm động vật qúy hiếm: Thú có 11 loài, Chim có 8 loài, Bò sát 12 loài Vùng biển Côn Đảo được đưa vào danh sách “các vùng được ưu tiên bảo vệ cao nhất” trong hệ thống các vùng bảo vệ biển của ngân hàng thế giới
Theo Viện Hải Dương Học Nha Trang và Hải Phòng thì vùng biển Côn Đảo
có sự giàu có về mật độ và phong phú về loài sinh vật bậc nhất Việt Nam, nhiều rạn san hô còn mang tính nguyên thủy cao, các cuộc khảo sát về sinh vật biển gần đây các chuyên gia hàng đầu thế giới về chuyên ngành luôn tìm ra các loài sinh vật mới cho thế giới và Việt Nam
Khu hệ sinh vật biển đã thống kê được có 1.493 loài trong đó: Thực vật ngập mặn (Mangro forest) 23 loài, Rong biển (Algae) 127 loài, Cỏ biển (Seagrass) 11
Trang 30loài, thực vật Phù du (Phytoplankton)157 loài, động vật Phù du (Zooplankton) 115 loài, San hô (Coral) 342 loài, thân mềm (Mollusa) 187 loài, cá rạn san hô (Coral reef fishes) 202 loài, Giáp xác (Crustacea) 116 loài , Da gai (Echiodermarta) 75 loài, Giun nhiều tơ (Polycheta) 130 loài, thú và bò sát biển 8 loài
Kết quả nghiên cứu đã thống kê được ở thuỷ vực Côn Đảo có tới 44 loài là nguồn gien cực kỳ quí hiếm của biển Việt nam và đã được đưa vào Sách đỏ Chúng bao gồm: 02 loài rong, 02 loài thực vật ngập mặn, 03 loài san hô, 12 loài thân mềm,
01 loài giáp xác, 04 loài da gai, 07 loài cá, 07 loài bò sát, 05 loài chim và 01 loài thú [truy cập theo http://www.condaopark.com.vn/vn/tai-nguyen-rung-con-dao.html]
Tài nguyên biển
Biển Côn Đảo có 3 hệ sinh thái chính: hệ sinh thái rừng ngập mặn có diện tích là 18 ha, hệ sinh thái cỏ biển có diện tích khoảng 200 ha, hệ sinh thái các sạn san hô có diện tích khoảng 1.000 ha
+ Hệ sinh thái san hô: Hệ sinh thái san hô phát triển rất mạnh ở vùng bao quanh Vườn Quốc gia Côn Đảo, với 342 loài, 61 giống, 17 họ Có thể nói thành phần loài khu hệ san hô Côn Đảo phong phú và đa dạng vào loại nhất, nhì của Việt Nam Các giống san hô chiếm ưu thế là Acropora, Porites, Pachyseris, Montipora, Panova, hệ sinh thái rạn san hô chứa đựng sự đa dạng cao các loài cá và các loài thủy sinh vật khác ; là sinh cảnh đẻ trứng, ương nuôi ấu trùng, kiếm ăn của nhiều loài sinh vật biển của khu vực biển Đông Nam Việt Nam và của cả khu vực Đông Nam Á Rạn san hô còn có tầm quan trọng trong việc điều hòa, cân bằng lượng Oxy trong nước biển và bảo vệ bờ biển Côn Đảo
+ Hệ sinh thái cỏ biển: Qua khảo sát nghiên cứu vùng biển Côn Đảo có 11 loài cỏ biển chiếm 84,61 % tổng số loài hiện nay đã biết ở Việt Nam (13 loài), nhiều hơn của Singapo 04 loài và nhiều hơn Brunei 06 loài Sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái cỏ biển có vài trò quan trọng là nguồn thức ăn chính của Dugong dugon một lòai thú quý hiếm ở biển Ở vùng biển Côn Ðảo có 8 - 12 cá thể Dugong
Trang 31dugon, đây là loài thú biển ăn thực vật lớn nhất còn tồn tại và được thế giới đặc biệt quan tâm, hiện nay chỉ còn thấy ở Côn Đảo và Phú Quốc
+ Hệ sinh thái rừng ngặp mặn: số loài thực vật ngập mặn ở Côn Đảo đã được xác định là 23 loài, các loài chiếm ưu thế là Đước Đôi (Rhizophora apiculata),Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Đước xanh (Rhizophora mucronata)
Ngoài ra vùng biển Côn Đảo còn có bò sát và thú biển:
Thú biển: Vùng biển Côn Đảo thường xuất hiện 3 loài thú: Delphin mõm dài (Stenella longirostris), Cá voi xanh (Balaenoptera musculus) và Dugong hay còn gọi là Bò biển (seacow) Đây là 3 lòai thú biển cần quan tâm bảo vệ, đặt biệt có loài thú Dugong đã tồn tại từ lâu ở Côn Đảo nhưng đến năm 1995 mới được phát hiện Hiện nay Dugong là đối tượng được quan tâm bảo vệ trên phạm vi toàn cầu
Bò sát biển: bao gồm các loài rùa biển và rắn biển Rùa biển: có 2 loài với số lượng lớn đang sinh sống và lên đẻ hàng năm ở Vườn Quốc gia Côn Đảo là : Chelonia mydas (vích) và Ertmochelys imbricata (đồi mồi) Vùng biển Côn Đảo cũng là sinh cảnh kiếm ăn của loài Rùa da (Dermochelys coriacea), Quản đồng (Lepidochelys olivacea) Với 14 bãi đẻ của rùa biển, hàng năm về Côn Đảo làm tổ với số lượng khoảng 300 cá thể rùa mẹ, đây là quần thể rùa được đánh giá chiếm 70
- 80% số rùa biển làm tổ/năm ở toàn vùng biển Việt Nam.[Tuy cập http://www.condaopark.com.vn/vn/tai-nguyen-sinh-vat-bien-con-dao.html]
1.2.2 Lịch sử Côn Đảo
Tàu biển vượt Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương và trở về, bao giờ cũng phải qua nút giao thông quốc tế này Từ Côn Đảo có thể tỏa ra đi Singapore, Hồng Kông, Nhật Bản hay Philippines, Indonesia, Malaysia… Có người gọi Côn Đảo là cái rốn của hai châu Á và Úc, cũng là núm ruột của bốn biển năm châu Những thủy thủ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha xưa kia đã từng ghé lại Côn Đảo Hồi đầu thế kỷ XVI, người Tây Ban Nha đã từng lui tới Côn Đảo và sau đó người Mã Lai rồi người
Pháp
Suốt thế kỷ XVI, nước ta thuộc triều Mạc và Nam – Bắc triều với cuộc xung đột Lê – Mạc Thuở ấy thì Nam Bộ còn là Thủy Chân Lạp và Côn Đảo cũng nằm
Trang 32trong phạm vi ấy Như thế thì giả thuyết cho rằng : Côn Đảo – tên gọi viết tắt của
Côn Lôn quần đảo – là một cái tên đã có từ xưa, không thể có lý được
Người Thủy Chân Lạp thuộc tộc Khmer mà sau này trên Côn Đảo còn nhiều chứng tích của dân tộc này Đối với họ, tên gọi về Côn Đảo vắn tắt gọi là Cóoc-tơ-lai, mà đầy đủ thì gọi là Pu-lao Cóoc-tơ-lai Theo tiếng Khmer, Pu-lao: hòn; cóoc: đảo ; tơ-lai: trái bí đao Như vậy, xưa kia hòn đảo có tên gọi là Hòn đảo bí đao Chẳng biết xưa kia trên đảo trồng nhiều bí đao hay những người Khmer đầu tiên đi thuyền ra đảo, xa xa thấy hòn đảo như quả bí đao mà đặt tên cho như vậy? [Nguyễn
Chơn Trung, Ký Sự và Tư Liệu,1996:20]
Từ Pu-lao Cóoc-tơ-lai, người Tây Ban Nha đã ghi lại thành Pulau Cordorai rồi Pulau Condore Đến người Pháp khi gặp chữ Tây Ban Nha này thì họ đọc thành Pu-lô Con-đo-rơ và họ ghi theo kiểu của họ là Poulo – Condore (hoặc Poulo – Condor) Tiếng Mã Lai gọi Côn Đảo là Pulau Kundur thì cũng có nghĩa là chỏm đảo
bí đao như tiếng Khmer Rõ ràng là từ âm ngữ Khmer (hoặc Mã Lai) mà người Tây Ban Nha, rồi đến người Pháp đã biến thành Poulo – Condore Người Trung Hoa lại phiên âm thành Phù Luân quần đảo (âm hao hao giống Poulo – Condore, mà nghĩa cũng khá phù hợp : hòn đảo trôi nổi) Còn người Việt Nam xưa lại phiên âm thành Côn Lôn quần đảo Về nghĩa, trong Hán văn, côn lôn thường dùng để chỉ vùng biên địa xa xôi, hẻo lánh Như thế, Côn Lôn quần đảo có nghĩa là một quần đảo nằm ở tận cùng Tổ Quốc, ngoài biển khơi xa tắp, Côn Đảo là tên gọi tắt của Côn Lôn quần đảo [Nguyễn Chơn Trung, Ký Sự và Tư Liệu,1996:20-21]
Côn Đảo lọt vào mắt người Pháp từ thế kỷ XVII Khoảng 1686, một lái buôn Pháp tên là Vê-rê (Véret) đã tới đây mở hàng quán Chính Vê-rê đã nhận thấy vị trí quan trọng của Côn Lôn trên đường hàng hải Âu – Á Y đã đề nghị với công ty tư bản Pháp (tên là “Công ty Pháp ở Đông Ấn Độ) chiếm lấy đảo Công ty này lúc đó đang bị tư bản Anh chèn ép tìm cách hất cẳng ra khỏi Ấn Độ, nên chẳng còn tâm trí nào để thực hiện Ở đảo có núi tên gọi Cột Cờ vì trên núi này còn cây cột cờ khá cao Từ trên núi này nhìn xuống vùng Đông Nam Côn Đảo, hiện vẫn còn vài nền nhà bằng đá trát vôi còn nằm trơ lại Người dân nói rằng đó là nhà ở của tên chúa
Trang 33đảo đầu tiên Năm 1702, công ty Anh ở Ấn Độ phái quân đến chiếm Côn Lôn, biến quần đảo này thành căn cứ chiến lược nằm giữa hai biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Đao-ti (Doughty) một lái buôn Anh được cử làm chúa đảo Thực dân Anh đã xây dựng một pháo đài có hai trăm quân Mã Lai canh giữ trên Bãi Đá Hình – vùng Đông Bắc (Cỏ Ống) Còn ở vùng Đông Nam – núi Cột Cờ , quân Anh dựng cột cờ Anh để chiếm định chủ quyền lãnh thổ Năm 1705, chúa Nguyễn cử Trương Phúc Phan tìm cách chiếm lại đảo Trương Phúc Phan đã mộ 15 người Mã Lai cho trá hàng và vận động binh sĩ Mã Lai làm nội ứng Không đợi quân chúa Nguyễn tới, nhân dân trên đảo cùng binh sĩ Mã Lai đồn trú đã nổi dậy giết hết bọn thực dân Anh
Năm 1765, Pháp lại đánh chiếm đảo Nhưng lúc này Pháp vừa thất bại trong cuộc chiến tranh với Anh (1763) Công ty Đông Ấn Pháp sa sút dần đến năm 1769 thì lụi tàn Và ở Côn Lôn, có lẽ Pháp chưa đủ thông tin liên lạc với chính quốc nên
đã phải rút bỏ Qua năm 1783, khi bị quân Tây Sơn đánh đuổi, Chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu ra Côn Lôn Chúa Nguyễn Ánh dự định kế hoạch lâu dài (dưỡng quân, chiêu binh và chờ viện) nên lập ra ba làng: An Hải, An Hội và Cỏ Ống, để đoàn người tự túc nuôi quân, còn Chúa Nguyễn Ánh dựa vào các hải đảo, chủ yếu là Côn Lôn và Phú Quốc làm căn cứ và bàn đạp chống Tây Sơn Ngày nay trên núi Chúa còn hang Chúa là nơi trú ẩn của Chúa Nguyễn Ánh Trên Hòn Bà còn mộ Hoàng thân họ Nguyễn, Hòn Cau còn mộ em con cô cậu của Vua Gia Long Còn Am Cậu
và Miếu Bà để thờ hoàng tử Cải và vương phi Phi Yến, tức là con trai và vợ ba của Gia Long [Nguyễn Chơn Trung, Ký Sự và Tư Liệu,1996:21]
Năm 1787 vì muốn nhờ thế lực Pháp để chống Tây Sơn, Vua Gia Long đã ký
“hiệp ước” Véc-xay (Versailles) nhường Côn Lôn cho Pháp hoàng Lu-I XVI (Luis XVI) Nhưng lúc này cách mạng Pháp đang đe dọa ngai vàng của họ Buốc-bông (Bourbon) nên Lu-I cũng chưa màng tới hòn đảo xa xôi ấy
Côn Lôn chỉ chính thức bị thực dân Pháp chiếm đóng năm 1861 Và chỉ một năm sau, toàn quyền pháp là Bô-na (Bonard, thủy sư đô đốc) đã lập một nhà tù trên đảo để đày ải các nghĩa sĩ Nam Bộ bị thực dân cầm tù hồi đó
Trang 34Năm 1862 địa ngục Côn Lôn ra đời từ ấy Tên chúa ngục (cũng là chúa đảo – giám đốc quần đảo) đầu tiên là trung úy hải quân Pháp Phê-lích Rút-xen (Félix Roussel)
Tất cả cư dân trên đảo khoảng vài nghìn người Việt gốc Khmer, từ năm 1930
bị Pháp di dân về Bà Rịa Đến năm 1936, không còn thường dân nào được ở lại đảo nữa
Từ tháng 9 – 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục chế độ lao tù dã man của thực dân Pháp, đã đổi tên quần đảo Côn Lôn thành tỉnh Côn Sơn (chính thức ngày 22-10-1956, theo sắc lệnh do Diệm ký) Đến 24-4-1965, chính quyền Sài Gòn đổi tỉnh Côn Sơn thành cơ sở hành chính Côn Sơn Giám đốc quần đảo không gọi là tỉnh trưởng nữa, mà chỉ gọi là đặc phái viên hành chính
Từ sau khi ký hiệp định Pari 1973, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu muốn đánh lạc hướng dư luận quốc tế đang cật lực tố cáo chế độ chuồng cọp khủng khiếp
ở Côn Sơn, nên lại đổi tên hòn đảo một lần nữa thành đảo Phú Hải, được nhắc đến trong các văn bản thư từ của Mỹ Ngụy từ ngày 1-11-1974
Các trại tù cũng đổi tên:
Trại 1 thành Phú Thọ - Trại 2 thành Phú Hải – Trại 3 thành Phú Sơn – Trại 4 thành Phú Tường
Trại 5 thành Phú Phong – Trại 6 thành Phú An – Trại 7 thành Phú Bình - Trại 8 thành Phú Hưng…
Tháng 1 năm 1977 Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quyết định gọi tên chính thức là Côn Đảo, là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu.[Nguyễn Chơn Trung, Ký Sự và Tư Liệu,1996:22]
1.2.3 Nguồn gốc dân cư
Những di tích liên quan đầu tiên của con người trên quần đảo Côn Lôn được biết đến ngay từ hơn 7 thập kỷ trước, khi học giả người Pháp Louis Malleret khảo sát Bến Đầm năm 1944 và đã sưu tầm được 6 công cụ đá mài Các hiện vật này được chỉ huy tiểu đoàn Tisseyre chuyển về bảo tàng Sài Gòn và công bố với tên gọi:
“Poulo Condore” Vào những thập niên 60 của thề kỷ XX, nhà địa chất Pháp
Trang 35E.Saurin điều tra Hàng Dương và phát hiện một số đồ đá, đồng, sắt và các loại nồi,
võ gốm cổ gần khu mộ cụ Nguyễn An Ninh Sau giải phóng các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng đã phát hiện và khảo cổ nhiều di tích như: Hàng Dương, Sở Tiêu, Bến Đầm, Cồn Miếu Bà, Nhà Máy Nước, Cồn An Hải, Cồn Hải Đăng, Hòn Cau.v.v…
Qua khảo sát và nghiên cứu khảo cổ , trên quần đảo Côn Sơn với 8 địa điểm trên đảo lớn Côn Sơn và 1 di chỉ ở Hòn Cau, các nhà khoa học đã thu được hơn 12.261 tiêu bản khảo cổ học gồm: 569 hiện vật đá (gồm các loại hình : công cụ chặt đập, cuốc, rìu, đục từ giác và có vai, cưa, hòn kê, hòn ghè, chày và nêm, bàn mài, chì lưới, vòng đeo tay, khuôn đúc, mảnh phế liệu), 1 hạt chuỗi thủy tinh, 92 đồ xương và nhuyễn thể và đa phần là đất nung và gốm vỡ Đó là các chứng tích hiện vật ghi nhận nhiều hoạt động kiếm sống của con người cổ hải đảo với các hình thức chủ đạo là đánh bắt hải sản và động vật biển, đào bới các loại củ rừng, thu hái rau quả và săn bắt muôn thú Người xưa đã chế tác và sử dụng công cụ sản xuất đá tại chỗ, có thể họ còn biết chế luyện cả kim loại, dệt vải, với các bộ sưu tập đồ trang sức và hàng vạn mảnh gốm gia dụng phủ thổ hoàng nâu đỏ có vân khắc vạch và đắp
nổi cùng với các yếu tố gọi là “Chăm sớm” ở Hàng Dương
Nhìn chung, sự liên hệ mật thiết với Nam Bộ và Nam Trung Bộ của cư dân nguyên thủy Côn Đảo là điều có thể khẳng định khi các nguồn nguyên liệu để chế tác đá, duy trì đúc đồng và kể cả nguồn lương thực chủ đạo và đồ gia dụng gốm nhiều khả năng cung cấp từ chính nguyên liệu nội địa Trong bối cảnh rộng hơn của
lan truyền kỷ nghệ luyện kim từ “tam giác đồng” hoặc “tứ giác đồng” ra toàn khu
vực Đông Nam A đất liền và hải đảo Chúng ta có quyền đạt ra giả định rằng quần đảo Côn Sơn nằm giữa các dòng hải lưu chính của biển Đông hiển nhiên là giao lộ nam bắc – đông tây của con đường lụa trên biển đông và chính Côn Đảo hẳn từng là
“điểm dừng chân” thuận hợp của các đoàn thuyền “ra khơi vào lộng” nối đất liền
cực Nam Trung Bộ và Nam bộ với trùng khơi ngay từ thời sơ sử và cổ sử
Dưới thời kỳ các Chúa Nguyễn, sách “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn, có
thể được xem là quyển sách xưa nhất của Việt Nam có chép về Côn Đảo, ghi rõ “
Trang 36Ngày trước thiết lập đội Hoàng Sa… họ Nguyễn còn thiết lập them đội Bắc Hải… Quan trên sai những người trong đội trèo thuyền tư và thuyền câu nhỏ ra cù lao Côn Lôn ở giữa Bắc Hải… để tìm kiếm, lượm lặt các hạng đại mội, hải ba, đồn ngư, lục quý ngư, hải sâm” [Nguyễn Duy Hùng, Kỹ yếu hội thảo khoa học, 2012, 30-31]
Mặc dù xác lập chủ quyền từ rất sớm, nhưng trong điều kiện xảy ra chiến tranh liên miên, lại nằm rất xa đất liền, nên đối với Côn Đảo các chúa Nguyễn chỉ chú trọng đến khai thác sản vật, mà chưa thiết lập thể chế hành chính để cai quản sinh hoạt trên đảo Theo các sử liệu tại trung tâm lưu trữ quốc gia II, phải đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, chúa Nguyễn mới thiết lập được những cơ sở hành chánh đầu tiên với quần đảo này Đó là vào năm 1773, Nguyễn Ánh trên đường đào tẩu khỏi sự truy lung của quân Tây Sơn, đã đưa hoàng tộc cùng với 100 gia đình tùy tướng, gia nhân đến Côn Đảo lập ra 3 làng là An Hải, An Hội, Cỏ Ống
và chính thức đặt tên quần đảo là Côn Đảo hay Côn Nôn, đặt dưới sự cai quản hạt của tỉnh Hà Tiên Từ sau khi lên ngôi (1802) vị vua đầu tiên của triều Nguyễn và các vị vua kế vị sau đó tiếp tục triển khai hàng loạt các biện pháp thực thi chủ quyền ở Côn Đảo Điển hình nhất là dưới triều Minh Mạng, thực hiện công việc cải cách hành chính toàn quốc, đối với Côn Lôn – trước thuộc sự quản hạt của Hà Tiên, đến năm 1839, chuyển đặt thuộc quản hạt Vĩnh Long [Nguyễn Duy Hùng, Kỹ yếu hội thảo khoa học, 2012:63,67]
Thế nhưng cuộc sống bình dị của người dân Côn Lôn đã bị xáo trộn hoàn toàn vào năm 1861, Khi người Pháp chiếm lấy quần đảo Chỉ trong năm đầu tiên thôn tính, người Pháp đã bắt tất cả dân côn đảo di cư về đất liền và gấp rút xây dựng
hệ thống nhà tù từ năm 1862 Đảo Côn Lôn từ một nơi yên bình đã trở thành “địa ngục trần gian” suốt 113 năm, trên đảo chỉ còn 2 loại người sinh sống: tù nhân và
những người cai trị tù
Ngày 01/05/1975, Côn Đảo được giải phóng Lịch sử quần đảo sang trang mới Theo sổ tay ghi chép của ông Trịnh Văn Lâu, Bí thư Đảo ủy lâm thời, lúc này tỉnh Côn Đảo có 7.448 tù nhân, trong đó 4.243 tù chính trị (494 phụ nữ) Ngày 4/5/1975, đa số tù chính trị theo tàu trở về đất liền, chỉ còn 153 cụ tù chính trị tình
Trang 37nguyện ở lại Ngoài ra trên đảo còn một bộ phận cựu giám thị nhà tù và gia đình của
họ Một số ít tù hình sự và quân phạm, bị kết án dưới chế độ cũ, cũng xin được ở lại Côn Đảo
Từ tháng 9/1976, tỉnh Côn Đảo bị giải thể, Côn Đảo trở thành huyện trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh Tháng 1/1977, Côn Đảo được giao về Hậu Giang Tháng 5/1979, đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo được thành lập, Côn Đảo trở thành quận Côn Đảo Suốt thời gian đó, một số đợt cán bộ được đưa ra tăng cường, nhiều người dẫn theo gia đình Côn Đảo bắt đầu có chợ , trường học, hình thành những lớp cư dân đầu tiên dưới chính quyền cách mạng
Sau 10 năm được giải phóng, dân số Côn Đảo ngoài lực lượng bộ đội trú đóng, cao nhất chỉ khoảng 1000 người Vào năm 1984, để bổ sung cho nhân lực Côn Đảo, chính quyền thành phố Cần Thơ, Hậu Giang đã vận động, hổ trợ và đã đưa đợt cư dân ra Côn Đảo Tổng cộng có gần 300 người, đủ các độ tuổi và thành phần nghề nghiệp Chính quyền và người dân Côn Đảo đã đón tiếp rất chu đáo, tổ chức đi tham quan, sắp xếp nơi ăn ở, sau đó tùy theo nguyện vọng, khả năng và trình độ học vấn đã bố trí việc làm cho tất cả mọi người Trẻ nhỏ ở độ tuổi nào thì được cho đi học ở bậc đó Đến nay, trên Côn Đảo còn khoảng 1/10 số cư dân của 3 đợt này bám trụ lại Họ và con cái của họ đều trở thành những cư dân cố cựu, tương đối thành đạt ở Côn Đảo
Tháng 10-1991, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được thành lập, Côn Đảo trở thành Huyện trực thuộc tỉnh Khoảng thời gian này, Sở giáo dục tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
đã phân công một số đợt giáo viên cấp II – III ra Côn Đảo Các thầy, cô đã tạo nên làn sinh khí mới trong hoạt động giáo dục tại Côn Đảo Một số thầy, cô sau đó đã kết hôn, ở lại và cũng trở thành công dân Côn Đảo
Năm 1994, 14 tri thức trẻ tình nguyện đã đến Côn Đảo theo chương trình của Trung ương Đoàn phát động Họ đã cán đáng nhiều công việc cần đến chất xám mà năng lực tại chỗ lúc đó chưa đáp ứng được Nhiều người trong số đó đã ở lại Côn Đảo và đã trở thành cán bộ nồng cốt trong các ban ngành, có cống hiến thiết thực cho Côn Đảo
Trang 38Xen kẽ những đợt người đến Côn Đảo thông qua tổ chức chặt chẽ như trên, công dân Côn Đảo còn được tiếp tục bổ sung bằng hình thức di dân tự do (tỷ lệ 3-8%) Nhiều người khắp các tỉnh thành trong nước coi Côn Đảo là nơi đất lành Họ đến, sinh cơ lập nghiệp, sau đó đưa thêm nhiều người thân, họ hàng ra đảo
Theo tài liệu của Ủy ban nhân dân Huyện Cọn Đảo, trong nhựng năm 1980 – 1990, dân số Côn Đảo biến Động ở mức 2.000 – 3.000 người; sang những năm 2.000 – 2010, tăng lên mức 4.000 – 6.000 người; và hiện nay 7.000 người tỷ lệ nam/nữ 51% và 49%
Ngoài việc tăng dân số cơ học như trên, dân số Côn Đảo cũng tăng theo cách
tự nhiên Do có đến hơn 70% là cán bộ, công chức luôn nghiêm túc thực hiện chính sách về Dân số và kế hoạch hóa gia đình, nên tỷ lệ dân số tăng tự nhiên tại Côn Đảo tăng rất thấp, chỉ khoảng 1-3% một năm [Nguyễn Duy Hùng, Kỹ yếu hội thảo khoa học, 2012:906-908]
Tổng thu ngân sách 653,7 tỷ đồng, tăng bình quân 13,51%, trong đó thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 53,45 tỷ đồng Tổng chi ngân sách 537,4 tỷ đồng, đạt 186,43% chỉ tiêu, tăng bình quân 21,85%
Trang 39Tổng doanh thu thương mại - dịch vụ khác 1.631,3 tỷ đồng, tăng bình quân 18,95%, trong đó doanh thu thương mại 1.274,5 tỷ đồng Doanh thu các dịch vụ khác 356,8 tỷ đồng Ngoài sự phát triển nhanh của ngành du lịch, các ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông và các loại hình dịch vụ khác từng bước được phát triển
Giao thông giữa đảo và đất liền thuận lợi hơn, tần suất hoạt động của tàu vận chuyển hành khách, hàng hoá tăng khoảng 44%; phương tiện vận chuyển bằng đường hàng không trước đây 5 chuyến/tuần, đến nay 21 chuyến/tuần Doanh thu dịch vụ vận tải tăng bình quân 11,7% Thông tin liên lạc giữa Côn Đảo với trong nước và quốc tế được đảm bảo; doanh thu dịch vụ bưu chính - viễn thông tăng bình quân 19%; bình quân 51,38 máy điện thoại cố định và 42,54 máy điện thoại di động/100 dân; thuê bao đường truyền internet 656 line; đã phủ sóng điện thoại di động các mạng Vinaphone, Mobifone, Viettel và dịch vụ điện thoại cố định không dây
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn 1.470 tỷ đồng, gấp 8,3 lần so năm
2005 Ngân sách Trung ương và địa phương đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng với tổng trị giá 824 tỷ đồng, trong đó xây mới 37 công trình với giá trị 301 tỷ đồng, sửa chữa, nâng cấp 252,3 tỷ đồng; vốn sự nghiệp kinh tế của huyện 81 tỷ đồng, vốn của các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp trong nước và vốn của nhân dân
565 tỷ đồng
Đầu tư nước ngoài có 12 dự án với tổng vốn đăng ký 52 triệu USD, vốn thực hiện khoảng 22 triệu USD (tương đương 400 tỷ đồng), diện tích giao đất, cho thuê đất đang triển khai xây dựng 150 ha Ngoài các dự án đầu tư du lịch còn có dự án nuôi cấy ngọc trai biển vốn đầu tư 2,8 triệu USD của Công ty TNHH Galatea Việt Nam Có 02 dự án đầu tư đã được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng chưa triển khai: Công ty Aerogie Plus (Thụy Sỹ) đầu tư năng lượng gió tại mũi Tàu
Bể - Côn Đảo; Công ty TNHH kinh doanh du lịch và đầu tư Hồng Bàng - Phương Đông Có 06 dự án vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 780 tỷ đồng, vốn thực hiện 123 tỷ đồng, diện tích giao đất, cho thuê đất 108 ha, trong đó có 3 dự án
Trang 40du lịch đã đưa vào hoạt động Vốn đầu tư trong nhân dân 42,5 tỷ đồng, bao gồm đầu
tư nhà hàng, khách sạn, mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh và xây dựng nhà ở
Nguồn vốn đầu tư phát triển theo các lĩnh vực như sau: Thương mại - dịch vụ
- du lịch 682 tỷ đồng, trong đó du lịch 360 tỷ đồng; giao thông 376,8 tỷ đồng; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 145 tỷ đồng; nông nghiệp 110 tỷ đồng; kết cấu hạ tầng
xã hội 66,7 tỷ đồng; dân dụng khác 89,5 tỷ đồng
Giá trị sản xuất công nghiệp 127,6 tỷ đồng, giảm bình quân 5,04%, trong đó, công nghiệp quốc doanh 19,1 tỷ đồng, tăng bình quân 15,25%; công nghiệp ngoài quốc doanh 108,5 tỷ đồng, giảm bình quân hàng năm[6] 8,52% Sản lượng điện thương phẩm tăng bình quân 17,03%; nước máy thương phẩm tăng bình quân 9,76%; nước đá giảm bình quân 13,67%
Nhìn chung, sản xuất và cung ứng điện, nước về cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh, du lịch
Quy hoạch chi tiết 1/500 cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Bến Đầm đang trình phê duyệt; bước đầu nghiên cứu lập đề án di dời các cơ sở sản xuất về cụm CN-TTCN Bến Đầm Duy trì sản xuất thủ công mỹ nghệ, những mặt hàng lưu niệm phục vụ du lịch và sửa chữa nhỏ tàu thuyền
Mạng lưới giao thông đường bộ được đầu tư nâng cấp, đảm bảo thuận lợi cho đi lại và vận chuyển hàng hoá, hành khách Tiếp tục mở rộng nhà máy điện An Hội và đồng bộ hoá mạng lưới cấp điện theo quy hoạch, cải tạo hệ thống cấp, thoát nước
Dự án cảng Côn Đảo tại Vũng tàu, Đền thờ Côn Đảo, Bảo tàng Côn Đảo đã khởi công và tiếp tục thực hiện kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập tỉnh; đường Tây Bắc Côn Đảo đã được UBND tỉnh phê duyệt; dự án chung cư công vụ, dự án cảng tàu khách Côn Đảo chuẩn bị khởi công
Giá trị sản xuất nông nghiệp 39,6 tỷ đồng, tăng bình quân 21,02%
Tài nguyên rừng, đất rừng được quản lý bảo vệ tốt Tiếp tục thực hiện công tác khoanh nuôi, tăng độ che phủ rừng, không để xảy ra cháy rừng và xâm hại nghiệm trọng đến tài nguyên rừng