1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh câu đố, tục ngữ trong tiếng khmer và tiếng việt tiếp cận từ lý thuyết ngôn ngữ học tiếp xúc

216 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 4,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1997, trong bài viết “Tính biểu trưng của tục ngữ Khmer Nam Bộ thể hiện qua hình ảnh loài vật” đăng trên Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP TP.HCM [24], Phạm Tiết Khánh đã điểm qua nội

Trang 1

VŨ THỊ MINH TRANG

SO SÁNH CÂU ĐỐ, TỤC NGỮ TRONG TIẾNG

KHMER VÀ TIẾNG VIỆT-

TIẾP CẬN TỪ

LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC TIẾP XÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015

Trang 2

VŨ THỊ MINH TRANG

SO SÁNH CÂU ĐỐ, TỤC NGỮ TRONG TIẾNG

KHMER VÀ TIẾNG VIỆT-

Trang 3

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

CĐ Việt: Câu đố Việt

CĐM Khmer: Câu đố mới Khmer

ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long

TXVH: Tiếp xúc văn hóa

VHDG: Văn học dân gian

// ngắt đoạn

/ ngắt ý, tách từ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ai công bố trong các công trình khác

Tp.HCM, tháng 8 năm 2015

Tác giả

VŨ THỊ MINH TRANG

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Người viết luận văn xin chân thành bày tỏ lòng tri ân sâu sắc nhất đến NGND

GS TS Bùi Khánh Thế-người đã nhiệt tình giúp đỡ và có ý kiến chỉ dẫn quí báu trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin vô cùng biết ơn sự giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô khoa Văn học

và Ngôn ngữ, phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học KHXH & NV Tp HCM,

Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến các bậc Achar, cùng các cán bộ hưu trí, các em sinh viên, học viên, học sinh ở các tỉnh tôi đi điền dã đã luôn nhiệt tình giúp đỡ

và tạo điều kiện để tôi hoàn thành bản luận văn này

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5

7 Bố cục 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan về đề tài 7

1.1.1 Những vấn đề về câu đố 8

1.1.2 Những vấn đề tục ngữ tiếng Khmer và tục ngữ tiếng Việt 14

1.2 Người Khmer và tiếng Khmer 21

1.2.1 Người Khmer 21

1.2.2 Loại hình chữ viết Khmer 24

1.3 Những vấn đề xung quanh TXNN 26

1.3.1 Song ngữ trong điều kiện tiếp xúc 27

1.3.2 Hiện tượng giao thoa trong điều kiện tiếp xúc 28

1.3.3 Quá trình qui tụ trong điều kiện tiếp xúc 30

1.3.4 Từ lý thuyết về TXNN đến ngôn ngữ học tiếp xúc 31

1.4 Tiểu kết 36

CHƯƠNG 2 SO SÁNH CÂU ĐỐ TIẾNG KHMER VỚI CÂU ĐỐ TIẾNG VIỆT 2.1 Đ điểm vật đ trong u đ tiếng Khmer và u đ tiếng Việt 37

2.1.1 Câu đố về các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ 37

2.1.2 Câu đố về động vật, thực vật 37

2.1.3 Câu đố về công cụ sản xuất và các loại đồ dùng 39

2.1.4 Câu đố về con người và công việc của con người 40

2.2 Đ điểm về phư ng thứ mi u tả trong u đ 42

2.2.1 Câu đố sử dụng phương thức miêu tả trực tiếp 42

Trang 7

2.2.2 Câu đố sử dụng phương thức miêu tả gián tiếp 45

2.3 Tư ng đ ng và kh iệt trong u đ tiếng Khmer và u đ tiếng Việt 57 2.3.1 Sự tương đồng về nội dung 57

2.3.2 Sự khác biệt thể hiện trên câu đố 65

2.4 C đ điểm về tiếp xú ngôn ngữ thể hiện qua sự hình thành u đ 69 2.4.1 Những biểu hiện của tiếp xúc trên bình diện ngôn ngữ 65

2.4.2 Những tiếp xúc trên bình diện xã hội 71

2.5 Tiểu kết 74

CHƯƠNG 3 SO SÁNH TỤC NGỮ TIẾNG KHMER VỚI TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT 3.1 Đ điểm nội dung trong tụ ngữ tiếng Khmer và tụ ngữ tiếngViệt 76

3.1.1 Tục ngữ về lao động sản xuất và quan hệ với thiên nhiên 76

3.1.2 Tục ngữ về quan hệ trong gia đình, họ hàng và xã hội 77

3.1.3 Tục ngữ nói về cách ứng xử và kinh nghiệm sống 80

3.2 Đ điểm về phư ng thứ diễn đạt trong tụ ngữ 82

3.2.1 Phương thức diễn đạt trực tiếp trong tục ngữ 83

3.2.2 Phương thức miêu tả gián tiếp trong tục ngữ 84

3.3 Tư ng đ ng và kh iệt trong tụ ngữ tiếng Khmer và tụ ngữ tiếng Việt 89 3.3.1 Nét tương đồng của tục ngữ tiếng Khmer và tục ngữ tiếng Việt 89

3.3.2 Nét khác biệt của tục ngữ tiếng Khmer với tục ngữ tiếng Việt 99

3.4 C đ điểm về TXNN thể hiện trên tục ngữ……… 104

3.4.1 Ảnh hưởng của tiếp xúc ngôn ngữ thể hiện trên bình diện ngôn ngữ 104

3.4.2 Những tiếp xúc trên bình diện xã hội 108

3.5 Tiểu kết …110

KẾT LUẬN……… 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

PHỤ LỤC 1 122

PHỤ LỤC 2 126

PHỤ LỤC 3 129

PHỤ LỤC 4 134

PHỤ LỤC 5 173

Trang 8

MỞ ĐẦU

Nhu cầu xác lập sự hiểu biết lẫn nhau không chỉ còn giới hạn trong một dân tộc

mà còn mở ra giữa các dân tộc trong một quốc gia Sự hòa hợp về ngôn ngữ, văn hóa giữa hai dân tộc Việt và Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã thể hiện r điều đó Sở dĩ đề tài chọn so sánh câu đố, tục ngữ Khmer ở ĐBSCL với câu đố, tục ngữ Việt vì hai tộc người này có cùng địa bàn cư trú, cùng môi trường sinh sống Hơn nữa, bản thân người viết là giáo viên dạy tiếng Việt cho người Khmer cũng như người Campuchia; điều kiện tiếp xúc đó góp phần cho tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu này

Hiện nay Đảng và nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề giữ gìn phát huy tiếng nói, chữ viết của năm mươi bốn dân tộc sống trên đất nước Việt Nam Tiếng Việt là ngôn ngữ chính dùng để giao tiếp giữa các tộc người trong nước Việt Nam Quan sát hệ ngôn ngữ tiếng Việt đang sử dụng, ta có thể thấy nhiều điểm thể hiện sự đóng góp của đồng bào Khmer; trước hết phải kể đến vốn văn hóa và ngôn ngữ Là người giảng dạy tiếng Việt cho học viên Khmer, tôi muốn khơi gợi niềm tự hào về bản sắc dân tộc quí giá mà người Khmer đang sở hữu qua kho tàng văn học dân gian Chúng tôi chưa phát hiện những ý kiến nào có đề cập đến TXNN đã ảnh hưởng đến cách hình thành câu đố, tục ngữ Khmer và câu đố, tục ngữ Việt

Tục ngữ có câu “chim khôn hót tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ

nghe” do đó qua cách nói và ngữ điệu, ta có thể nhận thấy một số đặc điểm thể hiện

chiều sâu văn hóa của một người, bản sắc của một dân tộc

Lị h sử nghi n ứu u đ , tụ ngữ

Từ đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, việc sưu tầm, nghiên cứu câu đố và tục ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Các tác giả đã cung cấp nhiều nguồn tư liệu quan trọng cho nghiên cứu câu đố, tục ngữ Khmer của chúng tôi Song về mặt văn bản, các công trình sưu tập về tục ngữ và câu đố chưa đề cập đến TXNN đã ảnh hưởng đến cách tạo thành câu đố, tục ngữ Một số nhà văn hóa dân tộc đã sưu tập và giới thiệu về tục

Trang 9

ngữ, câu đố của tộc người mình Trong đó, bao gồm việc sưu tập và giới thiệu câu đố

và tục ngữ Khmer

Việt Nam, nửa sau thế kỷ XX, mới xuất hiện những công trình nghiên cứu

về người và văn hóa Khmer của một số tác giả người Việt Tuy nhiên, việc nghiên cứu các thể loại văn hóa dân gian của người Khmer còn chưa nhiều so với vốn văn hóa phong phú của họ Vì vậy, tôi chỉ khảo sát và nghiên cứu trên một số công trình, tiêu biểu về câu đố và tục ngữ Khmer sau:

Công trình của Sơn Phước Hoan, Thành ngữ, tục ngữ Khmer, được biên soạn qua hình thức song ngữ, gồm 629 câu về thành ngữ và tục ngữ Tục ngữ, thành ngữ,

ca dao và câu đố Khmer là sách biên khảo, sưu tầm của Trần Thanh Pôn [37, tr.40]

Chu Xuân Diên chủ biên “Văn học dân gian Sóc Trăng” [7] ấn hành năm 2002, công trình này gồm 575 câu tục ngữ và 84 câu đố Công trình “Sưu tầm và biên soạn về

thành ngữ và tục ngữ Khmer”, năm 2006, có 269 đơn vị thành ngữ , tục ngữ được sắp

xếp theo trật tự chữ cái Khmer [20]

Về tục ngữ tiếng Việt có Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, 1975, gồm

6500 câu [6] Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan [38], xuất bản 1978, gồm 2150 câu Khảo luận về tục ngữ Việt của Triều Nguyên [35], (2006) Câu đố thai ở Mỹ Xuyên-Sóc Trăng [50] Câu đố Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Trung [56] Câu đố Việt

Nam của tác giả Ninh Viết Giao [14]

Ngoài ra, chúng tôi còn có dịp tìm hiểu thêm câu đố ở các sách nghiên cứu sưu

tầm từ Campuchia: Câu đố Khmer, Nxb Ápsara-2004, Chy Chap sưu tầm có 341 câu [67]

Câu đố dân gian Khmer, Phnômpênh-1969, Xanứtzàn 452 câu [66]

Năm 1997, trong bài viết “Tính biểu trưng của tục ngữ Khmer Nam Bộ thể

hiện qua hình ảnh loài vật” đăng trên Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP TP.HCM [24],

Phạm Tiết Khánh đã điểm qua nội dung cơ bản của những câu tục ngữ Khmer và tiến hành khảo sát một số câu tục ngữ Khmer có chứa hình ảnh biểu trưng của các con vật Song bài viết chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu chung, chưa đi vào phân tích vai trò của các hình ảnh động vật tham gia vào cấu tạo ngữ nghĩa trong tục ngữ Khmer

Trang 10

Trong bài viết “Tìm hiểu nội dung tục ngữ Khmer (qua so sánh với tục ngữ

Việt)” [52], tác giả Nguyễn Thị Kiều Tiên đã bước đầu tìm hiểu, so sánh với tục ngữ

Việt để thấy được sự giống và khác biệt thuộc về bản chất ngôn ngữ, văn hóa của hai dân tộc

Giới thiệu và nghi n ứu tiếp xú ngôn ngữ ở Việt Nam

Vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ (TXNN) bắt đầu được các tác giả Việt Nam giới thiệu

ở từ những năm 70, 80 thế kỷ XX như: tác phẩm Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á

[45], hoặc những bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành

Trong khi đó, TXNN đã được các tác giả người nước ngoài ghi nhận từ những thế kỷ trước và ít nhiều đã thể hiện ở từ điển Babuar (1861), từ điển Việt Mường

Riêng ở Việt Nam, mãi đến năm 1953, U.Weinreich mới có công trình Các ngôn ngữ

trong sự tiếp xúc được dịch sang tiếng Việt nhưng đã thu hút các nhà nghiên cứu quan

tâm đến TXNN Đầu thế kỷ XXI, một số luận án đã chọn đề tài nghiên cứu theo hướng

lý thuyết ngôn ngữ học tiếp xúc (NNHTX) như: Đặng Thanh Phương, năm 2003 đã

bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài Tiếp xúc ngôn ngữ Tày-Việt vùng Đông bắc Việt Nam,

Viện Dân tộc học, Hà Nội Tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp HCM, năm 2011 đã có hai luận án tiến sĩ nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến lĩnh

vực TXNN: Nguyễn Thị Huệ, 2011 “Tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Khmer và tiếng Việt

(Trường hợp tỉnh Trà Vinh)” Đinh Lư Giang, 2011 “Tình hình song ngữ Khmer-Việt tại đồng bằng sông Cửu Long” Do vậy, vấn đề TXNN s được tác giả nói r hơn từ

trang 26 đến 36 ở chương 1 của luận văn

Trong phần mở đầu này, tôi s khái quát qua một số công trình về TXNN để làm nền tảng nghiên cứu sự ảnh hưởng của TXNN lên cách hình thành câu đố, tục ngữ Khmer và câu đố, tục ngữ Việt; đồng thời làm cơ sở cho chương 2 và chương 3 Chúng tôi tập trung so sánh các phương thức tạo thành câu đố, tục ngữ Khmer và câu đố, tục ngữ Việt TXNN s ảnh hưởng đến các bình diện ngôn ngữ, bình diện xã hội và tác động trực tiếp đến phương thức tạo thành câu đố, tục ngữ như thế nào

Mụ đí h

Trang 11

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến tính ứng dụng của lý thuyết TXNN, vì điều đó liên quan đến việc giảng dạy tiếng Việt cho người Khmer và người nước ngoài

Trong mối tương quan, giao thoa về ngôn ngữ Khmer và Việt, tôi cố gắng tổng hợp các kết quả nghiên cứu và bước đầu tìm ra TXNN đã ảnh hưởng đến cách hình thành câu đố, tục ngữ Khmer cũng như câu đố, tục ngữ Việt

Nhiệm vụ nghi n ứu

Khảo sát, phân loại câu đố, tục ngữ căn cứ vào nội dung và phương thức tạo lập của câu đố, tục ngữ, luận văn chứng minh rằng: TXNN làm cho con người có khả năng giao tiếp rộng rãi, phong phú

Đ i tượng nghi n ứu

Thực tế người Khmer ĐBSCL và người Việt Nam Bộ cùng sống đan xen tạo thành địa bàn đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ, nên sự TXNN và TXVH là điều không tránh khỏi Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “So sánh câu đố, tục ngữ Khmer và câu đố, tục ngữ Việt- tiếp cận từ lý thuyết ngôn ngữ học tiếp xúc” làm đối tượng nghiên cứu

Phần tục ngữ Khmer gồm 699 câu Tục ngữ Việt gồm 1200 câu trong TLTK [6], [35] và [38] Tuy nhiên, để khắc phục sự “khập khiễng” khó tránh khỏi bởi những nguồn ngữ liệu này, chúng tôi đã “khuôn” chúng lại ở những nội dung cơ bản như: nội dung

và phương thức tạo thành câu đố, tục ngữ với những tỷ lệ so sánh có tính chất tương đối

Phư ng ph p so s nh đ i hiếu

Trong so sánh nét tương đồng, khác biệt về câu đố, tục ngữ giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Khmer thì tiếng Khmer được chọn làm ngôn ngữ để nghiên cứu

Trang 12

Cách trình bày trong luận văn: trong phần so sánh, tôi s trình bày câu đố, tục

ngữ bằng chữ nguyên bản tiếng Khmer trước và đánh số thứ tự tăng dần theo các ví

dụ Tiếp theo là phần phiên âm tiếng Khmer, phần trực dịch từ đối từ Sau đó là câu tiếng Việt tương ứng được in nghiêng Cuối cùng là phần giải thích ví dụ đã nêu Trong trường hợp phần trực dịch khó hiểu, tác giả luận văn s dịch thoát nghĩa, phần này được đặt trong ngoặc đơn, sau phần gạch nối (-) Vì tính thẩm mỹ của chữ viết Khmer nên luận văn không thể gạch chéo (/ /) ở chữ nguyên bản Chúng tôi s đánh dấu phần trực dịch và phần phiên âm bằng hai dấu gạch chéo (/ /) để ngăn cách giữa các ý, các từ hoặc các vế câu

Cách trình bày phụ lục so sánh: do số trang quy định của luận văn có giới hạn,

nên tác giả s sắp xếp câu đố, tục ngữ Khmer theo nội dung, đề mục tương đương ở chính văn và minh họa bằng 3-4 ví dụ ở m i tiểu mục Các phụ lục còn lại là tài liệu

đã thu thập được trong quá trình điền dã của tôi

Phư ng ph p mi u tả ngôn ngữ họ

Luận văn chú trọng miêu tả cấu trúc của từng ngôn ngữ về mặt từ vựng, ngữ nghĩa để phát hiện sự TXNN trên bình diện song ngữ, giao thoa, quy tụ ẩn chứa trong đối tượng nghiên cứu

Phư ng ph p sưu tầm, điền dã

Biện pháp thực hiện phương pháp sưu tầm, điền dã là: tôi liên hệ các tổ chức, cơ quan, gặp gỡ một số người am hiểu câu đố, tục ngữ Khmer ở ĐBSCL để tiến hành nghe, ghi chép và ghi âm; phát phiếu điều tra, biên soạn (chỉnh sửa, phiên âm, dịch nghĩa) các đơn vị câu đố và tục ngữ

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số thủ pháp vẫn được vận dụng trong nghiên cứu liên ngành để làm r hơn mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ, văn hóa

Ý nghĩa khoa họ

TXNN là kết quả tất yếu trong giao tiếp giữa người Khmer và người Việt Trong quá trình giao tiếp, người Khmer và người Việt, có thể nói được cả tiếng Khmer lẫn tiếng Việt, đã suy nghĩ, chuyển tải những ý niệm về cuộc sống Luận văn s xem xét trên ba

Trang 13

bình diện: ngôn ngữ, văn hóa, kinh nghiệm thực tiễn của người Khmer trong lao động sản xuất, xây dựng đời sống vật chất, tinh thần để góp phần trả lời cho câu hỏi trên

Ý nghĩa thự tiễn

Luận văn muốn chứng minh rằng câu đố, tục ngữ là một kho tàng quý báu chứa đựng những tri thức của con người Đồng thời giúp học sinh, sinh viên phát triển tư duy và năng lực ngôn ngữ, góp phần bảo tồn vốn ngôn ngữ văn hóa dân tộc Những ngữ liệu dẫn chứng được dùng trong luận văn có thể cung cấp thêm tư liệu cho học sinh thiểu số, sinh viên nước ngoài học tiếng Việt và giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tham khảo trong khi dạy, học tiếng Khmer, tiếng Việt

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục, nội dung chính của luận văn này được trình bày theo 3 chương

Chư ng 1: Tổng quan về đề tài và sở lý thuyết

Chúng tôi trình bày tổng quan về đề tài và một số vấn đề về cơ sở lý thuyết, các khái niệm Lý thuyết NNHTX được lấy làm nền tảng để nghiên cứu các mẫu câu

đố và tục ngữ s được phân tích r ở hai chương trọng tâm: chương 2 và chương 3

Chư ng 2: So sánh c u đ tiếng Khmer với u đ tiếng Việt

Qua việc nghiên cứu câu đố, chúng tôi trả lời câu hỏi: Câu đố Khmer so sánh với câu đố Việt được tạo thành từ phương thức chủ yếu nào TXNN đã ảnh hưởng đến việc tạo lập câu đố ra sao?

Chư ng 3: So sánh tụ ngữ tiếng Khmer với tụ ngữ tiếng Việt

Ngoài việc mô tả các phương thức tạo thành tục ngữ, chương ba s so sánh để chỉ ra các điểm tương đồng, khác biệt của tục ngữ Khmer và tục ngữ Việt Thông qua việc phân tích, luận văn rút ra một số đặc điểm về TXNN đã ảnh hưởng lên cách hình thành tục ngữ

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Khmer và Việt Nam là hai dân tộc có với lịch sử văn hóa, phong tục tập quán khác nhau Qua nghiên cứu, khảo sát, điền dã, chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ Khmer, ngôn ngữ Việt ở ĐBSCL tiếp xúc với nhau rất thường xuyên trong sinh hoạt ngôn ngữ hàng ngày, nhưng trong các thể loại văn hóa dân gian thì sự tương đồng, khác biệt rất khó phát hiện Trên cơ sở lý thuyết về TXNN, việc nghiên cứu những vấn đề

về câu đố, tục ngữ s làm sáng tỏ những điểm tương đồng và khác biệt đó

1.1 Tổng quan về đề tài

M i dân tộc đều có cách nói riêng được thể hiện trên bối cảnh thực tế xã hội và tư duy truyền thống của dân tộc đó Cùng với sự tiếp cận ngôn ngữ văn học, ta còn có thể tìm thấy sự phổ quát và tầm mức ảnh hưởng sâu sắc của ý tưởng trong việc sử dụng ngôn

từ thể hiện qua chính thực tiễn lời nói của m i dân tộc nông thôn gần nửa thế kỷ trước đây, nhiều người đã thấy các ông bà già ngồi cùng nhau trên bờ đê, trên chiếc chòi sau

h , trải chiếu giữa sân hoặc ngồi trên ch ng tre, vây quanh là những đứa tr vừa uống nước, vừa chuyện trò đố nhau Cuộc đố càng lúc càng vui và sôi nổi Mọi người đều cố tìm trong ký ức của mình những hoàn cảnh sinh ra câu đố và tục ngữ để góp vui

Khi câu đố được giảng giải hoặc được trả lời đúng có nhiều tiếng trầm trồ “ờ nhỉ, à, ồ” thán phục Ngày xưa, câu đố còn được sử dụng để xóa nợ, tha tội, hoặc để thử tài kén rể, tìm nhân tài trong truyện cổ xa xưa Như vậy, câu đố được sản sinh ra trong quá trình lao động, sinh hoạt của nhân dân từng vùng miền và được lưu hành từ nơi này sang nơi khác theo phương thức truyền miệng Do đó, có thể thấy rằng bản sắc địa phương, trong đó có phương ngữ, để lại nhiều dấu ấn trong câu đố, cả ở phần

đố lẫn phần lời giải Những sinh hoạt xung quanh câu đố xảy ra trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Hoàn cảnh sử dụng thông thường phổ biến hơn cả là thời gian buổi tối sau khi ăn cơm, nhất là khi trời rét, mưa phùn không thể tổ chức những sinh hoạt giải trí khác ngoài trời, bà cháu trong gia đình quây quần để nghe truyện cổ tích hay ra câu đố, hoặc rủ nhau tụ tập đông đảo ở một nhà Ngoài ra câu đố còn được sử dụng trong các cuộc chơi ở hội h , đình đám hoặc trình diễn trên sân khấu Câu đố được xướng lên k m theo tiếng đờn, tiếng g song-lang…phụ họa làm tăng không khí vui nhộn Buổi thai đố thường tập trung đủ loại người ở đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi trình độ

Trang 15

tham dự Những câu đố trong buổi thai đố này thường được sáng tác tại ch dựa vào sinh hoạt đời thường hoặc phỏng theo các câu ca dao, câu hò, điệu lí hay của những tác giả văn chương nổi tiếng

Mục đích đố là để vui chơi giải trí Vì vậy, có những câu đố ra đời trong những tình huống có tổ chức hoặc không tổ chức Câu đố được sử dụng tự phát thường có ít nhất hai người hoặc năm sáu người, tùy lúc, tùy nơi, lúc đi lại trên đường, lúc lao động, sử dụng những câu đố có sẵn, chưa phổ biến hoặc sáng tác ra những câu đố mới

1.1.1 C u đ tiếng Khmer và u đ tiếng Việt

1.1.1.1 Câu đố tiếng Khmer

Giáo trình Văn học dân gian Khmer Nam bộ អក្សហសិឡប៍ររជររិសខ្មមហណាឞរូ(2011), gọi câu đố là “péc bòn đău”ពាក្យរណ្តៅ Câu đố cũng như tục ngữ ẩn chứa giá trị kiến thức dân gian một cách sâu sắc Câu đố đã mô tả một phần đặc điểm bên ngoài của các sự vật, hiện tượng mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống hằng ngày bằng cách nhìn mới lạ

(1) ណ្ ោះសន្ទូចហំឡងឝនំសាហិកាខ្ក្អសំទំចុងឫសសី។(ឞីរក្ូ)

Thảy dây qua núi, sarika hót trên ngọn tre (Cái micro)

Cái hay của câu đố là nhìn hệ thống dây điện như chiếc cần câu, nhìn cái

micro và chiếc loa treo trên ngọn tre như chim sarika đang hót Câu đố không mang

lại sự vật, hiện tượng mới nhưng cho chúng ta cái nhìn mới về sự vật và hiện tượng xung quanh Câu đố được đặt ra là để đố Người ta sử dụng câu đố để thử tài

(2) អត្ថុអវីណ្េក្៏អាន្ថាកាហ ណ្វឡ ត្់ហណា ន្ជាមលួន្វា?(កាទឹក្)

Cái gì ta đọc là“car”khi mất phụ âm“rô”cuối lại trở thành là nó? (Cái ca)

Đôi khi, câu đố được hát lên để thử tài trong hôn nhân mà truyện cổ tích và dân ca còn lưu lại ít nhiều dấu vết

(3) វីណ្ក្មងស្សឡាញ់គ្ននឞដងដឡ់ចាស់ណ្កាងមនងស្សឡាញ់គ្ននឞដងណ្ទៀត្។ចិញ្ចចញណ្មមញណ្ឡើណ្រកាឞ។

Khi trẻ thương nhau một lần đến khi xế bóng yêu nhau lần hai.(Hàm răng)

Câu đố đầy hiểm hóc này được tạo thành từ phương thức ẩn dụ Khi còn nhỏ răng chưa mọc, lợi (nướu răng) trên và lợi dưới chạm vào nhau, khi tuổi về già răng rụng hết thì hàm răng của con người lại trở về với trạng thái lợi chạm nhau như lúc

Trang 16

ban đầu chưa mọc răng Qui luật của tạo hóa và thời gian đã được nhân dân lao động vận dụng, làm ta lầm tưởng đó là tình yêu…

Từ lâu, câu đố đã trở thành một trò chơi Trong trò chơi ngôn ngữ đó, người ta phải huy động cả năng lực tư duy hình tượng lẫn năng lực tư duy suy lí

(4) វន្លឺអវីឝលឺដូចមាស។(វន្លឺថ្ងង)

- Hạt gì lấp lánh ánh vàng (Hạt nắng).

(5) សលឹក្ណ្ចក្ផ្ងងសលឹក្ចាហផ្ងារ់។ចណ្ឞលើសៈសាស្ត្សាៅសលឹក្ហឹត្។

Lá chuối ngửa lá chuối úp (Sách lá buông)

Câu đố còn mang triết lí sâu xa trong giáo dục nhân cách và thái độ ứng xử của con người:

(6) ឯក្អងគរទង់នាឞឯក្មំមពស់អណ្ន្ក្ខ្ត្ទារជាងណ្មម។េឺអវី?(ឝនំ)

Ek ong trong neam ek thom kh’pôs a-nêk tea teap cheang s’mau Kư a-vây (ph’num)

Ek ong cao to hơn người, nhưng vẫn thấp hơn ngọn cỏ Đó là cái gì? (Núi)

góc độ định lượng neam ek thom kh’pôs a-nêk là so về chiều cao Từ một cách nhìn khác, “Núi vẫn thấp hơn cỏ” cheang s’mau lại mang một nghĩa hàm ẩn

nhằm khuyên mọi người không nên quá tự đề cao mình, đừng khoe khoang khoác lác; nên biết mình, biết người và trân trọng sự hiểu biết của người khác

Đôi khi câu đố chỉ là những sự việc rất đơn giản để “đánh lừa” dưới hình thức nói ngược, nói lái:

(7) ចុោះណ្ៅដីមញក្។(ដក្មញី)-chôs tâu/ đây kh’nhoc (Đok kh’nhây)

Đi xuống đây kh’nhoc (Nói lái-Nhổ gừng)

Câu đố sử dụng nghệ thuật chơi chữ với lối lái từ “ដីមញក្” (đây kh’nhoc) thành “ដក្មញី”

(Đok kh’nhây) nghĩa của câu trả lời là “nhổ gừng” Để người giải được phải có sự nhanh

trí, phải biết ý đồ của người đố muốn đố về cái gì

Ngoài ra, câu đố còn có tác dụng giáo dục cả ý thức dân tộc, bồi dưỡng phát huy tình yêu quê hương đất nước

(8) ឝូឞិណ្នាោះឞន្ុសសណ្ក្ើត្ហស់ណ្ៅ ណ្រើឃ្លលត្ណ្ចញណ្ៅហឭក្ដូចខ្ឞ៉ែ។(មាត្ុឝូឞិ)

- Nơi đây con người sinh ra đến khi xa cách nhớ như mẹ hiền (Quê hương)

Ngôn ngữ câu đố có những đặc điểm rất nổi bật – đó là tính chất cô đúc, gợi hình và gợi cảm Câu đố phải gọn gh , chặt ch , cho nên ngôn từ phải chính xác và

Trang 17

chuyển tải một nội dung sâu sắc.Song, các sự vật, hiện tượng ấy rất gần gũi với chúng ta (9) ណ្ដើឞអវីមាន្ខ្លលគ្នមន្ផ្ងា,ចំណងអវីឞិន្ងាសហក្ខ្ត្ចូឡចិត្ៅ, ក្ូន្អីអនក្ណាក្៏ចណ្ងើ ន្,

មលោះឞក្វីណ្សនហា។(ខ្លលល្វវ,ចំណងណ្សនហ៍,ក្ូន្ណ្ក្មង)

Cây gì có trái không hoa Dây gì không dễ ai tìm cũng ưa Con gì kẻ yêu người chuộng, kẻ dò tình nhân (Cây sung, Dây tơ hồng, Con nít)

Câu đố tiếng Khmer có các phần: phần vật đố, phần giải đố Trong sách câu

đố, người ta thường đặt “phần đố ở trước, sau đó mới đến phần giải đố Khi giải đố

xong, trả lời được thì được khen hoặc nhận được tràng vỗ tay Nếu không trả lời được thì người tham gia thường trêu chọc nhau để tăng thêm không khí vui nhộn qua cách“bán”ឡក្់ (luok) [41, tr.11] Tùy theo trường hợp, bối cảnh tham gia mà có thêm phần “bán” “biếu”

+ Hình thức “bán” trong câu đố tiếng Khmer

Với trò chơi câu đố, dân gian Khmer có kiểu chơi tràn đầy tiếng cười Sau khi thua, không giải được câu đố thì bị “Bán” Mục đích của cách “Bán” này là để vui Yêu cầu khi “bán” phải có liên quan đến chủ thể Nội dung, hình thức khi bán: thường dùng vần nhịp để ví von, so sánh, lời ca tiếng hát, dẫn thơ, nói lối có ý chọc ghẹo, trêu đùa, đôi khi cũng là ngụ ý thăm dò thái độ của người tham gia giải đố (10) ឡក្់រងឞិញណ្ៅស្សុក្ ណ្ងឲ្យណ្ហើសណ្រថាខ្ត្ឞៅង។

Lok bong minh tâu s'rok Ba thê hơi ôy bê tha tea m'đong

Bán anh Minh đi xứ Ba Thê, tối ngày cho ảnh bê tha luôn

+ Hình thức “biếu” trong câu đố tiếng Khmer

Chúng ta thấy, câu đố là một thể loại dân gian lành mạnh, đố để củng cố vốn hiểu biết, giúp con người r n luyện khả năng tư duy Câu đố tiếng Khmer ở ĐBSCL khá thú vị, mang tính chất vùng miền rất rõ Điều này được thể hiện qua cách “biếu”

nghĩa là tạ l i - “xin chuộc” của người thua đố Vật mang ra chuộc, thế thân là những

sản vật đặc trưng mang tính địa phương

(11) សូឞជូន្ហណ្ទោះជូន្ណ្សោះដំហីជូន្មញុំររុសស្សីមាសរ ក្់ខ្ក្អក្ងជូន្ស្សូអអងាហឡងសខ្ណៅក្លង ជំន្ូ

ន្ណ្ន្ោះណ្ហាងជូន្អនក្រណ្តៅណ្ត្ើអនក្រវឞសក្ណ្ទ? ណ្ទើរណ្េស្សាសរ រ់ហួចណ្េរណ្តៅគ្ននត្ណ្ៅណ្ទៀត្។

Trang 18

Sôm chuôn rô tes chuôn ses đòm rây chuôn kh’nhum p’rôs s’rây mes p’rak keo kon chuôn s’râu ong kor l’ngô son-đek phon chom nuôn nis hon chuôn nek bon đau tơ nek p’rôm dôk tê Tơp kê s’rai p’rap ruoch kê bon-đau k’ne to tâu tiêt

- Xin biếu chiếc xe, xin biếu ngựa voi, xin biếu người ở vàng bạc đá quý, xin biếu lúa gạo mè đậu các thứ tất cả những quà này xin biếu người đố.Vậy người có đồng ý trả lời cho tôi không?

ĐBSCL nếu người Việt thường có tổ chức thai đố vào dịp lễ cúng thần, vía dinh Ông, vía Bà…thì người Khmer thường tổ chức đố nhau vào các dịp lễ hội dành cho tất cả mọi người ở các sân chùa…hoặc đố trong lúc lao động, lúc tu học Vì vậy ngôn ngữ đố của người Khmer đơn giản, trực tiếp để bày tỏ thái độ vui nhộn và luôn sống động Những lúc đố có tổ chức thì các nhà trí thức, các Achar trong phum sroc thường làm giám khảo

1.1.1.2 Câu đố tiếng Việt

Trong việc nghiên cứu về văn hóa và văn học dân gian (VHDG), ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX, các nhà khoa học Việt Nam đã rất chú trọng đến các yếu tố truyền thống Tuy cách gọi câu đố chưa được nhắc đến, nhưng câu đố đã có mặt trong công trình sưu tập VHDG của tác giả Vũ Ngọc Phan [38, tr 51] Từ lâu trong các công trình nghiên cứu của những tác giả tiên phong thuộc lĩnh vực này, câu đố cùng với tục ngữ, ca dao, dân ca đều là những thành phần trong ngôn ngữ văn hóa dân gian

những nhà nghiên cứu thuộc các thế hệ sau này đã cho chúng ta thấy, tình hình phát triển theo chiều hướng khả quan hơn Một mặt, họ tiếp tục hoạt động trong cộng đồng nhân dân Việt Nam về lĩnh vực sưu tầm, biên tập, ấn hành những thể loại văn hóa dân gian các dân tộc (Việt, Chăm, Tày, Thái, Khmer…); mặt khác, nghiên cứu sâu hơn về phương diện lý thuyết của vấn đề

Chu Xuân Diên, như đã nhắc đến trong mục lịch sử nghiên cứu, đã giới thiệu

những định nghĩa có tính khái quát về những thể loại văn hóa dân gian này Trong Từ

điển bách khoa thư Việt Nam, câu đố được Chu Xuân Diên định nghĩa là:

“Trò chơi trí tuệ bằng ngôn ngữ phổ biến trên thế giới Câu đố Việt Nam

thường có vần điệu, phần lớn bằng thể thơ lục bát cho dễ nhớ Người ra câu đố vận

Trang 19

dụng trí thông minh, đưa ra những dữ kiện hợp lý, trình bày một cách lắt léo, nửa kín nửa hở, có khi tục mà thanh, thanh mà tục, làm cho khó giải mã Nói cách khác câu

đố là câu nói một đằng làm cho người ta hiểu một nẻo, rắc rối, phức tạp nhưng khi

“giải” ra, thì thấy sự việc hiển nhiên, rõ ràng, đơn giản.”

CĐ Việt: Năm thằng vác hai cây sào, lùa bầy trâu bạc bổ nhào xuống khe”

[61, tr.383]

Giải đố: “năm thằng” là năm ngón tay “Hai cái sào” là đôi đũa tre “Bầy trâu bạc”

là cơm “Khe” là cổ họng Tóm lại, đây là câu đố về hành động và cơm vào miệng

Theo Nguyễn Văn Trung [56], quan niệm về câu đố dựa trên hai mặt: mặt cấu

tạo ngôn từ và mặt xã hội

- Về ấu tạo ngôn từ

Câu đố có cấu trúc của một đối thoại gồm hai phần, lời đố và lời giải Lời đố là một câu hỏi dưới hình thức: tên vật có hình dáng, đặc điểm, công dụng hay tên vật giống như vậy được nói ra là gì Như vậy, câu đố là một định nghĩa về vật, việc, hiện

tượng Vật đố và lời giải đố có những nét giống, tương tự nhau ở những nét chính,

đặc điểm tương đồng nào đó

Chu Xuân Diên trong Từ điển văn học có định nghĩa khác

“Câu đố là một thể loại của văn học dân gian, phản ánh hiện thực bằng lối nói

chệch, lối nói một đằng, hiểu một nẻo…Câu đố dân gian có nội dung mô tả bằng hình tượng hoặc từ ngữ những dấu hiệu đặc trưng hoặc chức năng của những sự vật và hiện tượng cá biệt, cụ thể.”

Ví dụ: các câu đố “Vừa bằng lá tre, xun xoe đánh vật.” (cái kéo)

“Hàng trăm cái lỗ, vô số trẻ em, đua nhau chạy vòng tròn, chen nhau chui xuống” (cái sàng và công việc sàng gạo) [62, tr.110]

Câu đố có những đặc trưng nghệ thuật đáng chú ý Cách đặt câu đố ngắn gọn, ngôn ngữ được cấu tạo cân đối có nhịp điệu Trong sinh hoạt “đố nhau”, người tham gia phải khéo vận dụng trí thông minh, những điều hiểu biết về thế giới khách quan

để khám phá cho được những sự vật, hiện tượng được câu đố trình bày nửa kín nửa

hở trong các hình ảnh ẩn dụ

Trang 20

Từ câu đố trên, ta hiểu câu đố là “câu nói thường mang hình thức vần vè ám

chỉ một vật đố nhằm đòi hỏi người ta đoán ra nó Trong câu đố, vật đố là một sự vật hoặc một hiện tượng nào đó mà người ta muốn nói đến, nhưng không nói thẳng ra tên của

nó, mà chỉ nói ám chỉ” [56, tr.9]

- Về m t xã hội: câu đố là một trò chơi chữ, chủ yếu vận cách nói hình ảnh,

cách dùng từ sáng tạo và các tầng ý nghĩa Theo cách riêng, câu đố còn vận dụng trật

tự lý luận chặt ch nhằm mục đích giải trí bằng trí tuệ, óc phán đoán và suy luận

Nếu ca dao dân ca trữ tình là “tiếng hát đi từ trái tim lên miệng” thì câu đố là

“tiếng cười của trí tuệ thông minh và linh hoạt” [36, tr.172] Câu đố phản ánh tâm tư

tình cảm, nhu cầu muốn thỏa mãn hiểu biết, nhu cầu được vui chơi, giải trí của tầng lớp nhân dân lao động Câu đố là một dạng sáng tác phản ánh các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan giữa vật đố (lời giải) với vật được miêu tả (câu đố) Sự liên tưởng trong câu đố thường bất ngờ, dí dỏm và mang nhiều màu sắc khác nhau Đối tượng tham gia câu đố khá đa dạng, có những câu đố nhằm mục đích vui chơi giải trí nhưng cũng có những câu đố dành cho một số người ngoài óc thông minh, còn

có kiến thức rộng mới có thể đặt ra câu đố, giải được câu đố Ngày nay, câu đố còn được xem là một bộ phận của văn hóa thiếu nhi, vừa có tính chất giải trí vừa có tính giáo dục, giúp các em quan sát hiện tượng xung quanh

Trong câu đố, vật đố được ám chỉ bằng cách nói nửa kín nửa hở Gọi là “kín” vì vật

đố được giấu tên; gọi là “hở” vì câu đố phải để lộ ra một chút gì đó có liên quan đến vật

đố, mấu chốt đó cho phép người ta đoán ra nó, nhằm để thử tài hay đoán sự vật xung quanh Giải đố nghĩa là dựa vào ch hở trong cách ám chỉ về vật đố để đoán ra tên vật đố

CĐ Việt: Vừa bằng lá tre, ngo ngoe dưới nước (Con đỉa)

Câu đố còn mang tính chất tập thể xã hội: Ít nhất phải có hai người, nhiều từ năm sáu người trở lên, không nhất định số người, tùy lúc, tùy nơi, lúc đi lại ngoài

đường trông thấy cái mả bên đường, có người ra câu đố, lúc làm việc ngoài đồng

ruộng, vào mùa gặt đập lúa, lúc giăng câu, lúc học chữ hoặc lúc nhàn r i ngồi túm năm, tụm ba trên phản, ngoài h trông thấy cái cây, cái chum, gáo nước, cái điếu cày, nghe thấy tiếng giã gạo, xay lúa, dệt cửi bên hàng xóm có người ra câu đố vui giải trí…

CĐ Việt: đố nhau về chiếc chiếu

Trang 21

“Xưa kia em trắng như ngà,

Bởi chưng ngủ lắm nên đà em thâm,

Lúc bẩn chàng đánh chàng đâm,

Đến đêm rửa sạch chàng nằm lên trên”

Những vấn đề xung quanh câu đố mang lại cho chúng ta bức tranh tổng thể về các khía cạnh của môi trường sống bình dị quanh ta Câu đố là trò chơi trí tuệ, nhằm kích thích khả năng tư duy của con người Trò chơi ấy trở nên độc đáo bởi các kỹ

thuật diễn đạt tài tình với những cách so sánh “Vừa bằng thằng bé lên ba, thắt lưng

con cón chạy ra ngoài đồng” (Bó mạ); ẩn dụ “Một đàn cò trắng phau phau n no tắm mát rủ nhau đi nằm”; lộng ngữ rất độc đáo, với những cách chơi chữ biến hóa

tinh vi “Thui thủi như bò thui Chín đầu, chín mắt, chín tai, chín mình” Khai thác

những đặc điểm, chọn lựa từ ngữ chính xác và tinh tế, theo hướng tiếp cận từ lý thuyết ngôn ngữ học tiếp xúc (NNHTX) đã mở ra một hướng đi mới nghiên cứu về ngôn ngữ

1.1.1.3 Phân loại câu đố

Câu đố có thể được phân loại theo đề tài, nội dung, thi pháp, cấu tạo…Thông thường các bộ sách sưu tập về câu đố được sắp xếp theo nội dung vật đố thành các mục sau:

+ Câu đố về các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ

+ Câu đố về động vật-thực vật

+ Câu đố về công cụ sản xuất- các loại đồ dùng

+ Câu đố về con người và công việc của con người

Cũng có những cách phân loại tỉ mỉ hơn dựa vào kỹ thuật tạo câu đố, có thể chia câu đố thành hai loại: câu đố trực tiếp và câu đố gián tiếp Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, luận văn đã lựa chọn cách phân loại theo tác giả Nguyễn Văn Trung Tôi

s giới thiệu cụ thể hơn ở chương 2

1.1.2 Tụ ngữ tiếng Khmer và tụ ngữ tiếng Việt

Tục ngữ là một lĩnh vực có nhiều khía cạnh đáng được các nhà khoa học ngôn ngữ chú ý đến Song, về cơ bản chúng tôi xem tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã

Trang 22

hội, biểu hiện văn hóa tinh thần, nhận thức của nhân dân lao động về cuộc sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định

1.1.2.1 Tục ngữ tiếng Khmer

Tục ngữ tiếng Khmer “là tài sản vô giá, là tinh hoa của dân tộc Khmer từ

ngàn đời truyền lại và luôn bồi đắp theo dòng chảy của thời gian,…” [37 ; tr.91]

Trong kho tàng văn học dân gian Khmer,“người Khmer không phân biệt thành ngữ

và tục ngữ mà gọi chung là Sôphia sất” [41, tr.173].សុភាសិត្ “Sô phea sất” là từ vay mượn gốc Pali-Sankrit, được ghép bởi tiếp đầu ngữ "sô" có ý nghĩa là tốt, đẹp, đúng,

hay và từ "phea sất" ghép lại thành “sô phea sất” có nghĩa chung là “Lời nói có nghĩa

đúng, tốt, hay, mang giá trị giáo dục.” Qua khảo sát chúng thấy có một số công trình

nghiên cứu đề cập đến giá trị của tục ngữ và những vấn đề xung quanh tục ngữ Khmer như: theo từ nguyên của Tăng Thống Chuon Nath đã nêu trong từ điển tiếng Khmer: “ សុភាសិត្: ខ្ដឡណ្ពាឡវិណ្ ោះខ្ដឡន្ិយាសរត្ូអខ្ដឡថារត្ូអនាំឲ្យសណ្រឞចររណ្យាជន្៍ ន្ណ្ោសររថ្វ។ ””

có định nghĩa “Tục ngữ là câu nói dễ nghe, câu nói đúng, câu nói đem lại lợi ích” quyển 1

[69,tr.1379] Hay nói cách khácណាត្អចនាន្ុរក្ឞខ្មមហភាេទី១ន្ិងភាេទី២ណ្ោសវុទធសាសន្រណឌិត្យឆ្នំ១៩៦៧ ១៩៦៨ -,“Tục ngữ là những câu nói hằng ngày có thể được rút ra từ Phật ngôn,

sử dụng và lưu truyền từ đời này sang đời khác dưới hình thức truyền miệng và trở thành tục ngữ”quyển 2 [69,tr 906] Công trình nghiên cứu của Sơn Phước Hoan trong tác

phẩm “Thành ngữ và tục ngữ Khmer” có định nghĩa: tục ngữ được gọi là ពាក្យទំណ្ន្ៀឞន្ិង សុភាសិត្- Piêk Tum niem nâng Sô phea sất) Tác giả có nêu các khái niệm chung về thành ngữ và tục ngữ Khmer, nhưng ông chưa phân loại thế nào là tục ngữ Khmer

Trong tục ngữ , ca dao, dân ca, tác giả Vũ Ngọc Phan đã nêu: “Tục ngữ là một câu

đầy đủ ý nghĩa, có nội dung khuyên răn hoặc chỉ bảo còn thành ngữ là một phần của câu, hoặc một cụm từ tiện dùng để diễn đạt một ý màu mè” (Tre già măng mọc, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng) [38,tr.238].

Sơn Phước Hoan trong sách “Thành ngữ và tục ngữ Khmer” cũng xác định r :

“Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, có ý nghĩa trọn vẹn; nêu lên những

nhận xét về tâm lý, đạo đức, đúc kết kinh nghiệm về tự nhiên, xã hội hoặc nêu lên một

Trang 23

bài học thực tế hay một yếu tố mang tính triết lý nào đó”[20] Lâm Qui định nghĩa:

“សុភាសិត្េឺជាេត្ិរណឌិត្ររជាររិស។សុភាសិត្រក្ស្សាសវីរទវិណ្សាមហរស់មឞមជាត្ិធាត្ុអាកាស

លឡិត្ក្ឞមជីអភាវសងគឞសីឡមឞ៌ន្ិងសុជីអមឞ៌។ (“Sôphia sất” – tục ngữ là câu nói mang tính triết lý dân gian Tục ngữ là câu nói có nội dung lý giải những kinh nghiệm về tự nhiên, thời tiết, sản xuất, đời sống xã hội, đạo đức, một luân lý.) [41,tr.15- 21-49]

Dựa vào nội dung phản ánh trong tục ngữ Khmer, ta có thể khái quát sự hình thành các hình ảnh trong tục ngữ Khmer gồm ba nguồn gốc chính:

Thứ nhất, các hình ảnh trong tục ngữ Khmer có nguồn gốc từ lao động sản xuất,

trong đó sản xuất nông nghiệp là chính.“Trong quá trình sản xuất, người Khmer có sự

gắn bó mật thiết với các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất như: các sự vật hiện tượng tự nhiên, cây trồng: lúa, hoa màu và các con vật Tất cả các yếu tố đó đã được thể hiện trong thành ngữ, tục ngữ Khmer bằng những hình ảnh khác nhau”[11, tr 50]

Thứ hai, thành ngữ - tục ngữ Khmer có nguồn gốc từ đời sống – văn hóa – xã hội Con người được thể hiện trong thành ngữ - tục ngữ Khmer qua nhiều mối quan

hệ, ở nhiều khía cạnh như: quan niệm đạo đức, phẩm chất…

Ví dụ: រក្អូរផ្ងាឞិន្ណ្សមើរក្អូរណ្្មោះ។ (k’ro-ôp ph’kar/ min s’mơ/ k’ro ôp /ch’hmos.)

“Thơm hoa không bằng thơm tiếng.”

Thứ ba, tục ngữ tiếng Khmer còn “bắt nguồn từ văn học bác học” Sở dĩ, dòng văn học này được gọi là dòng văn học bác học vì có tên tuổi tác giả, có nguồn gốc xuất xứ trích ra từ huấn ca (chbắp) (huấn ca nữ, huấn ca nam, huấn ca cho sư sãi, huấn ca cho đại chúng…)

TN Khmer: ជាត្ិមលឹឞច័ន្ទណ្ទាោះសវិត្ណ្រក្ៀឞរក្ញង់ណ្ៅខ្ត្រក្អូរ។

Cheat/ kh’lâm chanh/ tôs s’vât /k’ream k’ro nhon/ nâu tea /k’ro ôp

“Trầm hương dù khô vẫn thơm.”

Điều này có thể do đặc trưng văn hóa và tập quán tu học giáo lí trong vòng đời của m i người Khmer Vì vậy khi sử dụng tục ngữ, tộc người Khmer thường tìm hiểu để biết r nguồn gốc xuất xứ

Trang 24

Qua những điều đã xác định của các tác giả đã nêu trên, chúng tôi có thể

kh ng định nguồn gốc xuất xứ của tục ngữ Khmer như sau:

và cơ chế tạo nghĩa, sự vận dụng, mối quan hệ giữa tục ngữ với các thể loại văn học dân gian khác Với luận văn này được nghiên cứu trên lĩnh vực ngôn ngữ học thông qua các vấn đề: nội dung, hình thức kết cấu, ngữ nghĩa, sự vận dụng tục ngữ, ảnh hưởng của TXNN lên sự hình thành TN Khmer và TN Việt

Tác giả Chu Xuân Diên định nghĩa: “Tục ngữ (TN) là những câu nói ngắn

gọn, có nhịp điệu, có hình thức bền vững, được dùng trong lời nói hàng ngày, thường có nhiều nghĩa, hình thành bằng cách liên tưởng loại suy…” Bên cạnh đó,

trong ông cũng viết: “Từ xưa Arixtôt đã từng xếp tục ngữ và câu đố vào lĩnh vực

“sự bắt chước có nghệ thuật”, đã định nghĩa câu đố là “một ẩn dụ hay” và coi cái hay đặc biệt của câu đố là ở chỗ “trong khi nói về cái tồn tại thực tế, câu đố cũng đồng thời kết hợp với cái hoàn toàn không thể có được” [62,tr.10] Những định

nghĩa có tính khái quát này đã tạo nền tảng lý thuyết để các nhà sưu tập và nghiên cứu ngôn ngữ của tộc người thiểu số, có định hướng làm việc

Tác giả Nguyễn Đức Dân ở bài viết “Đạo lý trong tục ngữ” đã nêu: “Tục ngữ

là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội”

[4,tr.57-66] Về mặt cấu trúc, tục ngữ thường có từ hai vế trở lên, được cấu tạo lôgích

của hình thức phán đoán, suy lý-kết luận “tạo nên sự hòa hợp về nhịp điệu của cấu

tạo tư tưởng và cấu tạo ngôn ngữ” [8, tr 473-474] Ví dụ: “Người ta là hoa đất”,

“Được người mua, thua người bán” Ngoài ra, tục ngữ của tộc người Khmer cũng

Trang 25

như tục ngữ của người Việt đều có cách ngắt nhịp và tỉnh lược từ ngữ, cách sử dụng các hình ảnh về thiên nhiên, con người thông qua những biện pháp tu từ để tạo nghĩa biểu trưng Vì vậy, tục ngữ rất giàu hình ảnh, được xây dựng bằng nhiều biện pháp tu

từ: so sánh “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”, ẩn dụ “Đục nước, béo cò”, ngoa dụ

“miệng ăn núi lở”, nhân hóa “Cái nết đánh chết cái đẹp”

Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học cho chúng ta góc nhìn khác về tục ngữ

Dựa vào tiêu chí và chức năng, Cù Đình Tú cho rằng “Góp ý kiến về phân

biệt thành ngữ và tục ngữ” cho rằng: “Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo một nhận định, một kết luận về thế giới khách quan Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng Đó cũng là lí do giải thích tục ngữ có cấu tạo là kết câu hai trung tâm”.[59, tr.39-49]

Trong một tiếp cận khác, Nguyễn Thái Hòa kh ng định: “Tục ngữ là một phát

ngôn đặc biệt” Trong các công trình của mình, tác giả xem xét tục ngữ trên các bình

diện Nói như J.Lyons “là những phát ngôn làm sẵn” Nhìn chung, theo các nhà ngôn

ngữ, những phát ngôn làm sẵn này diễn đạt một tư tưởng hoàn chỉnh, có chức năng thông báo tương đương với một phán đoán trọn vẹn

Các định nghĩa trên về cơ bản quy về ý tưởng chung: Tục ngữ là thể loại văn học dân gian (VHDG) nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền

bình diện ngôn ngữ, tôi chọn quan điểm của Chu Xuân Diên trong “Tục ngữ

Việt Nam” làm cơ sở nghiên cứu cho mình

Khái niệm TN của người Khmer và người Việt tương đối giống nhau, không

có sự khác biệt quá lớn, đó là những câu nói ngắn gọn, sinh động, khái quát, có tính

dân tộc để truyền đạt kinh nghiệm của người xưa

Chúng ta biết rằng tục ngữ được hình thành trong đời sống, trong lao động của nhân dân, từ những câu nói nổi tiếng của những nhà tư tưởng triết học, danh nhân văn hóa hay những tác phẩm nổi tiếng, từ nguồn vay mượn trong quá trình giao lưu văn hóa của các nước

Trang 26

Theo Trần Hoàng trong giáo trình “Văn học dân gian” [21], cho rằng tục ngữ

dân gian người Việt (Kinh) xuất phát từ các nguồn gốc sau

+ Do nhân dân sáng tác, đúc rút từ kinh nghiệm lao động sản xuất

TN Việt: Cá mè đè cá chép

Đây là câu tục ngữ quí giá cho nghề nuôi cá: cá m ăn nổi sống ở tầng trên, cá chép sống ở tầng giữa Vì vậy khi thả hai loại cá này trong cùng một ao s tận dụng hết lượng thức ăn thả xuống

+ Từ kinh nghiệm sống ứng xử hằng ngày

TN Việt: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

Dụng ý của câu tục ngữ này cho ta biết vai trò của sự linh hoạt, việc phải thích nghi với môi trường sống như thế nào Đằng sau những nhận xét, khuyên răn người xưa đã gởi gắm những lời giáo huấn Vì vậy, tri thức dân gian được đa số các câu tục ngữ diễn đạt một cách sâu sắc

Chu Xuân Diên, trong công trình “Tục ngữ Việt Nam” còn cho rằng nguồn tục

ngữ một phần vay mượn từ nguồn của các dân tộc khác Khi vay mượn như vậy, tục ngữ

được Việt hóa Ch ng hạn: tục ngữ Việt có câu “Đầu xuôi đuôi lọt”, tục ngữ Pháp có câu

“Vào việc tốt thì kết thúc tốt”, tục ngữ Nga lại diễn đạt “Phần đầu tốt thì phần sau trôi

chảy” Sở dĩ có sự vay mượn về ý nghĩa này là do quá trình giao lưu văn hóa diễn ra

giữa các dân tộc trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển của các dân tộc đó

Ngoài ra, tục ngữ giống nhau là do “những điều kiện lịch sử xã hội giống nhau, trong đó

nhân dân các dân tộc đã sáng tạo nên những giá trị văn hóa, tinh thần phản ánh những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử xã hội của dân tộc mình” [6.tr 59]

Nội dung tục ngữ là những nhận xét, phán đoán, là những sản phẩm của nhận thức của nhân dân về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người Ví dụ:

về các hiện tượng tự nhiên “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”…về kinh nghiệm lao động nông nghiệp: “Nhất cày ải, nhì vãi phân”; về sinh hoạt vật chất: “ n trông

nồi, ngồi trông hướng”; về quan hệ gia đình, xã hội “Anh thuận, em hòa là nhà có phúc”, “Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già” Với những nội dung như vậy, tục ngữ

thực hiện chức năng làm phong phú thêm những sắc thái khác nhau trong kinh nghiệm sống của con người, từ đó xác định cho con người những phương châm xử

Trang 27

thế phù hợp Nghiên cứu về mặt xã hội học kho tàng trí thức dân gian trong vốn tục ngữ của dân tộc Việt, chúng ta có thể thấy: Bức tranh lịch sử-xã hội của thời đại được phản ánh trong đó, những kinh nghiệm của nhân dân trong lao động, trong đời sống cộng đồng, những tư tưởng chính trị xã hội và tâm lý đạo đức dân tộc Đó chính là những truyền thống tốt đẹp, lối sống, cách nghĩ, những kinh nghiệm của nhân dân

trong lao động, trong đời sống cộng đồng “Thương người như thể thương thân” “Của

người thì Bồ Tát, của mình thì lạt buộc” Phần lớn nội dung tục ngữ đều rút ra từ việc

quan sát và thể nghiệm những tư tưởng chính trị xã hội và tâm lý đạo đức dân tộc

trong một thời đại nhất định “Tuy nhiên những kinh nghiệm sống ấy cũng có phần

nhiều vượt ra khỏi phạm vi lối sống của một thời đại Ở những thời đại khác nhau, tục ngữ vẫn phản ánh được những quan niệm sống tích cực, giúp người ta hiểu được sâu sắc các hiện tượng của cuộc sống” [35 tr 6]

Về hình thức diễn đạt, trừ một số câu có tính chất khuyên răn, phần lớn tục ngữ dùng các hình thức phán đoán, suy lý-kết luận, tức là các hình thức tư duy lôgích

Trong tục ngữ sử dụng nhiều kiểu kết cấu là những phán đoán nhân quả “Lớn thuyền

thì lớn sóng”, mối quan hệ mâu thuẫn “Được lòng ta, xót xa lòng người”, mối quan

hệ phụ thuộc lẫn nhau như: “Rau nào sâu nấy”, “một người làm quan cả họ được

nhờ, một người làm bậy cả họ mang nhơ”…

Cách diễn đạt ấy chưa tách rời việc miêu tả những điều quan sát trực tiếp, nhận thức cảm tính về các sự vật, hiện tượng cụ thể muôn hình muôn v của thế giới khách quan Ví dụ như để nhận thức về đặc điểm bản chất của tâm lý người, tục ngữ có

nhận định “Trâu buộc ghét trâu ăn”, “Khi lành quạt giấy cũng cho, khi giận quạt mo

cũng đòi”

Về đặc điểm cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa của tục ngữ thường được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Cấu trúc cú pháp của tiếng Khmer dùng nhiều phép nhân hóa, ẩn dụ, phép lặp cấu trúc sóng đôi Cấu trúc cú pháp của tục ngữ Việt ngắn gọn, dùng nhiều phép điệp ẩn dụ, so sánh, phép lặp, phép điệp, gieo vần và quan

hệ giữa các mệnh đề Chính đặc điểm của tục ngữ thể hiện qua ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc làm cho tục ngữ trở thành một thể loại vừa đậm đà màu sắc dân tộc vừa tràn đầy tính nhân văn Sự quy tụ những nét hay trong đặc điểm ngôn ngữ thể

Trang 28

hiện trong tục ngữ đã tạo nên sự tiếp xúc về văn hóa và ngôn ngữ ở những tộc người sống lân cận nhau

Nhìn chung người Việt và người Khmer đều có kho tàng phong phú về tục ngữ Tất cả những luận điểm và ngữ liệu về câu đố, tục ngữ cũng như về VHDG nói chung được ghi trong mục I.1 này, cũng như trong mục lịch sử nghiên cứu ở phần Mở đầu luận văn (trang 3) là những chỉ dẫn và gợi ý để người viết luận văn triển khai đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Người Khmer và ngôn ngữ Khmer

Để thuận lợi khi tìm hiểu câu đố, tục ngữ trong tiếng Khmer, trước tiên chúng tôi giới thiệu văn tắt về người Khmer ở ĐBSCL và dân tộc Khmer ở Campuchia Tuy

có cùng nguồn gốc, nhưng hiện nay người Khmer ở ĐBSCL, cũng như người Khmer sinh sống ở Việt Nam nói chung, đã là một trong những tộc người Việt Nam

1.2.1 Người Khmer

1.2.1.1 Về nơi cư trú

Người Khmer và người Việt vốn có nguồn gốc chung là gia đình Nam Á, nhưng thuộc hai nhánh được phân bố xa nhau về địa lý: nhánh Khmer ở nam bán đảo Đông Dương (Trung-Ấn); nhánh Việt-Mường (hay Việt-Chứt) được phân bố ở phía bắc bán đảo này Từ khoảng thế kỷ XVII trở đi, người Khmer ĐBSCL và người Việt

di chuyển đến (theo các nhóm lưu dân hoặc theo chính sách di dân của vương triều Nguyễn) dần dần tiếp xúc với nhau từ sơ giao đến hợp tác giúp đỡ nhau trong đời sống hàng ngày hoặc trong hoạt động sản xuất

Người dân ĐBSCL sống trong môi trường mênh mông sông nước vùng sông nước quanh năm đó, người Khmer thường chọn vùng đất cao, còn gọi là ណ្ផ្ងនហ đây phnô,

để định cư, cất nhà nhằm chống chọi với nắng gió phương Nam Nhà của họ thường là những nhà sàn trụ trên những cột tràm, để vừa đối phó với mùa nước nổi của sông Cửu Long vừa tránh được thú dữ ở vùng cây cối rậm rạp này Từ xa xưa, họ đã biết canh tác

lúa nước Lúa nước đã sớm gắn bó với đồng bào Khmer Nam Bộ, “Người Khmer đã

sớm biết khai thác vùng đất trũng bao quanh để trồng lúa nước, mà không phải chờ sự xuất hiện của những người làm ruộng giỏi như người Việt, người Hoa”[58,tr.22] Tuy

Trang 29

nhiên, hiện nay, người Khmer ngày càng có xu hướng cư trú theo hình thức h n hợp

và xen k với người Việt, người Hoa Có một số trường hợp ở tỉnh Trà Vinh, Sóc

Trăng, Bạc Liêu, trong một ấp có nhiều phum của người Khmer hoặc một xã có nhiều

sóc… Nhà ở của người Khmer ngày nay về hình dáng, vật liệu kiến trúc cũng gần

giống nhà người Kinh và người Hoa Nếu sống trên đất cao thì người Khmer thường làm nhà trên nền đất nơi đất thấp, họ cất nhà sàn nhỏ nhưng nóc cao, mái rất dốc và thường được lợp bằng lá dừa nước Dù sống ở đâu thì tập quán của người Khmer vẫn thích sống quây quần thành những nhóm gia đình

Ngày nay, vùng ĐBSCL có một số tộc người sinh sống: Khmer, Chăm, Hoa…trong đó người Việt (Kinh) chiếm đa số Người Khmer Nam Bộ sống chủ yếu

ở các tỉnh ĐBSCL (Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long…) và một số ít ở các tỉnh, thành Nam Bộ (TP HCM, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh… ) Theo tổng điều tra

dân số và nhà ở năm 2009, “Người Khmer ở Nam Bộ có dân số trên 1.300.000 người

Trong đó cư trú tập trung tại các tỉnh: Sóc Trăng (397.014 người), Trà Vinh (317.203 người), Kiên Giang (210.899 người), An Giang (90.271 người), Bạc Liêu (70.667 người), Cà Mau (29.845 người)” [1; tr.16]

Tuy cùng cộng cư với các dân tộc anh em từ lâu đời nhưng người Khmer vẫn giữ được đặc điểm cư trú riêng của mình, mà phổ biến là cư trú theo từng “sróc” và

“phum” “Có lúc người ta đồng nhất phum của người Khmer với ấp của người Việt,

sóc với xã; ngược lại, người Việt chung sống với người Khmer lại Việt hóa từ Khmer

“phum”“srok” thành “ phum sóc”, để chỉ nơi cư trú của người Khmer” [60]

Người Khmer Nam bộ tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng cùng chung một nền văn hoá, một lịch sử bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam Trong suốt quá trình phát triển của cộng đồng các dân tộc ở ĐBSCL, nền văn hóa Khmer đã giao hòa, gắn kết với các nền văn hóa khác, góp phần hình thành nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 30

Tín ngưỡng: Trong tâm thức về tôn giáo, người Khmer ở Campuchia cũng giống như người Khmer ở ĐBSCL đều tôn thờ các vị thần Bà La Môn trước khi theo Phật giáo như bây giờ Người Khmer theo Phật giáo tiểu thừa phái Nam Tông Vì vậy

“Ngôi chùa có vị trí vô cùng quan trọng đối với đời sống, tinh thần của người Khmer,

là sự gắn bó thiêng liêng cả đời người” [43,tr.11] Đối với người Khmer, ngôi chùa

giữ một mối liên hệ tình cảm rất thiêng liêng và sâu nặng Một người Khmer từ khi sinh ra, lớn lên, rồi về già cho đến khi chết đi, mọi buồn vui của cuộc đời người đó

đều gắn bó với ngôi chùa “Chùa còn là nơi hòa giải sự tranh chấp trong cộng đồng

Trong cuộc sống mọi khó khăn phần lớn được đưa ra bàn bạc tại chùa Dân tộc Khmer còn coi chùa là ngôi nhà chung của nhân dân trong phum sóc, xóm ấp”

[1.tr,32] Chùa là nơi tập trung những tinh túy của dân tộc: “Cả vùng Nam Bộ hiện có

gần 500 ngôi chùa Khmer, nhiều nhất là tỉnh Trà Vinh có 141 chùa và Sóc Trăng có 93 chùa, còn lại là ở tỉnh, thành khác trong khu vực ”[1,tr.12] Không ngẫu nhiên mà

nhiều lễ hội gắn với nhiều phong tục tập quán được tổ chức tại chùa Với người Khmer,

sư sãi là người thầy, (Achar) là người có uy tín, gương mẫu đối với cộng đồng cả về phẩm chất đạo đức Họ là người hiểu biết kinh kệ, giáo lí, nhân cách sống, dạy cho cộng đồng những điều hay, ý đẹp cả về thế sự lẫn Phật học trong những ngày phật tử đến lễ

Tất cả các thanh niên Khmer đều phải một lần đi tu, đó vừa là nghĩa vụ vừa là vinh dự của cuộc đời Việc tu học còn là cơ hội để tích đức, làm cho đàn ông Khmer không những có thêm giá trị tinh thần, đạo đức mà còn được trang bị về tư tưởng, lý tưởng sống, được học chữ viết Khmer và tiếng Phạn

Người Khmer Nam Bộ lưu trữ nhiều giá trị vật chất lẫn tinh thần đáng chú ý: Người Khmer thường sử dụng các loại mắm, nước dừa làm nguyên liệu chế biến thức

ăn, trong đó đặc trưng nhất là mắm bò hóc (pro hok) Trang phục truyền thống của người Khmer cũng dễ phân biệt với các dân tộc khác và được sử dụng trong các dịp

lễ, đám cưới v.v Kiến trúc Khmer trong các chùa đã phản ánh nghệ thuật tinh xảo và

độc đáo Hình ảnh viên đá là biểu tượng của Neak tà, thần trông coi những điều phải trái của con người Hình ảnh cây cối là biểu tượng cho các quỷ thần hay Tevada (chư

Trang 31

thiên) trừng phạt những ai làm điều xấu như chặt phá cây rừng (vì cây rừng là ch trú ngụ của các thần linh)

Văn hóa gia đình Khmer mang đậm nét chế độ mẫu hệ “Trong cuộc sống hàng

ngày có nhiều dấu vết do chế độ mẫu hệ để lại được thể hiện trong ngôn ngữ, lời nói, phong tục tập quán và trong cách suy nghĩ của người Khmer Vai trò của người phụ

nữ trong gia đình Khmer, nói chung khá quan trọng” [32, tr.15] Họ cho rằng “Nếu như con người là tinh hoa của đất trời thì người phụ nữ sẽ là hương hoa của cuộc đời”

“ ឞន្ុសសជាេឺជារុ ផណ្ៅណ្ឡើឝវខ្លន្ដីណ្ន្ោះ ស្សីៅជារុ ផថ្ន្ជីអិត្ ។ ”

Người phụ nữ Khmer được nam giới cực kỳ tôn trọng

TN Khmer: សឞលឆ្ងញ់ណ្ោសសាហណ្រេឿង សាវឞីហុងណ្ហឿងណ្ោសសាហឝហិយា។

Som-lo chh’ngănh đouy sar k’rương s’va mây rung rương đouy sar p’ro pon

Canh ngon nhờ khéo bỏ gia vị gia đình hạnh phúc do người vợ khéo

Người Khmer có nhiều lễ hội mang tính cộng đồng cao Lễ hội là một phần sinh hoạt văn hóa cộng đồng của họ Các lễ hội của người Khmer thường có nguồn gốc Phật giáo, Bà la môn giáo và ghi đậm dấu ấn đặc sắc của một nền văn minh lúa nước như: Chôl Chnăm Thmây (tết đón năm mới), Sen Đôn Ta (lễ cúng ông bà), Ooc om boc -

Um tuk ngô (lễ đút cốm dẹp - đua ghe ngo), Đây là dịp để đồng bào Khmer Nam Bộ giới thiệu những nét sinh hoạt văn hóa dân tộc mình

Người Khmer Nam bộ có một kho tàng VHDG khá phong phú Trong kho tàng

văn học Khmer Nam bộ “…văn học dân gian truyền miệng đã chiếm vai trò quan

trọng hơn trong đời sống văn học của người Khmer Kho tàng VHDG Khmer phong phú cả về thể loại lẫn đề tài” [41; tr.150] VHDG Khmer có ba thể loại: văn xuôi,

văn vần và rô-băm dân gian mục này người viết chỉ giới thiệu văn tắt về tục ngữ

và câu đố Đặc biệt những hình ảnh trong câu đố, tục ngữ là những hình ảnh mô phỏng trực tiếp từ môi trường tự nhiên và xã hội của người Khmer

1.2.2 Đ điểm về tiếng Khmer và hữ viết Khmer

1.2.2.1 Tiếng Khmer

Tiếng Khmer, tương tự như tiếng Việt, thuộc vào loại hình ngôn ngữ đơn lập (isolated), phân tiết (monosyllabic), không biến hình (amorphous) Tính đơn lập,

Trang 32

phân tiết này được biểu hiện r trong ngôn ngữ nói Tiếng Khmer được lưu giữ từ thời tiền Ăngkor dựa trên nền tảng Proto Mon-Khmer Từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ XIII, tiếng Khmer bắt đầu tiếp xúc và mượn từ các ngôn ngữ láng giềng như tiếng Thái, tiếng Lào và cả tiếng Việt Những sự tiếp xúc liên tục đó đã làm thay đổi nhiều diện mạo ngôn ngữ tiếng Khmer Từ thế kỷ XIX trở đi, tiếng Khmer đã dần hiện đại hóa như ngày nay

Chữ viết Khmer khác với loại hình chữ viết tiếng Việt hiện nay (chữ quốc

ngữ), nhiều từ Khmer là từ đơn tiết, nhưng trên văn tự cách viết có chồng vần và gửi

chân nên trở thành cận âm tiết (một âm tiết rưỡi) theo cách gọi của Nguyễn Văn Huệ

[22, tr 51] Những yếu tố tiền âm tiết đó có giá trị khu biệt nghĩa mà ngôn ngữ Khmer còn lưu giữ Vốn từ cơ bản của tiếng Khmer có nguồn gốc Nam Á, lớp từ văn hóa có tỷ lệ khá cao, những lớp từ văn hóa vay mượn gốc Pali và Sanskrít của Ấn Độ Giai đoạn muộn hơn, tiếng Khmer có vay mượn từ gốc Việt, Thái, Lào Những từ ngữ vay mượn được người Khmer giữ nguyên và có thêm dấu (ký hiệu ghi trên chữ viết) để Khmer hóa Mục đích của việc thêm dấu này là để đơn giản hóa trong việc phát âm và cũng là cơ sở để nhận dạng từ vay mượn

1.2.2.2 Văn tự và phiên âm ngôn ngữ Khmer

Sự phát triển của chữ viết được phân theo 3 giai đoạn lớn: giai đoạn thứ nhất (từ thế kỉ thứ nhất đến thế kỉ thứ 15), giai đoạn thứ hai (từ thế kỉ thứ 16 đến 19), giai đoạn thứ ba (từ thế kỉ 20 đến nay) [68, tr.4]

Trong sách “Ngữ pháp tiếng Khmer” do tác giả Kong Sóc Hêng biên soạn, có giới thiệu một cách khái quát cách phiên âm và ghi âm chữ Khmer [68] “Tiếng

Khmer có 69 mẫu tự và được chia làm 2 loại: phụ âm và nguyên âm Đặc điểm của chữ viết, tiếng Khmer là lấy kí hiệu ghi phụ âm làm trung tâm Ký hiệu ghi âm được viết ở giữa, các nguyên âm hay phụ âm khác được viết xung quanh”(có thể viết trước,

sau, trên hoặc dưới) Tác giả Lâm Es cũng đề cập đến ngữ pháp tiếng Khmer “Mặc

dù tiếng Khmer có vay mượn tiếng Pali Sanskrít, nhưng tiếng Pali Sanskrít không phải là họ hàng với tiếng Khmer Bởi vì tiếng Pali Sanskrít thuộc nhóm ngôn ngữ

Trang 33

Ấn- Âu, còn tiếng Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Khmer - Môn” [11,tr.10] Chính điều

này tạo nên sự biến đổi sâu sắc trong diện mạo ngôn ngữ Khmer

Về phiên âm ngôn ngữ Khmer ở ĐBSCL, luận văn không chọn cách phiên âm quốc tế vì hiện nay vấn đề phiên âm tiếng Khmer ở ĐBSCL chưa có người nghiên cứu Tôi đã chọn cách phiên âm của tác giả Kong Sóc Hêng [68, tr 34] để giải quyết vấn đề phiên âm trong luận văn này

1.3 Những vấn đề xung quanh tiếp xú ngôn ngữ

TXNN vốn có từ lâu trong lịch sử, nhưng từ khi Martinet (1950), U.Weinreich (1953) mở đầu cho giai đoạn mới, vấn đề này ngày càng được nhiều người quan tâm

hơn, cả lý thuyết lẫn giá trị ứng dụng TXNN là “sự tiếp hợp giữa các ngôn ngữ do

được phân bố liền kề nhau về mặt địa lý, sự tương cận về mặt lịch sử xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau” (O.S.Akhmanova, 1966, dẫn theo [46]) TXNN cũng được hiểu là “Sự tác động qua lại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ, tạo nên ảnh hưởng đối với cấu trúc và vốn từ của một hay nhiều ngôn ngữ Những điều kiện xã hội của sự TXNN được quy định bởi yêu cầu cần thiết phải giao tiếp lẫn nhau giữa những thành viên thuộc các nhóm dân tộc và ngôn ngữ do những nhu cầu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội v v thúc đẩy”

(V.N.Jarceva, 1990, dẫn theo [46])

Từ năm 1973 ở Việt Nam đã có bài viết đề cập đến TXNN Bài viết “Tiếp xúc ngôn ngữ và tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á”, trong sách Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á, 1983, Viện Đông Nam Á xuất bản, lần đầu tiên không chỉ giới thiệu có

hệ thống lý thuyết TXNN, mà còn nêu những lĩnh vực có thể ứng dụng lý thuyết này vào các vấn đề ngôn ngữ ở Việt Nam và Đông Nam Á Ch ng hạn tác giả này cho

rằng “Hiện tượng song ngữ không phải là cá biệt cho một ngôn ngữ và chỉ trong một

thời gian nào đó mà thôi Nó là hiện tượng thường xuyên cho hầu hết mọi tộc người”

Luận án của Nguyễn Văn Tài Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn (Hà Nội, 1983) đã xác nhận: “Khoảng 90% người Mường biết thông thạo tiếng Việt” Như vậy,

có thể nói đại đa số người Mường có khả năng sử dụng song ngữ Việt- Mường…Tình trạng này là chung cho các tộc người khác trên nước Việt Nam Bùi Khánh Thế trong

luận án Về cơ cấu tiếng Chàm (Hà Nội 1981) còn kh ng định táo bạo hơn: “Trong tất

Trang 34

cả các đặc điểm xã hội ngôn ngữ học của tiếng Chàm đặc biệt nổi bật hơn cả là trạng thái song ngữ Chàm –Việt, một loại hình song ngữ mang tính phổ cập toàn dân Tình hình ngôn ngữ này là kết là kết quả của sự cư trú gần gũi nhau, của sinh hoạt chan hòa từ lâu đời trong cuộc sống kinh tế, xã hội, của quá trình tiếp xúc và thâm nhập lẫn nhau về văn hóa giữa nhân dân Chàm và nhân dân Việt” Tác giả đã đi đến một

kết luận có tính nguyên tắc đối với sự khảo sát tiếng Chàm, một kết luận hoàn toàn

phù hợp với cách tiếp cận song ngữ luận: “Đây là một trong những nhân tố quan

trọng của sự tác động từ bên ngoài mà tiếng Chàm đã tiếp nhận, có ảnh hưởng không

ít đến quá trình biến đổi, phát triển cấu trúc nội tại của ngôn ngữ này.”

Tình hình phát triển của các ngôn ngữ Tày-Nùng và Thái ở miền Bắc, cũng như các ngôn ngữ ở miền Nam đều không thể không chú ý đến ảnh hưởng của người

Kinh tới cấu trúc nội tại của các ngôn ngữ trên địa bàn Việt Nam.“Áp dụng đơn ngữ

luận một cách triệt để ở đây là đi ngược lại sự thực” [39, tr.23-24] Tình hình song

ngữ Khmer- Việt tại ĐBSCL đã được Đinh Lư Giang miêu tả trong luận án tiến sĩ

bảo vệ năm 2011 Cũng vào năm ấy, luận án tiến sĩ Tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng

Khmer và tiếng Việt (Trường hợp tỉnh Trà Vinh) cũng được Nguyễn Thị Huệ bảo vệ

thành công Nội dung hai luận án này góp phần xác nhận sức thuyết phục của luận điểm về song ngữ ở Việt Nam

Theo V.Rozentsveig , lý thuyết TXNN tập trung xung quanh ba nhóm vấn

đề cơ bản:

- Song ngữ/đa ngữ (bilingualism/multilinqualism)

- Giao thoa ngôn ngữ (linguistic interference)

- Sự quy tụ ngôn ngữ (linguistic convergence) (Dẫn theo 46, tr 3-8)

1.3.1 Song ngữ trong điều kiện tiếp xú

Trong các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á, ta có thể lấy tiếng Khmer và tiếng Việt làm ví dụ cho tính điển hình tiếp xúc này, bởi có những từ thuộc về vốn từ Khmer được người Khmer tạo ra trên chất liệu tiếng Việt Sự vay mượn ấy vừa r ràng, vừa phổ biến và dần dần đi vào tiềm thức ngôn ngữ của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long Mặt khác, khi tìm hiểu phương ngôn Nam bộ của tiếng Việt, chúng ta dễ dàng bắt gặp một số tên gọi về địa hình, địa vật vay mượn tiếng Khmer:

Trang 35

bưng, cái búng, ô, ấp, lung, vũng, phum, sóc, vàm, con kinh, tha la, tầm phong long

hoặc cách phát âm gần nhau của một số vật dụng lao động do cùng gốc ngôn ngữ: cái

ná = sná (សាន), ( Tục ngữ Việt Nam có câu “Đặng chim b ná, đặng cá quên nôm” cái

lọp=lộp, cái xà neng –sneng (្នង) (dụng cụ đan bằng nan tre có hình như parabôn

của toán học) dùng để xúc lúa hay vớt cá, cái xăm, cái xỉa vật dụng thường dùng trong gia đình: ghe, cà om, cà ràng, cái khạp, cái diệm, cái bầu, xe lôi, cái ảng

Tiếng Việt cũng tiếp nhận từ tiếng tiếng Khmer theo hình thức vừa phiên âm

vừa dịch nghĩa tiếng Khmer như: cái “cà ràng” “mình êng= មានក្់ឯង” và được sử dụng phổ biến trong đời sống hằng ngày Hình thức vay mượn này thể hiện sự việt hoá tích cực Nó xuất phát từ nhu cầu bổ sung nghĩa cho từ mượn, góp phần giải quyết hiện tượng tối nghĩa trong các từ vay mượn Vì vậy, sự tiếp xúc giữa ngôn ngữ Khmer và ngôn ngữ Việt là hoàn toàn tự nhiên, hợp quy luật chung

1.3.2 Hiện tượng giao thoa trong điều kiện tiếp xú

Quá trình cộng cư lâu dài giữa dân tộc Việt và dân tộc Khmer đã dẫn đến hàng loạt từ ngữ tiếng Việt đã đi vào kho từ vựng Khmer vùng Nam bộ Ngược lại, kho từ vựng tiếng Việt ở ĐBSCL cũng tiếp nhận một lượng lớn lớp từ vựng có nguồn gốc Khmer Đó là hệ quả tất yếu của quá trình TXNN Sự TX giữa hai ngôn ngữ là kết quả của quá trình vay mượn, giao thoa, chuyển di thể hiện trên tất cả các bình diện ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ dụng

CĐ Khmer: ខ្លលអវីមាន្ណ្ៅស្សុក្សួន្ខ្ឝនក្វាជុំមលួន្សួន្ណ្ៅថាណ្មើឞ។េឺអវី?មានស់។

Ph’le a-vây mean nâu s’rok Việt, ph’nek ve chum kh’luôn, Việt hau tha th m

Kư a-vây?

Trái gì trăm mắt ở xứ Việt, gai mọc đầy mình người Việt gọi là thơm Là cái gì?

(Trái thơm, dứa hay trái khóm) Trong câu đố này chúng tôi chỉ phân tích vế đầu của câu đố để làm r kết cấu về cấu trúc ngữ pháp Trong câu ខ្លលអវី//មាន្ណ្ៅស្សុក្សួន្ (Ph’le a-vây/mean nâu s’rok duôn)

Trái gì có ở xứ Việt, ta thấy “Ph’le a-vây” là chủ ngữ, còn vế “mean nâu s’rok việt” là

vị ngữ Về trật tự câu có điểm khác: trong câu tiếng Khmer, danh từ “Ph’le” đứng

Trang 36

trước từ “a-vây”, dịch ra tiếng Việt là một trái gì Như vậy trong tiếng Việt tính từ và

số đếm đứng trước danh từ

Thực tế này xét về tác động ngôn ngữ học của song ngữ, khi hai ngôn ngữ tiếp xúc nhau hiển nhiên s có sự thay đổi Thông thường, ngôn ngữ thứ nhất ảnh hưởng đến các ngôn ngữ khác, hay ngôn ngữ mẹ đ s tác động đến ngôn ngữ thụ hưởng

Ảnh hưởng lẫn nhau tạo ra quá trình giao thoa Và “sự giao thoa này được thể hiện ở

các lĩnh vực: âm vị, ngữ âm, hình vị, cú pháp, ngữ nghĩa và từ vựng Một trong những biểu hiện của giao thoa mà chúng ta thường gặp nhất đó chính là âm hưởng Giọng của người nước ngoài (foreign accent) phát âm “lơ lớ”[23,tr.26] Trong các lĩnh vực

khác như cú pháp, từ vựng, ngữ nghĩa cũng có những biểu hiện giao thoa

Chúng ta dễ dàng nhận ra sự lệch chuẩn trong cách phát âm, cách dùng từ, mở rộng, thu hẹp nghĩa của một vài từ ngữ nhất định của cách kết hợp từ trong câu nói…của người song ngữ

CĐ Khmer: សត្វឞួសឞក្វីទិសត្បូង រនាលណ្វញមលួន្សួន្ណ្ៅថាឞិត្? (កាំររមា)

Sát muôi môk pi tưs t’bông bon-la pênh kh’luôn duôn hau tha mit Kam p’ro ma

Một con vật đến từ hướng Nam, mình đầy gai Là con gì? (Con Nhím)

Khi đố về con nhím dân gian đã mô tả thành một con vật có đặc điểm (người đầy gai) đến từ hướng Nam Do người Việt- Khmer cùng sống cộng cư trên một địa

bàn và cùng đới khí hậu nên khi đọc câu đố có một từ phát âm là “mit” làm cho

người giải đố đã tư duy theo hướng lệch chuẩn phát âm của người song ngữ Người giải câu đố đã bị đánh lừa, nhầm tưởng vật đố đó là trái mít (vì trái mít có nhiều ở ĐBSCL, do thổ nhưỡng và thời tiết thuận lợi cho việc trồng mít) Nhưng đó là từ chỉ gai nhọn đâm vào đối phương, người Khmer gọi là “mit” Đó là sự giao thoa, một trường hợp trong TXNN

Chúng ta cùng xem tiếp ví dụ sau đây có sự giao thoa trên cách phát âm, điều chỉnh phát âm trong quá trình sống cộng cư

Đó chính là kết quả của quá trình thụ đắc chưa hoàn chỉnh của người sử dụng thông thạo hơn một ngoại ngữ Theo Thomason và Kaufman, trong loại giao thoa này, người sử dụng thường có xu hướng điều chỉnh cách sử dụng ngôn từ của mình

Trang 37

để thích nghi với đối tượng giao tiếp, với hoàn cảnh giao tiếp, và thay đổi phát âm gần với ngôn ngữ đích Hoặc, đó có thể là sự giao thoa vô thức bắt đầu bằng cách mô phỏng âm thanh, cú pháp hay hình vị chưa hoàn thiện

1.3.3 Qu trình qui tụ trong điều kiện tiếp xú

Xuất phát từ những cảnh huống ngôn ngữ, tình hình tiếp xúc ngôn ngữ được minh định bởi “ không gian văn hóa” Giữa hai dân tộc Khmer và Việt, tuy có nền văn hóa ít nhiều khác nhau, nhưng cùng có chung khu vực cư trú tiếp xúc tự nhiên với nhau dưới nhiều hình thức nên dần dần đã có sự giao thoa tiếp xúc về văn hóa và ngôn ngữ Vùng đất đa tộc này trở thành mái nhà đón nhận nhiều nền văn hóa, ngôn ngữ và cũng

từ đó, nhiều hiện tượng TXNN và văn hóa bắt đầu diễn ra Quan sát một số câu đố và tục ngữ, ta s thấy r điều đó Cũng chính vì chức năng giao tiếp rộng rãi, phong phú của ngôn ngữ mà ngôn ngữ có ưu thế- ngôn ngữ của tộc người Kinh-là hạt nhân qui tụ những tinh hoa của các tộc người trong cùng một quốc gia đã được chọn để trở thành ngôn ngữ quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Qui tụ là thuật ngữ được dùng để mô tả các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau lâu dài, tiếp nhận của nhau một số đặc điểm rồi hình thành những đặc điểm chung, tạo

thuận lợi trong quá trình giao tiếp song ngữ (hay đa ngữ) Theo Myers – Scotton “qui

tụ là kết quả của một quá trình tiệm tiến” Có tác giả đã kh ng định “chính những đặc trưng chung về mặt loại hình với các qui luật phát triển nội tại của nó và những mối liên hệ xa gần về nguồn gốc đã tạo ra xu hướng qui tụ”.[46]

Hơn năm mươi năm sau, vấn đề TXNN được A.Martinet đề xuất (1950) và U.Weinreich công bố trong chuyên luận của mình (1953) do A.Martinet đề tựa,

công trình của D.Winford (2003), Dẫn luận về ngôn ngữ học tiếp xúc (An

Introduction to Contact Linguistics, Blackwell Publishing, Oxford England) cũng đánh dấu bước phát triển mới của lĩnh vực khoa học này trong lịch sử ngôn ngữ học Việt Nam đã có một số nghiên cứu sinh sớm tiếp cận, tham khảo khi thực hiện luận án [12] và [23] Luận văn này của chúng tôi thừa hưởng một số thông tin khoa học đầu tiên về công trình nghiên cứu TXNN của D.Winford và qua các luận

án tiến sĩ bảo vệ từ năm 2011 ở Việt Nam

Trang 38

TXNN là sự tác động hai chiều và có sự ảnh hưởng qua lại về mặt cấu trúc của nhiều ngôn ngữ Điều kiện để tiếp xúc là có môi trường giao tiếp giữa các thành viên thuộc nhóm các dân tộc cộng cư, cùng có chung những nhu cầu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Những điều trên đã góp phần vào sự hình thành TXNN Tuy có các định nghĩa khác nhau và cách trình bày và nguồn gốc, thời điểm và khuynh hướng tiếp cận với chi tiết ít nhiều khác nhau, nhưng tất cả tựu trung đều nhấn mạnh vấn đề: môi trường tiếp xúc của chủ nhân văn hóa và ngôn ngữ đã dẫn đến việc ảnh hưởng qua lại trong quá trình tiếp xúc

Từ điển Ngôn ngữ học lịch sử và ngôn ngữ học so sánh (The dictionary of historical and comparative linguistics) định nghĩa: Bất kỳ sự thay đổi nào trong ngôn

ngữ do ảnh hưởng của ngôn ngữ cộng đồng ở gần người nói có khả năng sử dụng và chuyển các đặc điểm và thuộc tính từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác Ảnh hưởng của quá trình TXNN từ mức rất nhỏ đến lớn và có thể trên bất kỳ bình diện nào Loại

TX đơn giản nhất là hiện tượng “vay mượn”, “chuyển di”cấu trúc và ngữ nghĩa (metatypy)

Từ điển Giải thích thuật ngữ văn học cho rằng TXNN là “Sự tác động qua lại

giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ ảnh hưởng đến cấu trúc và vốn từ vựng của một hay nhiều ngôn ngữ có quan hệ đó TXNN xảy ra nhờ việc thường xuyên lặp lại các cuộc đối thoại thường xuyên có nhu cầu giao tiếp, trao đổi thông tin giữa những người nói hai ngôn ngữ khác có khả năng đồng thời sử dụng cả hai ngôn ngữ” [61, tr.291]

“Tiếp xúc ngôn ngữ” là cụm từ đã được dịch từ tiếng Pháp (Contact des

langues) hay tiếng Anh (Language contact), dùng để chỉ một hiện tượng phổ biến, trong các ngôn ngữ trên thế giới Nó xảy ra khi một người sử dụng hai hay cùng lúc nhiều ngôn ngữ Khi có hiện tượng song ngữ hay đa ngữ xuất hiện thì nguyên nhân tác động là yếu tố chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hoá, tư tưởng v.v…

1.3.4 Lý thuyết ngôn ngữ họ tiếp xú

Qua nhiều thế kỷ, Việt Nam luôn là điểm đến và cũng là giao lộ của các cuộc thiên di, là nơi hội tụ của nhiều tộc người Các ngôn ngữ tộc người ở Việt Nam lại chịu sự tác động mạnh m của mọi biến cố kinh tế, chính trị, văn hóa của khu vực,

Trang 39

nên bức tranh ngôn ngữ khá đa dạng được nhìn thấy ở Việt Nam-là bức tranh thu gọn của tình hình phân bố ngôn ngữ ở Đông Nam Á

Sau sự xuất hiện công trình của Uriel Weinreich qua hơn 1/3 thế kỷ, lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ ngày càng phong phú thêm bởi nhiều công trình, nhiều luận văn của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, một số nhà ngôn ngữ học như Phạm Đức Dương, Phan Ngọc là những nhóm người đã sớm nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ Chính họ là người giới thiệu và ứng dụng cho lý thuyết về NNTX vào việc khảo sát,

lý giải các vấn đề xung quanh hiện tượng TXNN ở Việt Nam Từ đó, những công trình viết về TXNN và liên quan đến lĩnh vực này xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng như: “Về ngôn ngữ Tiền-Việt Mường” [45,tr.40] “Về quan hệ Việt Mường-Tày Thái qua tư liệu dân tộc ngôn ngữ học” “Tiếp xúc ngôn ngữ Tày-Việt ở vùng Đông Bắc Việt Nam”[39,tr.38] Một số tác giả khác nữa như Lý Tùng Hiếu, Đinh Lư Giang, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Kiên Trường trong những năm gần đây cũng đã công bố trực tiếp, hay gián tiếp những quan điểm liên quan đến vấn đề TXNN

TXNN trên thế giới có “ngôn ngữ lai pha”(creoles) “ngôn ngữ kết nhập”

(pidgins), nhưng với Việt Nam thì trường hợp đó không xảy ra Việt Nam dung hoà, phát huy cái hay cái đẹp của m i ngôn ngữ và vay mượn, qui tụ (convergence) tích hợp (intergration) để tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ phong phú như ngày nay

Trong TXNN ở Đông Nam Á, Phan Ngọc đã trình bày về vấn đề TXNN và những cơ sở lý luận của TXNN cụ thể trong ngữ nghĩa của từ Hán-Việt, sự TX về ngữ pháp với sự ảnh hưởng của ngữ pháp châu Âu lên ngữ pháp tiếng Việt Trong

những nhận xét mở đầu, Phan Ngọc viết “Trong quá trình TXNN giữa hai ngôn

ngữ tất yếu xảy ra sự vay mượn Tuy nhiên, hiện tượng vay mượn xảy ra khác nhau tùy theo yêu cầu khách quan của sự giao tiếp và yêu cầu cấu trúc ngôn ngữ thể hiện rõ nhất ở sự vay mượn từ” [33, tr.55] Với bài “Từ ngoại lai trong tiếng

Việt”, Nguyễn Văn Khang trình bày các vấn đề lí thuyết về vay mượn từ vựng như

sau: “Vay mượn từ vựng là hệ quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ

có nguyên nhân từ TXNN Vì thế, khi xem xét vay mượn từ vựng không thể không nói đến TXNN” [25] Tác giả Nguyễn Văn Huệ trình bày một cách cụ thể các phương

thức vay mượn từ vựng trên các bình diện Kết quả của quá trình TX trong tiếng

Trang 40

Khmer là sự đơn tiết hóa, vì vậy có thể thấy tiếng Khmer dần dần đã bị rụng đi tiền

âm tiết và còn lại những từ “một âm tiết rưỡi” [22] Trên cơ sở phân tích những cứ

liệu trong câu đố và tục ngữ Việt-Khmer, luận văn s tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong TXNN

Phan Ngọc cho rằng TXNN không chỉ đơn thuần là vay mượn từ vựng Trong giao tiếp giữa tộc người A và tộc người B, có sự vay mượn qua cách gọi tên sự vật,

sự việc, hiện tượng của ngôn ngữ A và B Kết quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ:

Có một sự thật mà người Việt chúng ta rất tự hào là người Việt Nam luôn sống dung hoà, yêu chuộng hoà bình Điều đó thể hiện ngay cả trong ngôn ngữ Tiếng Việt vẫn

có thể sống chung, chịu ảnh hưởng chứ không thôn tính cũng không làm các ngôn ngữ khác mất đi…Tiếng Việt trải qua lịch sử hình thành, phát triển lâu đời đã qui tụ

và hợp tuyển những cái hay, cái đẹp của các ngôn ngữ các dân tộc anh em cùng sống chung trên địa bàn cư trú

Là một hiện tượng xã hội đặc biệt, ngôn ngữ có chức năng giao tiếp thể hiện ý thức xã hội và hình thành văn hóa, đồng thời cũng là bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hóa, khả năng giao tiếp và trao đổi kiến thức văn hóa của con người Sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại xã hội Từ những chức năng khái quát

đó, khi các cộng đồng người sống gần nhau hoặc xen k nhau, TXNN xảy ra là quá trình tất yếu Không chỉ khi con người có nhu cầu giao tiếp, trao đổi về thương mại, văn hóa, tôn giáo mà ngay cả trong các hoạt động quân sự, trong chiến tranh xâm lược, chống sự thôn tính bành trướng cũng diễn ra quá trình TXNN Điều kiện dẫn đến quá trình TXNN rất đa dạng, bao gồm các điều kiện khách quan và chủ quan của chủ nhân ngôn ngữ đã tạo nên các hình thái TXNN khác nhau

Nước ta có 54 dân tộc anh em, cộng đồng các dân tộc Việt Nam sử dụng nhiều ngôn ngữ Trong m i ngôn ngữ lại có những thổ ngữ, phương ngữ khác nhau, thuộc năm ngữ hệ: Nam Á, Nam Đảo, Tai-Kađai, Hmông-Dao, Hán-Tạng Xét về loại hình ngôn ngữ, các ngôn ngữ ở Việt Nam đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập và có một

số đặc điểm riêng về cấu trúc ngữ pháp, ngữ âm Trong đó, các đơn vị ngôn ngữ mang yếu tố tiếng Khmer (gồm yếu tố cấu tạo từ ngữ) là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, vừa có số lượng nhiều vừa có

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Ánh (2008), Văn hóa phum sóc của người Khmer Tây Nam Bộ và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phum sóc của người Khmer Tây Nam Bộ và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Tác giả: Trần Văn Ánh
Năm: 2008
2. Đ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, T/c Ngôn ngữ, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đ Hữu Châu
Năm: 2000
3. Nguyễn Đức Dân (1996), Lôgích và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgích và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1996
4. Nguyễn Đức Dân (1987), Đạo lý trong tục ngữ, Tạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo lý trong tục ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1987
5. Nguyễn Đức Dân (2001), Ngữ dụng học (Tập một), Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2001
6. Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri (1975), Tục ngữ Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội (tái bản 1993) Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1975), Tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1975
7. Chu Xuân Diên chủ biên (2002), Văn học dân gian Sóc Trăng, Nxb Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Sóc Trăng
Tác giả: Chu Xuân Diên chủ biên
Nhà XB: Nxb Tp. HCM
Năm: 2002
8. Chu Xuân Diên (2005), Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Tp. HCM
Năm: 2005
9. Trần Trí D i (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Trí D i
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
10. Theo Phạm Đức Duật (2012), Văn học dân gian Thái Bình, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Thái Bình
Tác giả: Theo Phạm Đức Duật
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
11. Lâm Es (chủ biên) (1998), Giáo trình giảng dạy tiếng Khmer ở Trường trung học Sư Phạm (tập1), Nxb Giáo dục, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giảng dạy tiếng Khmer ở Trường trung học Sư Phạm
Tác giả: Lâm Es (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Ninh Viết Giao (1997), Câu đố Việt Nam, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đố Việt Nam
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1997
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
16. Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thành ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2004
17. Phạm Thị Phương Hạnh (chủ biên), Lương Minh Hinh, Vũ Thống Nhất, Huỳnh Công Tín (2011), Văn hóa Khmer Nam Bộ- Nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Chính Trị Quốc Gia-Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Khmer Nam Bộ- Nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Phương Hạnh (chủ biên), Lương Minh Hinh, Vũ Thống Nhất, Huỳnh Công Tín
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc Gia-Sự Thật
Năm: 2011
20. Sơn Phước Hoan (2005) “Sưu tầm và biên soạn về thành ngữ và tục ngữ Khmer”, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sưu tầm và biên soạn về thành ngữ và tục ngữ Khmer
Nhà XB: Nxb GD
21. Trần Hoàng (2005) “Văn học dân gian”, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
22. Nguyễn Văn Huệ (2005), Xu hướng đơn tiết hóa và sự biến đổi của các phụ âm đầu trong ngôn ngữ khu vực Nam Đông Dương, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường ĐHKHXH & NV Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng đơn tiết hóa và sự biến đổi của các phụ âm đầu trong ngôn ngữ khu vực Nam Đông Dương
Tác giả: Nguyễn Văn Huệ
Năm: 2005
23. Nguyễn Thị Huệ (2011), Tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Khmer với tiếng Việt (Trường hợp tỉnh Trà Vinh), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường ĐHKHXH & NV Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Khmer với tiếng Việt (Trường hợp tỉnh Trà Vinh)
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Năm: 2011
24. Phạm Tiết Khánh (2014), Về tính biểu trưng của tục ngữ Khmer Nam Bộ thể hiện qua hình ảnh loài vật, Tạp chí khoa học – trường Đại học Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tính biểu trưng của tục ngữ Khmer Nam Bộ thể hiện qua hình ảnh loài vật
Tác giả: Phạm Tiết Khánh
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w