1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lễ dolta và hội đua bò bảy núi của người khmer tỉnh an giang

241 23 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lễ dolta và hội đua bò bảy núi của người khmer tỉnh an giang
Tác giả Lâm Thị Mai Sương Tú
Người hướng dẫn TS. Phan Văn Dốp
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn
Chuyên ngành Việt Nam học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 241
Dung lượng 4,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề này cũng đã được thảo luận ít nhiều trong Hội thảo đua bò Bảy Núi năm 2012 [54] Nhằm góp phần tìm hiểu về văn hóa và những biến đổi văn hóa của người Khơme An Giang nói chun

Trang 1

-

LÂM THỊ MAI SƯƠNG TÚ

LỄ DOLTA VÀ HỘI ĐUA BÒ BẢY NÚI CỦA NGƯỜI KHMER TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh

- 2015 -

Trang 2

-

LÂM THỊ MAI SƯƠNG TÚ

LỄ DOLTA VÀ HỘI ĐUA BÒ BẢY NÚI

CỦA NGƯỜI KHMER TỈNH AN GIANG

Chuyên ngành: Việt Nam học

Mã số: 60.22.01.13

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN VĂN DỐP

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 3

-2015-Trước tiên, chúng tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Phan Văn Dốp

đã tận tình hướng dẫn, cung cấp tư liệu và giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này và các thầy cô của Khoa Việt Nam học đã giảng dạy chúng tôi trong những năm qua

Chúng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến những thầy cô của Phòng Sau đại học đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn thành luận văn này

Chúng tôi cũng muốn gởi lời cảm ơn đến các cơ quan, tổ chức của địa phương đã cung cấp những tài liệu có giá trị liên quan đến đề tài nghiên cứu

và tất cả các thông tín viên đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp những thông tin có

ý nghĩa thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, tập thể bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình ủng hộ, động viên và dành nhiều tình cảm tốt đẹp cho chúng tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Tác giả luận văn

Lâm Thị Mai Sương Tú

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

2.1 Mục tiêu tổng quát 4

2.2 Mục tiêu cụ thể 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 5

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 9

5.1 Phương pháp nghiên cứu 9

5.2 Nguồn tư liệu 11

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 12

6.1 Ý nghĩa khoa học 12

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 12

7 Bố cục luận văn 12

Chương 1 : NHỮNG TIỀN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14

1.1 Các khái niệm cơ bản 14

1.1.1 Lễ 14

1.1.2 Hội 16

1.1.3 Lễ hội - Mối quan hệ giữa lễ và hội 17

1.2 Chức năng của lễ hội 21

1.3 Di sản văn hóa phi vật thể 26

1.4 Quan niệm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 27

1.5 Tổng quan về người Khơme ở An Giang 30

1.5.1 Tổng quan vùng đất An Giang 30

1.5.2 Một số đặc điểm người Khơme tỉnh An Giang 36

Tiểu kết chương 1 52

Chương 2 : NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LỄ DOLTA VÀ HỘI ĐUA BÒ BẢY NÚI 53

2.1 Lễ Dolta 53

2.1.1 Nguồn gốc Lễ Dolta 53 2.1.2 Vai trò của Lễ Dolta trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Khơme

Trang 5

2.1.3 Diễn trình Lễ Dolta 59

2.2 Hội đua bò 65

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển Hội đua bò vùng Bảy Núi 65

2.2.2 Cách thức chọn, nuôi và huấn luyện bò dự đua 71

2.2.3 Diễn trình của Hội đua bò vùng Bảy Núi 78

2.2.4 Ý nghĩa của Hội đua bò trong đời sống tinh thần của người Khơme An Giang 82

Tiểu kết chương 2 84

Chương 3 : ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ DOLTA VÀ HỘI ĐUA BÒ BẢY NÚI 86

3.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động của lễ- hội 86

3.2 Định hướng bảo tồn các giá trị của lễ-hội từ góc độ văn hóa 93

3.2.1 Chủ thể người Khơme trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa của lễ- hội 93

3.2.2 Không gian văn hóa lễ- hội của người Khơme 96

3.2.3 Một số đề xuất và kiến nghị 100

3.3 Định hướng bảo tồn các giá trị lễ- hội từ góc độ du lịch 104

3.3.1 Thực trạng khai thác các giá trị của lễ- hội vào hoạt động du lịch 104

3.3.2 Định hướng phát triển du lịch cộng đồng gắn với lễ-hội 106

3.3.3 Định hướng phát triển du lịch bền vững gắn với lễ-hội 110

3.3.4 Một số đề xuất và kiến nghị 112

Tiểu kết chương 3 117

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

PHỤ LỤC 1 : BIÊN BẢN PHỎNG VẤN 126

PL1.1 DANH MỤC NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN 126

PL1.2 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN NHÓM CAO NIÊN 128

PL1.3 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN NHÓM TRUNG NIÊN 133

PL1.4 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN NHÓM THANH NIÊN 150

PL1.5.BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÃI CẢ, ACHAR 156

PL1.6 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN CÁN BỘ TRUNG TÂM VĂN HÓA HUYỆN TRI TÔN 162

PL1.7 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN CÁN BỘ TRUNG TÂM VĂN HÓA HUYỆN TRI TÔN 176

PL1.8 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN CÁN BỘ TRUNG TÂM THỂ DỤC THỂ THAO HUYỆN TỊNH BIÊN 185

PL1.9 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN NGƯỜI ĐUA BÒ 198

PHỤ LỤC 2 : CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN 210

TỔ CHỨC HỘI ĐUA BÒ BẢY NÚI 210

PHỤ LỤC 3 : HÌNH ẢNH 222

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Dân số người Khơme ở Việt Nam chia theo tỉnh 36

Bảng 2: Dân số người Khơme trong cả nước, tỉnh An Giang và vùng Bảy Núi 38

Bảng 3: Tổng hợp thành tích Hội đua bò Bảy Núi qua 22 lần tổ chức (1992-2013) 69

Bảng 4: Hiện trạng khách du lịch đến tỉnh An Giang 104

Bảng 5: Lượng khách du lịch đến lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam và Hội đua bò Bảy Núi 105

Trang 7

NĐKB: Người điều khiển bò

PT&TH: Phát thanh truyền hình

QL: Quốc lộ

VHDT: Văn hóa dân tộc

VHTT&DL: Văn hóa Thể thao và Du lịch

UBND: Ủy ban Nhân dân

xb.: xuất bản

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lễ hội là một trong những di sản văn hóa độc đáo của mỗi dân tộc Chúng thuộc văn hóa phi vật thể nhưng gắn bó mật thiết với văn hóa vật thể, đặc biệt là các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng Lễ hội có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi dân tộc, nhất là trong đời sống tinh thần Lễ hội luôn mang tính cộng đồng, tạo nên mối đồng cảm sâu sắc cho cả dân tộc Lễ hội hình thành trong quá trình phát triển tộc người trong suốt chiều dài lịch sử gắn với môi trường sinh thái nhân văn của dân tộc Trong hệ thống lễ hội của mỗi dân tộc có những lễ hội có tầm quan trọng đặc biệt Chúng có qui mô và phạm vi toàn dân tộc, được tổ chức theo một chu kỳ nhất định mà việc khảo sát những lễ hội này sẽ giúp chúng ta không chỉ hiểu được tâm lý, tình cảm, hành vi và thái độ của người tham dự mà còn khám phá những mốc quan trọng trong lịch sử của dân tộc gắn bó với môi trường sinh thái nơi họ sinh sống Ở người Khơme

Nam Bộ, những lễ có ý nghĩa đặc biệt như vậy là “Lễ cúng ông bà” (Sen Dolta) và

“Tết Chol Chnam Thơmay” mà nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Khơme đều đã thừa

nhận Ngoài phần lễ, người Khơme còn tổ chức hội đua ghe ngo hoặc hội đua bò tùy theo vùng với sự tham dự của cư dân cả vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Hai lễ hội “lớn” này được tổ chức hàng năm, đồng loạt trong từng gia đình, trong mỗi

cộng đồng phum sóc Khơme

Ở ĐBSCL, thành phần cư dân chính là người Kinh, người Khơme, người Hoa

và người Chăm Người Khơme hiện có dân số đứng hàng thứ hai sau người Kinh và văn hóa Khơme đã góp phần tạo nên nét đặc trưng văn hóa trong vùng Trong đó, hệ thống lễ hội của người Khơme cùng với hệ thống lễ hội của người Kinh, người Hoa và người Chăm tạo nên sự đa dạng trong lễ hội của cư dân ĐBSCL và Nam bộ nói chung

Trong đó, hai lễ “Lễ cúng ông bà”(Sen Dolta) đặc biệt thu hút đông đảo cư dân trong

Trang 9

vùng tham dự bởi hội đua ghe ngo (Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ) hay hội đua bò

(vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang)

Là một thành tố của văn hóa, cũng như văn hóa nói chung, lễ hội của mỗi dân tộc đều biến đổi theo thời gian và cùng một lễ hội nhưng giữa những địa phương khác nhau, bên cạnh những điểm tương đồng cũng có những nét khác biệt Xem xét lễ hội theo chiều lịch đại cho phép làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tính truyền thống và tính biến đổi của lễ hội nói riêng, văn hóa tộc người nói chung Xem xét lễ hội trong sự so sánh đồng đại giữa các địa phương cho thấy sự phong phú và đa dạng của lễ hội, góp phần làm rõ mối quan hệ giữa tính thống nhất và tính đa dạng của văn hóa tộc người

Người Khơme ở An Giang có dân số đứng hàng thứ hai sau người Kinh, với 90.271 người chiếm 4,21% tổng dân số toàn tỉnh; trong đó tập trung đông nhất tại hai huyện miền núi Tri Tôn (35.142 người, chiếm 29,10% dân số toàn huyện) và Tịnh Biên (44.969 người, chiếm 33.78% dân số toàn huyện) (xem bảng 1) Tuyệt đại bộ phận người Khơme ở Nam Bộ cũng như ở tỉnh An Giang đều theo Phật giáo Nam tông Lễ hội cổ truyền của người Khơme ở Tây Nam Bộ nói chung và ở tỉnh An Giang nói riêng luôn mang đậm nét văn hóa truyền thống và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo Nam tông Hệ thống lễ hội của người Khơme nói chung, Lễ cúng ông bà hay Lễ Dolta nói riêng góp phần làm phong phú thêm cho hệ thống lễ hội của các dân tộc trong tỉnh An

Giang Lễ Dolta được tổ chức cùng với “Hội đua bò” tạo nên sức hấp dẫn riêng của lễ

hội của người Khơme tỉnh An Giang, cũng như của vùng “Thất sơn” (Tịnh Biên và Tri Tôn) nơi địa đầu biên giới phía Nam tổ quốc ta Thích nghi với điều kiện của vùng miền núi, người Khơme ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tổ chức Lễ Dolta hàng năm cùng với Hội đua bò, trong khi ở những nơi khác thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, là vùng sông nước, nên các lễ hội của người Khơme lại gắn với Hội đua ghe ngo

Trang 10

Trong các lễ hội cổ truyền của người Khơme ở Nam bộ nói chung, thì Lễ Dolta

là một trong những lễ quan trọng nhất hàng năm, thường được so sánh với Lễ Vu Lan của Phật giáo Bắc tông, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, để tưởng nhớ tổ tiên Trước đây, Lễ Dolta diễn ra dưới hai hình thức là Sen Dolta tổ chức tại nhà và Phchumbinh tổ chức tại chùa, thời gian tiến hành trong 15 ngày từ ngày 16 đến ngày 30 tháng Bhaddapada lịch Khơme (tương đương từ ngày 16 đến ngày 30 tháng 8 âm lịch của người Việt) Ngày nay, đồng bào Khơme tập trung tổ chức Lễ Dolta trong ba ngày nhưng vẫn đảm bảo các nghi thức như trước kia Bên cạnh đó, Hội đua bò cũng được đưa vào tổ chức vào dịp Lễ Dolta càng tạo nên không khí vui tươi, sôi nổi không chỉ cho đồng bào Khơme mà còn cho cả cộng đồng cư dân ở đây sau một mùa lao động vất

vả Từ hoạt động vui chơi mang đậm dấu ấn của lễ nghi nông nghiệp, cho đến nay Hội đua bò ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tức là vùng “Thất Sơn”, hay vùng “Bảy Núi”

có tên gọi chung là “Hội đua bò Bảy Núi” được biết đến như một nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Khơme riêng có ở An Giang

Hội đua bò trong dịp Lễ Dolta của người Khơme không chỉ thu hút đông đảo người Khơme trong tỉnh và các tỉnh lân cận tham dự mà còn thu hút người dân thuộc các dân tộc khác nhau (Việt, Hoa, Chăm) Từ năm 2009, Hội đua bò Bảy Núi cũng thu hút người Khơme ở nước bạn Campuchia nhất là ở tỉnh Tàkeo sang tham dự ngày càng đông Nhiều du khách trong và ngoài nước cũng chọn đến An Giang vào mùa Lễ Dolta

để tham dự Hội đua bò và để hiểu biết về văn hóa người Khơme An Giang Chính sự độc đáo và sức hấp dẫn đó mà Hội đua bò Bảy Núi ở An Giang đã được chính quyền địa phương và cơ quan quản lý văn hóa nâng lễ hội này thành “lễ hội cấp tỉnh”, đồng thời xây dựng thành sản phẩm du lịch văn hóa của vùng Nhưng cũng chính từ việc mở rộng quy mô, khai thác giá trị văn hóa của lễ hội để phục vụ du lịch và với sự gia tăng của du khách trong và ngoài nước đã ảnh hưởng không tốt đến nội dung, ý nghĩa của lễ hội cũng như bộc lộ một số mặt hạn chế trong khâu tổ chức và quản lý, chất lượng dịch

Trang 11

vé để xem đua bò và số người dự đông đảo nhưng thiếu tổ chức,… đã làm mất đi nét văn hóa truyền thống của Lễ Dolta, làm giảm tính trang nghiêm của nghi lễ, và hơn thế

là đẩy một bộ phận không nhỏ người Khơme ra khỏi cuộc chơi mà họ cũng là chủ thể của lễ hội Những vấn đề này cũng đã được thảo luận ít nhiều trong Hội thảo đua bò Bảy Núi năm 2012 [54]

Nhằm góp phần tìm hiểu về văn hóa và những biến đổi văn hóa của người Khơme An Giang nói chung, đặc biệt là về văn hóa phi vật thể, chúng tôi chọn Lễ Dolta và Hội đua bò ở vùng Bảy Núi làm chủ đề nghiên cứu cho luận văn cao học ngành Việt Nam học Điều này xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của lễ hội này trong đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của người Khơme An Giang cũng như xuất phát từ tính đặc thù trong Hội đua bò chỉ có ở vùng Bảy Núi, An Giang Mặt khác, trong bối cảnh phát triển du lịch vùng đồng bào Khơme, nhất là khi Lễ Dolta và Hội đua bò được nâng lên tầm lễ hội cấp tỉnh và trở thành sản phẩm phục vụ du lịch đang đặt ra nhiều yêu cầu Xem xét những vấn đề đặt ra một cách có hệ thống về khai thác lễ hội phục vụ du lịch để phát triển du lịch bền vững góp phần nâng cao đời sống người Khơme trong vùng cũng là một yêu cầu cấp bách Xuất phát từ những lý do trên chúng

tôi chọn đề tài “Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi của người Khmer tỉnh An Giang” làm

luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 12

trương phát triển du lịch văn hóa của địa phương trong việc xây dựng những sản phẩm

du lịch mang đặc trưng của văn hóa dân tộc Mặt khác, việc nghiên cứu lễ hội cũng góp phần đề ra một số giải pháp nhằm bảo tồn văn hóa phi vật thể của người Khơme đang

có nguy cơ bị biến dạng dưới tác động của giao lưu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa về văn hóa

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Giới thiệu dân tộc Khơme An Giang, tập trung vào Lễ Dolta và Hội đua bò;

- Tìm hiểu nét văn hóa đặc sắc, khẳng định giá trị của lễ hội trong đời sống của người Khơme An Giang

- Tìm hiểu các yếu tố tác động đến sự biến đổi của lễ hội có nguy cơ gây ảnh hưởng đến các giá trị truyền thống của người Khơme

- Định hướng một số giải pháp bảo tồn các giá trị văn hóa của người Khơme qua Lễ Dolta và Hội đua bò

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi của người Khơme tỉnh An Giang Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi là một hội lễ - được nhận thức với ý nghĩa là đối tượng nghiên cứu của luận văn - là một chỉnh thể bao gồm

ý nghĩa của lễ cúng ông bà nói chung, hệ thống các nghi thức với những ý nghĩa cụ thể được thực hiện theo một trật tự nhất định, các hoạt động vui chơi và người tham dự với các vai trò và vị trí khác nhau Đối tượng nghiên cứu này cũng được tiếp cận dưới sự tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội đang diễn ra ở ĐBSCL cũng như ở An Giang

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là khảo sát và phân tích những biến đổi trong việc tổ chức Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi của người Khơme ở tỉnh An Giang, diễn

Trang 13

ra ở hai huyện miền núi là Tri Tôn và Tịnh Biên, nơi tập trung đông người Khơme của tỉnh Luận văn sẽ làm rõ về ý nghĩa của Lễ Dolta nói chung, của các nghi thức trong lễ

có sự kết hợp của tín ngưỡng dân gian Khơme và Phật giáo Nam Tông, các hoạt động chuẩn bị và diễn trình diễn ra Lễ Dolta và Hội đua bò (ở cấp độ hộ gia đình, cấp trung gian ‘‘wện” và cấp cộng đồng phumsóc), trong đó có vai trò điều hành của các vị Sãi

cả, của các Ban Quản trị chùa, của các nghệ nhân, của người tham gia đua bò và của đông đảo người tham dự Bên cạnh đó, để tìm hiểu nguyên nhân của những biến đổi trong Lễ Dolta và hoạt động vui chơi trong Hội đua bò, luận văn cũng chú ý đến việc tìm hiểu các yếu tố tác động đến lễ hội này Nhất là sau khi Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi được nâng thành lễ hội cấp tỉnh – và việc đưa Hội đua bò Bảy Núi thành sản phẩm du lịch Phạm vi thời gian được xác định là vào thời điểm hiện tại, cụ thể là những năm 2013-2014 có chú ý so sánh sự biến đổi trong khoảng mười năm qua

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phần lớn những nghiên cứu lễ hội của người Khơme nói chung và Lễ Dolta và Hội đua bò của người Khơme vùng Bảy Núi đều gắn liền với nghiên cứu văn hóa tộc người, đi từ quan điểm tiếp cận dân tộc học, nhân học, tôn giáo

Một trong những nghiên cứu sớm đề cập đến văn hóa của người Khơme trong

đó có Lễ Dolta là công trình “Người Việt gốc Miên” (1969) của Lê Hương Tác giả đã

nêu lên nguồn gốc của lễ từ một sự tích trong kinh điển nhà Phật đó là vua Binbisara nghe theo lời khuyên của Đức Phật Thích Ca tổ chức cúng và tụng kinh cầu siêu cho các vong hồn đói rách để tránh bị chúng làm phiền đến nhà vua Tác giả cũng khái quát quá trình 15 ngày diễn ra lễ với những qui định về đồ ăn, thức uống dâng cúng các vị

sư, đồng thời có những kiêng cữ đối với các Phật tử trong những ngày tổ chức lễ như: không sát sinh, không tà dâm, không nói láo, không uống rượu, không ăn buổi chiều, không nghe đàn coi hát, không đeo đồ trang sức Kế đến là những nghi thức tụng kinh trong ngày lễ chánh, bên cạnh đó cũng diễn ra một số trò chơi như hát hò, đối đáp Tác

Trang 14

giả Sorya trong sách “Khơme Nam bộ” (1988) cũng nêu ra trình tự diễn ra lễ trong 15

ngày nhưng tác giả chia lễ ra thành hai phần: phần cúng ở chùa (14 ngày đầu) và phần cúng ở nhà (ngày cuối cùng) với cách thức cúng tương tự như tác giả Lê Hương đã

trình bày Tác giả Trường Lưu trong “Văn hóa người Khơme vùng đồng bằng sông

Cửu Long” (1993) đã trình bày quá trình diễn ra lễ trong cái nhìn so sánh lịch đại Tác

giả đã miêu tả những nghi thức truyền thống được diễn ra lễ trong ba ngày thay vì 15 ngày như trước đây Tác giả cũng cho thấy vai trò quan trọng của Lễ Dolta trong đời sống tinh thần của người Khơme khi xem Lễ Dolta thuộc “hội lễ lớn thứ nhì” của dân tộc Khơme nhằm cầu phước cho vong linh những người quá cố

Trong các công trình nghiên cứu về người Khơme kể trên, tuy đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không nói đến Hội đua bò Bởi vì, Hội đua bò gắn với Lễ Dolta là hội lễ đặc trưng của người Khơme vùng Bảy Núi Hội đua bò Bảy Núi được nói đến trong công trình Địa chí An Giang Theo đó, Hội đua bò vùng Bảy Núi đã được tổ chức trước năm 1975 trùng với Lễ Dolta, được tổ chức tự phát ở một số địa phương Đến năm 1992, Hội đua bò mới chính thức tổ chức định kỳ hàng năm tại hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tức là vùng Bảy Núi – tỉnh An Giang Như vậy, Hội đua bò cùng với Lễ Dolta ở Bảy Núi xuất hiện trong những năm trước giải phóng nhưng chỉ trở thành hội- lễ từ khi đất nước thống nhất năm 1975, khi mà đời sống mọi mặt của người dân đã có những thay đổi, trong điều kiện hòa bình

Các tác giả Trần Văn Bổn, Sơn Phước Hoan, Phạm Thị Phương Hạnh cũng có những công trình nghiên cứu đề cập đến Lễ Dolta như là một nét văn hóa tiêu biểu của người Khơme Nam bộ, điều đặc biệt là những tác giả này đều có trình bày thêm phần Hội đua bò bên cạnh lễ Nhìn chung, hầu hết các tác giả chủ yếu nghiên cứu về nguồn gốc hình thành lễ cùng với trình tự diễn ra lễ, một số ít nêu lên vai trò, vị trí của của lễ trong đời sống của người Khơme

Trang 15

Gần đây, UBND tỉnh An Giang phối hợp với Viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam

và Cơ quan đại diện Bộ Văn hóa- thể thao- du lịch đã tổ chức Hội thảo khoa học “Lễ Hội đua bò Bảy Núi, An Giang” Tại hội thảo, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những nhận định xác đáng xung quanh Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi và đặt ra những vấn

đề mới phát sinh dưới tác động của quá trình phát triển du lịch văn hóa vùng đồng bào Khơme Bảy Núi Tiêu biểu là tác giả Phan Thị Yến Tuyết đã nêu lên những vấn đề cấp

thiết trong việc phát triển Hội đua bò Bảy Núi Tác giả cho rằng “Liệu có phải chúng

ta đã “bóc tách văn hóa” của cộng đồng người Khơme ra khỏi không gian và môi trường thiên nhiên cũng như môi trường xã hội của họ?” và “Từ một ngày hội mang sắc thái nông nghiệp, gắn với lễ hội truyền thống của đồng bào, chúng ta “bứng” nó

đi thành cuộc thi đấu mang sắc thái tranh giải thể dục thể thao của người Việt, đó là chưa kể lễ đua bò biến thành dịp cho một bộ phận người dự khán lợi dụng cho trò cá

độ, cờ bạc…” Tác giả cũng kiến nghị không nên phát triển Hội đua bò ở quy mô lớn

vì cuộc đua bò gây đau đớn cho súc vật, lấy súc vật làm trò giải trí sẽ là thiếu tính nhân văn [53, tr.216] Cùng quan điểm đó, tác giả Võ Văn Sịnh lo ngại việc đề xuất các biện

pháp phát triển kinh tế nhưng cần nhìn rõ sự thật “đừng khoát chiếc áo xa lạ lên lễ Hội

đua bò của đồng bào Khơme Bảy Núi, vì cái hồn của nó chính là bản sắc Khơme” [53,

tr.211]

Tác giả Ngô Văn Lệ trong Hội thảo khoa học về Lễ Hội đua bò Bảy Núi, An Giang, chỉ ra một khía cạnh nghiên cứu lễ hội nhìn từ tri thức bản địa Theo ông, người Khơme cư trú ở hầu hết các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, tập trung tại các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang Nhưng tại sao Hội đua bò lại chỉ xuất hiện ở vùng Bảy Núi? Sở dĩ vùng Bảy Núi là nơi khởi đầu của Hội đua bò là vì vùng này có điều kiện để phát triển chăn nuôi (chủ yếu là nuôi bò) Chăn nuôi không phải là hoạt động kinh tế chính, mà là nhằm đáp ứng nhu cầu sức kéo hàng ngày trong sản xuất nông nghiệp và cung cấp thực phẩm cho cộng đồng Ngày Lễ Dolta là lễ cúng ông

bà, là một trong những ngày lễ quan trọng của người Khơme Lễ Dolta lại trùng vào

Trang 16

dịp xuống giống vụ lúa ruộng (khoảng cuối tháng 8 đầu tháng 9 âm lịch) Những người nông dân-những tín đồ trong các phum sóc nhân dịp này bừa giúp ruộng nhà chùa Công việc này cùng với các công việc khác được thực hiện trong chùa gọi là làm công quả Khi bừa ruộng chùa, ai cũng có trách nhiệm làm hết sức mình, đã xuất hiện sự cạnh tranh giữa những người nông dân với nhau Để khuyến khích động viên mọi người, nhà chùa thường có phần thưởng cho những ai làm nhanh nhất, tốt nhất Mà muốn làm tốt công việc của mình, người nông dân ngoài việc có sức khỏe tốt, đòi hỏi đôi bò kéo bừa phải khỏe, mới mong hoàn thành được công việc tốt Sự tích lũy kinh nghiệm (tích lũy tri thức) trong lựa chọn giống tốt và kỹ năng chăm sóc đàn bò có chất lượng, không chỉ phục vụ sản xuất mà còn phục vụ cho các cuộc đua bò hàng năm, sẽ

là động lực cho những người chăn nuôi [53, tr.61-62] Từ nhận định của mình, ông đã chỉ ra nguồn gốc của Hội đua bò Bảy Núi riêng có ở An Giang và sự gắn kết của nó với

lễ của người Khơme

Nhiều bài viết nghiên cứu của các tác giả khác như Đinh Thị Dung “Lễ Hội đua

bò: Bản sắc vùng nhìn từ góc độ văn hóa du lịch” – xem xét hoạt động đua bò như một

nét đẹp mang đặc trưng bản sắc văn hóa vùng cần được quảng bá để phát huy giá trị của nó Tác giả Huỳnh Quốc Thắng thì nhấn mạnh việc cần thiết xây dựng Lễ Hội đua

bò An Giang thành loại hình trọng điểm du lịch vùng Tây Nam bộ [53, tr.250]

Các ý kiến của các nhà nghiên cứu nêu trên về Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi của người ở An Giang là những miêu tả và phân tích ý nghĩa quan trọng về Lễ Dolta và Hội đua bò của người Khơme vùng Bảy Núi và được tác giả luận văn kế thừa trong qua

trình khảo sát cũng như hoàn thành luận văn “Văn hóa của người Khơme tỉnh An

Giang qua Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi”

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Trang 17

Đây là phương pháp thu thập dữ liệu nền tảng của ngành nhân học, dân tộc học Thu thập thông tin bằng phương pháp này, người nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu bằng quan sát và quan sát có tham dự để hiểu được diễn trình của lễ và cảm nhận những tâm lý, tình cảm của người trong cuộc, chủ thể của lễ hội Để thực hiện đề tài này, tác giả đã trực tiếp tham dự Lễ Dolta và Hội đua bò của người Khơme Bảy Núi (vào năm 2014 – từ ngày 15/09/2014 đến ngày 24/09/2014) để tìm hiểu về không gian diễn ra lễ hội, sự chuẩn bị của đồng bào Khơme cho Lễ Dolta và Hội đua bò Tác giả

đã hòa vào đoàn người tham gia vào lễ hội, nhằm ghi nhận không khí của lễ hội, lắng nghe những ý kiến trao đổi, những nhận xét của chủ thể - người Khơme - và của những người tham dự là người thuộc các dân tộc khác Thông quan việc quan sát, tác giả luận văn miêu tả quan cảnh chuẩn bị và diễn tiến của lễ hội

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Thu thập thông tin từ phía thông tín viên là các cán bộ, lãnh đạo địa phương, ban

tổ chức hội thi đua bò, những người Khơme hiểu biết về phong tục tập quán nói chung

và Lễ Dolta – Hội đua bò của người Khơme vùng Bảy Núi để có cái nhìn toàn diện hơn trong quá trình nghiên cứu

Tác giả đã phỏng vấn các vị sãi Cả, các Acha (Acar) – Sãi Cả C.S.H (chùa Sà Lôn, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn), Acha C.P (chùa Lá, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn), Achar C.K (chùa Sà Lôn, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn), Achar C.Ph (xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên) để tìm hiểu về ý nghĩa, vai trò, chức năng của Lễ Dolta, Hội đua bò cũng như tìm hiểu sự biến đổi của lễ hội trong thời hiện đại, đặc biệt trong mười năm qua

Phỏng vấn các cán bộ lãnh đạo trong ngành văn hóa – thể thao, ngành du lịch hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên nhằm nắm bắt được kế hoạch hỗ trợ tổ chức và quản lý lễ hội của chính quyền địa phương cũng như kế hoạch biến Hội đua bò thành sản phẩm

du lịch (đã phỏng vấn các ông Phó Giám đốc Trung tâm TDTT huyện Tri Tôn, Giám

Trang 18

đốc Trung tâm TDTT huyện Tịnh Biên, ông Ch.Ch, người Khơme, Nguyên Phó giám đốc Trung tâm văn hóa huyện Tri Tôn, ông PTĐ Nguyên Giám đốc Trung tâm văn hóa huyện Tri Tôn)

Phỏng vấn một số chủ hộ nuôi bò thi đấu như C.C (xã núi Tô, huyện Tri Tôn, tham gia và đoạt giải 08 lần), Trần Văn Lấm (xã Lê Trì, huyện Tri Tôn, tham gia và đạt giải 04 lần), Trần Văn Cát (xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên, tham gia và đạt giải 05 lần) để thu thập thông tin về cách thức chăm sóc, huấn luyện bò cho việc tham gia thi đấu Các cuộc phỏng vấn này nhằm ghi nhận về nhận thức tầm quan trọng của cuộc đua trong cái nhìn của người tham gia Hội đua bò

- Phỏng vấn nhóm tập trung:

Xuất phát từ giả định rằng, giữa những người khác nhau về tuổi tác (thanh niên, trung niên, cao niên) có thể có những nhận thức khác nhau về ý nghĩa lễ hội, đánh giá khác nhau về tính tích cực hay tiêu cực trước những thay đổi trong cách thức tiến hành

và tổ chức lễ hội,… tác giả đã thực hiện 03 cuộc thảo luận nhóm với mỗi nhóm thuộc một nhóm tuổi riêng Nhóm thanh thiếu niên (16-19 tuổi, 9 người), nhóm trung niên (41-55 tuổi, 8 người) và nhóm cao niên (61-73 tuổi, 9 người) Từ đó, cho phép phân tích sự tương đồng và khác biệt trong nhận thức của người trong cuộc – người Khơme

An Giang - về ý nghĩa và tầm quan trọng của chủ thể của hội lễ thể hiện qua nhóm tuổi

5.2 Nguồn tư liệu

Để hoàn thành luận văn, ngoài phần tham khảo các công trình nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã thu thập các tài liệu thứ cấp (các báo cáo và số liệu thống kê của hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, của ngành du lịch tỉnh và huyện), nguồn tài liệu chính là tài liệu của chính tác giả thu thập từ các phương pháp thu thập dữ liệu nêu trên Những tài liệu này gồm nhật ký điền dã, biên bản phỏng vấn và các cuộc trao đổi có tính tình

cờ với người tham dự lễ Một phần dữ liệu này đã được đưa vào phần phụ lục

Trang 19

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc nghiên cứu Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi từ góc nhìn (1) chức năng cố kết cộng đồng của lễ hội và (2) văn hóa - du lịch để thấy những giá trị cốt lõi của lễ hội này nhằm tạo sự đồng cảm của cộng đồng đồng thời giúp cho công tác quản lý lễ hội Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa các tộc người và phát huy tiềm năng, lợi thế văn hóa địa phương trong phát triển du lịch nâng cao đời sống người dân địa phương đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể của người Khơme trên địa bàn Bảy Núi nói riêng và trong tỉnh An Giang nói chung

7 Bố cục luận văn

Luận văn dự kiến sẽ chia làm ba chương, ngoài phần dẫn nhập, kết luận và tài liệu khảo sát - tham khảo, kèm phụ lục (nếu có), cụ thể gồm:

Chương 1: Những tiền đề về lý luận và thực tiễn về lễ hội, trình bày những vấn

đề chung như các khái niệm về lễ, hội, lễ hội, di sản văn hóa phi vật thể, mối quan hệ giữa lễ và hội, chức năng của lễ hội cùng với các quan điểm của các tác giả trong nước

và quốc tế về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trong đó có lễ hội và tổng quan về người Khơme ở An Giang

Trang 20

Chương 2: Tổng quan về Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi, trình bày về nguồn

gốc, quá trình hình thành và phát triển cũng như ý nghĩa của Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi; có sự so sánh đối chiếu về diễn trình của lễ - hội trong truyền thống và hiện đại để tìm ra sự khác biệt trong cách tổ chức và nhận thức của cộng đồng đối với lễ- hội

Chương 3: Định hướng bảo tồn giá trị văn hóa của Lễ Dolta và Hội đua bò

Bảy Núi, đề xuất giải pháp bảo tồn thông qua việc tìm hiểu những vấn đề xung quanh

việc tổ chức và khai thác các giá trị văn hóa của lễ - hội trong hoạt động du lịch

Trang 21

Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm cơ bản

Tìm hiểu Lễ Dolta và Hội Đua bò của người Khơme vùng Bảy Núi (An Giang), tiếp cận theo hướng bảo tồn, một số khái niệm thường xuyên được sử dụng trong lãnh vực nghiên cứu này cũng như được sử dụng luận văn mà nội hàm cần được thống thống nhất Đó là các khái niệm, “lễ”, “hội”, “lễ hội” và “di sản văn hóa phi vật thể”

1.1.1 Lễ

Nguồn gốc của từ “lễ” xuất phát từ Trung Hoa vào thời Chu (thế kỷ XII trước Công nguyên), khi trong gia đình thị tộc Chu có việc cúng tế tổ tông thì dù là người trong hay ngoài thị tộc Chu đều phải nộp vật phẩm để tế lễ Theo Đoàn Văn Chúc, người trong thị tộc Chu gọi là nhân, người ngoài thị tộc Chu gồm có thứ nhân và dân, trong đó thứ nhân gồm thợ thủ công, nông dân tự do và người làm nghề tự do; còn dân chính là nô lệ [5, tr.126] Từ việc qui định nộp vật phẩm để tế lễ của thị tộc Chu, “lễ”

được hiểu là “hành vi cúng tế thần tổ tông, cầu phúc” [5, tr.127] Sau khi cúng tế, các

vật phẩm được chia cho mọi người tùy theo thứ bậc của nhân và vật phẩm nhiều hay ít, ngon kém cũng khác nhau Thông thường thì thứ nhân và dân không được hưởng sự chia phần như thế Với ý nghĩa phân chia các vật lễ thì ý nghĩa của “lễ” được mở rộng

là “lề lối phân chia sự đóng góp và hưởng thụ vật cúng tế” [5, tr.127] Về sau, “lễ”

được mở rộng phạm vi về ý nghĩa và bao quát mọi nghi thức ứng xử của xã hội, đó là các lễ trong quan, hôn, triều, sính, tang, tế, tân chủ, hương ẩm tửu, quân lữ…

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (2005), “lễ” được định nghĩa là “hệ thống các

hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có

Trang 22

khả năng thực hiện” [9, tr.14] Định nghĩa này vẫn chưa khái quát được đối tượng mà

chủ thể hướng đến để thực hành lễ

Tác giả Đoàn Văn Chúc (Văn hóa học, 1977) cho rằng “lễ là hình thức biểu thị

quan hệ giữa con người với môi sinh tự nhiên của nó” và “lễ là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội hay tự nhiên, hư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại, được thực hành theo nghi điển rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ và diễn đạt thái độ của công chúng hành lễ” [5, tr.131]

Khái niệm đã khái quát được các dạng thức của “lễ” và ý nghĩa của “lễ” đối với đối

tượng và người hành lễ Trong đó, “lễ” được đặt trong mối tương quan giữa lễ, tết và

hội

Tiếp theo đó, Lê Ngọc Canh (1999) đã có bổ sung về môi trường và phạm vi diễn

ra lễ hội, đó là làng hay nói một cách tổng quát là ở một “đơn vị cư trú” mang tính tự

quản: “Lễ là một hệ thống nghi thức, một hệ thống hành vi, động tác, sự kiện có định

ước, quy cách chặt chẽ và ổn định theo lệ làng” [4, tr.524] Nhưng tác giả chỉ đề cập

đến đối tượng lễ là “thần linh” hoặc “lực lượng siêu nhiên trở thành thần linh” mà bỏ qua những đối tượng là “ông bà” hay “tổ tiên” hoặc một hiện tượng xã hội mà con

người tôn kính Cùng quan niệm với Lê Ngọc Canh, nhưng Trần Ngọc Thêm (Tìm về

bản sắc văn hóa Việt Nam, 1996) còn đi vào phân loại lễ khi xếp lễ thuộc vào phong tục và chú ý đến tính mục đích của lễ là nhằm để tạ ơn thần linh đã bảo trợ cho con người Tương tự như hai tác giả trên, Thuận Hải (2006) đưa ra định nghĩa “Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân

họ chưa có khả năng thực hiện” [8, tr.5], nhấn mạnh hơn tính mục đích của lễ

Từ những định nghĩa của các tác giả, chúng tôi nhận thấy rằng lễ là một phong

tục mang tính cộng đồng, là những hành vi, thái độ của con người để bày tỏ thái độ tôn

Trang 23

kính đối với các hiện tượng tự nhiên hay xã hội; thông qua lễ con người bày tỏ nguyện vọng của mình đồng thời nhằm biểu dương những giá trị của đối tượng được cử lễ

1.1.2 Hội

Trong dân gian vẫn hay dùng cụm từ “vui như hội” để diễn tả sự vui tươi, nhộn nhịp của một đám đông đang tổ chức những trò chơi tập thể Dù xuất hiện từ lâu, nhưng khái niệm “hội” vẫn còn chưa được hiểu và sử dụng một cách nhất quán Có ý kiến cho rằng “hội” được hiểu là “đám vui đông người” [5, tr.129], nghĩa là “hội” phải

là nơi tập trung đông người và mang yếu tố vui chơi, giải trí Cùng quan điểm này, tác

giả Trần Ngọc Thêm cho rằng “hội bao gồm những trò chơi hết sức phong phú” [34,

tr.275], còn tác giả Trần Quốc Vượng thì cho rằng “hội” còn bao gồm trò diễn và trò chơi [44, tr.98] Không nhất trí với quan niệm “hội” chỉ là nơi vui chơi của số đông với các trò chơi và trò diễn, Đoàn Văn Chúc cho rằng để đảm bảo là “hội” thì phải có ba yếu tố: (1) hội phải liên quan đến một sự kiện của cộng đồng xã hội, (2) hội phải mang tính cộng đồng và (3) hội nhất thiết phải có các trò vui Với quan điểm đó, Đoàn Văn

Chúc đã đưa ra định nghĩa về “hội” như sau “Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt

động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một

sự kiện xã hội hay tự nhiên, nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỷ của công chúng dự lễ” [5, tr.132]

Một cách cụ thể hơn, Từ điển bách khoa (2005) có nêu khái niệm về hội “Hội là

sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay, quy tụ vào bốn chữ “nhân khang vật thịnh” [9, tr.14] Theo đó, “hội” không chỉ là tập hợp các trò vui mà còn là một nét

sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xã hội nhằm thỏa mãn các nhu cầu về giải trí, cầu an và mang ý nghĩa phồn thực Như vậy, các cuộc vui của hội phải

Trang 24

thỏa mãn nhu cầu tinh thần cho mọi thành viên trong cộng đồng về tư cách tổ chức lẫn mục đích

Ngoài các cách hiểu khái niệm “hội” như trên, một số tác giả trong các công trình nghiên cứu cũng đề cập đến hội một cách khá trừu tượng, tiêu biểu có hai tác giả Thu Linh và Đặng Văn Lung Hai tác giả này tập trung vào vai trò của hội khi xem “hội là một đối tượng khoa học thật sự có ích…đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, đã ăn nhập vào ký ức thẩm sâu của dân tộc” [20, tr.59] Hai tác giả trình bày sự

tách biệt của lễ, tết, hội trong mối tương quan của ba yếu tố này và khẳng định hội có

một số đặc trưng riêng biệt mà không thể xem lễ hay tết thành là hội được Tuy nhiên, hai tác giả vẫn chưa nêu được khái niệm hội một cách rõ ràng

Tóm lại, có thể hiểu hội vừa là các hoạt động vui chơi, giải trí của một cộng đồng

người có liên quan đến một sự kiện nào đó, để đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng; thông qua hội, con người thể hiện ước vọng về sự sinh sôi nảy nở, cầu mưa thuận gió hòa, nhân khang vật thịnh Cách hiểu trên được chúng tôi sử dụng để xem

xét yếu tố “hội” trong luận văn này

1.1.3 Lễ hội - Mối quan hệ giữa lễ và hội

Như trên đã trình bày, lễ và hội là hai khái niệm độc lập chỉ hai hiện tượng khác nhau nhưng có mối quan hệ nhất định với nhau Trong thực tế cuộc sống lễ và dưới các hình thức tồn tại của văn hóa, lễ và hội thường được kết hợp với nhau Chính vì vậy chúng ta có khái niệm “lễ hội” và có khi được dùng là “hội lễ” Cho đến nay, trong giới nghiên cứu vẫn chưa nhất quán trong cách sắp xếp trật tự của cụm từ trong khái niệm

“lễ hội” hay “hội lễ” Có tác giả gọi là “Hội lễ” như tác giả Đinh Gia Khánh (Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, 1994), có tác giả dùng từ “Lễ hội” như tác giả Lê Trung Vũ (Lễ hội Việt Nam, 2005), Hoàng Lương (Lễ hội truyền thống và tín ngưỡng dân gian của các dân tộc ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), 2002), Cao Đức Hải (Giáo trình quản lý lễ hội và sự kiện, 2010),…Tác giả Bùi Thiết (Từ điển lễ hội Việt

Trang 25

Nam, 1993) cho rằng khi phần hội phong phú hơn thì gọi là “Hội lễ”, khi phần lễ lấn át thì gọi là “Lễ hội” Cách gọi “lễ hội” về cơ bản đã đi vào đời sống văn hóa ở nước ta và

theo uyết định số – BVHTT ngày của Bộ Văn hóa – Thông

tin về việc ban hành quy chế tổ chức lễ hội cũng sử dụng cụm từ lễ hội Vì vậy, trong

luận văn này chúng tôi sử dụng từ lễ hội

Lễ hội là một trong các thành tố văn hóa cấu thành nên văn hóa tộc người Mỗi tộc người đều có những lễ hội độc đáo riêng, góp phần làm nên bản sắc văn hóa riêng của tộc người Đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra khái niệm về lễ

hội Tác giả Alessandro Falasi cho rằng “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu

thị thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống Là một hoạt động hết sức phổ biến, lễ hội có thể là sự kiện có tính tượng trưng và tính xã hội phức tạp nhất, tồn tại lâu đời trong truyền thống” [35, tr.131] Với Alessandro Falasi, lễ hội là sự kiện mang tính định kỳ và đảm

bảo các nội dung về hành lễ, diễn xướng, nghi lễ, trò chơi Dưới góc độ nghiên cứu lễ hội là bộ phận của khoa học xã hội, Alessandro Falasi chú trọng đến sự tác động trực tiếp và gián tiếp của lễ hội đến hệ tư tưởng, thế giới quan của một cộng đồng và xem

đó là nền tảng tạo nên bản sắc xã hội của cộng đồng Ông khái quát điều này trong

nhận định “festival có nghĩa là một hoạt động kỷ niệm định kỳ bao gồm vô số các hình

thức và các sự kiện nghi lễ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến tất cả các thành viên của một cộng đồng và công khai ngấm ngầm biểu lộ các giá trị cơ bản, hệ tư tưởng và thế giới quan của các thành viên trong cộng đồng đó, và là nền tảng bản sắc xã hội của họ” [35, tr.131] Tương tự Alessandro Falasi, nhà nghiên cứu M Bakhtin cho rằng

“Thực chất lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động, chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên, bản thân cuộc sống không thể trở thành lễ hội được nếu như chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng vượt lên trên thế giới của phương tiện và điều kiện tất yếu; đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly

Trang 26

tạm thời thực tại, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả” [31, tr.320] M Bakhtin nâng lễ hội lên một ý nghĩa cao hơn,

đó là sự lao động và chiến đấu của cộng đồng và nó trở nên thần thánh, lý tưởng thông qua sự liên kết của thế giới tâm linh Tiếp theo M Bakhtin, nhà nghiên cứu người Nhật

là Kurahayashi nhận thấy sự phản ánh của lễ hội đối với sự phát triển của văn hóa và vì

vậy đã có định nghĩa lễ hội như sau: “Xét về tính chất xã hội của lễ hội, lễ hội là quảng

trường tâm hồn; xét về tính chất văn nghệ, lễ hội là cái nôi sinh sản và nuôi dưỡng nghệ thuật, mỹ thuật, nghệ thuật giải trí, trò diễn và với ý nghĩa đó, lễ hội tồn tại và có liên hệ mật thiết với sự phát triển của văn hóa” [31, tr.320]

Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đã có nhiều định nghĩa về lễ hội Theo tác

giả Dương Văn Sáu thì “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên

một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên – thần thánh và con người trong xã hội” [28, tr.35]

Định nghĩa của tác giả đã xác định thời gian và không gian của lễ hội đồng thời nhấn mạnh lễ hội là một sự kiện của cộng đồng nhằm biểu hiện thái độ của con người với tự nhiên và giữa con người với nhau trong xã hội Cùng quan điểm với Dương Văn Sáu,

tác giả Nguyễn Minh Tuệ đã cụ thể hơn quan điểm của mình trong khái niệm “Lễ hội

là hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống hiện tại chưa giải quyết được” [39, tr.71] Trong định nghĩa của mình về lễ hội, Nguyễn Minh

Tuệ, còn cụ thể hóa các sự kiện của lễ hội như ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, giải quyết lo âu bên cạnh thể hiện ước vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn Quan điểm của Nguyễn Minh Tuệ là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu những lễ hội về thờ cúng tổ

Trang 27

Từ những quan niệm, những định nghĩa có những tương đồng và khác biệt về lễ

hội của các tác giả trên thế giới và Việt Nam ta có thể thấy rằng lễ hội là một hình thức

sinh hoạt văn hóa cộng đồng gắn với yếu tố tâm linh, diễn ra trên một địa bàn dân cư trong một thời gian và không gian xác định, xoay quanh hai phần cơ bản có quan hệ hữu cơ với nhau là Lễ và Hội

Một vấn đề luôn được đặt ra khi nghiên cứu về lễ hội, đó là nghiên cứu lễ hội

theo một chỉnh thể thống nhất luôn đi cùng nhau hay là hai “cá thể” tách biệt nhau “lễ”

và “hội” Một số tác giả cho rằng cần phải đặt lễ trong mối tương quan với hội khi sử dụng thuật ngữ lễ hội Trần Quốc Vượng (Cơ sở văn hóa Việt Nam, 1998), Hồ Hoàng Hoa (Lễ hội-Một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, 1998), hoặc nghiên cứu

trong mối tương quan giữa ba khái niệm “lễ-tết-hội” (Đoàn Văn Chúc, 1997) Tác giả

Đoàn Văn Chúc còn cho rằng trong xã hội nông nghiệp thì không có sự phân biệt rõ giữa lễ, tết và hội mà chúng thường thâm nhập vào nhau khi thì cặp đôi “lễ tết”, “lễ hội” hoặc khi thì cặp ba “lễ-tết-hội” Tác giả Trần Ngọc Thêm thì chia lễ hội thành hai phần: phần lễ và phần hội, trong đó phần lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình còn phần hội là các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú [34, tr.154] Cả phần lễ và phần hội đều thống nhất trong khái niệm lễ hội Hầu hết các tác giả kể trên đều xem xét lễ hội là một thể thống nhất gồm hai mặt là lễ và hội, có

lễ thì tất yếu phải có hội và ngược lại Tác giả Lê Ngọc Canh cũng bổ sung có trường hợp chỉ có lễ mà không có hội như lễ chùa, lễ đền, lễ phủ….nhưng theo tác giả nếu sử dụng từ lễ hội thì nhất định phải có phần lễ và phần hội [4, tr.530] Tuy nhiên, thực tế hiện nay có một số hội bao gồm phần lễ nhưng chỉ được gọi là hội như hội Gióng, hội chọi trâu Đồ Sơn… bởi vì có lẽ phần lễ thường diễn ra ngắn và hoạt động của hội giữ vai trò chủ đạo, phần hội vẫn là yếu tố thu hút cư dân từ các cộng đồng (làng, đơn vị cư trú) đến tham dự nhiều hơn

Trang 28

Trong luận văn này, khi nghiên cứu về Lễ Dolta và Hội đua bò tác giả nhận thấy

lễ và hội có nguồn gốc và thời gian hình thành không giống nhau, đối tượng hướng đến của lễ và hội cũng khác nhau Tuy nhiên, Lễ Dolta và Hội đua bò có một số yếu tố gắn

bó về tự nhiên và xã hội để có thể nghiên cứu như hai bộ phận cấu thành của lễ hội

Vào khoảng tháng 8 âm lịch hàng năm khi nước lũ chuẩn bị rút, đồng bào Khơme tổ chức Lễ Dolta truyền thống để tưởng nhớ tổ tiên, ông bà Các tín đồ người Khơme thường tập trung tại các chùa để cúng bái cầu phước cho ông bà; cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu Bên cạnh việc đi chùa lễ Phật, người Khơme cũng tổ chức nhiều hoạt động vui chơi đặc biệt là Hội đua bò được diễn ra vào những ngày cuối tháng Thời điểm đồng bào Khơme tổ chức Lễ Dolta là lúc mùa màng đã thu hoạch xong, người nông dân có nhiều thời gian nghỉ ngơi, lấy lại thể lực và tinh thần để chuẩn bị cho mùa vụ mới Hội đua bò được tổ chức vào dịp Lễ Dolta như là một hình thức giúp người nông dân giải trí sau những ngày làm việc cực nhọc Bên cạnh đó, khi nước lũ rút thì đất ở ruộng trên còn xâm xấp nước nên thuận lợi cho bò chạy đua, điều này khó có được vào những mùa khác trong năm Do đó, dù Hội đua bò xuất hiện sau

và trùng hợp vào dịp Lễ Dolta nhưng Hội đã trở thành một bộ phận gắn bó với Lễ Dolta Sự gắn bó giữa Lễ Dolta và Hội đua bò đã làm nên nét đặc trưng văn hóa khác biệt của người Khơme vùng Bảy Núi so với người Khơme các vùng khác ở Nam bộ Người Khơme ở vùng sông nước như Trà Vinh, Sóc Trăng có Hội đua ghe ngo gắn với

Lễ Ok Om Bok, chỉ duy nhất ở An Giang là Hội đua bò gắn với Lễ Dolta Vì vậy, việc nghiên cứu Hội đua bò và Lễ Dolta không nên tách rời để có cái nhìn toàn diện hơn về nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Khơme ở vùng Bảy Núi

1.2 Chức năng của lễ hội

Từ khi xuất hiện, lễ hội đã giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của

những cư dân nông nghiệp Đoàn Văn Chúc đã cho rằng “chừng nào một xã hội còn là

nông nghiệp thủ công thì lễ-tết-hội ở đó còn được thực hành với tư cách là sự thỏa

Trang 29

mãn một nhu cầu văn hóa toàn diện” [5, tr 238] Vậy trong quá trình tồn tại và phát

triển, lễ hội đã thực thi những chức năng gì đối với cộng đồng để nó có thể giữ vững vị trí trong đời sống tinh thần của cộng đồng? Chức năng của lễ hội được các tác giả Đoàn Văn Chúc (1997), Lê Ngọc Canh (1999), Đặng Văn Lung (2005), Cao Đức Hải (2010) khái quát gồm có chức năng liên kết cộng đồng, chức năng giáo dục, chức năng giải trí, chức năng phản ánh, sáng tạo và truyền bá các giá trị văn hóa

- Chức năng liên kết cộng đồng

Như các định nghĩa đã nêu về lễ hội cho thấy thực chất của lễ hội là một đám đông vui chơi, gồm nhiều trong cộng đồng tham gia và nếu không có nhiều người tham

dự thì không được gọi là lễ hội Mọi người tham gia lễ hội với tâm lý thoải mái, hoàn

toàn tự nguyện hòa mình vào không khí của lễ hội Tác giả Cao Đức Hải cho rằng “tại

không gian lễ hội, mọi người dường như quên đi những khoảng cách về địa lý, dân tộc, địa vị xã hội, những hiềm khích thường ngày để cùng chơi, cùng làm việc, cùng hướng

về một cõi linh thiêng nào đó” [9, tr.15] Tại lễ hội, tính cộng đồng có thể nói được thể

hiện rõ nhất vì mỗi người với một ý thức tự giác cùng góp công, góp sức để hoàn thành tốt các công việc của lễ hội Sở dĩ mỗi người tham gia lễ có được sự ý thức tự giác đó

vì trong cùng một không gian và thời gian, cả cộng đồng cùng hướng về cái thuộc về cộng đồng và mỗi cá nhân đều tự hào là mình cũng là một chủ sở hữu Chính vì cái chung mà mỗi người đều sở hữu nên ai cũng ra sức chăm lo mà quên đi những hiềm khích, đố kỵ nhỏ nhặt thường ngày Nhờ vậy, qua lễ hội người ta có thể nhìn thấy được sức mạnh của cộng đồng, sự đoàn kết, gắn bó giữa các cá nhân thành một khối thống nhất

Theo Đoàn Văn Chúc “đằng sau và bên trong cái linh thiêng, huyền bí vốn bao

phủ mọi lễ hội trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, người ta thấy lễ hội có tính cứu cánh trần tục của nó” [5, tr.133] Tính cứu cánh của lễ hội đã gắn bó các nhóm người

lại với nhau hay nói cách khác lễ hội là chất keo kết dính các cá nhân gắn bó với nhau

Trang 30

So với lễ gồm những nghi thức cứng nhắc bắt buộc con người phải hoàn thành, thì hội mang tính mềm dẻo hơn với những cuộc ăn uống, vui chơi là nơi cộng đồng mở rộng lòng mình để hòa nhập vào không khí chung Có thể nói, chức năng liên kết cộng đồng

của lễ hội là chức năng quan trọng nhất và mang tính đặc thù mà “không có hình thức

biểu tượng nào khác có thể đem lại hiệu quả ấy như thế” [5, tr.134]

- Chức năng giải trí

Khi đến với lễ hội, hầu hết người tham dự đều mong muốn trước hết là được vui chơi thoải mái, tạm quên những công việc hàng ngày để có những ngày nghỉ ngơi, thư giãn Khoảng thời gian của lễ hội được xem là thời gian đặc biệt của cộng đồng vì họ

có thể làm những việc mà thường ngày họ không làm hoặc không làm những việc mà

thường ngày làm, điều này được Alessandro Falassi xem là “sự hoán vị tượng trưng và

sự cường điệu” [36, tr.132] mà chỉ ở lễ hội mới có Sự cường điệu được thể hiện qua

từng chi tiết của lễ như nghi trượng, nghi vật, nghi trình, nghi phục đều chỉ để dành cho cuộc lễ Ngoài những yếu tố vật chất của lễ, yếu tố tinh thần của người tham gia lễ cũng được thể hiện khác với ngày thường, họ có thể vui hơn, nói chuyện với nhau thoải mái hơn, không dè chừng hay mực thước Cuộc sống của cộng đồng trong ngày những ngày lễ hội dường như bị xáo trộn, một cuộc sống “vô trật tự”, “thái quá” nhưng lại trong khuôn khổ cho phép [5, tr.136] Người tham dự lễ chính là tham dự vào sự khác biệt ngày thường đó như một nhu cầu giải phóng khỏi cuộc sống được lặp đi lặp lại hàng ngày Khi đó, con người được tự do về tinh thần, thoát khỏi những lo lắng thường nhật

Đối với xã hội nông nghiệp cổ truyền, khi hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên thì nhu cầu giải trí của cộng đồng càng cao và thời gian càng kéo dài Một số vùng mà cư dân có khoảng thời gian vui chơi lễ hội kéo dài một tháng hoặc hai tháng với nhiều hoạt động diễn ra từ ngày này sang ngày khác Phần chiếm nhiều thời gian nhất trong lễ hội chính là phần hội và hội cũng là phần sôi nổi, hào

Trang 31

hứng, thu hút người tham dự nhiều nhất Sự đa dạng, phong phú của các trò chơi trong hội cùng với tính chất tranh tài, thử thách và mua vui đã giúp người tham dự hội có

được những giây phút giải trí thật sự Vì thế, Lê Ngọc Canh cho rằng “những trò chơi,

những trình diễn nghệ thuật đó chính là đem lại ý nghĩa giải trí của lễ hội” [4, tr.542]

- Chức năng giáo dục

Theo Cao Đức Hải “lễ hội là một hệ thống giáo dục độc đáo gắn bó với toàn bộ

hệ thống giáo dục trong cộng đồng, thường xuyên tác động đến con người, phải ánh nhân sinh quan, đạo đức, phong tục tập quán, quan điểm thẩm mỹ của xã hội” [9,

tr.14] Thông qua lễ hội, con người được tiếp nhận những tri thức về những nghi thức của lễ, ý nghĩa của từng nghi thức và cảm nhận được các giá trị tốt đẹp mà lễ hội mang lại Nghi thức của các lễ hội truyền thống thường thể hiện rõ qua các bài văn tế, bài khấn và được truyền cho thế hệ sau để thực hành chức năng giáo dục của lễ Người tham dự trực tiếp vào lễ hội còn được truyền cái tinh thần của lễ hội, hay còn gọi là cái

“hồn” của lễ hội mà không có một phương tiện truyền thông nào có thể chuyển tải chính xác được Lễ hội cũng góp phần giáo dục lòng tự hào cho cộng đồng, ý thức tôn trọng các giá trị truyền thống của thế hệ trước để lại Khi tham gia hội, mỗi người tự nhận thấy được cái linh thiêng, sự thành kính qua các nghi lễ và từ đó thêm niềm tự hào đối với nền văn hóa dân tộc Như vậy, chức năng giáo dục của lễ hội thể hiện chủ yếu qua việc truyền dạy những nghi thức của lễ và ý thức tôn trọng, thành kính đối với các đối tượng được suy tôn của người tham gia lễ hội với tư cách là người xem, người

tổ chức

- Chức năng phản ánh, bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hóa

Lễ hội là sự thể hiện ước vọng, tâm tư, tình cảm của cộng đồng đối với một đối tượng tự nhiên hay xã hội do đó thông qua lễ hội, hiện thực cuộc sống được tái hiện đầy sinh động và hấp dẫn Trong từng lễ hội, người ta có thể nhận thấy được các đặc điểm văn hóa như tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của từng dân tộc Những

Trang 32

điệu múa, câu ca, tiếng hát hay những trò chơi dân gian cũng thể hiện được đặc trưng

văn hóa của dân tộc Vì vậy, Lê Ngọc Canh cho rằng “lễ hội là bức tranh hoành tráng

tái hiện hiện thực cuộc sống rất sinh động và hấp dẫn, hàm chứa bản sắc văn hóa của từng làng, xã, bản, mường, phum sóc, buôn làng, plây…của toàn cộng đồng” [4,

tr.543]

Lễ hội còn là môi trường thuận lợi để bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hóa của cộng đồng Lễ hội làm cho mọi người trong cộng đồng gắn bó với nhau vì thế khi lễ hội còn tồn tại thì sự cố kết cộng đồng còn được duy trì Ngoài ra, những trò chơi dân gian, các trò diễn hay các hình thức nghệ thuật dân gian được thể hiện trong lễ hội cũng được lưu giữ cho thế hệ sau nếu như lễ hội còn tồn tại Khi tham gia lễ hội, ngoài những nghi thức cử hành lễ, phần hội được xem là phần hấp dẫn người tham dự nên các hoạt động trong hội luôn được duy trì để thỏa mãn nhu cầu giải trí của cộng đồng

Lễ hội của mỗi cộng đồng ẩn chứa trong nó vừa có yếu tố thiêng vừa mang đậm bản sắc văn hóa tộc người nên luôn được các cộng đồng bảo vệ để không bị mất đi Khi điều kiện giao lưu tiếp xúc giữa các cộng đồng người ngày càng thuận lợi thì không gian lễ hội là nơi tạo điều kiện để các cộng đồng truyền bá những nét văn hóa đặc sắc của mình Mỗi người khi đến tham dự đều có thể là một phương tiện để lan truyền những điểm đặc sắc, độc đáo của lễ hội mà họ cảm nhận được

Nếu như các thành tố văn hóa như ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật tạo hình chỉ phản ánh một khía cạnh của cuộc sống thì lễ hội lại là một thành tố phản ánh đa dạng hơn cả Lễ hội vừa có những bài văn tế, bài khấn mang đặc điểm của ngôn ngữ và văn chương, vừa có vô số loại hình diễn xướng và còn bao gồm cả hoạt động vui chơi thể thao tranh tài Chính vì sự thể hiện đa dạng cuộc sống mà lễ hội là có thể thực hiện nhiều chức năng hơn các thành tố khác Qua lễ hội, người tham dự được gắn bó với nhau hơn qua sự liên kết cộng đồng, con người được rèn luyện ý thức tôn

Trang 33

trọng các giá trị truyền thống, đồng thời lễ hội cũng là nơi gặp gỡ, giao lưu và trao đổi văn hóa giữa các cộng đồng người với nhau

1.3 Di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa được hiểu là toàn bộ tài sản, tất cả những gì thế hệ trước sáng tạo

và để lại cho thế hệ sau Di sản văn hóa thường được chia thành hai bộ phận là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Tại cuộc họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-

9 đến 17-10-2003, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc, gọi tắt

là UNESCO đã bản thảo và ra Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, trong đó

đưa đã đưa ra định nghĩa về văn hóa phi vật thể như sau “Di sản văn hóa phi vật thể

được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan

mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản của họ ược chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo

để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua

đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” Công ước cũng nêu rõ một số hình thức thể hiện của di sản văn hóa phi vật thể,

bao gồm các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu; nghệ thuật trình diễn; tập quán xã hội, tín ngưỡng và lễ hội; tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; nghề thủ công truyền thống

Ở Việt Nam, thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” lần đầu sử dụng trong Luật di

sản văn hóa (2001) “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử,

văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng,

Trang 34

diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” Sau đó, năm 2009 Luật sửa đổi bổ

sung của Luật di sản đã định nghĩa một cách ngắn gọn “di sản văn hóa phi vật thể” như

sau “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá

nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”

Như vậy, di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các thành quả về tinh thần do cộng đồng hoặc cá nhân sáng tạo ra, được truyền miệng từ thế hệ trước cho thế hệ sau

và phải thể hiện được những đặc trưng nhất của cộng đồng Qua định nghĩa có thể thấy rằng, di sản văn hóa phi vật thể là tài sản tinh thần quí báu của mỗi quốc gia, được gìn giữ và lưu truyền theo suốt quá trình hình thành và phát triển của quốc gia Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng sinh sống và đã sáng tạo ra nhiều giá trị văn hóa phi vật thể cho quốc gia và nhân loại Điều đó cho thấy việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể là việc làm cần thiết và cấp bách để hướng tới việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

1.4 Quan niệm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa phi vật thể có đặc điểm là được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác và là sản phẩm của đời sống tinh thần của cộng đồng nên việc lưu giữ và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể cần được xem xét trên một nền tảng pháp

lý vững chắc Theo Công ước Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO thì để bảo vệ di

sản văn hóa phi vật thể bằng các biện pháp như “nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu,

bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao”, có nghĩa là vừa xác định các giá trị

Trang 35

văn hóa phi vật thể để bảo tồn đồng thời cũng có những biện pháp để củng cố và phát huy các giá trị ấy

Do một số điều kiện khách quan và chủ quan mà hoạt động bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam có phần muộn hơn so với di sản văn hóa vật thể Nhưng từ khi Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO ra đời năm 2003 đã tạo cơ sở pháp lý cho Việt Nam đẩy mạnh quá trình nhận thức và hành động bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia thông qua việc ban hành Luật di sản vào năm 2001 Luật

di sản của Việt Nam đã cụ thể hóa các biện pháp vào tình hình thực tế của Việt Nam trong chương III về Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, theo đó điều

20 nhấn mạnh “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết

để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền”, song song với bảo vệ thì điều 22 qui định cần “bài trừ những hủ tục có hại đến đời sống văn hóa của nhân dân” Góp phần hoàn chỉnh thêm các qui định về

bảo vệ di sản văn hóa, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP “Qui định chi tiết thi hành một số

điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa” đã qui định trong điều 3 đối với di sản văn hóa phi vật thể cần phải “sưu tầm, lưu giữ và phổ biến giá trị di sản văn hóa phi vật thể; thành lập ngân hàng dữ liệu về di sản văn hóa phi vật thể” và “khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp về tinh thần và vật chất hoặc trực tiếp tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa” Có thể thấy, trong Luật di

sản đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với việc bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể, đó là bảo tồn trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của Việt Nam Quan điểm này được Đảng và Nhà nước quán triệt trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (28/6-1/7/1996) về

Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đó là “Bảo tồn

và phát huy những di sản vǎn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị vǎn

Trang 36

hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội”

Việt Nam có sự đa dạng về các thành phần dân tộc đã tạo ra một hệ thống các di sản văn hóa phi vật thể, đóng góp vào kho tàng di sản của nhân loại Di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiếu số đang đứng trước nguy cơ bị mai một do quá trình phát triển xã hội Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trên cơ sở của Luật di sản và Luật sửa đổi bổ sung luật di sản, nhiều chính sách về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số đã được ban hành Trong đó, Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/07/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” đã cho thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với việc bảo vệ các di sản văn hóa của dân tộc

thiểu số Với mục tiêu là “bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân

tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt chú trọng địa bàn các dân tộc có nguy cơ bị biến dạng văn hóa cao (các dân tộc rất ít người không có điều kiện tự bảo

vệ văn hóa của mình; bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới, hải đảo, khu vực tái định cư của các thủy điện)”, đề án tiến tới việc “đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số kết hợp với các chương trình phát triển kinh tế, phát triển nghề thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng kết hợp với xóa đói giảm nghèo”

Một trong những yếu tố của di sản văn hóa phi vật thể có liên quan đến đời sống tâm linh, tín ngưỡng của dân tộc và thể hiện rõ quá trình phát triển của dân tộc về mặt tinh thần là lễ hội Lễ hội đã luôn chiếm một vị trí đặc biệt trong tất cả các nền văn hóa của các quốc gia Là một quốc gia có bề dày lịch sử hơn 4000 năm, Việt Nam có hàng ngàn lễ hội lớn, nhỏ với các mục đích tổ chức khác nhau Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lễ hội Việt Nam trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ về số lượng với các lễ hội hiện đại mới hình thành, bên cạnh đó cũng xuất

Trang 37

hiện các yếu tố tiêu cực có nguy cơ ảnh hưởng đến các giá trị truyền thống của dân tộc Trên cơ sở bảo tồn gắn với kế thừa và phát huy, việc bảo tồn lễ hội cần xác định những giá trị nào là truyền thống và những giá trị nào vừa nảy sinh để từ đó đề ra phương hướng và biện pháp đúng đắn Việc xác định giá trị kế thừa, phát huy và giá trị lạc hậu

để loại bỏ là một vấn đề khó khăn do lễ hội là phần tinh thần của dân tộc, phát triển theo chiều dài lịch sử của dân tộc và cũng chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện xã hội Do

đó, trong việc chắt lọc cần phải “chủ động và tinh tường tháo gỡ, bóc tách các yếu tố

cộng sinh xa lạ, để cứu lấy cái hạt nhân dân gian chân chất, hồn hậu vốn có, đặng đưa

nó gia nhập vào kho tài sản văn hóa tinh thần chung của dân tộc” [48, tr.106]

Từ những phân tích trên, ta thấy rằng di sản văn hóa phi vật thể được xem như là linh hồn, cốt cách của một dân tộc Qua di sản văn hóa phi vật thể chúng ta có thể nhìn thấy được đời sống tâm tư, tình cảm cũng như toàn bộ các giá trị tinh thần mà dân tộc sáng tạo trong quá trình phát triển Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể phải được thực hiện cấp bách và lâu dài trên quan điểm kế thừa những cái tốt đẹp

và loại bỏ những cái tiêu cực, lạc hậu Đó cũng là quan điểm phù hợp với việc bảo tồn các giá trị lễ hội các dân tộc ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

1.5 Tổng quan về người Khơme ở An Giang

1.5.1 Tổng quan vùng đất An Giang

An Giang là một tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, một vùng đất trù phú nằm ở hạ lưu sông Mêkông có lịch sử lâu đời gắn với lịch sử khẩn hoang vùng đất Nam bộ Cùng với lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam bộ, tỉnh An Giang cũng đã được hình thành và trải qua nhiều giai đoạn biến đổi Dưới thời vua Minh Mạng (1832), thông qua một cuộc cải cách hành chính, An Giang chính thức trở thành một trong sáu tỉnh Nam Kỳ Lúc mới thành lập, tỉnh An Giang gồm có hai phủ là Tuy Biên và Tân Thành với bốn huyện là Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên và Vĩnh An Sau nhiều lần sáp nhập, đến năm 1853 thì An Giang có tổng cộng ba phủ và mười huyện, có thể thấy An

Trang 38

Giang dưới triều Nguyễn là một vùng đất rộng lớn Đến thời Pháp thuộc, địa giới hành chính của Nam kỳ được thực dân Pháp thiết lập cho phù hợp với chính sách cai trị Cụ thể, “tỉnh An Giang chia thành năm hạt (sau đổi hạt thành tỉnh) là Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng và Sa Đéc” [12, tr.27] Sau năm 1945, địa giới hành chính

An Giang có sự điều chỉnh là Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ chia Long Xuyên, Châu Đốc thành hai tỉnh mới là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu, lấy sông Hậu làm ranh giới Đến năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền nhập thêm Sa Đéc gọi là Long Châu Sa, tỉnh Long Châu Hậu nhập thêm Hà Tiên gọi là Long Châu Hà Dưới thời chính quyền Sài Gòn, ranh giới tỉnh An Giang cũng có lúc sáp nhập hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc (1956) và cũng có lúc tách ra thành hai tỉnh An Giang và Châu Đốc (1964) Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, theo quyết định 49/QĐ của Bộ Chính trị (20/12/1975) thành lập tỉnh An Giang trên cơ sở tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc cũ, tỉnh lỵ đặt tại Long Xuyên Hiện nay, An Gang có các đơn vị hành chính trực thuộc như sau: thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, và chín huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu, An Phú, Châu Phú, Tịnh Biên và Tri Tôn với 150 đơn vị hành chính cơ sở

So với các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long thì An Giang có địa hình khá độc đáo và khác biệt, đó là những dãy đồi và núi mọc lên giữa đồng bằng rộng bị chia cắt bởi một hệ thống sông, kênh, rạch xen kẽ nhau Đồng bằng ở An Giang có hai loại

là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi, hầu hết đều đã được khai phá để trồng lúa, màu, cây ăn quả…Đồi núi ở An Giang gồm nhiều đỉnh nhưng thường được gọi dưới cái tên Thất Sơn (Bảy Núi) như là một con số ước lệ, núi ở đây có “số lượng là 37 núi với hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau được phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km khởi đầu từ xã Phú Hữu huyện An Phú và kết thúc ở thị trấn Núi Sập huyện Thoại Sơn” [52, tr.117] Về sông ngòi, An Giang có hai con sông lớn chảy qua

là sông Tiền và sông Hậu, đây là hai nhánh lớn của hạ lưu sông Mêkông nên có thể nói

Trang 39

Ngoài ra, An Giang cũng có hệ thống rạch tự nhiên, kênh đào, khe suối rải rác khắp địa bàn tỉnh có vai trò quan trọng trong giao thông đường thủy và phân bố dân cư

An Giang cũng là một tỉnh biên giới có vị trí địa lý khá thuận lợi An Giang nằm

ở vị trí cửa ngõ giao thương quan trọng trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước và quốc tế, “phía bắc tây bắc giáp với vương quốc Campuchia dài 104km, tây nam giáp với tỉnh Kiên Giang, nam giáp tỉnh Cần Thơ, đông giáp tỉnh Đồng Tháp” [52, tr.25] Vấn đề giao thương buôn bán giữa An Giang và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các nước tiểu vùng sông Mêkông đã trở nên thuận lợi hơn nhờ hệ thống hai cửa khẩu quốc tế, hai cửa khẩu quốc gia và một cửa khẩu phụ, thúc đẩy thương mại và giao lưu quốc tế Bên cạnh đó, An Giang còn có lợi thế về giao thông đường thủy với hệ thống sông Hậu, sông Tiền trải dài hơn 100km tạo điều kiện vận chuyển hàng hóa đường thủy

Địa hình An Giang vừa có núi, vừa có đồng bằng, hệ thống sông ngòi chằng chịt

là điều kiện quan trọng để tỉnh phát triển đa dạng các ngành kinh tế Nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành của tỉnh với lợi thế là sản xuất lúa (ước tính trên

ba triệu tấn mỗi năm), kế đến là chăn nuôi thủy sản đặc biệt là các loại cá bè phát triển khá nhanh với sản lượng tăng đều qua mỗi năm, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm tiếp tục được đẩy mạnh Ở các vùng miền núi như Tri Tôn, Tịnh Biên thì nông nghiệp cũng được quan tâm phát triển với các loại cây trồng phù hợp như cây lúa trên (lúa nước trời), cây bắp, một số loại cây ăn trái, đặc biệt chăn nuôi bò rất phổ biến ở vùng Bảy Núi để tận dụng sức kéo trong nông nghiệp và lấy thịt Ngoài thế mạnh là nông nghiệp, An Giang còn là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp Các ngành công nghiệp mũi nhọn ở An Giang là công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mà chủ yếu lá công nghiệp xay xát chế biến gạo xuất khẩu và công nghiệp chế biến nông thủy sản đông lạnh xuất khẩu, công nghiệp khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng Các cơ sở sản xuất công nghiệp ở An Giang tính đến năm 2000 có 10.750 cơ sở Tiểu

Trang 40

thủ công nghiệp của An Giang cũng có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh Toàn tỉnh có 82 làng nghề với hơn 25 nghề khác nhau đã giải quyết việc làm cho hơn 6.200 hộ và gần 27.000 lao động [52, tr.496], các làng nghề truyền thống chủ yếu hoạt động ở nông thôn gồm các nhóm nghề như: đan lát, mộc dân dụng, mộc mỹ nghệ, dệt chiếu, rèn, xay xát gạo, rập chuột, mài cẩm thạch, sản xuất nhang, chế biến thực phẩm…Ngành dịch vụ đang từng bước được đẩy mạnh, trong đó du lịch được đầu tư

để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong thời gian tới Tỉnh có nhiều dự án đầu tư để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa cùng với các đề án phát triển các khu du lịch trọng điểm của tỉnh như: núi Sam, núi Cấm, rừng tràm Trà Sư Các cơ sở lưu trú, kinh doanh ăn uống đang được mở rộng về số lượng và nâng cao về chất lượng nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Nguồn nhân lực trong du lịch được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý nhằm tập trung phát triển du lịch

An Giang là một tỉnh có bốn dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khơme cùng chung sống hòa bình, đoàn kết và gắn bó Theo một số tài liệu thì người Việt (người Kinh) thuộc gốc người miền Trung (Ngũ Quảng) có mặt ở An Giang từ khá sớm, khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược thì đã thấy một số người Việt sống rải rác dọc theo sông Tiền

và sông Hậu Dưới chính sách khai hoang của các chúa Nguyễn vào cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII thì số lượng người Việt vào Nam tăng lên nhanh chóng Việc di dân lập ấp ở An Giang có công đóng góp rất lớn của Thoại Ngọc Hầu Năm 1818, ông được lệnh Triều đình đã cùng người dân đào kênh Vĩnh Tế, góp phần quan trọng cho việc khẩn hoang của lưu dân lúc bấy giờ Người Việt trong buổi đầu dựng làng, lập ấp sinh sống quần tụ dọc theo các con kênh, họ khai phá đất hoang để trồng trọt, đánh bắt thủy sản và trao đổi buôn bán để làm kế sinh nhai Khi dân đến sống đã khá đông thì hình thành nên chợ búa, hàng quán cũng xuất hiện và cuộc sống ngày một sung túc hơn Người Việt hiện nay có số dân đông nhất trong cộng đồng các dân tộc anh em ở

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương, tái bản năm 1992, Nxb. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Hồ Chí Minh
Năm: 1938
2. Trần Văn Bổn (2002), Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khơme Nam bộ, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khơme Nam bộ
Tác giả: Trần Văn Bổn
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
3. Trần Văn Bính (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ- Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ- Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
4. Lê Ngọc Canh (1999), Văn hóa dân gian những thành tố, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian những thành tố
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 1999
5. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 1997
6. Nguyễn Tấn Đắc (2010), Văn hóa ông Nam Á, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2010
7. Bùi Xuân Đính (2012), Các tộc người ở Việt Nam, Nxb. Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb. Thời đại
Năm: 2012
8. Thuận Hải (2006), Bản sắc văn hóa lễ hội, Nxb. Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa lễ hội
Tác giả: Thuận Hải
Nhà XB: Nxb. Giao thông vận tải
Năm: 2006
9. Cao Đức Hải (Chủ biên) (2010), Giáo trình quản lý lễ hội và sự kiện, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý lễ hội và sự kiện
Tác giả: Cao Đức Hải (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
10. Phạm Thị Phương Hạnh (cb) (2011), Văn hóa Khơme Nam bộ: nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Khơme Nam bộ: nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Phương Hạnh (cb)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
11. Nguyễn Hữu Hiệp (2003), An Giang Văn hóa một vùng đất, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Giang Văn hóa một vùng đất
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiệp
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2003
12. Nguyễn Hữu Hiệp (2007), An Giang ôi nét văn hóa đặc trưng vùng đất bán sơn địa, Nxb. Phương Đông, An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Giang ôi nét văn hóa đặc trưng vùng đất bán sơn địa
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiệp
Nhà XB: Nxb. Phương Đông
Năm: 2007
13. Sơn Phước Hoan (cb) (2002), Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khơme Nam bộ, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khơme Nam bộ
Tác giả: Sơn Phước Hoan (cb)
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2002
15. Hội dân tộc học (2006), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Nam bộ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Nam bộ
Tác giả: Hội dân tộc học
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2006
16. Đặng Văn Hường (cb) (2013), Tìm hiểu một số phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo các dân tộc vùng ông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo các dân tộc vùng ông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Đặng Văn Hường (cb)
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 2013
17. Vũ Ngọc Khánh (2012), Việt Nam phong tục toàn biên, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục toàn biên
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2012
18. Ngô Văn Lệ (1997), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Văn Lệ
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1997
19. Ngô Văn Lệ (2010), Văn hóa tộc người- Truyền thống và biến đổi, Nxb. Đại học quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tộc người- Truyền thống và biến đổi
Tác giả: Ngô Văn Lệ
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia
Năm: 2010
20. Đặng Văn Lung (2005), Lễ hội và nhân sinh, Nxb. Đại học quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội và nhân sinh
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia
Năm: 2005
21. Trường Lưu (1993), Văn hóa người Khơme vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa người Khơme vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Trường Lưu
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w