“Phát triển nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa – Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” do Tiến sĩ Vũ Bá Thể biên soạn Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội, 200
Trang 1-000 -LÊ THỊ HOÀI NGHĨA
TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012
Trang 2-000 -LÊ THỊ HOÀI NGHĨA
TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, dìu dắt tận tình của quý thầy, cô giáo, các nhà khoa học trong và ngoài Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Vũ Văn Gầu – người thầy đã nhiệt tình, tận tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học Tôi xin cảm ơn những tình cảm quý báu của Ban chủ nhiệm cũng như quý thầy,
cô trong Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thành viên trong gia đình tôi – những người thân yêu nhất của tôi luôn là chỗ dựa vững chắc, giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn và tạo mọi điều kiện để tôi yên tâm học tập công tác và có được kết quả như ngày hôm nay
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các anh, chị học viên Cao học, chuyên ngành Triết học, khóa 2008 – 2011 và những người bạn đã nhiệt tình giúp
đỡ tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống
Tác giả
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS VŨ VĂN GẦU Những kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012
Người cam đoan
Lê Thị Hoài Nghĩa
Trang 5Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 10
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 11
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 11
6 Kết cấu luận văn 11
Chương 1: TOÀN CẦU HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM HIỆN NAY 12
1.1 KHÁI NIỆM, NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TOÀN CẦU HÓA 12
1.1.1 Khái niệm toàn cầu hóa 12
1.1.2 Nguồn gốc của toàn cầu hóa 19
1.1.3 Đặc điểm của toàn cầu hóa 22
1.2 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 26
1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực 26
1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 28
1.2.3 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực 40
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM HIỆN NAY 44
1.3.1 Những thời cơ và thuận lợi 44
1.3.2 Những nguy cơ và thách thức 63
Kết luận chương 1 69
Trang 62.1.1 Số lượng nguồn nhân lực 71
2.1.2 Cơ cấu nguồn nhân lực 73
2.1.3 Chất lượng nguồn nhân lực 79
2.2 NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM HIỆN NAY 91
2.2.1 Thiếu định hướng trong phát triển nguồn nhân lực 91
2.2.2 Nền giáo dục – đào tạo còn nhiều hạn chế 94
2.2.3 Chính sách sử dụng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập 103
2.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA 106
2.3.1 Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế trong phát triển nguồn nhân lực 110
2.3.2 Đổi mới chính sách sử dụng nguồn nhân lực 117
2.3.3 Chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống của con người 121
Kết luận chương 2 123
KẾT LUẬN 124
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC 138
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, toàn cầu hóa đang làm gia tăng dòng giao lưu toàn cầu về vốn đầu tư, hàng hóa, lao động, dịch vụ ngân hàng, thông tin, v.v…Sự thâm nhập lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia đã tạo ra nhiều mối quan hệ mới, tạo ra những cơ hội cho một số quốc gia này, song lại là thách thức với những quốc gia khác
Với mục đích tìm lợi nhuận siêu ngạch và vươn tới những đỉnh cao trong kinh doanh, các công ty xuyên quốc gia nhanh chóng mở rộng hoạt động của mình trên phạm vi toàn cầu nhằm khai thác những cơ hội đầu tư
Các dòng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) ngày càng đổ về nước có lợi thế về trí thức và tay nghề cao của nguồn nhân lực
Về vấn đề trên, Phernando Enrike Cardozo (Tổng thống Brazil) nhận định như sau: “Khả năng cạnh tranh của mỗi nước ngày càng được xác định nhiều hơn bởi chất lượng các nguồn lực con người, tri thức, khoa học, công
nghệ - những cái được áp dụng trong quá trình sản xuất Sự dư thừa sức lao
động và nguyên liệu ngày càng là một lợi thế so sánh có giá trị thấp, trong khi
mà tỷ phần của chúng trong giá trị bổ sung của tất cả các sản phẩm đang giảm
đi Xu hướng không thể đảo ngược này làm cho thành công của các nước ít xảy
ra nếu dựa vào sức lao động rẻ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên” [96].
Một đặc trưng đáng kể của toàn cầu hóa là sự liên kết thế giới những công đoạn sản xuất và phân phối giữa các địa điểm khác nhau về địa lý do nhiều công nghệ mới, trước hết là những công nghệ truyền thông và thông tin mới Về đặc trưng này, R.Reich (1993) viết như sau: “Thiết bị chính xác đối với môn hockey (khúc côn cầu) trên băng được phát minh ở Thủy Điển, cấp vốn ở Canada, lắp ráp ở Cleveland (Hoa Kỳ) và Đan Mạch, rồi được
Trang 8phân phối ở Bắc Mỹ và châu Âu… Một chiếc ôtô được Nhật Bản cấp vốn, thiết kế ở Italia và dựng khung ở bang Indiana (Hoa Kỳ), Mexico và Pháp;
nó bao gồm những linh kiện điện tử mới nhất được hiệu chỉnh tại New
Jersey (Hoa Kỳ) và được sản xuất tại Nhật Bản” [96]
Điều này cho thấy rằng, muốn tham gia bình đẳng vào xu thế toàn cầu hóa, nguồn nhân lực của các quốc gia có sự thâm nhập kinh tế lẫn nhau, phải
có được một trình độ tương đương về khoa học, công nghệ, về học vấn và
trình độ chuyên môn, cũng như về kỹ năng sản xuất Nguồn nhân lực có
chất lượng cao về trí tuệ và tay nghề mới là lợi thế cạnh tranh cho mỗi quốc gia Nếu nguồn nhân lực chỉ hàm chứa những lao động với trình độ kỹ thuật
đơn giản thì sẽ là sức ép đối với quá trình tăng trưởng và phát triển ở những nước đi sau về công nghiệp hóa và hiện đại hóa Ở đây, các nước chậm phát triển rất lúng túng trước một mâu thuẫn điển hình: do nghèo nên thường không đầu tư đúng mức vào việc đào tạo nguồn nhân lực Và, khi nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng thấp thì đến lượt mình, nó lại làm cho quá trình tăng trưởng và phát triển không tiến nhanh lên được
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, những chuẩn mực về kỹ năng và năng suất lao động, về hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào việc vận dụng những tiến bộ công nghệ và tri thức khoa học Chỉ có con người làm chủ được tiến bộ công nghệ và tri thức khoa học mới làm chủ được quá trình phát triển Vì vậy, tạo dựng nguồn nhân lực đáp ứng tốt đòi hỏi ấy đang là bài toán phức tạp cho tất cả các quốc gia muốn
tích cực và chủ động hội nhập toàn cầu hóa cùng nhân loại
Chưa lúc nào vấn đề phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề thời
sự nóng bỏng ở Việt Nam như giai đoạn hiện nay, bởi hai lẽ:
Thứ nhất, đất nước giành được nhiều thành tựu to lớn sau hơn 25 năm
đổi mới, nay bước vào một thời kỳ phát triển mới sau khi đã hội nhập toàn
Trang 9diện vào nền kinh tế toàn cầu hóa, cơ hội và thách thức chưa từng có, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực thích ứng
Thứ hai, thực trạng nguồn nhân lực hiện nay khó cho phép tận dụng
tốt nhất cơ hội đang đến với đất nước Không mau chóng khắc phục được yếu kém này, có nguy cơ khó vượt qua những thách thức mới, sẽ kéo dài sự tụt hậu của đất nước với nhiều hệ lụy nan giải
Như vậy, vấn đề phát triển nguồn nhân lực đất nước để có thể chủ động và tích cực hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa hiện nay trở nên vô cùng
cấp thiết Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài “Toàn cầu hóa và vấn đề
phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sỹ triết
học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nguồn nhân lực là một trong những đề tài đã thu hút sự chú ý không chỉ những nhà lãnh đạo mà còn là vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học nghiên cứu ở trong nước cũng như ở nước ngoài Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chiến lược con người nói chung cũng như nguồn nhân lực nói riêng ở từng góc độ và các lĩnh vực khác nhau Các công trình trước đây từ năm 1980 đến 1996 hầu hết các tác giả đều đề cập đến vai trò con người trong
sự nghiệp đổi mới hay vai trò nhân tố con người trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội như Phát huy nhân tố con người trong quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Văn Sáu – Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, Con người và
công cuộc đổi mới (KX.07 Kỷ yếu Hội thảo khoa học tháng 7/1993 tại
TP.HCM) Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu chủ yếu bàn về vai trò và việc phát triển nguồn nhân lực trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu như sau:
“Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước
ta” của PGS Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 101996) đã giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhân lực ở một số nước trên thế giới dước tác động của giáo dục – đào tạo, qua đó nêu bật vai trò của giáo dục – đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa trong cuốn “Triết học với sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) đã phân
tích giá trị thế giới quan và phương pháp luận của triết học trong việc nhận thức và hoạch định chiến lược, chính sách và phương pháp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời, phân tích vai trò của nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam và đề xuất các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS Mai Quốc Chánh chủ biên
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999) đã phân tích vai trò của nguồn
nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Từ
đó, các tác giả cuốn sách đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
“Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của TS Bùi Thị Ngọc Lan (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) đã đưa ra những
phương hướng giải pháp chủ yếu để phát huy nguồn nhân lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên sơ sở phân tích vị trí, vai trò của nguồn nhân lực trí tuệ trong sự phát triển xã hội, phân tích những đặc điểm chủ yếu của nguồn lực trí tuệ, thực trạng và xu hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam
“Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS Nguyễn Hữu Dũng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003) đã phân tích một số vấn
Trang 11đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con người, đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người trong sự phát triển
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
“Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước” của TS Đoàn Văn Khái (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005)
đã trình bày vai trò của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phân tích thực trạng nguồn nhân lực và đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển hiệu quả nguồn lực con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
“Phát triển nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa –
Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” do Tiến sĩ Vũ Bá Thể biên soạn
(Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2005) đã nêu một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm một số nước trong việc phát huy nguồn lực con người để phát triển kinh tế, phân tích thực trạng nguồn nhân lực của nước ta những năm qua Từ đó, tác giả đề xuất định hướng và những giải pháp phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời gian tới
Ngoài ra, còn có những công trình và tác phẩm nghiên cứu nguồn nhân
lực ở các vùng, địa phương như luận văn thạc sỹ Phát triển nguồn nhân lực
nữ trong hệ thống chính trị tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay của Trương
Thị Đẹp, năm 2006, luận văn thạc sỹ Phát triển nguồn nhân lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre hiện nay của Nguyễn
Thị Mỹ Phương, năm 2009, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Rô Be mang tên
Quá trình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của Đảng bộ tỉnh Cà Mau giai đoạn 1997-2007, năm 2009… Tùy đặc
điểm, tình hình cụ thể của từng địa phương mà các tác giả đã thể hiện những quan điểm khác nhau nhằm góp phần sáng tỏ ý nghĩa của việc phát triển
Trang 12nguồn nhân lực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương nói riêng và cả nước nói chung Qua đó, các tác giả cũng phân tích thực trạng nguồn nhân lực của địa phương và trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp thiết thực đối với sự phát triển nguồn nhân lực của địa phương
Vấn đề toàn cầu hóa cũng là mối quan tâm của nhiều người từ các nhà lãnh đạo đất nước, các chuyên gia hoạch định chính sách đến các nhà khoa học
và cho tới những người dân bình thường Đã có nhiều cuộc hội thảo, công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này từ nhiều khía cạnh khác nhau Khái quát lại,
có thể chia thành hai nhóm theo hai hướng nghiên cứu chính như sau:
Nhóm thứ nhất là các công trình nghiên cứu về quá trình hình thành
và tác động của toàn cầu hóa trên quy mô lớn Theo hướng này, có thể kể đến các công trình chủ yếu sau:
“Chiếc Lexus và cây Ôliu” xuất bản lần đầu vào năm 1999 của nhà báo Thomas L Friedman (Người dịch: Lê Minh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
2005) Cuốn sách chủ yếu tập trung làm rõ cách hiểu về toàn cầu hóa, những tác động của toàn cầu hóa lên các nền kinh tế và chính trị của các nước trên thế giới Thông qua hình ảnh chiếc xe Lexus – hình ảnh đại diện cho nền công nghiệp hiện đại và cây ôliu – hình ảnh đại diện cho tính đa dạng của các nền văn hóa hay bản sắc văn hóa của các dân tộc trên thế giới, tác giả đã nói lên sự xung đột không thể tránh khỏi giữa tính dân tộc với quá trình toàn cầu hóa
Sau “Chiếc Lexus và cây Ôliu”, năm 2005, Thomas L Friedman viết tiếp quyển “Thế giới phẳng” bàn về toàn cầu hóa, được Nhà xuất bản Trẻ
dịch ra tiếng Việt và xuất bản năm 2006 Trong đó, tác giả chia toàn cầu hóa
ra làm 3 giai đoạn, theo đó toàn cầu hóa hiện nay ở giai đoạn 3.0, với sự phát triển của công nghệ thông tin làm cho thế giới trở nên “phẳng”, với ý nghĩa quá trình toàn cầu hóa kinh tế kéo theo quá trình toàn cầu hóa mọi mặt đời sống xã hội loài người trên hành tinh này đi vào “luật chơi chung”
Trang 13“Tính hai mặt của toàn cầu hóa” của TS Trần Văn Tùng (Nxb Thế giới,
Hà Nội, 2000) đã tổng kết lại những tác động của toàn cầu hóa trong giai đoạn
từ 1985 đến 1995 Tác giả tập trung làm rõ mặt tiêu cực và hạn chế của toàn cầu hóa đối với các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển (tình trạng khủng hoảng nợ, tổn thất tài nguyên, sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo…)
Bài viết “Toàn cầu hóa và sự tác động của nó đối với Việt Nam hiện
nay” của PGS.TS Phạm Văn Đức đăng trên Tạp chí Triết học số 3 (178) năm
2006 đã chỉ ra những thách thức và cơ hội đối với Việt Nam trong xu thế toàn
cầu hóa, đồng thời khẳng định: “Toàn cầu hoá kinh tế là khía cạnh quan trọng
nhất của toàn cầu hoá; nó đang tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực chính trị Đến lượt mình, những thay đổi về chính trị lại có tác động trở lại đối với kinh tế Song, cái cần quan tâm và nhấn mạnh lại chính là sự tác động của kinh tế và
những thay đổi chính trị đối với văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá” [23]
Nhóm thứ hai là những công trình nghiên cứu về bản chất và những tác động của toàn cầu hóa ở phạm vị hẹp và chuyên sâu, trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tư tưởng, lối sống, đạo đức… Theo hướng này, có thể kể đến các công trình sau:
Cuốn sách “Toàn cầu hóa và khu vực hóa: Cơ hội và thách thức đối
với các nước đang phát triển” (Thông tin khoa học xã hội – Chuyên đề - Hà
Nội, 2000) tập hợp các bài viết của các học giả trong và ngoài nước tập trung phân tích thách thức của toàn cầu hóa và khu vực hóa đối với các nước đang phát triển chủ yếu trên góc độ kinh tế
Năm 2001, trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, hiệp hội các hội đồng nghiên cứu khoa học xã hội châu Á đã tổ chức Đại hội lần thứ
14 tại Việt Nam với chủ đề xoay quanh toàn cầu hóa Các tham luận tại hội
thảo sau đó được tập hợp trong Kỷ yếu Đại hội mang tên “Toàn cầu hóa và
ảnh hưởng đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Các khía cạnh kinh
Trang 14tế, xã hội và văn hóa”, xuất bản tháng 11 năm 2001 ở Hà Nội Các tham
luận của học giả các nước chủ yếu tập trung vào việc phân tích, chỉ ra tác động của toàn cầu hóa trên các khía cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với từng nước ở châu Á như Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Philippin, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam… Từ đó, tác giả các tham luận đã
đề xuất những đường hướng phát triển đất nước mình nhằm tận dụng những
cơ hội và vượt qua các thách thức mà toàn cầu hóa đem lại
Năm 2002, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin đã cho xuất bản cuốn
“Toàn cầu hóa, tăng trưởng và nghèo đói - Xây dựng một nền kinh tế thế giới
hội nhập”, Vũ Hoàng Linh dịch từ cuốn sách cùng tên của Ngân hàng Thế
giới và Nhà xuất bản Đại học Oxford, vốn là Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới Cuốn sách tập trung nghiên cứu tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với các nước đang phát triển, đặc biệt đối với người nghèo hiện đang sống ở các nước này Cuốn sách đi đến kết luận: “sự hội nhập quốc tế toàn cầu đã góp phần giảm nghèo đói và không nên đảo ngược tiến trình này Nhưng nền kinh tế thế giới có thể còn có tính hội nhập cao hơn nữa: sự tăng trưởng của thị trường toàn cầu cần không được bỏ qua những nước với tổng số dân lên đến hai tỷ người Các nước giàu có thể làm được nhiều điều, thông qua cả viện trợ và chính sách thương mại, để giúp các nước hiện nay đang bị gạt ra ngoài lề, bước vào con đường hội nhập” [62, xvi]
Trong kế hoạch hợp tác giữa Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội với Viện Quốc tế Konrard
Adenauer (Cộng hòa liên bang Đức), hai cuộc hội thảo về “Toàn cầu hóa và
tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam” đã được tổ chức tại Hà Nội vào
tháng 11 năm 2002 và tháng 12 năm 2003 Các cuộc tranh luận của các học
giả Việt Nam và Đức đã được tập hợp trong cuốn sách Toàn cầu hóa và tác
động đối với sự hội nhập của Việt Nam do Nhà xuất bản Thế giới xuất bản
Trang 15năm 2003 Tuy có những điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, nhưng các bài tranh luận nhìn chung tập trung vào ba mảng lớn: những khái niệm chung về toàn cầu hóa, những hệ quả của toàn cầu hóa và tác động của toàn
cầu hóa đối với sự hội nhập của Việt Nam Về mảng thứ nhất, các bài tranh
luận chủ yếu xoay quanh khái niệm toàn cầu hóa, nguồn gốc và bản chất của
toàn cầu hóa Về mảng thứ hai, các nhà nghiên cứu dưới các góc độ khác
nhau, đã đi sâu phân tích những vấn đề đặt ra, thách thức và cơ hội của toàn cầu hóa đối với văn hóa, giáo dục, thương mại, tài chính… của Việt Nam
Về mảng thứ ba, các bài viết chỉ ra và đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề hội
nhập kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bài viết “Toàn cầu hóa kinh tế - cách tiếp cận, cơ hội và thách thức”
của Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển đăng trên Báo Nhân dân Điện tử ngày 17/01/2005 đã lý giải tính tất yếu của toàn cầu hóa kinh tế, phân tích những cơ hội mà toàn cầu hóa đem lại cũng như những nguy cơ, thách thức đối với hội nhập kinh tế của Việt Nam
Trong bài “Toàn cầu hóa, nguy cơ tha hóa và vấn đề định hướng giá
trị văn hóa tinh thần” đăng trên Tạp chí Triết học, số 5 (180), tháng 2 –
2006, thông qua việc trình bày những nét chính của quá trình toàn cầu hóa trong xu thế hiện nay, PGS.TS Đặng Hữu Toàn đã phân tích, làm rõ sự chuyển biến của các giá trị đạo đức, văn hóa của các dân tộc, sự khó khăn trong việc xác định thang giá trị đạo đức trong thời đại toàn cầu hiện nay, nguy cơ tha hóa của các giá trị văn hóa tinh thần…
Cuốn sách “Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” (Nguyễn Xuân Thắng
chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007) là kết quả nghiên cứu của đề
tài KX 02 – 02 (Tác động của toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế đến
Trang 16tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam) thuộc chương trình
khoa học cấp nhà nước KX02 (Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam:
con đường và bước đi) Cuốn sách tập trung xem xét sự tác động của toàn
cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với các nền kinh tế đi sau, trên cơ sở đó làm rõ mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế với công nghiệp hóa, xác định rõ vai trò hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự hình thành nội hàm, con đường và bước đi của công nghiệp hóa cho các nước đi sau, cụ thể là làm rõ hơn tư duy mới về con đường và bước đi của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay
Ngoài ra, còn có các luận văn bàn về tác động của toàn cầu hóa trên từng lĩnh vực đặc thù như kinh tế, văn hóa trong những năm gần đây như:
Luận văn thạc sĩ “Toàn cầu hóa và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam” của Nguyễn Thị Hương Giang (2008); Luận văn thạc sĩ “Toàn cầu hóa và tác động của nó đối với các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam hiện nay” của Trần Hoàng Phong (2012)…
Như vậy, có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và vấn đề phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, các công trình kể trên đã gợi mở rất nhiều cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ những tác động của toàn cầu hóa đối với việc phát triển nguồn nhân lực và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ như sau:
Trang 17- Phân tích và làm rõ khái niệm, nguồn gốc và đặc điểm của toàn cầu hóa
- Phân tích và làm rõ khái niệm về nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
- Phân tích tác động có tính hai mặt của toàn cầu hóa đến nguồn nhân lực Việt Nam
- Phân tích thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn đuợc thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà Nước về xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp: phương pháp lịch sử - logíc, phân tích – tổng hợp, thống kê, diễn dịch – quy nạp…
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy vấn đề toàn cầu hóa, vấn đề phát triển nguồn nhân lực Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 6 tiết
Trang 18Chương 1 TOÀN CẦU HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 KHÁI NIỆM, NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TOÀN CẦU HÓA
1.1.1 Khái niệm toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa (Globalization) là "một xu hướng làm các mối quan hệ trở nên ít bị ràng buộc bởi địa lý lãnh thổ" [74, 12], xuất hiện đầu tiên trong từ điển Anh vào năm 1961 và được sử dụng phổ biến từ khoảng đầu thập kỷ 90 đến nay, tức là khi làn sóng “toàn cầu hóa mới” được xuất hiện gắn liền với
sự bùng nổ của công nghệ thông tin, bao trùm hết mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại Ba nhân tố: công nghệ - kỹ thuật mới, thông tin và tiền vốn lưu chuyển xuyên quốc gia đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa Việc tổ chức sản xuất và khai thác thị trường trên phạm vi một nước đã nhanh chóng chuyển sang tổ chức sản xuất và khai thác thị trường trên phạm vi thế giới và theo đó, sự phát triển của mọi nền kinh tế đều đã vượt ra ngoài biên
giới quốc gia – dân tộc Do đó, toàn cầu hóa ngày nay được hiểu, về thực
chất, trước hết là một hiện tượng kinh tế Theo Bạch Thụ Cường, duy có
“toàn cầu hóa kinh tế” là gần gũi hơn với xu thế hiện thực hơn cả” [11, 17]
Tuy vậy, trên thế giới có rất nhiều quan điểm nhìn toàn cầu hóa theo một góc độ rộng hơn, trong sự tương tác giữa các khía cạnh kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa và môi trường Chung quy lại, có thể thấy toàn cầu hóa được hiểu theo hai cách rộng và hẹp
Theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa là một tiến trình đa hệ [11, 19]
Học giả Buendia (năm 1995) cho rằng quá trình toàn cầu hóa có ba xu
thế là toàn cầu hóa thị trường, toàn cầu hóa văn hóa và toàn cầu hóa an ninh Trong đó, toàn cầu hóa thị trường là “toàn diện hơn, phát triển hơn” [72]
Trang 19Còn theo tác giả Oman thuộc OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) thì vấn đề toàn cầu hóa đã phát triển thành những đề mục rộng rãi
hơn và được gộp lại làm một để suy nghĩ về sự phát triển, thay đổi các vấn
đề chính trị, kinh tế trong phạm vi toàn cầu trên thế giới ngày nay [11, 19]
Trong khi đó thì Krueger (1999) lại còn đưa ra một định nghĩa rộng
hơn nữa, theo đó thì toàn cầu hóa là “những quá trình trên toàn thế giới…
góp phần tạo thành và phát triển những hệ thống toàn cầu”
Còn các học giả như Axmann (1995), Giddens (1995), Richter (1992)
và S.Mueller- Doohm (1999) lại hiểu toàn cầu hóa là “quá trình gia tăng cường độ kiên kết trong cùng thời gian của các vùng, của nguồn vốn, hàng hóa, dịch vụ và của những trở ngại [dẫn theo 63, 65] Ở đây các tác giả này
đã chú ý đến cả những khó khăn mang tính liên thông toàn cầu, chứ không chỉ những thuận lợi
Theo WTO, toàn cầu hóa là “một quan niệm nhiều mặt vì nó bao quát
cả lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị…” [79, 33]
Các học giả tư sản tại Hội nghị Lisbon thì công bố bảy “dạng thức” toàn cầu hóa, bao gồm: toàn cầu hóa tài chính và tư bản (tức là vốn), toàn cầu hóa thị trường và các chiến lược về thị trường, toàn cầu hóa công nghệ, nghiên cứu và phát triển thích hợp trên cơ sở bùng nổ công nghệ thông tin – viễn thông, toàn cầu hóa các “dạng thức đời sống và mô hình tiêu dùng” (tức
là toàn cầu hóa kinh tế và đời sống xã hội), toàn cầu hóa quyền điều hành và chức năng của chính phủ, toàn cầu hóa sự thống nhất thế giới về chính trị và toàn cầu hóa những cảm thụ và “ý thức toàn cầu” (được dẫn dắt thông qua các quá trình văn hóa hướng tới ý niệm “một nhà nước thế giới” và “công dân thế giới) [43, 14-15]
Ở Việt Nam, GS Lê Hữu Nghĩa cũng cho rằng, toàn cầu hóa là “quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, sự tác động lẫn
Trang 20nhau của tất cả các khu vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới” [39, 27]
Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hóa chính là toàn cầu hóa kinh tế Nhưng như
thế nào là toàn cầu hóa kinh tế? Các học giả đã đưa ra rất nhiều định nghĩa
Toàn cầu hóa được định nghĩa “là tiến trình mà trong đó với sự liên kết chiến lược và với mạng quốc tế, các doanh nghiệp (dẫu có hay không
có quan hệ kinh tế đặc biệt) càng phụ thuộc vào nhau, càng liên quan đến nhau hơn” [73, 20]
Các tác giả của cuốn sách “Toàn cầu hóa – các nước đang phát triển
bị hại hay được lợi?” (2001) nhận định rằng, tất cả mọi định nghĩa về toàn
cầu hóa kinh tế đều có điểm chung là nhấn mạnh sự quốc tế hóa cao độ về kinh tế “Toàn cầu hóa là sự phân công lao động ngày càng mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới, thể hiện trước hết qua phân chia các quá trình sản xuất thành nhiều bậc tại các địa điểm khác nhau” [dẫn theo 63, 65]
Từ góc độ sản xuất sản phẩm, có quan điểm cho rằng “toàn cầu hóa là khuynh hướng gia tăng các sản phẩm có các bộ phận cấu thành được chế tạo
ở một loạt nước” [70, 117]
Từ góc độ liên kết sản xuất và thị trường, có quan điểm coi “toàn cầu hóa là sự liên kết các yếu tố sản xuất giữa các nước với nhau dưới sự bảo trợ hoặc sở hữu của các công ty xuyên quốc gia và sự liên kết các thị trường hàng hóa và tài chính được thuận lợi hóa bởi quá trình tự do hóa” [76, 15]
Theo góc độ phát triển, có quan điểm nhấn mạnh: “toàn cầu hóa bao hàm sự làm sâu sắc quá trình quốc tế hóa, tăng cường khía cạnh chức năng của phát triển và làm yếu đi khía cạnh lãnh thổ của sự phát triển đó” [71, 221]
Theo tổ chức Thương mại và Phát triển (UNCTAD) thuộc Liên hợp quốc thì toàn cầu hóa ngày nay (từ thập niên 80) là đợt sóng thứ ba của tiến
trình toàn cầu hóa, lấy kỹ thuật đặc biệt là kỹ thuật thông tin làm lực lượng
Trang 21tiên phong trong cạnh tranh [76, 1-2] Từ góc độ phạm vi và cấu trúc, các
nhà kinh tế UNCTAD lại cho rằng: “toàn cầu hóa liên quan đến các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng tăng lên đó” [77, 70]
Quỹ tiền tệ quốc tế thì khẳng định: “toàn cầu hóa là sự gia tăng của quy mô và hình thức giao dịch hàng hóa, dịch vụ xuyên quốc gia, sự lưu thông vốn quốc tế cùng với việc truyền bá rộng rãi nhanh chóng của kỹ thuật, làm tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh tế các nước trên thế giới” [46, 45] Uỷ ban châu Âu cũng cho rằng: “Toàn cầu hóa có thể được định nghĩa như một quá trình thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều mước khác nhau đang trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, do có sự lưu thông cơ bản và công nghệ Đây không phải là một hiện tượng mới mà là sự tiếp tục của một tiến trình được khơi mào khá lâu” [40, 33]
George Soros trong “Nhìn về toàn cầu hóa”, định nghĩa toàn cầu hóa
là “sự phát triển tài chính toàn cầu, sự lớn mạnh của các tập đoàn xuyên quốc gia, và sự thống trị ngày càng mạnh mẽ của chúng trong nền kinh tế quốc gia” [24, 19]
Bên cạnh các quan điểm trên, Thomas L.Friedman cũng đưa ra một
cách hiểu về toàn cầu hóa Trong tác phẩm “Chiếc lexus và cây ôliu” viết năm
2005 tác giả cho rằng: “Khác với chiến tranh lạnh, toàn cầu hóa không phải là một cục diện đông cứng, mà là một quá trình phát triển năng động Chính vì thế, tôi đã định nghĩa toàn cầu hóa như sau: nó là một sự hội nhập không thể đảo ngược giữa những thị trường, quốc gia và công nghệ tới mức chưa từng
có – theo phương cách tạo điều kiện cho các cá nhân, tập đoàn công ty và nhà nước vươn quan hệ đến nhiều nơi trên thế giới xa hơn, sâu hơn với chi phí
Trang 22thấp hơn bao giờ hết” [53, 46] Sau đó, năm 2006, trong “Thế giới phẳng”,
Friedman cho rằng lịch sử toàn cầu hóa của thế giới đã trải qua ba giai đoạn Lần đầu kể từ năm 1492 khi khám phá ra châu Mỹ cho tới khoảng năm 1800, với vai trò quan trọng của các quốc gia và của sức mạnh cơ bắp Lần thứ hai
từ năm 1800 - 2000, với vai trò động lực của các công ty đa quốc gia và sự ra đời của động cơ hơi nước và đường sắt Và lần thứ ba kể từ năm 2000 trở lại đây, lần này với động lực là các cá nhân được kết nối với mạng lưới cáp quang toàn cầu Chính là ở giai đoạn thứ ba này đã hình thành nên cái mà Friedman gọi là “hệ thống thế giới phẳng” “Thế giới phẳng” là một ẩn dụ hàm chứa cả cơ hội lẫn lo âu do toàn cầu hóa đưa lại
Luận điểm chính của cuốn sách là cho rằng thế giới đang được “làm phẳng” (flattening), nghĩa là một thế giới trong đó con người ngày càng kết nối với nhau do các thành tựu của tin học, Internet, các công cụ tìm kiếm trên mạng và các công nghệ khác Nhờ đó, các công ty đa quốc gia bây giờ có thể xây dựng những chuỗi cung ứng và đặt gia công (outsourcing) ở tận Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, nơi mà các nhân viên và lập trình viên có thể làm việc trực tuyến cho những công ty có trụ sở mãi tận Hoa Kỳ Friedman định nghĩa “hệ thống thế giới phẳng” là “sản phẩm của sự hội tụ giữa máy tính cá nhân ( ) với cáp quang ( ) và phần mềm xử lý công việc (cho phép các cá nhân trên khắp thế giới cộng tác trên cùng cơ sở dữ liệu số, bất kể từ nơi đâu với khoảng cách như thế nào)” [54, 27] Theo ông, chính nhờ sự bùng nổ về công nghệ thông tin mà quá trình toàn cầu hóa phiên bản 3.0 làm cho “các cá nhân từ mọi ngõ ngách của thế giới phẳng đều được trao quyền” [54, 28]
Friedman đã nhầm lẫn khi nghĩ rằng nhân tố kỹ thuật đóng vai trò quyết định đối với sự chuyển biến của cấu trúc xã hội cũng như của các lĩnh vực văn hóa và chính trị Quan niệm của Friedman thực chất phản ánh lý thuyết quyết định luận kỹ thuật ngây thơ và ảo tưởng mà nhiều người từng
Trang 23mắc phải mỗi khi xuất hiện một loại kỹ thuật mới, tương tự như khi ra đời đài phát thanh hay truyền hình vào nửa đầu thế kỷ 20 Điển hình là quan niệm của nhà nghiên cứu nổi tiếng về truyền thông, Marshall McLuhan, từng cho rằng các phương tiện truyền thông điện tử có thể làm cho thế giới hiểu biết nhau hơn, gắn kết và gần gũi nhau giống như trong một “ngôi làng toàn cầu” [45, 373-377] Các quan điểm này đã bỏ qua hiện thực xã hội do toàn cầu hóa mang lại: sự phân hóa giữa nhóm nước giàu và nhóm nước nghèo, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, chiến tranh giữa các sắc tộc, tôn giáo, nguy cơ khủng hoảng kinh tế và chiến tranh hạt nhân, nạn khủng bố… và những vấn đề toàn cầu khác
Như vậy, theo cách hiểu hẹp về toàn cầu hóa, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển sâu rộng đã làm cho đời sống kinh tế của các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau với trình độ kinh tế không giống nhau đều cuốn vào hệ thống kinh tế toàn cầu thống nhất
Tất cả các cách lý giải trên, dù được nhìn từ những góc độ khác nhau, đều đã thừa nhận tính tất yếu khách quan của toàn cầu hóa, là tiến trình không thể đảo ngược và vấn đề bây giờ chỉ là phải thấy được những nguy cơ của nó để có đối sách hữu hiệu khai thác cơ hội và vượt qua thách thức
Trên cơ sở nghiên cứu các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: toàn cầu hóa là hiện tượng xã hội đa diện và phức tạp Nó tác động và ảnh hưởng trên tất cả các cấp độ: quốc gia – dân tộc, khu vực và thế giới; trên tất cả các lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, thông tin, giáo dục, khoa
học, thể thao… trong đó, kinh tế giữ vai trò chủ đạo Nói cách khác, thực
chất của toàn cầu hóa hiện nay chính là toàn cầu hóa kinh tế
Toàn cầu hóa là xu thế phát triển tất yếu, khách quan, hợp quy luật
của xã hội loài người Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”,
các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, khi phân tích, mổ xẻ xã hội tư bản, đã chỉ
Trang 24rõ: do “luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm”, giai cấp tư sản đã “xâm lấn khắp toàn cầu” và do “bóp nặn thị trường thế giới”,
nó đã làm cho cả quá trình sản xuất lẫn sự tiêu dùng của tất cả các nước
“mang tính chất thế giới”, làm cho “công nghiệp mất cơ sở dân tộc” và những ngành công nghiệp dân tộc bị thay thế bởi những ngành công nghiệp
mà việc du nhập chúng “trở thành một vấn đề sống còn đối với tất cả các dân tộc văn minh”, đồng thời “thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương, dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những mối quan
hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến của các dân tộc" [6, 601- 602]
Mặt khác, toàn cầu hóa là xu thế lớn của thời đại, song xu thế ấy là kết quả phức hợp của nhiều yếu tố, mà mỗi yếu tố đều là sản phẩm của con người Toàn cầu hóa và những quy tắc của nó trong từng thời kỳ đều phản ánh một sự so sánh lực lượng giữa các tác nhân vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau và biến đổi cùng với những biến đổi trong so sánh lực lượng giữa các tác nhân ấy Toàn cầu hóa không nhất thành bất biến Nói cách khác, toàn cầu hóa kinh tế cũng như kinh tế thị trường là thành quả chung của nhân loại, nhưng chúng lại gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản đã tận dụng được những ưu thế của quá trình này, chi phối
và lợi dụng, phục vụ cho lợi ích của nó Quá trình toàn cầu hóa hiện nay vừa chứa đựng tính tất yếu khách quan, xu thế phổ biến của toàn thế giới, lại vừa mang đậm dấu ấn của các tập đoàn độc quyền, các nước tư bản phát triển Trong khi đánh giá về tình hình thế giới trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển
Trang 25và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh” [19, 64]
1.1.2 Nguồn gốc của toàn cầu hóa
Về nguồn gốc của toàn cầu hóa, có rất nhiều ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu Một số người cho rằng, toàn cầu hóa bắt đầu ngay từ khi có lịch sử loài người, tức là đã xuất hiện ít nhất cách đây khoảng năm nghìn năm lịch sử, khi những nhóm người đầu tiên liên lạc với nhau thông qua các cuộc chinh phục, thương mại và di cư thì trái đất bắt đầu thu hẹp lại
Một số nhà nghiên cứu thì cho rằng toàn cầu hóa xuất hiện ở thế kỷ XIV trước Công Nguyên – thời Alexander đại đế Đó là thời kỳ nền văn minh Hy - La, thông qua sức mạnh kinh tế và văn hóa thôn tính các nước Trung Âu và lan sang châu Á, Alexander đã mở rộng ảnh hưởng kinh tế và văn hóa của mình ra các khu vực xung quanh trên hai lục địa này
Hay toàn cầu hóa bắt đầu từ con đường tơ lụa, thiết lập mối quan hệ kinh tế văn hóa giữa châu Á và châu Âu
Bên cạnh các quan niệm trên, lại có quan niệm cho rằng, toàn cầu hóa hiện nay là sự phát triển, sự tiếp nối lịch sử của quá trình quốc tế hóa đã từng diễn ra trước đó Rằng, toàn cầu hóa đang diễn ra hôm nay không phải
là một hình thái hoàn toàn mới, chưa từng có trong lịch sử nhân loại, không phải là “xu thế của thời đại” hay một hình thức tổ chức kinh tế - xã hội hoàn toàn mới, mà chỉ là một dạng mới, một hình thức lịch sử mới của quá trình quốc tế hóa mà nhân loại đã từng chứng kiến Nó không phải là một “hình thái độc lập” được hình thành với tư cách kết quả của việc sử dụng, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại Nó là sự tiếp nối chứ không phải là sự đoạn tuyệt với lịch sử quá trình quốc tế hóa Những biến động sâu sắc trên tất cả các phương diện của đời sống kinh tế - xã hội thế giới hiện nay
Trang 26chỉ thêm một lần nữa tạo cơ hội thuận lợi cho quá trình quốc tế hoá phát triển, cho “nền kinh tế toàn cầu hoá” tăng tốc nhờ ưu thế vượt trội của khoa học, công nghệ hiện đại và theo đó, là sự ra đời của kinh tế tri thức
Tuy nhiên, với tư cách sự liên kết, hội nhập toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trước những biến động dữ dội, mang tính toàn cầu ở tất cả các lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, quân sự đến văn hóa, khoa học, công nghệ, từ cuộc sống của mỗi con người, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đến đời sống xã hội của cả cộng đồng nhân loại, có thể khẳng định, toàn cầu hóa hiện nay khác với quốc tế hóa Sự phát triển nền đại công nghiệp và quá trình quốc tế hóa đến cuối thế kỷ XX đã đạt đến mức độ đòi hỏi thay đổi toàn
bộ cơ sở kỹ thuật của nền kinh tế cùng với cơ cấu và thể chế kinh tế Nhu cầu
đó thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới và cách mạng công nghiệp lần thứ ba Hai cuộc cách mạng hầu như diễn ra đồng thời đã đưa đến
sự hình thành giai đoạn đầu của nền kinh tế tri thức vào thập kỷ 80 Nền kinh
tế tri thức thay thế nền kinh tế công nghiệp, nhưng đều là kinh tế thị trường ở hai giai đoạn khác nhau Nếu trước đây, nền kinh tế công nghiệp đã từng là cơ
sở của quá trình quốc tế hóa, thì bây giờ, nền kinh tế tri thức là cơ sở của toàn cầu hóa Nếu sức sản xuất của nền kinh tế công nghiệp đưa quan hệ quốc tế phát triển ở mức độ song phương, đa phương và khu vực (quá trình quốc tế hóa), thì sức sản xuất của nền kinh tế tri thức thúc đẩy quan hệ quốc tế lên mức độ toàn cầu (toàn cầu hóa) GS.TS Trần Ngọc Hiên cho rằng, “nếu
không phân biệt quốc tế hóa với toàn cầu hóa thì cũng có nghĩa là chưa phân
biệt kinh tế công nghiệp với kinh tế tri thức” [63, 12]
Một quan điểm khác cho rằng toàn cầu hóa khởi nguồn cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu thế kỷ XVI
Chúng ta đều biết, trong các xã hội cổ xưa, các quốc gia – dân tộc tồn tại tương đối biệt lập, ít có quan hệ với nhau Cùng với sự phát triển
Trang 27của lực lượng sản xuất, sự tăng tiến của sản xuất và trao đổi hàng hóa, sự
mở rộng thị trường mà các mối quan hệ cũng mở rộng dần khỏi ranh giới quốc gia, hình thành các mối quan hệ quốc tế Tuy nhiên, theo chúng tôi, toàn cầu hóa chỉ thực sự bắt đầu từ thế kỷ XV- XVI Đó là thời kỳ chủ nghĩa tư bản hình thành, phát triển, bành trướng vào các vùng trống ở châu
Âu, thực hiện các cuộc phát kiến địa lý, tìm kiếm thị trường, đẩy mạnh thôn tính thuộc địa và chia nhau khu vực ảnh hưởng trên thế giới Đồng thời với những điều kiện trên là sự phát triển của nền công nghiệp sản xuất bằng máy Đó là những điều kiện quan trọng làm xói mòn và phá vỡ tính cát cứ, biệt lập và khép kín trong phạm vi quốc gia, hình thành một thị trường thế giới chung – một thị trường mà ở đó trạng thái tự cung tự cấp của mỗi nước được thay thế bằng sự tác động và phụ thuộc lẫn nhau, đồng thời đặt nền móng cho sự hình thành những chuẩn giá trị (quan hệ ứng xử) mang tính phổ quát chung cho nhân loại
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bắt đầu chuyển
từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền Kết quả đưa đến bùng nổ hai cuộc chiến tranh thế giới (lần thứ nhất năm 1914 - 1918 và lần thứ hai 1939 - 1945) Giữa hai cuộc chiến tranh này là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) làm cho tiến trình quốc tế hóa suy giảm Sau
đó, cùng với việc kết thúc chiến tranh lạnh và sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, xu thế toàn cầu hóa lại bùng lên mạnh mẽ từ cuối những năm 1980 trở lại đây Tuy nhiên, đến thời kỳ này,
xu thế toàn cầu hóa đã có sự biến đổi to lớn cả về lượng lẫn chất Đó là sự tăng lên hết sức nhanh chóng của các luồng lưu chuyển khổng lồ về thương mại, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, tài chính – tiền tệ, công nghệ… giữa các nước trên phạm vi toàn cầu và khu vực, được hỗ trợ bởi một hệ thống dày đặc các thiết chế quốc tế cùng mạng lưới của các công ty xuyên quốc gia,
Trang 28thế giới bước vào kỷ nguên mới – kỷ nguyên tin học Cùng với đó là sự lan tỏa của xu hướng dân chủ hóa đời sống chính trị - xã hội ở thế kỷ XX Tất
cả tạo nên một làn sóng mới của toàn cầu hóa, mở ra sự hợp tác và hội nhập trên quy mô toàn cầu Các mối quan hệ kinh tế thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ, các vấn đề về môi trường và xã hội như nghèo đói, bệnh tật,
ô nhiễm môi trường và các vấn đề chính trị - an ninh như xung đột xã hội, khủng bố, dân quyền, dân chủ… giờ đây đang đòi hỏi có sự phối hợp hành động của tất cả các nước
Như vậy, có thể nói, quá trình toàn cầu hóa bắt đầu từ thế kỷ XV – XVI, toàn cầu hóa là kết quả của sự phát triển lâu dài của sản xuất và của nền kinh tế hàng hóa, gắn liền với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản
1.1.3 Đặc điểm của toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, toàn cầu hóa tác động ngày càng sâu rộng đến các lĩnh vực
của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học
kỹ thuật, thể thao) Nó làm biến đổi các mối liên hệ và quan hệ xã hội trên phạm vi toàn cầu, thúc đẩy sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc
Thứ hai, toàn cầu hóa, nhất là toàn cầu hóa kinh tế đã thúc đẩy phân
công quốc tế cả chiều rộng và chiều sâu, làm tăng cường mậu dịch quốc tế
và biến nó thành sợi dây liên kết gắn bó nền kinh tế của các nước trên thế giới; đồng thời đẩy nhanh tốc độ và quy mô lưu thông của các nguồn lực phát triển như vốn, lao động, kỹ thuật, tài nguyên… trên quy mô toàn cầu
Thứ ba, toàn cầu hóa thúc đẩy sự chuyển dịch nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp ở các quốc gia đang phát triển và thúc đẩy nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức ở các quốc gia phát triển Đồng thời, nó thúc đẩy nhanh sự phát triển, tăng trưởng kinh tế ở hầu
Trang 29hết các nước trên thế giới và ngày càng làm tăng xu hướng mở cửa, hội nhập, đa dạng hóa quan hệ quốc tế… làm xuất hiện nhiều tổ chức quốc tế và khu vực (WB, IMF, WTO, OECD, OAU, EU, ASEAN, ASEM, NAFTA, APTA, APEC, SCO…)
Thứ tư, bên cạnh sức mạnh, mặt tích cực vốn có của mình, toàn cầu
hóa cũng bộc lộ những hạn chế, tiêu cực và cả những nguy cơ khó lường:
Nó làm tăng khoảng cách phân hóa giàu nghèo trong mỗi quốc gia và trên phạm vi toàn cầu, làm trầm trọng nạn thất nghiệp, thất học, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên,… và tăng nguy cơ chiến tranh hủy diệt
Thứ năm, trong bối cảnh hiện nay toàn cầu hóa đang bị các nước
phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia lợi dụng, áp đặt và chi phối Vì vậy, toàn cầu hóa càng làm tăng thêm các mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, giữa giàu và nghèo, giữa các nước phát triển và các nước kém phát triển…
Thứ sáu, hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng, tiến trình toàn cầu hóa
mới đi những bước đầu tiên và có thể còn vài kịch bản biến chuyển khác nhau trong những thập kỷ sắp tới chúng mới có thể trở thành hiện thực Nói cách khác, toàn cầu hóa là một hiện tượng “mở”, đang vận động và sẽ còn trải qua những chặng đường dài
Thứ bảy, một đặc điểm rất quan trọng nữa của toàn cầu hóa hiện nay
được nhiều nhà nghiên cứu thuộc những khuynh hướng chính trị khác nhau
vạch rõ là không đối xứng Điều đó thể hiện qua một số mặt sau đây:
Trước hết, toàn cầu hóa hiện nay phân phối thành quả rất bất công
Người giàu, nước giàu được lợi, nước nghèo bị thiệt Từng mảng lớn dân cư thế giới như bị loại trừ ra ngoài tiến trình toàn cầu hóa
Tiếp đến, toàn cầu hóa hiện nay không hài hòa, không đồng bộ, giữa
Trang 30các lĩnh vực toàn cầu hóa so le, chênh lệch nhiều cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, tạo nên những khập khiễng, mất cân đối lớn: 1) Toàn cầu hóa kinh tế không đi đôi với sự quan tâm đúng mức về xã hội và con người gây nên những bất ổn, tổn hại nặng nề cả về xã hội và con người 2) Toàn cầu hóa kinh tế không đi đôi với một cơ cấu và cơ chế quản lý toàn cầu tương xứng và
có hiệu quả, khiến cho toàn cầu hóa có vẻ như một con tàu không người lái
Sau cùng, toàn cầu hóa hiện nay không coi trọng đầy đủ ba nhân tố
trụ cột của xã hội hiện đại: thị trường, nhà nước và xã hội Toàn cầu hóa hiện nay chỉ thiên về thị trường mà xem nhẹ nhà nước và nhất là xem nhẹ xã hội, do đó xem nhẹ lợi ích con người
Về tính chất không đối xứng của toàn cầu hóa, Tiến sĩ Ngô Văn Điểm viết: “Bản chất của toàn cầu hóa là một trận đấu, ai thông minh, sáng suốt thì được nhiều hơn mất; ai dại khờ, sơ hở thì mất nhiều hơn được, có thể được, mất rất to, nhưng hầu như không thể được hết hoặc mất hết Chỉ có một tình huống chắc chắn mất hết đó là thu mình lại, đóng cửa, cự tuyệt toàn cầu hóa, khước từ hội nhập” [51, 21-22] Do đó, không còn cách nào khác, Việt Nam phải chủ động và hội nhập có hiệu quả vào xu thế toàn cầu hóa Hơn thế nữa, nước ta không những chỉ biết tranh thủ cái lợi, hạn chế cái hại trong quá trình hội nhập, mà còn phải biết tác động vào diễn trình toàn cầu hóa
Nước ta đã và đang có một chiến lược ngoại giao tích cực, chủ động,
đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ; làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng, đóng góp tích cực cho hòa bình và phát triển của cả nhân loại Trong diễn trình toàn cầu hóa, đường lối đối ngoại đó được cụ thế hóa rõ nét nhất bằng việc tham gia vào các tổ chức kinh tế - chính trị trên thế giới Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế - chính trị quốc tế và khu vực Nước ta đã là thành viên của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) Ở cấp liên
Trang 31khu vực, nước ta là thành viên tích cực của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á
- Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Và sự kiện vô cùng quan trọng là nước ta đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Với những đặc điểm vừa nêu trên, toàn cầu hóa hiện nay vừa tạo ra những cơ hội thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, vừa mang lại những nguy
cơ to lớn với những hậu quả khó lường Những thuận lợi và cơ hội phát triển chính là: tham gia vào toàn cầu hóa, Việt Nam có cơ hội tiếp cận được nguồn vốn, công nghệ sản xuất và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài và theo
đó, sự phân công lao động quốc tế theo hướng có lợi cho cả bên đầu tư lẫn bên tiếp nhận vốn được hình thành Các thành tựu khoa học và công nghệ được chuyển giao nhanh chóng, được ứng dụng rộng rãi nhờ quá trình toàn cầu hóa đem lại cho Việt Nam cơ hội tiếp cận với các thành tựu ấy để phát triển Thêm vào đó, toàn cầu hóa góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc tạo môi trường thuận lợi cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, hợp tác và phát triển Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng mang lại những nguy cơ lớn: 1) trong toàn cầu hóa Việt Nam có giữ được trọn vẹn độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia không, có phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa không khi mà đồng tiền trở thành sức mạnh chi phối nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội; 2) bản sắc văn hóa dân tộc có bảo toàn và phát huy được không khi toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến toàn cầu hóa văn hóa, khi chúng ta ngày càng hội nhập rộng hơn và sâu hơn với thế giới bên ngoài; 3) toàn cầu hóa là môi trường hợp tác và cạnh tranh, chúng ta phải đối mặt và cạnh tranh, chúng ta phải đối mặt và cạnh tranh quyết liệt với các đối tác có tiềm lực và sức mạnh hơn ta gấp nhiều lần; trong khi đó, năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn khá thấp; 4) nhân tố quyết định thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là nguồn nhân
Trang 32lực mạnh, phát huy được tối đa hiệu quả trong hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, hiện nay nguồn nhân lực của ta vẫn đang trong tình trạng yếu kém Đây là thách thức, áp lực lớn đối với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
1.2 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Khái niệm nguồn nhân lực (nguồn lực con người, nguồn tài nguyên con người) được sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, và hiện nay khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan niệm mới về vai trò, vị trí con người trong sự phát triển
Ở Việt Nam, khái niệm này được sử dụng tương đối rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay
Quan niệm về nguồn nhân lực khá đa dạng, được xem xét từ những góc độ khác nhau Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi
là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và
do đó, quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được nhìn nhận như một phương tiện chủ yếu, bảo đảm tốc độ tăng trưởng sản xuất và dịch vụ Trong lý luận về vốn, con người được đề cập đến như một loại vốn (vốn người, “tư bản người”), một thành tố tất yếu, cơ bản của quá trình sản xuất, kinh doanh
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng, “nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động” [dẫn theo 100] Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản
xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn
Trang 33nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa
hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự
phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động,
có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động Quan niệm này chủ yếu đề cập đến khía cạnh số lượng của nguồn nhân lực
Theo quan niệm của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước [dẫn theo 101] Quan niệm này chủ yếu xem xét nguồn lực con người dưới khía cạnh chất lượng con người và vai trò của nó đối với sự phát triển của đất nước
Ở Việt Nam, trong công trình Con người Việt Nam – mục tiêu và
động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội do GS.TSKH Phạm Minh Hạc
làm chủ nhiệm, các nhà khoa học cho rằng, nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể xác và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất [25, 328]
TS Đoàn Văn Khái, trong quyển “Nguồn lực con người trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” đã viết: nguồn nhân lực “là
khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất
cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội” [30, 62]
Tổng hợp tất cả những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, nguồn
nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, cơ cấu và chất lượng người lao động ở cả hiện tại cũng như trong tương lai của một quốc gia hay một địa phương
Với cách hiểu như trên, khái niệm “nguồn nhân lực” có nội dung rộng lớn, bao gồm những mặt cơ bản sau:
Trang 34Thứ nhất, về mặt số lượng, khái niệm “nguồn nhân lực” trước hết
cũng được biểu hiện ra là lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động), là nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện có và
sẽ có trong tương lai gần) Đồng thời, khái niệm “nguồn nhân lực” cũng phản ánh quy mô dân số thông qua số lượng dân cư và tốc độ tăng dân số của một nước trong thời kỳ nhất định
Thứ hai, về mặt cơ cấu, khái niệm “nguồn nhân lực” phản ánh khía
cạnh cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động trong các ngành, các vùng, cơ cấu lao động đã qua đào tạo trong các lĩnh vực và khu vực kinh tế, cơ cấu trình độ lao động, cơ cấu độ tuổi trong lực lượng lao động, cơ cấu nguồn lao động dự trữ… Cơ cấu dân cư và lao động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực
Thứ ba, về mặt chất lượng, khái niệm “nguồn nhân lực” chủ yếu phản
ánh phương diện chất lượng của lực lượng lao động, thể hiện qua hàng loạt yếu tố như: sức khỏe, mức sống, trình độ giáo dục, đào tạo về văn hóa và chuyên môn nghề nghiệp, trình độ học vấn, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng, kỹ năng lao động, văn hóa lao động, đạo đức, tâm lý, tư tưởng, tình cảm, tính cách, lối sống… song khái quát lại, gồm: thể lực, trí lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần của con người
1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội
Trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định, tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội theo quá trình lịch sử - tự nhiên, trong đó, hình thái kinh tế - xã hội sau bao giờ cũng cao hơn hình thái kinh tế - xã hội trước Với quan điểm đó, các ông cũng đồng thời khẳng định vai trò cải tạo thế giới và sáng tạo nên lịch sử của con người Con người là
Trang 35chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất và là yếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất Bằng hoạt động lao động sản xuất, con người một mặt cải tạo tự nhiên để thỏa mãn nhu cầu của mình, mặt khác cũng cải tạo chính bản thân con người Trình độ sản xuất của con người càng cao thì con người càng có điều kiện để thỏa mãn những nhu cầu
về vật chất và từ đó, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của mình của của xã hội Như vậy, theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, con người vừa là điểm khởi đầu, vừa là sự kết thúc, đồng thời lại là trung tâm của sự biến đổi lịch sử; nói cách khác, con người là chủ thể chân chính của mọi quá trình xã hội
Ở nước ta, tư tưởng về “con người trên hết”, “con người quyết định” cũng không phải là mới mẻ, kể cả khi con người được nhìn nhận dưới góc
độ của kinh tế và sản xuất Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói lên tư tưởng này một cách sâu sắc: muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa, “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [34, 93] hay tư tưởng lấy dân làm gốc…
Những năm gần đây, do tác động của những đặc điểm mới của thời đại, cùng những bài học qua bao thăng trầm trong lịch sử, nhất là từ các thành tựu của công cuộc đổi mới, chúng ta đã nhận thức đầy đủ hơn quan điểm coi con người là tài sản quý giá nhất, giữ vị trí trung tâm của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là mục tiêu và động lực của sự phát triển
xã hội Nhiều nghị quyết của Đảng đã đề cập đến vai trò của con người và việc chăm lo, phát triển nguồn lực con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [17, 21] Gần đây nhất, văn kiện Đại hội lần thứ XI tiếp tục khẳng định:
Trang 36“Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” [20, 41]
Như vậy, giờ đây khi nói đến chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta đều nói đến “chiến lược con người” Thực ra đây không phải là hai vấn đề, hai nội dung tách rời nhau, mà là sự nhấn mạnh và bước đầu thể hiện
sự coi trọng yếu tố con người Bởi lẽ, nếu không thành công trong “chiến lược con người” thì sẽ thất bại trong mọi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Điều này càng đúng hơn khi nước ta đang bước vào cuộc trường chinh mới đòi hỏi rất cao về trí tuệ và bản lĩnh của con người Việt Nam – đó là thời kỳ hội nhập quốc tế trong điều kiện cách mạng khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão và xu thế toàn cầu hóa
Vai trò quyết định của nguồn nhân lực biểu hiện ở những điểm sau: Một là, nguồn nhân lực là chủ thể khai thác và sử dụng các nguồn lực khác
Như chúng ta đã biết, xét đến cùng, yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định sự vận động và phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất hay nói cách khác, gồm yếu tố người và yếu tố vật của quá trình sản xuất Yếu tố vật ở đây gồm
tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong tư liệu lao động, công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất vì nó trực tiếp truyền sự tác động của con người vào đối tượng lao động, là thước đo khả năng chinh phục tự nhiên của con người
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất, giữ vai trò quyết định trong lực
lượng sản xuất chính là con người Sở dĩ như vậy là vì, thứ nhất, nếu không
có con người với trí lực, thể lực và những năng lực phẩm chất cần thiết khác thì dù tư liệu lao động có sức mạnh đến đâu và đối tượng lao động có phong
Trang 37phú đến đâu cũng không có tác dụng, quá trình sản xuất không được thực
hiện Thứ hai, trừ đối tượng lao động gồm những loại có sẵn trong tự nhiên,
còn lại tất cả các yếu tố khác trong lực lượng sản xuất từ công cụ lao động, phương tiện di chuyển… đến đối tượng lao động đã qua chế biến đều do con người sáng tạo ra (tất nhiên là dựa trên những thứ có sẵn trong tự nhiên)
Thứ ba, mọi sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất đều do con
người Do bản chất hoạt động của con người là sáng tạo và để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao, con người không ngừng cải tiến, sáng chế ra những tư liệu lao động mới có năng suất và hiệu quả hơn, đồng thời liên tục mở rộng phạm vi đối tượng lao động Cùng với điều đó, tri thức của người lao động (sự hiểu biết, năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi, kỹ năng lao động…) cũng không ngừng được nâng cao Tất cả những điều đó làm cho lực lượng sản xuất trở thành yếu tố động nhất, không ngừng biến đổi và phát triển Lênin đã khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại
là công nhân, là người lao động” [67, 430]
Xem xét dưới góc độ nguồn lực, trong quan hệ với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực cũng tỏ rõ vai trò quyết định của mình Điều này thể hiện ở chỗ các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, v.v, tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Chúng chỉ phát huy tác dụng và
có ý nghĩa khi được kết hợp với nguồn nhân lực Bởi lẽ, con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí, gắn kết các nguồn lực với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các nguồn lực khác là “khách thể” chịu sự cải tạo, khai thác của con người, để phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người
Nhà kinh tế học Gary Becker đã khẳng định, học vấn, đào tạo, kỹ năng và thậm chí cả sức khỏe của con người tạo nên khoảng 75 % sự giàu
có của một nền kinh tế hiện đại Becker đã nói: “Đúng ra, chúng ta nên gọi
Trang 38nền kinh tế là “nền kinh tế vốn con người” vì vốn con người là yếu tố trung tâm của nền kinh tế” Tất cả các loại hình vốn – vốn vật chất, vốn tài chính
và vốn con người – đều quan trọng, nhưng vốn con người là quan trọng nhất Trên thực tế, trong một nền kinh tế hiện đại, vốn con người là hình thức quan trọng nhất tạo ra của cải và sự tăng trưởng [dẫn theo 7, 200]
Tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý của mỗi nước là những nguồn lực tự nhiên, quan trọng Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của những nguồn lực này còn tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và trước hết là khả năng khai thác chúng của con người Trí tuệ và năng lực của con người càng phát triển, khả năng nhận thức và cải biến tự nhiên của con người càng cao thì trình độ chinh phục tự nhiên của con người càng lớn Trước đây, sự giàu có, sức mạnh của một quốc gia, một dân tộc thường được hiểu đồng nghĩa với sự phong phú, giàu có của các nguồn tài lực; hoặc được đánh giá thông qua khối lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên Còn ngày nay, nhờ những thành tựu to lớn của khoa học và công nghệ, một nước nghèo về của cải tự nhiên vẫn có thể trở thành một nước giàu mạnh, nếu có chiến lược phát triển đúng cùng với nguồn nhân lực có chất lượng cao và được khai thác hợp lý Các nước công nghiệp mới châu Á là những chứng
cứ xác thực cho điều này Các nước và vùng lãnh thổ - Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông và Đài Loan (cả Nhật Bản) trước đây) đều không có
mỏ than hay mỏ sắt nhưng lại xây dựng được ngành luyện kim hùng hậu vào bậc nhất thế giới, trong khi những nước có nhiều mỏ than hay mỏ sắt (như Liberia, Guinie, Columbia…) thì cho đến nay vẫn không xây dựng được một công trình nào tương tự Ngay ở nước ta, mặc dù tài nguyên thiên nhiên không đến nỗi nghèo, vị trí địa lý khá thuận lợi, nhưng do cách thức và trình
độ khai thác lạc hậu nên hiệu quả rất thấp, không những thế mà còn để lại những ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái đến mức phải cảnh báo
Trang 39Với xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đặc biệt là trong đời sống kinh tế,
sự trợ lực quốc tế được coi là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển của những nước đang phát triển Sự trợ lực này bao hàm phạm vi rộng,
từ hỗ trợ hoạch định chính sách phát triển đến việc tài trợ các dự án phát triển kinh tế - xã hội và đào tạo nhân lực, đầu tư trực tiếp dưới các hình thức
và trao đổi thương mại… Đây là những nguồn lực bên ngoài quan trọng, góp phần đắc lực giúp các nước đang phát triển vượt qua những khó khăn ban đầu, tạo đà cho sự phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những trợ giúp về kinh tế của các nước phát triển cho các nước đang phát triển, không bao giờ được phép quên rằng sự trợ giúp ấy luôn có mức độ và thường kèm theo những sức ép về chính trị và kinh tế trên tinh thần “có đi có lại” Do đó, sẽ là
ảo tưởng và thất bại nếu cho rằng nguồn lực bên ngoài là yếu tố quyết định các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, rằng chỉ cần mở rộng “cửa” là viện trợ nước ngoài sẽ tuôn vào và do vậy tự khắc nền kinh tế sẽ “thần kỳ” Sự phát triển của Nhật Bản cũng như của các nước công nghiệp mới châu Á (Singapore, lãnh thổ Hồng Kông, Hàn Quốc, lãnh thổ Đài Loan) và các nước Indonesia, Malaysia, Thái Lan cho thấy, viện trợ chỉ là yếu tố ngoại sinh, thứ yếu, còn tiềm lực con người của mỗi quốc gia mới là yếu tố nội sinh, chi phối, quyết định Sự “thần kỳ” của Nhật Bản là kết quả của sự kết hợp kỹ thuật phương Tây với yếu tố con người Nếu không có con người Nhật Bản biết lao động có kỹ thuật và kỷ luật cao, với những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp cùng chính sách sử dụng hữu hiệu nguồn nhân lực thì
dù có được viện trợ 6 tỷ đô la hay hơn nữa, nước Nhật cũng không thể trở thành một cường quốc kinh tế như hiện nay
Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới các hình thức khác nhau đang là phương thức có tính phổ biến trong hợp tác kinh tế quốc tế Các nước đang phát triển muốn thông qua con đường này để thu hút vốn đầu tư, tiếp thu
Trang 40công nghệ và kinh nghiệm quản lý Song mức độ tiếp thu và hiệu quả của nó lại phụ thuộc chủ yếu vào khả năng của đội ngũ lao động Điều này ít nhiều
đã được minh chứng qua thực tiễn hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua Chẳng hạn, do thiếu hiểu biết hoặc yếu kém về phẩm chất đạo đức của một số cán bộ Việt Nam trong các xí nghiệp liên doanh, phía Việt Nam đã nhập khẩu nhiều thiết bị, máy móc lạc hậu không đảm bảo yêu cầu về chất lượng với giá cao; hay do hạn chế về trình độ chuyên môn và ngoại ngữ nên người lao động nước ta chưa chủ động khai thác tốt, có hiệu quả những công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến
Trong tác phẩm Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, nhà sử
học Mỹ nổi tiếng Paul Kennedy cho rằng: “Sức mạnh của một quốc gia – dân tộc… trước hết bao gồm bản thân quốc gia đó: những con người với những tài năng, nghị lực, tham vọng, kỷ luật, sáng kiến của họ…” [44, 70]
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định: “Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần huy động nhiều nguồn vốn, gắn với sử dụng vốn có hiệu quả Trong đó, nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn vốn bên ngoài là quan trọng” [18, 30]
Hai là, nguồn nhân lực là một nguồn lực có tiềm năng vô hạn
Có thể nói, các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồn nhân lực mà cốt lõi là trí tuệ, lại có tiềm năng vô tận Tiềm năng vô tận của trí tuệ con người thể hiện ở chỗ nó có khả năng tự sản sinh, đổi mới và phát triển không ngừng nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý Đó chính là lý do làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận, xét trên phạm vi cộng đồng, nhân loại
Tiềm năng vô tận của trí tuệ có cơ sở ở cả phương diện sinh học lẫn phương diện xã hội của con người Ở khía cạnh sinh học, tiềm năng đó trước