1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc mường ở tỉnh hòa bình trong giai đoạn đổi mới hiện nay

177 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Văn hóa dân tộc Mường ra đời, phát triển và trải qua bao thăng trầm với biết bao biến cố của lịch sử, của thời gian; dẫu rằng có nhiều điều phôi phai theo thời

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



QUÁCH THỊ NHỊ

GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC MƯỜNG

Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN

ĐỔI MỚI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



QUÁCH THỊ NHỊ

GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC MƯỜNG

Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN

ĐỔI MỚI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Triết học

Mã số:60.22.80

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Văn Gàu

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2015

Trang 3

LỜI CAM OAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS.Vũ Văn Gầu Những kết luận khoa học chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nào

Tác giả

QUÁCH THỊ NHỊ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 01

HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM 12

1.1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VIỆT NAM 12

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của văn hóa 12 1.1.2 Đặc trưng của nền văn hóa dân tộc Việt Nam 30

1.2 GIÁ TRỊ VĂN HÓA VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM 33

1.2.1 Giá trị và giá trị văn hoá 33 1.2.2 Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam 40

HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC MƯỜNG Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI HIỆN NAY 62

2.1 GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG Ở HÒA BÌNH 61

2.1.1 Hoàn cảnh địa lý, kinh tế - xã hội hình thành văn hóa dân tộc Mường Hòa Bình 61 2.1.2 Đặc trưng cơ bản của văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình 72 2.1.3 Những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Mường 96

Trang 5

2.2 THỰC TRẠNG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC MƯỜNG Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA 127

2.2.1 Những thành tựu của việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình trong những năm đổi mới vừa qua 128 2.2.2 Những hạn chế của việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình trong những năm đổi mới vừa qua và nguyên nhân………139

2.3 PHƯƠNG HƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC MƯỜNG Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI HIỆN NAY 146

2.3.1 Phương hướng giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình

2.3.2 Một số giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn đổi mới hiện nay…… …….149

KẾT LUẬN 161

TÀI LIỆU THAM KHẢO 165

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa dân tộc Mường ra đời, phát triển và trải qua bao thăng trầm với biết bao biến cố của lịch sử, của thời gian; dẫu rằng có nhiều điều phôi phai theo thời gian, nhưng cũng có những yếu tố văn hóa gần như trường tồn theo năm tháng, có lẽ đó là những giá trị văn hóa tạo nên nét đặc sắc của một dân tộc, là chất keo thiêng liêng gắn kết quá khứ với hiện tại, nối kết kẻ xa với người gần, nối kết người trẻ với người già, người đang sống với kẻ đã khuất… Hòa Bình là nơi cộng hưởng của nhiều tộc người, nhưng đặc biệt là dân tộc người Mường với những giá trị văn hóa đặc sắc, tiêu biểu, rất phong phú và đa dạng, mang màu sắc độc đáo, riêng biệt, được truyền lại qua bao thế hệ Nền văn hóa ấy đã ra đời hơn một vạn năm trước, từ khi người

Mường biết ca lên bài ca Đẻ đất đẻ nước, từ khi người Mường biết trồng hạt

lúa, cây ngô, và rồi đến hôm nay nền văn hóa ấy vẫn mang những giá trị nhân văn sâu sắc, vẫn mang một sức sống lâu bền và mạnh mẽ Vì vậy, nghiên cứu

về văn hóa của dân tộc Mường ở Hòa Bình với mục đích tìm lại một trong những cội nguồn sâu xa của văn hóa Việt Nam, nhằm bảo vệ và phát triển những giá trị nhân văn của nền văn hóa ấy là điều cần thiết trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

Về mặt lý luận, văn hóa các tộc người thiểu số là tài sản quý giá tạo nên sự đa dạng mà thống nhất, góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Văn hóa dân tộc Mường là một bộ phận trong nền văn hóa Việt Nam Vì vậy, giữ gìn bản sắc của văn hóa dân tộc Mường là vấn đề có ý nghĩa chính trị xã hội to lớn Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật, đặc biệt là hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc Mường là việc làm ý nghĩa và hết sức cần thiết

Trang 7

Xét về thực tiễn, trước những thách thức của thời kỳ mở cửa, hội nhập, nhiều giá trị văn hoá truyền thống của người Mường đang có nguy cơ bị biến dạng, mai một Như lời than vãn của một người đàn ông Mường "Nhiều người trẻ đã không biết thổi sáo, không có con dao giắt lưng nữa, không biết bắn cung, nỏ, không còn đam mê tiếng cồng chiêng, không muốn mặc bộ quần áo của dân tộc mình nữa rồi!" [1; 25, 66] Giới trẻ ngày nay không được giáo dục thỏa đáng về việc gìn giữ bản sắc tộc mình, người già thì bận bịu mưu sinh với cuộc sống Thậm chí ở nhiều nơi, trẻ em Mường đã không còn biết nói tiếng dân tộc Điều đó khiến cho văn hóa dân tộc Mường bị mai một ngay trong chính cộng đồng của mình Đó là chưa kể đến sự thiếu quan tâm chú ý của cộng đồng lớn hơn như quốc gia, quốc tế

Để bảo tồn di sản văn hoá Mường nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Mường như: Xây dựng chuyên đề riêng về công tác tuyên truyền, bảo tồn văn hoá; tạo hành lang pháp lý và tổ chức thực hiện đề án bảo tồn văn hoá phi vật thể trong đó

có sự vận động xã hội hoá hoạt động văn hoá Mường; bảo lưu ngôn ngữ, nhạc cụ cồng chiêng; khôi phục lại các trò chơi, trò diễn, dân ca, dân vũ; tổ chức "ngày hội văn hoá các dân tộc của tỉnh"; đưa việc thành lập các đội văn nghệ truyền thống vào tiêu chí, hương ước xây dựng làng, bản văn hoá; công nhận và có chính sách tôn vinh các nghệ nhân và đặc biệt là việc giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu biết, kế thừa, phát huy những nét đẹp truyền thống trong việc xây dựng đời sống văn hóa Mường

Trên tinh thần ấy, tôi là một người con của xứ Mường Hòa Bình, từ khi sinh ra đã chịu ảnh hưởng của bao nét đẹp văn hóa dân tộc, cũng như chứng kiến bao đổi thay trong sự phát triển văn hóa, tôi muốn đóng góp chút công sức rất nhỏ bé để bảo vệ những bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đó là lý do

tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền

Trang 8

thống dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn đổi mới hiện nay”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Có rất nhiều hướng để nghiên cứu về văn hóa truyền thống của một dân tộc Ở đây tác giả đi vào hướng nghiên cứu:

Thứ nhất những công trình nghiên cứu về giá trị văn hoá Việt Nam nói chung

Nói đến giá trị văn hoá truyền thống là nói đến một tổng thể giá trị to lớn và vô cùng trừu tượng Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà văn hoá học về chủ đề này với nhiều góc độc và phạm vi rộng hẹp đa chiều khác nhau

Cụ thể là một số tác phẩm tiêu biểu của các giáo sư, như: Giá trị tinh

thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, của GS.NSND Trần Văn Giàu, Nxb

Chính trị Quốc gia, ấn bản lần đầu năm 1980 Tác phẩm này đã nêu bật lên được những giá trị truyền thống của dân tộc ta trong đó nổi bật nhất là truyền thống yêu nước, xem truyền thống đó như là “sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ

lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại”; hay tác phẩm Những giá trị văn hoá

truyền thống Việt Nam, của GS.TS Ngô Đức Thịnh; Nxb Chính trị Quốc gia

Nội dung cuốn sách đề cập rất nhiều những vấn đề về giá trị và giá trị văn hoá, bao gồm cả những khái niệm về văn hoá, những vấn đề lý luận trong quá trình nghiên cứu giá trị văn hoá truyền thống và chuyển đổi hệ giá trị trong

đổi mới và hội nhập; Bên cạnh đó còn có những công trình khác như: Tìm

hiểu những giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia 2001; Xây dựng môi trường văn hoá ở nước ta hiện nay nhìn từ góc nhìn giá trị học; Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện tại do GS.TSKH Trần Ngọc Thêm làm chủ biên,

Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, các cuốn sách này là tập hợp những nghiên cứu về vấn đề giữ gìn giá trị truyền thống văn hoá của Việt

Trang 9

Nam nói chung, trong đó có làm rõ hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, các giá trị văn hoá truyền thống tinh thần của người Việt Nam và những nhân tố tác động đến quá trình biến đổi và hình thành hệ giá trị Việt Nam mới, đồng thời cũng phân tích hệ giá trị Việt Nam trên các bình diện và

ở các vùng miền

Ngoài ra còn một số những công trình nghiên cứu về bản sắc văn hoá

vô cùng hữu ích trong việc nghiên cứu lý luận chung về văn hoá và giá trị

truyền thống văn hoá Không thể không kể tới cuốn Bản sắc dân tộc và hiện

đại hoá trong văn hoá (2000), GS.TS Hoàng Trinh, Nxb Chính trị Quốc gia; Bản sắc dân tộc và hiện đại hoá văn hoá Việt Nam - Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn (2006), PGS.TS Thành Duy (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá (2006), Nguyễn Văn Dân, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Bản sắc văn hoá dân tộc (2003), TS Hồ

Bá Thâm, Nxb Văn hoá thông tin…

Thứ hai, những công trình nghiên cứu văn hoá dân tộc Mường

Kể từ khi Đảng ta khẳng định văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển đất nước và xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc được xác định là “một trong những đặc trưng xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở nước ta”, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa Trong đó văn hóa dân tộc Mường được quan tâm và nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:

Cuốn Người Mường (les Mường) địa lý nhân văn và xã hội học, Nxb

Lao động, 2007, bản dịch của Sở Văn hóa thông tin tỉnh Hòa Bình Tác phẩm này do tiến sĩ văn học người Pháp Jeanne Cuisinier viết với nguồn tư liệu, cứ liệu đồ sộ, phong phú, được trình bày một cách khoa học Bà đã nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện về dân tộc Mường Việt Nam, được các nhà dân

Trang 10

tộc học đánh giá cao Cuốn “Người Mường” được chia thành hai phần lớn, một phần là địa lý nhân văn, phần kia là xã hội học Đây được xem là một cuốn sách Dân tộc chí về tộc người Mường (Nguyễn Từ Chi) miêu tả nếp sống của một cộng đồng

Người Mường của tác giả Trần Từ, cuốn sách là cả một công trình dày

công của tác giả Trần Từ khi ông đi sâu vào trong những bản Mường để sống, để ăn, ở với người dân Mường Hoà Bình và từ đó đúc rút ra những tinh hoa văn hoá của dân tộc Mường, qua cuốn sách này có thể thấy được sự biến đổi ít nhiều một số nét văn hoá trong cuộc sống của người Mường

Địa chí Hòa Bình, được biên soạn dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy - Hội

đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Cuốn sách là một công trình nghiên cứu gần như đầy đủ nhất về văn hóa, lịch sử, các đặc điểm địa lý và tình tình chính trị của tỉnh Hòa Bình

từ xưa cho tới nay Là tâm sức và sự lao động miệt mài của rất nhiều nhà nghiên cứu

Công trình Người Mường ở Việt Nam – The Muong in Viet Nam (Song

ngữ Anh – Việt), nhiều tác giả, Nxb Thông tấn, 2008 Nội dung nói về nền văn hóa lâu đời của cộng đồng các dân tộc Mường với những bản sắc riêng, phản ánh truyền thống, lịnh sử và niềm tự hào dân tộc Đồng thời cùng với những thay đổi lớn lao của đất nước, cũng như các dân tộc thiểu số khác, cuộc sống của người Mường có rất nhiều biến đổi Văn hóa ăn, mặc, ở đã khác xưa nhiều, tâm lý, tín ngưỡng, nếp sống của họ cũng không ngừng cải tiến

Cuốn sách Dân ca Mường: Phần Tiếng Việt, tác giả Bùi Thiện, Nxb

Văn hóa dân tộc, 2010 Nội dung Tập "Dân ca Mường" - phần tiếng Việt được tác giả sưu tầm, biên dịch tổng hợp các thể loại thuộc dân ca trên mảnh đất quê hương của nền "văn hóa Hòa Bình" lâu đời và nổi tiếng Trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc mình, người Mường có nhiều

Trang 11

truyền thống vẻ vang về các mặt Riêng văn học dân gian chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tư tưởng của con người

Công trình Văn hóa dân gian Mường, tác giả Bùi Thiện, Nxb Văn hóa

dân tộc, 2010 Nội dung cuốn sách này gồm 5 chương Chương 1: Thiên nhiên - đất nước - con người Chương 2: Huyền thoại - vũ trụ quan - thế giới quan truyền thống dân tộc Chương 3: Vài nét về văn hóa vật chất Chương 4: Một số phong tục và lễ hội của dân tộc Mường Chương 5: Nghệ thuật dân gian Mường Tác giả nêu lên đặc điểm thiên nhân, đất nước, con người Mường từ đó cho thế giới quan truyền thống của dân tộc này Ngoài ra, những nét về văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của người Mường cũng được tác giả nhận định, đánh giá

Sách Tang lễ cổ truyền người Mường, tác giả Bùi Huy Vọng, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, 2010 Cuốn sách này là công trình tâm huyết hơn mười năm đi sưu tầm, ghi chép trực tiếp tham gia tổ chức đám tang và tìm hiểu về tang lễ của người Mường của tác giả, nay soạn thành văn bản hệ thống từ đầu đến kết thúc quy trình tổ chức một đám ma cổ truyền của người Mường Ý đồ tác giả mong muốn thể hiện nó như một lát cắt bổ dọc đi qua các nghi lễ, lễ thức, các công việc diễn ra trong đám ma cổ truyền của người Mường hòng mong muốn cung cấp nguồn tư liệu chính xác cho bạn đọc gần xã hiểu về một phong tục đặc biệt của người Mường

Tục ngữ, câu đố, trò chơi trẻ em Mường, tác giả Bùi Thiện, Nxb Văn

hóa thông tin, 2010 Nội dung cuốn sách này gồm 2 phần Phần 1: Tục ngữ Phần này nói về các vấn đề như kinh nghiệm về thiên nhiên thời tiết, kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, săn muông, thái độ đối với thiên nhiên

và lao động sản xuất, con người với gia đình, con người với xã hội Phần 2: Câu đố - trò chơi trẻ em Mường Phần này nói về câu đố, hát chơi, trò chơi, múa hát, chuyện kể

Trang 12

Truyện dân gian dân tộc Mường: văn xuôi, tập 1, tác giả Bùi Thiện,

Nxb Văn hóa dân tộc, 2010 Nội dung tập truyện dân gian dân tộc Mường này cũng được chia là hai tập Tập 1 là văn xuôi Tập 2 là truyện thơ Ở cả hai tập người biên soạn cố ý sắp xếp để người đọc thấy được truyện từ thời

kỳ xa xưa tiến gần lại với ngày xưa theo tiến trình lịch sử xã hội Gồm những truyện thần thoại, truyện huyền thoại, truyện ngụ ngôn, truyện cười mỗi dạng cũng từ hai đến trên hai chục truyện đầy lý thú Cuốn sách cũng góp phần phản ánh sự ra đời của văn xuôi Mường

Cuốn Tản mạn văn hóa Mường Hòa Bình, Nxb Thông tin và truyền

thông, 2011 do tác giả Nguyễn Hải viết Cuốn sách là tập hợp những bài báo, những đoạn văn nói về đời sống xã hội người Mường mà tác giả đã có một thời gian trải nghiệm lâu dài qua các mường lớn như: Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động đến các Mường nhỏ như: Chum, Chiềng, rồi lên vùng cao, mãi tận thượng nguồn sông Đà, vào các vùng sâu, vùng xa như: Rỉ, Rộc, Thung Khe…

Năm 2011, Nxb Văn hoá thông tin xuất bản cuốn Văn hoá bản mường

Việt Nam của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh Công trình cho độc giả thấy

được sự hình thành và phát triển của văn hoá bản mường Bên cạnh những nét văn hoá riêng của từng tộc người lại có những nét chung giữa các tộc người Những nét chung được thể hiện ở những đặc điểm như: sống gắn bó với núi rừng, lưu giữ được nhiều tập tục sinh hoạt thời cổ, tôn kính những người đứng đầu (già làng), do điều kiện thông tin liên lạc bị hạn chế nên họ ít tiếp thu được những thành quả của văn minh hiện đại Cũng theo cuốn sách, các tộc người đã sản sinh ra một kho tàng văn hoá dân gian khá đồ sộ, góp phần vào sự phát triển của nền văn học nước nhà

Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn có các bài viết đề cập đến

văn hoá dân tộc Mường ở Hoà Bình Bài viết “Cồng chiêng của người

Trang 13

Mường ở Hoà Bình”, đăng trên Tạp chí Dân tộc học, số 2, năm 2000 của tác

giả Nguyễn Thị Thanh Nga bên cạnh việc nêu lên nguồn gốc và đặc trưng của nhạc cụ cồng chiêng tác giả còn cho người đọc thấy được hình tượng cồng chiêng cũng như vị trí của nó trong đời sống của người Mường

“Người Mường đón Tết”, tác giả Mai Lâm, Tạp chí Văn hoá dân tộc, số

1+2, 2004, cho thấy nét văn hoá của người Mường nhân dịp đón năm mới Trong cái Tết của người Mường có nhiều nét văn hoá chung của các tộc người khác nhưng cũng có những nét riêng thể hiện bản sắc của tộc người Mường Ngay cả những tập tục sinh nở cũng trở thành những nét văn hoá riêng

của người Mường được phản ánh rõ nét trong bài viết “Tập tục trong sinh đẻ

ở người Mường, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình” của tác giả Nguyễn Thị

Song Hà, đăng trên Tạp chí Dân tộc học, số 1, năm 2005

Với bài “Tục lễ cưới xin của người Mường ở xóm Đa, xã Tân Mỹ, huyện

Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình”, Tạp chí Dân tộc học, số 3, 2010, tác giả Nguyễn

Thẩm Thu Hà đã cho người đọc hình dung được quan niệm về cưới xin của người Mường, một vài quy tắc cơ bản trong cưới xin, tiêu chí chọn vợ, chọn chồng, tục lệ trước khi cưới, khi cưới và sau khi cưới ở xóm Đa Theo tác giả bài viết việc cưới xin của người Mường xưa kia ở xóm Đa đôi khi do sự sắp đặt chứ không hẳn là kết quả của tình yêu trai gái Việc cưới xin cũng đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và chịu ảnh hưởng của các yếu tố tín ngưỡng như xem tuổi, khi ra ngoài cô dâu phải mặc áo màu thâm để tránh ma…

Bài viết “Một số biến đổi về nghi lễ, tập quán hôn nhân của người

Mường ở Hoà Bình”, tác giả Nguyễn Thị Song Hà, Tạp chí Dân tộc học,

2011 có phần mở rộng cho bài viết của tác giả Nguyễn Thẩm Thu Hà Những biến đổi được tác giả đề cập trong bài viết: biến đổi trong quan niệm, điều kiện

và tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời, biến đổi về nghi lễ, tập quán hôn nhân, biến đổi về lễ vật, trang phục… Những sự biến đổi này đều nhằm thích ứng với

Trang 14

những điều kiện mới Trong quá trình biến đổi, người Mường cũng có sự giao lưu, tiếp nhận văn hoá của những tộc người khác, đặc biệt là tộc người Kinh Trên đây có thể gọi là một bức tranh thu nhỏ về tình hình nghiên cứu văn hoá Mường nói chung và văn hoá Mường ở Hoà Bình nói riêng Có thể thấy, văn hoá Mường được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Các công trình và bài viết đã đề cập đến vị trí địa lý, tập tục sinh hoạt của người Mường, những tác phẩm dân gian, những nét văn hoá mang đặc trưng riêng của tộc người Mường… đó là những kiến thức hết sức cần thiết, vô cùng bổ ích cho tác giả, là nguồn cảm hứng để tác giả luận văn tham khảo, có nhiệt tâm trong việc triển khai đề tài nghiên cứu này với cách tiếp cận và lý giải dưới góc độ triết học văn hóa

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:

Mục đích của luận văn: Góp phần làm sáng tỏ những giá trị văn hóa

truyền thống dân tộc Mường ở tỉnh Hoà Bình, chỉ ra thực trạng của việc giữ gìn và phát huy những giá trị đó, từ đấy xác định phương hướng và một số giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn đổi mới hiện nay

Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích nói trên luận văn phải

thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ lý luận chung, về giá trị và giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam

Thứ hai, chỉ ra những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình trên cơ sở phân tích, làm rõ những điều kiện tự nhiên và lịch

sử sự hình thành những giá trị đó

Thứ ba, Đề xuất và luận chứng phương hướng và một số giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn đổi mới hiện nay

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng luận văn: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn hóa dân

tộc Mường ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu việc

giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn đổi mới hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Sử dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Vận dụng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các văn kiện Đại hội về văn hoá và việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Bên cạnh đó tác giả cũng sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học bao gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử và logic, hệ thống và cấu trúc, so sánh, đối chiếu, đặc biệt là phương pháp điền dã, tức đi sâu vào thực tế cuộc sống của người dân Mường để có được những cứ liệu tin cậy và những kết quả nghiên cứu phong phú và sinh động

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt khoa học, đề tài góp phần làm sáng tỏ những giá trị văn hóa

Mường cần được bảo tồn và phát huy mà nhân dân Hòa Bình đã tạo nên từ buổi đầu sơ khai của nền văn hóa Hòa Bình cho đến nay Đồng thời góp phần khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu vấn đề giữ gìn, bảo tồn những giá trị

ấy ở tỉnh Hoà Bình

Về mặt thực tiễn, qua việc khái quát về thực trạng việc giữ gìn bản sắc

văn hoá dân tộc Mường ở Hoà Bình, tác giả cũng mạnh dạn đề xuất một vài giải pháp để góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc Mường Từ các kết quả nghiên cứu luận văn cung cấp thêm nguồn tư liệu cho các nhà

Trang 16

hoạch định chính sách nhằm có được những giải pháp tối ưu nhất để bảo tồn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Hòa Bình trong bối cảnh đất nước ở giai đoạn đổi mới

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 4 tiết Chương 1: Lý luận chung về văn hóa và giá trị truyền thống văn hóa Chương này nêu khái quát về khái niệm văn hoá, khái niệm giá trị và giá trị văn hoá, đồng thời nêu lên một số nét cơ bản trong giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam Chương 2: Giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Mường, thực trạng, nguyên nhân và những giải pháp

để giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống đó ở tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn đổi mới hiện nay

Trang 17

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của văn hóa

Văn hóa là một đề tài bao la như sự sống của con người Là vấn đề nhân sinh quan và thế giới quan bao phủ lấy cuộc sống của con người, chi phối cách con người ứng xử với nhau, với thiên nhiên và cả trong những hoạt động sản xuất Nhìn từ quan điểm duy vật biện chứng đối với lịch sử loài người ta càng không thể phủ nhận được những vai trò to lớn của văn hóa Vì vậy, tìm hiểu về văn hóa và định nghĩa chính xác về nó là mong muốn của tất

cả những nhà nghiên cứu văn hóa Có thể nói, văn hóa ăn sâu vào tất cả các

mặt của cuộc sống con người, đồng thời, là nền tảng cho sự hiện hữu và phát triển của con người Một mặt, văn hóa chi phối các hành động và tương giao của con người trong môi trường tự nhiên, lịch sử, và xã hội Mặt khác, văn hóa lại được xây dựng bởi con người thông qua quá trình tiếp nhận, trao đổi,

và lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác Do các đặc tính phức tạp của văn

hóa, một câu trả lời thích đáng cho câu hỏi văn hóa là gì? luôn nằm ngoài

khả năng tổng hợp và khái quát của ngôn ngữ Trong thực tế, người ta thường

mô tả văn hóa trong biểu hiện cụ thể của nó hơn là tìm cách định nghĩa nó

Về khái niệm văn hóa, thuận ngữ văn hóa là một trong những thuật ngữ

có nhiều quan niệm, nhiều định nghĩa nhất; điều đó thể hiện thuật ngữ văn hóa là thuật ngữ rất phong phú về nội hàm Sở dĩ như vậy vì dù con người sống trong thời đại nào, văn hoá luôn được quan tâm và người ta luôn cố gắng để định nghĩa, để xác định nội hàm của nó Hơn nữa, trong mỗi thời kỳ

Trang 18

lịch sử, ở những địa phương khác nhau, con người ta có những nền văn hoá khác nhau, do đó cách con người nhìn nhận về văn hoá cũng rất khác nhau là điều đương nhiên

Về từ nguyên, thuật ngữ văn hóa, trong tiếng La Tinh, xuất phát

từ thuật ngữ cultus (sự gieo trồng) Thuật ngữ văn hóa dần được sử dụng với

nghĩa rộng hơn, chẳng hạn, sự tinh tế, tao nhã, và lịch sự của con người Theo nghĩa nguyên thủy của nó, văn hóa liên quan đến cá nhân hơn là tập thể Mỗi người phải học biết các khái niệm, tập tục, thói quen, cách cư xử, và chủ đích nhằm làm cho mình ngày càng được hoàn thiện hơn Văn hóa định hướng các

cá nhân tham dự vào xã hội bằng cách, trước tiên, xây dựng đời sống nội tại của riêng mình Văn hóa đóng vai trò ươm trồng, trau dồi, và nuôi dưỡng cá

nhân trong đời sống xã hội lẫn tri thức Trong thời hiện đại, thuật ngữ văn

hóa bao hàm nhiều nghĩa khác nữa Văn hóa được diễn tả qua tính đa dạng

của các lĩnh vực khác nhau trong đời sống con người, chẳng hạn, niềm tin, ngôn ngữ, nghệ thuật, trang phục, và thiết bị kỹ thuật Ở tầm mức lớn hơn, văn hóa được diễn tả qua các thể chế, tổ chức, cấu trúc, gia đình, nhóm, cộng đoàn, quốc gia, và quốc tế

Để có được cái nhìn rõ nét hơn về văn hóa và những biểu hiện của nó đối với cuộc sống con người, tác giả xin được trình bày một số quan niệm tiêu biểu về văn hóa

Nhà nhân học xã hội người Anh Edward Bernett Tylor (1832 – 1917) được coi là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hoá Theo ông, “văn hoá theo nghĩa rộng, là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán cùng một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành tố xã hội” [19; 13]

Qua định nghĩa này ta có thể nhận thấy Tylor chỉ định nghĩa văn hoá theo phương thức miêu tả đặc trưng, nhìn nhận văn hoá ở một khía cạnh của

Trang 19

đời sống tinh thần Định nghĩa của Tylor nghiêng về tính ổn định và liên tục của văn hóa Theo đó, văn hóa là những gì con người trải nghiệm và đạt được trong cuộc sống thông qua những hành động ngoại tại của mình trong môi trường lịch sử xã hội Mối tương quan giữa con người và văn hóa theo một

chiều, nghĩa là, từ con người tới văn hóa Nói cách khác, con người là chủ thể tiếp nhận văn hóa, còn văn hóa được nhìn nhận như đối tượng được con

người hấp thu Theo nghĩa này, văn hóa hoàn toàn phụ thuộc vào con người

và được lưu truyền từ người này tới người khác, từ xã hội này tới xã hội kia,

và từ thế hệ này tới thế hệ kế tiếp Chúng ta có thể nhận ra rằng cách hiểu của Tylor về văn hóa là chưa đầy đủ, bởi lẽ không nêu bật được sự thật rằng con

người cũng là đối tượng của văn hóa, con người lệ thuộc văn hóa cùng những

biến đổi không ngừng của nó Văn hóa bao phủ và hướng dẫn con người theo những đặc tính của nó

Còn Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn thì cho rằng “văn hoá bao gồm những chuẩn mực, tồn tại ở bên trong lẫn biểu lộ ra bên ngoài, xác định hành vi ứng xử được tập nhiễm nhờ các biểu tượng; văn hoá xuất hiện nhờ các hoạt động của con người trong khi đưa sự biểu hiện của nó vào các phương tiện (vật chất) Hạt nhân cơ bản của văn hoá gồm các tư tưởng truyền thống (được hình thành trong lịch sử), đầu tiên là những tư tưởng có giá trị đặc biệt

Hệ thống văn hoá có thể được xem xét, một mặt như là kết quả của hoạt động người, mặt khác như là những sự điều chỉnh những hoạt động đó” [1;23]

Có thể nói rằng cách hiểu của Kroeber và Kluckhohn về văn hóa như trên còn khá mơ hồ, rời rạc Tuy nhiên, trong một nghĩa nào đó, cách hiểu này diễn tả được đặc tính của văn hóa hơn là cách hiểu do Tylor đưa ra, bởi

vì cách hiểu này xem biểu tượng là thành phần cốt yếu diễn tả văn hóa Theo

đó, văn hóa khẳng định mình và diễn tả mình trong xã hội loài người như là thực tại ít lệ thuộc vào kiến thức, ý định, hay hành động của con người Qua

Trang 20

các biểu tượng, các giá trị văn hóa được thể hiện cách đa dạng, thoát khỏi sự kiểm soát và điều chỉnh khắt khe của con người Cách hiểu này cho phép chúng ta tiếp cận văn hóa và dẫn chúng ta tới nhận thức sâu xa hơn rằng con người và văn hóa tương quan mật thiết với nhau

Nhà nhân chủng học văn hóa Clifford Geertz, năm 1973 đã định nghĩa: “Văn hóa biểu thị tiến trình luân chuyển trong lịch sử mô hình các ý nghĩa được thể hiện qua các biểu tượng, một hệ thống các nhận thức thừa kế được diễn tả qua các hình thái biểu tượng, nhờ đó con người giao tiếp, duy trì, và xây dựng kiến thức cũng như các quan điểm của mình đối với cuộc sống [105; 89]

So với quan niệm của Kroeber và Kluckhohn, thì cách hiểu văn hóa của Geertz mang tính tổng hợp cao hơn khi cho rằng các ý nghĩa của văn hóa được diễn tả qua các hình thái biểu tượng hay mô hình cần thiết để con người qui chiếu các hành động, tư tưởng, và các ứng xử của mình Cách hiểu của Geertz về văn hóa cho phép chúng ta suy luận rằng văn hóa luôn dồi dào và thâm sâu hơn những gì được thể hiện Văn hóa là thực tại vượt trên khả năng nắm bắt trọn vẹn của con người Tương tự như thế, Mathew Arnold cho rằng

“một nền văn hóa đang hiện diện luôn có phần chưa được biết đến, chưa được nhận ra Việc hình thành một cộng đồng luôn là một tiến trình khám phá, bởi vì ý thức không thể có trước tạo dựng, và không có công thức nào cho kinh nghiệm chưa nếm trải.” [107; 334] Văn hóa đóng vai trò trung gian giữa con người với nhau, cũng như giữa con người và thế giới tự nhiên trong tiến trình lịch sử Chúng ta có thể hiểu cách nôm na rằng văn hóa vừa hiện thực vừa tiềm ẩn, vừa thuộc về kinh nghiệm, vừa siêu vượt kinh nghiệm B.K Malinowki (1884 – 1942) thì cho rằng: “Văn hoá bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị” [27; 18] Đây là định nghĩa dựa trên những thuộc tính ổn định của văn hoá Ngược lại với

Trang 21

B.K Malinowki, C.W Wissler lại cho rằng: “Lối sống mà một công xã hay

bộ lạc tuân thủ được gọi là văn hoá” [27; 18] Có học giả quan niệm: “Nhờ sự thống nhất về nguồn gốc và phương diện cư trú các cá thể của một dân tộc đều mang dấu vết thuộc bản chất đặc biệt của dân tộc ấy, thể hiện trên thân thể và tâm hồn của họ, tại đây tác động của những ảnh hưởng cơ thể lên tâm hồn đã gây ra thiên tư sắc sảo, xu hướng, tố chất, các thuộc tính tinh thần, thường là như nhau ở mọi cá thể, do đó mọi người đều sở hữu một tinh thần dân tộc Tinh thần dân tộc được quan niệm như là sự giống nhau về tâm lý giữa những cá thể, cùng sở thuộc vào một dân tộc và đồng thời nó biểu hiện như là sự tự ý thức của họ” [1;38] Với khái niệm khá trừu tượng này Belik

đã cho ta thấy sự phức tạp của văn hoá và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của địa bàn

cư trú Dựa vào quan điểm trên những nhà nghiên cứu văn hoá theo trường phái này định nghĩa văn hoá như sau: “Văn hoá như là thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ tự nhiên và xã hội và như là vai trò của con người trong vũ trụ ấy” [90; 157] Thế nhưng khác với các học giả theo trường phái tâm lý học, nhà xã hội học J Fichter quan niệm: “Văn hoá là hình thái toàn diện của hệ thống thể chế (Chính trị, kinh tế, gia đình, giáo dục, tín ngưỡng

và giải trí) mà con người có cùng chung trong xã hội” [34; 162] Trong định nghĩa này, J Fichter đặc biệt quan tâm đến cấu trúc xã hội văn hoá Và chính ông đã chỉ ra tính sâu rộng, phổ quát của văn hoá

Bale E.A cho rằng: “Văn hóa là hoạt động sáng tạo của nhân loại, trong tất cả cái phạm vi của tồn tại và ý thức, là cái quá khứ được vật thể hóa trong các giá trị văn hóa nào đó, cũng như cái hiện tại và tương lai được xây dựng trên việc lĩnh hội kinh nghiệm của quá khứ đã tích lũy được và nhằm

mục đích cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người” [18; 27] Hiểu theo

định nghĩa này rõ ràng hoạt động của con người đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành và duy trì văn hóa Việc con người lao động

Trang 22

và phát triển chính là một quá trình sản sinh ra văn hóa Cụ thể hơn trong Từ

điển triết học định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh

thần do loài người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình”[50;973] Từ định nghĩa này mà sau này các học giả văn hóa lấy làm căn cứ cho những nghiên cứu về văn hóa

Ngoài ra, trong cuốn Từ điển chính trị vắn tắt các tác giả cũng đưa ra

định nghĩa về văn hóa Trong đó văn hóa được hiểu là trình độ phát triển nhất định của xã hội, của khả năng và sức mạnh sáng tạo của con người trong một giai đoạn lịch sử nhất định Dựa vào các giai đoạn lịch sử mà người ta phân biệt được các nền văn hóa khác nhau

Trước sự đa dạng về định nghĩa văn hoá, mà mỗi định nghĩa lại có một

ý nghĩa riêng, một tầm quan trọng riêng, để nhằm tạo sự thống nhất và dễ dàng hơn trong quá trình nghiên cứu, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hiệp Quốc (United Nations Educationnal, Scientific and Cultural Organization) viết tắt là UNESSCO đã đưa ra định nghĩa mang tính tổng quát

về văn hoá Trong định nghĩa này, UNESSCO đặc biệt nhấn mạnh đến tính riêng biệt của mỗi nền văn hoá, tôn trọng nó, nhưng vẫn đảm bảo nội hàm của định nghĩa về văn hoá mà các tác giả khác đã đề cập đến Vào năm 1970, tại Venise, cộng đồng quốc tế đã chấp nhận định nghĩa về văn hoá của UNESSCO như sau: “Đối với một số người, văn hoá chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [15; 51] Với định nghĩa khá đầy đủ này của UNESSCO

đã tạo điều kiện thuận lợi hơn về sau cho những người nghiên cứu văn hoá xem đó như chuẩn mực để xác định các tính chất và đặc điểm của văn hóa

Và tác giả luận văn cũng hoàn toàn đồng tình với định nghĩa này

Trang 23

Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng rất khó để xác định định nghĩa nào mang tính toàn diện nhất, súc tích nhất, đầy đủ nhất về văn hoá, tuy nhiên, ta không thể phủ nhận, đó là những nền tảng đầu tiên để xây dựng nên những lý luận văn hoá mới mẻ và hoàn thiện hơn về sau này

Và không chỉ ở phương Tây người ta mới quan tâm đến vấn đề văn hoá, ở phương Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng các học giả cũng không ngừng đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về văn hoá và cố gắng làm rõ khái niệm văn hoá Với sự kế thừa có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu về văn hoá học của các học giả tiền bối trên thế giới họ cũng đưa ra những khái niệm văn hoá có tính khoa học cao

Trước hết ta xét đến khái niệm văn hóa trong cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam: “Văn hóa là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.”[81;798] Mặc dù định nghĩa này chưa hoàn toàn chính xác nhưng nó là định nghĩa được sử dụng rất thông dụng trong cả nghiên cứu và trong đời sống Như vậy văn hóa cũng được hiểu gồm cả mặt sản xuất và tinh thần Khi tìm hiểu về văn hóa không thể tách rời những hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần

Quan điểm về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhà văn hóa kiệt xuất được UNESCO vinh danh, trong mục “Đọc sách” ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942-1943), Bác viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công

cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”

Trang 24

[49; 448] Chính nhờ hiểu được văn hóa theo nghĩa rộng như vậy mới có thể đóng góp được vai trò “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa

là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Từ đó xác định được vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội, vai trò tối quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách rành rẽ ngay từ những ngày đầu của chính quyền nhân dân non trẻ Chính vì vậy, ngay đầu tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Ủy ban Văn hóa lâm thời Bắc Bộ Ngày 7/9/1945, khi tiếp các đại biểu của ủy ban đó, Hồ Chủ tịch đã nói: “Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn gây dựng cho đất nước một nền văn hóa mới… Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, đấu tranh cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới” [48; 13] Đó là một kỳ vọng lớn

mà Bác đã đặt vào tay các nhà văn hóa

Hơn một năm sau, khi tiếng súng kháng chiến đã nổ ở Nam Bộ, ở Hải Phòng, tình hình đất nước hết sức nguy cấp, ngày 24/11/1946, Hồ Chủ tịch vẫn dành thì giờ tới đọc diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hóa toàn quốc với lời lẽ đã đi vào lịch sử như một hàng chữ vàng: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” Có lẽ vì theo bác con người không thể hoàn thiện nếu thiếu văn hóa, đất nước không thể đi lên nếu thiếu văn hóa

Sau này, Hồ Chủ tịch còn nhiều lần nhắc lại vai trò, vị trí của văn hóa trong sự nghiệp chung Đáng tiếc là nơi này, nơi khác, lúc này, lúc khác một

số cán bộ, cấp ủy còn chưa đặt đúng văn hóa vào vị trí của nó, thậm chí còn coi nó như một lĩnh vực “ăn theo” kinh tế, một “cái đuôi” của sự phát triển

Để đáp ứng được những yêu cầu, kỳ vọng của Người đối với văn hóa, chúng

ta còn phải nỗ lực tìm ra những chính sách, những giải pháp hiệu quả sao cho vai trò to lớn của văn hóa được khẳng định trong hiện thực

Trang 25

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng nhận xét: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong một quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng,

sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh các cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình không ngừng lớn mạnh.”

Khi bàn về khái niệm văn hóa ở Việt Nam có lẽ không thể không nhắc tới đó là học giả Đào Duy Anh, là người đã viết cuốn lịch sử văn hoá đầu tiên của dân tộc, ông cũng là người đầu tiên đưa ra ý niệm về văn hoá: “Người ta thường cho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng loài người, nhân thế

mà xem văn hoá có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hoá, nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải ở trong phạm vi văn hoá hay sao? Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt” [5; 13]

Theo Trần Quốc Vượng “văn hoá là sự biến đổi cái tự nhiên của từng cộng đồng người nhất định Văn hoá là sự phản ứng, sự chế ngự, sự trả lời của một cộng đồng người trước những thách đố của mọi cái gì tự nhiên (kể cả môi trường tự nhiên lẫn cái được gọi là bản năng tự nhiên của con người) Văn hoá là lối sống của một cộng đồng người, là thế ứng xử tập thể (hay công thể) của một cộng đồng người, của một xã hội, là tổng số những đồng nhất thể của các thành viên về các phương diện nhận thức, quan niệm, chuẩn mực, biểu tượng và hệ thống các giá trị…” [99; 151] Với định nghĩa này học

Trang 26

giả Trần Quốc Vượng đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một mối quan hệ vô cùng quan trọng trong việc hình thành bất cứ nền văn hoá nào, ngoài ra ông đặc biệt chú trọng đến mặt xã hội của con người trong quá trình nghiên cứu văn hoá

Bên cạnh đó một số học giả lại căn cứ vào nguyên lý gốc của nền văn minh nông nghiệp lúa nước để khái quát hoá thành nền văn hoá Việt Nam, chứ không hoàn toàn chỉ chú trọng đến tính xã hội của con người, điển hình

là học giả Trần Ngọc Thêm, ông quan niệm, văn hoá không thể thiếu các đặc trưng như: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh Vì vậy ông đã đưa ra một định nghĩa súc tích và khá đầy đủ về các đặc điểm: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [68;43] Định nghĩa này của Trần Ngọc Thêm đã khái quát được tính đặc trưng của văn hóa, đồng thời

đã khu biệt được văn hóa với những giá trị tự nhiên bằng cách chỉ ra được đó

là do con người tích lũy, sáng tạo ra trong lịch sử xã hội loài người

Bên cạnh đó văn hoá cũng là phương thức hoạt động của toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần đã được xã hội hoá thông qua hoạt động lao động

và sáng tạo của con người Văn hoá là tất cả những giá trị do con người sáng tạo ra và được con người lưu truyền, gìn giữ từ đời này sang đời khác, nó thể hiện trình độ phát triển của con người trong mỗi thời đại lịch sử nhất định Khi nhìn nhận văn hoá dưới góc độ triết học,ta thấy văn hóa được xem xét

trong một chỉnh thể, cụ thể là : “Văn hóa là một hiện tượng xã hội tiêu biểu

cho trình độ mà xã hội đã đạt được trong từng giai đoạn lịch sử nhất định: tiến bộ kỹ thuật, kinh nghiệm, sản xuất và lao động…” [50;973]

Thực chất sự phát sinh và phát triển của văn hóa là một quá trình lịch

sử xã hội Sự xuất hiện của văn hóa, con người hay xã hội thực chất là những

Trang 27

mặt khác nhau của cùng một quá trình mà thôi Trong quá trình ấy con người

đã dần cải tạo tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình và do đó con người sáng tạo ra xã hội Và văn hóa được hình thành do sự phát triển các năng lực của con người Mặt khác, bản thân văn hóa lại có hình thức vượt ra ngoài chủ thể, có kết cấu và chức năng riêng Chúng được hình thành trên cơ chế “di truyền” riêng của xã hội loài người, tức là cơ chế thế hệ sau kế thừa

di sản văn hóa của các thế hệ đi trước Chất xã hội của con người không thực hiện thông qua cơ chế di truyền sinh học mà nó được thực hiện thông qua văn hóa, chỉ có thông qua văn hóa, xã hội mới hướng dẫn và điều chỉnh được sự

đa dạng của hoạt động con người, rèn đúc được khả năng của con người, mới đảm bảo được sự chuyển đạt những gì không thể kế thừa bằng con đường

sinh học, từ cá nhân này sang cá nhân khác, từ thế hệ trước qua thế hệ sau

Như vậy có thể thấy văn hóa đã tạo nên con người cho nên mỗi cá nhân sống trong xã hội đều được lưu lại dấu ấn văn hóa Loài người là chủ nhân sáng tạo nên những giá trị văn hóa và văn hóa lại quay trở lại bồi đắp thêm sự phong phú và sinh động cho đời sống con người Chính điều này đã tạo nên động lực bên trong của sự phát triển văn hóa, tạo nên sự bổ sung lẫn nhau giữa sự phát triển văn hóa và sự phát triển xã hội Sự phát triển của xã hội được chủ nghĩa Mác xem như quá trình lịch sử tự nhiên, thể hiện ra theo nghĩa này cũng là quá trình lịch sử văn hóa, còn bản thân văn hóa như sự thể hiện những sức mạnh tổng thể của xã hội Và như vậy văn hóa cũng có thể hiểu là thành quả sáng tạo trong hoạt động sống của con người với hệ giá trị đáp ứng nhu cầu và lợi ích của con người,nó trực tiếp định hướng trở lại cho

sự phát triển của con người, giúp con người tự hoàn thiện bản chất và năng lực của mình qua từng giai đoạn phát triển của lịch sử

Như vậy, có thể thấy văn hoá không phải là một khái niệm dễ định nghĩa, khi mà ở mỗi vùng miền, qua mỗi thời đại văn hoá lại luôn mang một

Trang 28

màu sắc khác nhau Và con người chúng ta trong quá trình phát triển sẽ không ngừng tìm hiểu về những giá trị mà bản thân con người có được, trong

đó bao gồm cả văn hoá

Về phân loại văn hóa, khái niệm văn hóa, dựa trên nhiều tiêu chí khác

nhau, người ta cũng chia văn hóa ra nhiều loại Ở đây xin được điểm qua một vài cách phân loại tiêu biểu được nhiều người thừa nhận: Cách phân chia thứ nhất là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, (hay cũng gọi là văn hóa vật thể

và văn hóa phi vật thể) Văn hóa vật chất được thể hiện qua các vật thể mang dấu ấn tác động của con người trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, còn văn hóa tinh thần thể hiện trong lối ứng xử giao tiếp giữa con người với con người trong cộng đồng, thông qua phong tục tập quán, lễ nghi Tuy nhiên sự phân định này cũng chỉ mang tính tương đối Vì suy cho đến cùng, văn hóa vật chất là sự vật chất hóa nhu cầu tinh thần của con người, và văn hóa tinh thần là sự truyền dẫn trí tuệ, tâm hồn, tình cảm của con người vào trong nhu cầu vật chất, là một cách để con người thể hiện nhu cầu tinh thần của mình Cho nên hai hình thức này đều được hiểu là sự sáng tạo của con người Cách phân chia thứ hai của GS.TS Trần Ngọc Thêm cũng được nhiều người chấp nhận đó là văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức Văn hóa nhận thức bao gồm nhận thức về vũ trụ và nhận thức về con người Văn hoá tổ chức bao gồm văn hoá tổ chức đời sống cá nhân và văn hoá tổ chức đời sống tập thể Văn hoá ứng xử gồm ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội [67;54] Một lần nữa tôi lại thấy rằng việc phân chia như thế chỉ có tính tương đối, vì thực ra không hoàn toàn tách biệt một cách rạch ròi giữa các loại văn hóa như thế, bởi nói chung mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có nhận thức, nên trong văn hóa ứng xử, văn hóa tổ chức đã có văn hóa nhận thức và ngược lại từ trong ứng xử, trong tổ chức con người lại hình thành nên văn hóa nhận thức Tuy

Trang 29

nhiên cách phân chia như thế giúp cho người nghiên cứu dễ tiếp cận để phân tích và xác định

Về đặc điểm và vai trò của văn hóa

Thứ nhất, văn hóa được sáng tạo, được định dạng bởi con người Đâu là

điểm khác biệt căn bản giữa loài người và các sinh vật khác? Có nhiều câu trả lời cho câu hỏi này, tuy nhiên, một trong những câu trả lời đúng đắn nhất đó là

văn hóa Con người là hữu thể văn hóa Geertz cho rằng con người là sinh vật

“bị treo” trên những lớp mạng do mình dệt nên, trong đó, văn hóa là quan trọng nhất Việc tìm hiểu con người không đơn thuần chỉ dựa vào bằng chứng khoa học thực nghiệm, mà đúng hơn, tiếp cận và đào sâu các biểu tượng, ý nghĩa, và giá trị vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống họ [105; 5] Nhận thức rằng con người là hữu thể văn hóa đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu một

cách kỹ lưỡng hơn mối tương quan mật thiết giữa con người và văn hóa

Chính con người là tác giả của văn hóa, chúng ta thấy rằng “càng ngày càng có nhiều người, nam cũng như nữ, thuộc bất cứ tập thể hay quốc gia nào, ý thức được chính họ và những người xây dựng và sáng tạo văn hóa của

xã hội mình Tất cả các khái niệm và biểu hiện của văn hóa được đề cập ở trên cho thấy rằng văn hóa lệ thuộc con người Văn hóa là “sản phẩm” đặc biệt nhất của con người, đồng thời, văn hóa là yếu tố chính yếu diễn tả sự khác biệt căn bản giữa con người và các sinh vật khác

Một số loài động vật có thể nhận biết và thực hiện một số cử chỉ xem

ra thông minh nhờ quá trình tiến hóa hoặc được tập luyện Tuy nhiên, những

cử chỉ và việc thực hiện đó không thể được coi là “sản phẩm văn hóa của loài vật” mà là sản phẩm của bản năng tự nhiên Chẳng hạn, một số loài khỉ, vượn hay đười ươi có thể phô diễn những màn xiếc theo mệnh lệnh con người Tuy nhiên, những cử chỉ này chỉ lặp đi lặp lại một cách máy móc, thiếu tính sáng tạo Đặc biệt, những cử chỉ này không thể trở thành gia sản chung cho các cá

Trang 30

thể khác trong cùng nhóm, cũng không thể lưu truyền cho các thế hệ tiếp theo Nói một cách cụ thể hơn, loài vật không có “ký ức văn hóa truyền thống”, cũng không thể tiếp nhận, trao đổi, phát triển, và lưu truyền “ký ức văn hóa truyền thống” qua các thế hệ

Văn hóa loài người được lưu truyền qua nhiều cách khác nhau, đặc biệt, như đã đề cập ở trên, qua thế giới các biểu tượng Có những biểu tượng được gán cho những ý nghĩa cụ thể và được sử dụng rộng rãi trong nền văn hóa Dần dần, những biểu tượng này được xem là yếu tố đặc trưng của nền văn hóa đó Giữa biểu tượng và tính hữu dụng của nó có tương quan mật thiết với nhau Chẳng hạn, bằng việc quan sát những bức tranh cổ xưa hay thiết bị thô sơ của con người thời trước, các nhà khảo cổ học có thể nhận ra nền văn hóa của họ và sự phát triển của nền văn hóa đó theo thời gian Trên các bức tường trong các lăng mộ của các Pharaông Ai Cập có những cảnh tượng săn bắn hái lượm Những cảnh tượng này diễn tả niềm tin của người Ai Cập thời

đó rằng có một hình thức sống nào đó sau cuộc sống đời này Các kim tự tháp

Ai Cập cũng vậy, chúng ẩn chứa những điều về niềm tin và thực hành mà con người thời đại hôm nay vẫn không thể nào lý giải hết được

Sự dịch chuyển từ tư duy mang tính cá nhân tới tư duy mang tính phổ quát hoặc niềm tin không chỉ đơn giản là được diễn tả qua các khái niệm mà còn qua các biểu tượng Những biểu tượng này có thể là thần thoại và mãi là thế, nhưng cũng có thể là những thần thoại sau khi đã được gột rửa trong môi trường văn hóa thì trở nên có vai trò trong đời sống tinh thần của xã hội Sự phát triển và gìn giữ những đặc tính văn hóa đặc sắc luôn là điều hết sức cần thiết cho mọi hoạt động của con người trên bình diện cá nhân cũng như tập thể

Thứ hai văn hóa có vai trò định dạng con người

Trang 31

Con người không chỉ là tác giả của văn hóa, mà còn là đối tượng của

văn hóa nữa, bởi vì họ được văn hóa định dạng trong toàn bộ hành trình của cuộc sống mình Mối quan hệ giữa con người và văn hóa không phải là mối quan hệ một chiều, mà là mối quan hệ biện chứng qua lại, tức là từ con người

tới văn hóa và từ văn hóa tới con người Theo đó, con người được ươm

trồng và lớn lên trong môi trường văn hóa Quan điểm này được Arnold diễn

tả một cách bóng bẩy, nhưng rất thực tế và mạch lạc như sau: “Kìa, hãy xem những người này, lối sống của họ, thói quen của họ, tính cách của họ, giọng nói của họ; hãy nhìn họ chăm chú hơn; hãy quan sát cách họ thưởng thức văn chương, những điều đem đến cho họ sự an bình thư thái, những từ ngữ phát ra

từ miệng họ, những tư tưởng mà họ sở đắc; liệu sự giàu sang nào đáng giá với điều kiện rằng bởi có nó, người ta trở nên giống như những người này?” [108; 116]

Văn hóa định dạng con người, hướng dẫn và xây đắp tư tưởng, tâm trạng, cách ứng xử và các đặc tính khác nhằm phát triển đời sống cá nhân cũng như tập thể, đồng thời chia sẻ tất cả những gì thuộc thế giới tự nhiên và lịch sử xã hội Geertz lập luận rằng các dạng thức văn hóa “thúc giục” chúng

ta “không ngừng thay đổi não trạng để chúng ta biết tuân thủ trật tự hiển nhiên và có ý nghĩa để chúng ta không chỉ cảm nhận trật tự đó mà còn hành động một cách phù hợp theo trật tự đó.” [105; 80]

Quan sát chu kỳ kinh tế của một sản phẩm, từ sản xuất, phân phối, đến tiêu thụ, chúng ta có thể nhận ra rằng tất cả các giai đoạn trong tiến trình này được điều chỉnh bởi dạng thức văn hóa Nói cách khác, tiến trình sản xuất, phân phối và tiêu thụ một sản phẩm nào đó phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa nhất định Nghĩa là, văn hóa xác định phương tiện sản xuất, hình thức sản xuất và mối quan hệ giữa phân phối và tiêu thụ Chúng ta thử xem xét cách vắn tắt hai giai đoạn của một chu kỳ kinh tế, giai đoạn sản xuất và giai đoạn

Trang 32

phân phối sản phẩm

Trước hết, trong giai đoạn sản xuất, câu hỏi được đặt ra là công cụ và phương tiện sản xuất nào cần được sử dụng? Công cụ và phương tiện sản xuất liên quan đến các yếu tố kỹ thuật được hình thành trong một nền văn hóa nào đó Những công cụ và phương tiện này cũng phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên khác nhau Chu kì kinh tế của một sản phẩm như chúng ta vừa xem xét trên chỉ ra rằng văn hóa chi phối mỗi bước của chu kỳ này Nói đúng hơn, văn hóa “định dạng” con người để rồi con người định dạng phương tiện sản xuất, quá trình sản xuất, cách thức phân phối, và tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra, văn hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận, hấp thu, và đồng hóa những yếu tố mới sao cho chu kỳ kinh tế của sản phẩm ngày càng được cải tiến và phù hợp hơn với những đòi hỏi mới của thời đại

Thứ ba, văn hóa có tính bền vững

Văn hóa có tính bền vững và độc lập cao hơn so với các yếu tố khác trong xã hội loài người Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rẳng các yếu tố văn hóa không dễ bị mai một do ý muốn và hành động chủ quan của con người Chúng ta nhận thức chắc chắn rằng không thể hiểu rõ một nền văn hóa mà lại không quan tâm đến những người sống trong nền văn hóa đó Tương tự như thế, không thể hiểu rõ những con người mà lại không quan tâm đến nền văn hóa của họ Sự hiểu biết về một nền văn hóa sẽ dẫn tới sự hiểu biết những người đang sống trong nền văn hóa đó và ngược lại Johann Gottfried Herder nói đại ý rằng khi ta thâm nhập vào tinh thần của quốc gia trước khi ta có thể được chia sẻ phần nào những tư tưởng và hành động của quốc gia này Kinh nghiệm lịch sử nhân loại cho thấy rằng bất cứ so sánh nào về văn hóa cũng đều khập khiễng Người ta không thể chỉ dựa vào một số yếu tố văn hóa rồi lập tức đưa ra nhận định rằng nền văn hóa này cao hơn nền văn hóa kia

Trang 33

Trong thực tế, mỗi nền văn hóa có những yếu tố đặc sắc không cùng bình diện để đem ra so sánh

William Haviland cho rằng “về bản chất, văn hóa là hệ thống được kiến tạo nhằm đảm bảo cho sự tiếp tục tồn tại của một nhóm người” [115; 138] Không dễ gì loại trừ các yếu tố văn hóa khi nó đã bám rễ sâu vào tâm thức con người và xã hội Đặc biệt, khi văn hóa được xem là sự kết nối giữa danh dự cá nhân và dân tộc, nó trở thành điểm qui chiếu về giá trị và ý nghĩa tinh thần trong sự tồn tại và phát triển của dân tộc đó Văn hóa vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả khi nó xem ra không phù hợp với tâm trí của số đông người đang sống trong nền văn hóa đó

Vậy, có thể nhận thức một cách tổng quát rằng văn hóa có tính bền vững cao hơn so với các hình thái khác trong đời sống xã hội con người

Tính liên tục và tính gián đoạn của văn hóa

Trong quá trình phát triển của một nền văn hóa, có sự giao thoa giữa tính liên tục và không liên tục nền văn hóa đó Geertz cho rằng “văn hóa chuyển động khá giống với con bạch tuộc – không phải tất cả cùng một lúc trong sức mạnh tổng thể liên kết trơn tru của các bộ phận, sự “cùng hoạt động” lớn lao của toàn thể, nhưng là bởi các chuyển động rời rạc của phần này, rồi phần kia, và đến lượt phần khác (dẫn tới di chuyển)và đổi hướng” Chúng ta không thể giải thích một cách đầy đủ tính liên tục của một nền văn hóa mà lại không quan tâm đến sự gián đoạn, xuống cấp, đổ vỡ, thậm chí tàn lụi của nền văn hóa đó

Văn hóa là một thực tại lịch sử phức hợp và năng động Do đó, bất cứ tiếp cận hay nghiên cứu văn hóa nào cũng đều quan tâm đến các đặc tính này

Ẩn chứa trong mỗi nền văn hóa là quá trình tương giao và luân chuyển các yếu tố làm nên nền văn hóa đó cũng như các yếu tố có thể làm phương hại nền văn hóa đó Có những yếu tố thì hiển nhiên, dễ quan sát, có những yếu tố

Trang 34

lại tiềm ẩn Trong mỗi nền văn hóa đều ẩn chứa nguyên lý của sự liên tục và không liên tục, tính không liên tục trong văn hóa cũng như sự bất ổn trong tổ chức xã hội, thậm chí trong các xã hội có tính ổn định cao, do ảnh hưởng của

nó, là sự thật hiển nhiên như sự ổn định của văn hóa vậy” [105; 407]

Tính liên tục của văn hóa là hiển nhiên, bởi vì văn hóa thuộc về thế giới của kẻ sống, trong đó mọi thứ đều tiếp diễn Con người cần các yếu tố văn hóa nhằm xây dựng căn tính mình cũng như tích lũy các yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình trong dòng lịch sử Tính liên tục của văn hóa là điều kiện không thể thiếu được cho tính liên tục của vô số quan hệ trong môi trường tự nhiên và xã hội

Văn hóa xuất hiện trong quá khứ và tiếp tục hiện diện trong hiện tại Với di sản văn hóa, con người trong mỗi thế hệ có được “bản đồ” để phát triển ý tưởng, điều khiển các hành vi, thái độ của mình, của cộng đồng mình sống, nhằm thích nghi hay đối phó với môi trường chung quanh Nói cách khác, văn hóa là “chỗ dựa”, từ đó con người tiếp tục với các tương giao cần thiết để xây dựng đời sống của mình Trong chừng mực nào đó, văn hóa có khả năng làm chủ tất cả mọi khía cạnh liên quan đến con người Nó là tiêu điểm của lối sống, bởi vì văn hóa có khả năng gìn giữ sự kế thừa lịch sử cũng như có khả năng đồng hóa những yếu tố mới xuất hiện trong các tương quan của thế giới thụ tạo

Là thực tại liên tục, văn hóa có tính “trung thành” và “bảo thủ” cao đối với căn tính của nó trong dòng lịch sử Như đã được đề cập ở trên, văn hóa diễn tả chính mình như là thực tại bền vững giữa những biến động trong thế giới loài người Con người hướng về văn hóa như là nguồn mạch chính yếu cho việc thiết lập đời sống tâm linh, tri thức, và thể lý của mình Sự học hỏi, hiểu biết, điều chỉnh, thói quen, thái độ, và hành động của họ được xây dựng trên nền tảng văn hóa Người ta không thể can thiệp một cách độc đoán để

Trang 35

loại trừ nó hoặc các yếu tố làm nên nó

Vậy, có thể nhận định rằng văn hóa được xem như là điểm khởi đầu và điểm hội tụ cho mọi hoạt động của con người, từ hoạt động tư tưởng, tri thức đến hoạt động thực tiễn, xã hội Văn hóa là cơ sở định lượng, đánh giá, và phát triển các mối quan hệ trong tiến trình lịch sử con người

1.1.2 Đặc trưng của nền văn hóa dân tộc Việt Nam

Có thể hiểu, văn hóa Việt Nam là nền văn hóa bao gồm các giá trị vật thể và phi vật thể, được người Việt Nam qua bao thế hệ hàng ngàn năm sáng tạo, tiếp biến, duy trì và bảo vệ với những đặc trưng vốn có như tổng hợp đa sắc tộc, thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người, vùng miền,

có bề dày lịch sử và khoan dung đón nhận những nền văn hóa khác, tư tưởng khác Vậy, sau đây, chúng ta có thể khái quát nền văn hóa Việt Nam với những đặc trưng lớn lớn sau đây:

Thứ nhất, văn hóa Việt Nam là một nền văn hoá đa tộc người Có thể

hiểu chủ thể của văn hóa Việt Nam không phải là một mà là năm mươi tư chủ thể sáng tạo, duy trì và phát triển văn hóa, trong đó tộc người Việt là đại diện Mỗi tộc người có một sắc thái văn hoá riêng nhưng nó vẫn nằm trong tổng thể văn hóa Việt Nam Tức là dù đa chủ thể văn hóa nhưng không phải văn hóa của mỗi tộc người là những mảnh ghép đơn điệu trong bức tranh văn hóa Việt Nam, nhưng chúng đã tạo nên một nền văn hoá thống nhất trong đa đạng Văn hóa của mỗi tộc người ở Việt Nam đã trở nên những yếu tố không thể tách rời trong nền văn hóa Việt Nam và điều đó cũng thể hiện tính thống nhất của văn hoá Việt Nam.Thống nhất với tư cách là một nền văn hoá quốc gia – dân tộc Sự đa dạng thể hiện ở một nền văn hoá đa sắc màu về văn hoá tộc người cùng với sự đa dạng về sắc thái văn hoá vùng miền Ngay từ khi lập nước, Việt Nam đã sớm có chiến tranh xâm lược Với quyết tâm bảo vệ

Tổ quốc nên tư tưởng yêu nước thấm sâu vào mỗi người con đất Việt Yếu tố

Trang 36

cộng đồng cũng sớm được hình thành, trở thành cơ sở để phát triển chủ nghĩa yêu nước và ý thức dân tộc Việc có nhiều tộc người sống trên cùng một lãnh thổ, hơn nữa mỗi tộc người lại có một sắc thái riêng nên Việt Nam trở thành nước đa dạng về sắc thái văn hoá Tính đa dạng thể hiện ở chỗ, ngoài văn hoá Việt – Mường mang tính tiêu biểu, ở Việt Nam còn có các sắc thái văn hoá khác của người Thái, Nùng, Chăm, Chàm, Khơmer, Êđê, Giarai… Điểm chung của các tộc người này là họ lưu giữ được truyền thống văn hoá của tộc người mình từ xa xưa Ngoài những đặc điểm riêng của văn hoá từng tộc người, chúng ta có thể thấy những đặc điểm chung của văn hoá Việt Nam Bên cạnh tinh thần yêu nước, tinh thần tôn kính tổ tiên, tôn trọng những giá trị cộng đồng, ham học hỏi, cần cù, tiếp thu, chọn lọc những cái mới tiến bộ… cũng được mọi người đề cao

Thứ hai, văn hóa Việt Nam là một nền văn hoá đa dạng về không gian

Bên cạnh sự đa dạng về tộc người, tính thống nhất của văn hoá Việt Nam còn được thể hiện ở tính đa dạng về không gian văn hoá Chính những khác biệt về địa hình cư trú đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng không lẫn với các vùng văn hoá khác Việt Nam có một địa hình hẹp nhưng kéo dài từ bắc vào nam, đa dạng về địa hình, điều kiện khí hậu lẫn tộc người Có nhiều cách phân chia vùng văn hoá Có người phân làm 7 vùng, người phân làm 12 vùng nhưng nhìn chung việc phân chia vùng văn

hoá Việt Nam thành 6 vùng được nhiều tác giả thống nhất bao gồm: Vùng

văn hoá Tây Bắc, Vùng văn hoá Việt Bắc, Vùng văn hoá Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, Vùng văn hoá Nam Trung Bộ, Vùng văn hoá Tây Nguyên, Vùng văn hoá Nam Bộ

Thứ ba, văn hóa Việt Nam là một nền văn hoá có bề dày lịch sử lâu đời

Nền văn hoá Việt Nam có một bề dày lịch sử trên 3000 năm, một nền văn hoá lâu đời có từ thời cổ đại, trước công nguyên kéo dài đến ngày nay

Trang 37

Có nhiều cách phân kỳ văn hoá, có người phân thành các thời kỳ như Trần

Quốc Vượng: Văn hoá Việt Nam thời tiền sử và sơ sử, Văn hoá Việt Nam

thiên niên kỷ đầu công nguyên, Văn hoá Việt Nam thời tự chủ, Văn hoá Việt Nam từ năm 1945 đến nay Có người phân thành lớp văn hoá như Trần Ngọc

Thêm: Lớp văn hoá bản địa, Lớp văn hoá giao lưu với Trung Hoa và khu,

Lớp giao lưu với văn hoá phương Tây… Mặc dù mỗi tác giả có cách phân kỳ

khác nhau nhưng tựu trung lại, trải qua bề dày lịch sử văn hoá Việt Nam có các đặc điểm: lịch sử lâu đời và khá liên tục, từ sớm đã có chiến tranh xâm lược và kéo dài, sớm tiếp xúc với văn hoá bên ngoài, văn hoá Ấn Độ, Trung Hoa, sau này là văn hoá phương Tây

Vậy, bản sắc văn hoá được hiểu như là một tổng thể các đặc trưng của văn hoá, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc, các đặc trưng văn hoá ấy mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn, do vậy muốn nhận biết bản sắc phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hoá, với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hoá ấy Nếu bản sắc văn hoá là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững thì các sắc thái biểu hiện của

nó tương đối cụ thể, bộc lộ là khả biến hơn

Bản sắc văn hoá góp phần tạo nên bản lĩnh văn hoá, bản lĩnh dân tộc, bản lĩnh con người Việt Nam qua bao thế hệ Với ý nghĩa đó, bản lĩnh được coi là sức sống, sự từng trải, sự đáp trả một cách vững vàng trước những thách đố của xã hội, lịch sử của một cộng đồng, một nền văn hoá Như vậy trong bản sắc văn hoá, bản lĩnh dân tộc đều chứa đựng các giá trị Chính vì vậy mà nhiều khi bản sắc được coi là giá trị và ngược lại, giá trị lại được coi

Trang 38

Thuật ngữ “giá trị” bắt nguồn từ valere của tiếng La tinh có nghĩa là

“khoẻ mạnh, tốt, đáng giá” ban đầu được dùng để chỉ thứ gì đó đáng giá, trước hết là theo nghĩa giá trị trao đổi của kinh tế học mà nhà kinh tế chính trị Adam Smith đã nói đến trong tập sách nổi tiếng của mình: Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia Giá trị là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu triết học và xã hội học để chỉ ý nghĩa con người, xã hội và văn hoá của những hiện tượng thực tế nhất định

Giá trị là một khái niệm được đề cập đến ở nhiều bộ môn khoa học khác nhau như toán học, xã hội học, triết học, nghệ thuật, văn hoá học… Các tài liệu nghiên cứu và kể cả các từ điển bách khoa lâu nay cũng thường phân biệt giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị văn hoá, giá trị xã hội, giá trị pháp

lý v.v Do vậy, trong mỗi bộ môn khoa học, khái niệm này lại mang những nội hàm khác nhau Trong phạm vi ở đây tác giả chỉ tiếp cận khái niệm giá trị

từ góc độ văn hoá học, một bộ môn nghiên cứu mang tính liên ngành, bổ sung lý luận cho mục đích chính của luận văn, nên có thể hiểu giá trị theo một số ý nghĩa như sau:

Giá trị văn hoá đã từ lâu được dặt ngang hàng bên cạnh những loại giá trị khác Trong cuốn “Bách khoa toàn thư văn hoá học thế kỷ XX” của Nga xuất bản năm 1998 coi “Giá trị là những thành tố quan trọng nhất của văn hoá con người bên cạnh cac chuẩn mực và các lý tưởng” điều này cho thấy văn hoá không phải là hệ thống giá trị mà là hệ thống của giá trị và nhiều thứ khác Như vậy nếu chúng ta hiểu “văn hoá” và “giá trị” theo nghĩa rộng, chấp nhận ý kiến cho rằng văn hoá là hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra thì khái niệm “văn hoá” trong cụm từ “giá trị văn hoá” phải được hiểu là nó ‘do

chính con người sáng tạo ra” Như vậy, giá trị văn hoá sẽ đối lập với giá trị

tự nhiên và bao gồm tất cả các loại giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị pháp

lý, giá trị ký hiệu học, giá trị toán học…, vì mọi giá trị và hệ giá trị do con

Trang 39

người sáng tạo ra đều có thể coi là thuôc văn hoá Nói như thế văn hoá với tính cách là trình độ phát triển của các quan hệ người, tự nó đã mang ý nghĩa

và tính lịch sử - xã hội Bởi vì, nguồn gốc của giá trị văn hoá bắt nguồn từ sự đáp ứng những nhu cầu sống của con người tạo ra Bằng các hình thức và phương thức hoạt động khác nhau, văn hoá thâm nhập vào đời sống mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng người tạo ra sức lan toả vừa loại bỏ vừa thúc đẩy những giá trị văn hoá thông qua sự lựa chọn nhằm hoàn thiện dần quá trình tiến hoá

xã hội Vì vậy, nếu ở đâu có sự khủng hoảng những giá trị văn hoá thì ở đó không có sự ổn định, phát triển xã hội [29; 17] Thực ra giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức… đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá Giá trị hay giá trị văn hoá là một hình thái của ý thức, của đời sống tinh thần con ngươi, tuy nhiên nó cũng phản ánh và kết tinh những giá trị của cả đời sống vật chất và đời sống văn hoá tinh thần của con người Cho nên quan điểm cho rằng văn hoá hay giá trị văn hoá chỉ là lĩnh vực đời sống tinh thần thôi thì chưa thật thoả đáng Cũng còn tuỳ theo mỗi bộ môn khoa học, tuỳ vào mỗi góc độ tiếp cận, thậm chí tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu riêng, người ta có thể nhấn mạnh hay chỉ quan tâm đến giá trị tinh thần hay giá trị vật chất của các hiện tượng văn hoá J.H Fichter, một nhà xã hội học hiện đại của Mỹ đã đưa ra một định nghĩa khá đơn giản và chuẩn xác về giá trị: “Theo cách mô tả chúng

ta có thể nói rằng, tất cả những gì có ích lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm, đều là “có một giá trị” [34; 173] Theo định nghĩa này Fichter cho rằng miễn cái gì có lợi cho con người thì đều có giá trị, đương nhiên “có ích lợi” ở đây được hiểu là có ích lợi chung cho con người và toàn xã hội hay ít nhất là của cả một cộng đồng người chứ không phải lợi ích riêng vị kỷ của một cá nhân Lẽ dĩ nhiên nó còn bao gồm

cả những điều mà con người mong muốn và kính phục Fichter không phải

Trang 40

người duy nhất quan tâm đến thuật ngữ “Giá trị”, Định nghĩa về thuật ngữ giá trị được nhiều nhà nghiên cứu tán thành là định nghĩa do nhà nhân học người Hoa kỳ, Clyde Kluckhohn, năm 1951 nêu khái niệm giá trị như sau:“giá trị là những quan niệm thầm kín hay bộc lộ về các điều ao ước riêng của cá nhân hay của nhóm Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn các phương thức, phương tiện và mục tiêu của hành động” [20; 156] Mặc dù định nghĩa này vẫn còn có nhiều điểm gây tranh luận Tuy vậy, phần đông các nhà xã hội học đều đồng tình với quan điểm của Clyde, xem giá trị như là kết quả của hoạt động đánh giá từ phía chủ thể (cá nhân, nhóm xã hội) Mà theo đó con người thường không lãnh đạm với thế giới mà trong đó mình đang sống Dù công khai hay ngầm ẩn, con người thường quy các hiện tượng, sự vật vào những một loạt các giá trị: tốt, xấu, cao cả, thấp hèn, đáng trọng, đáng khinh… Đương nhiên, chỉ những cái tốt, cái lớn lao, cái cao cả, cái đáng trọng… mới được xem là các giá trị chính đáng Các hoạt động sống của con người dù vô thức hay hữu thức đều mang tính hướng đích, tức là hướng tới các giá trị chân chính mà con người đang khao khát, tôn thờ và cố công xây dựng Như vậy ở một góc độ nào đó, ta có thể hiểu như nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh rằng: “Hoạt động sống của con người là thực thi các giá trị”

[76;34]

Còn nhà nghiên cứu M Roodentan và P Iuđin, thì định nghĩa về giá trị là

“những khẳng định xã hội đặc biệt về những đối tượng của thế giới bao quanh, biểu hiện các ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những đối tượng ấy đối với con người và xã hội (hạnh phúc, lương thiện và cái ác, cái đẹp và cái xấu, thể hiện ra trong các hiện tượng của đời sống xã hội hoặc của thiên nhiên” [50; 463]

Nhiều người đồng nhất, hoặc gần như đồng nhất, giá trị với chuẩn

mực Chẳng hạn, Cyde Kluckhohn cho rằng “Giá trị là quan niệm về điều

mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w