HUỲNH HÀ TỐ UYÊN GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG Ở TỈNH KON TUM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Mã số: 60.22
Trang 1HUỲNH HÀ TỐ UYÊN
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG Ở TỈNH KON TUM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - 2012
Trang 2HUỲNH HÀ TỐ UYÊN
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG
Ở TỈNH KON TUM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Mã số: 60.22.85
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS HÀ THIÊN SƠN
TP HỒ CHÍ MINH - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS Hà Thiên Sơn Kết quả nghiên cứu công trình khoa học này là trung thực và chưa từng được công bố
Tp Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 11 năm 2012
Tác giả
Huỳnh Hà Tố Uyên
Trang 4
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN TỘC VÀ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG Ở TỈNH KON TUM HIỆN
NAY……… ….11
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN TỘC……… ……11
1.1.1 Sự hình thành dân tộc……… …11
1.1.2 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dân tộc……… 13
1.2 CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG Ở TỈNH KON TUM HIỆN NAY ……… 17
1.2.1 Nguồn gốc, dân cư, địa bàn cư trú của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum 17
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum 26
1.2.3 Các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum… 37
1.3 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG Ở TỈNH KON TUM HIỆN NAY……… 59
1.3.1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tác động đến các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum……….…59
1.3.2 Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tác động đến các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum……….61
1.3.3 Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tác động đến các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum………64
1.3.4 Chính sách văn hóa của Đảng và pháp luật của nhà nước Việt Nam tác động đến các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ-Triêng ở tỉnh Kon Tum 66
Kết luận chương 1……… 68
Chương 2 THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM GIỮ GÌN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG Ở TỈNH KON TUM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY…… 70
Trang 52.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum……… …….………… 72
2.1.3 Các dân tộc ở tỉnh Kon Tum………74
2.2 THỰC TRẠNG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG Ở TỈNH KON TUM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY……….79
2.2.1 Thực trạng của việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa vật chất của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum hiện nay………79
2.2.1 Thực trạng của việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum hiện nay……….89
2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIỮ GÌN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG Ở TỈNH KON TUM HIỆN NAY………96
2.3.1 Phương hướng giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum hiện nay………96
2.3.2 Những giải pháp định hướng cho việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum hiện nay……….99
Kết luận chương 2……….112
KẾT LUẬN……… 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….118 PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc nên việc giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay nhằm mục đích xây dựng một nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đồng thời phát huy những nét đẹp truyền thống của cộng đồng 54 dân tộc anh em sống trên lãnh thổ Việt Nam
Trong quá trình hình thành, phát triển cũng như quá trình dựng nước
và giữ nước, các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam dù ở miền ngược hay miền xuôi, đa số hay thiểu số đều đã có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng chung của đất nước Tuy nhiên, do điều kiện địa lý tự nhiên và lịch sử xã hội khác nhau nên trình độ phát triển kinh tế, xã hội giữa các dân tộc cũng không giống nhau Nhưng trong quá trình phát triển chung, các dân tộc đều có sự đoàn kết và thống nhất
Kon Tum là một trong những tỉnh Tây Nguyên có nhiều thành phần dân tộc sinh sống Mặc dù có những phong tục tập quán khác nhau nhưng tất cả các dân tộc vẫn luôn có mối quan hệ gắn bó mật thiết Đó là tình họ hàng dòng tộc, tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong công việc thường ngày cũng như trong công việc chung của cộng đồng Đó chính là nét đẹp truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Kon Tum Bên cạnh đó, mỗi một dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh KonTum có những sắc thái văn hóa độc đáo riêng nhưng tất cả những cái riêng đó tạo thành nét đặc trưng văn hóa vùng Kon Tum và khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên
Một trong những dân tộc bản địa tiêu biểu ở Kon Tum là dân tộc Giẻ
- Triêng Cùng với thời gian, dân tộc Giẻ - Triêng đã sáng tạo nên những
Trang 7giá trị văn hóa đặc trưng riêng biệt, độc đáo Những giá trị riêng, độc đáo
ấy được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa, bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần một cách phong phú và đa dạng
Tuy nhiên, thực trạng những năm gần đây, dưới tác động mạnh mẽ của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới, những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Giẻ - Triêng đang có nguy
cơ mai một, xuống cấp và mất dần đi trong sự thờ ơ, quên lãng của chính bản thân dân tộc này Đó là những kiến trúc nhà sàn, nhà dài dần mất đi, thay vào đó là kiến trúc nhà xây, nhà trệt như của người Kinh, sự mai một
về văn hóa trang phục, thổ cẩm, đan lát truyền thống…, sản phẩm điêu khắc đã biến thành những món đồ cổ đắt giá, cồng chiêng bị đem bán như một món hàng…
Trong bối cảnh ấy, để góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa cũng như để giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng nói riêng và của các dân tộc thiểu số ở Kon Tum nói
chung, tôi chọn đề tài “Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng
của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum trong giai đoạn hiện nay” làm
đề tài luận văn của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc trên thế giới đã được đặt
ra từ lâu, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề này lại được
sự quan tâm sâu sắc của các nhà chính trị, của các nhà văn hóa tư tưởng…
Ở Việt Nam, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc đã được nhiều nhà
khoa học nghiên cứu, tiêu biểu là các tác giả với những công trình sau:
GS.TS Hoàng Vinh với công trình: “Một số vấn đề bảo tồn và phát
triển di sản văn hóa dân tộc”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997
Trong công trình này, tác giả khẳng định tính cấp thiết của việc bảo tồn và
Trang 8phát triển di sản văn hóa dân tộc trước sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
“Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc – Vai trò của nghiên cứu và giáo dục” của nhiều tác giả, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999
Công trình được chia thành ba phần:
Phần I: Văn hóa và phát triển
Phần II: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc
Phần III: Vai trò của các loại hình giáo dục đối với việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc
GS.TS Huỳnh Khái Vinh với công trình: “Phát triển văn hóa – phát
triển con người”, Viện văn hóa và Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội,
2003 Trong công trình này, tác giả làm rõ những vấn đề mang tính lý luận
về văn hóa, nguồn gốc hình thành và chức năng của văn hóa Đặc biệt, tác giả làm rõ những vấn đề về bản sắc dân tộc, về một nền văn hóa tiên tiến
Cùng vấn đề về văn hóa còn có công trình nghiên cứu của Vy Trọng
Toán với: “Bản sắc văn hóa hành trang của mỗi dân tộc”, Nxb Văn hóa
dân tộc, Hà Nội, 2005 Trong công trình, tác giả phân tích vai trò, tầm quan trọng của văn hóa trong việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
Bên cạnh những công trình viết về văn hóa và bản sắc văn hóa dân
tộc, còn có các công trình viết về văn hóa Tây Nguyên, văn hóa các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói riêng Có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau:
TS Trương Hồng Sơn với: “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Tây
Nguyên”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Tác giả đề cập đến nguồn
gốc hình thành các giá trị văn hóa Tây Nguyên và ảnh hưởng của nó đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Tây Nguyên trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa
Trang 9nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
Nhóm tác giả Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn Trụ
với công trình: “Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam”, Nxb Văn hóa
Dân tộc, Hà Nội, 1997 Các tác giả đã giới thiệu sơ lược về một số phong tục của các dân tộc thiểu số nói chung và phong tục trong tang ma, nghi lễ trong hôn nhân, tục ăn cơm mới… của dân tộc Giẻ - Triêng nói riêng
Nhóm tác giả Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp với: “Văn hóa các dân
tộc thiểu số ở Việt Nam”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Tác giả đã giới
thiệu sơ lược dân tộc Giẻ - Triêng trong cùng nhóm văn hóa với các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer ở Tây Nguyên
Bùi Thiết với:“54 dân tộc Việt Nam và các tên gọi khác”, Nxb
Thanh niên, Hà Nội, 1999 Trong công trình này, tác giả giới thiệu một cách khái quát về các dân tộc ở Việt Nam nói chung và dân tộc Giẻ - Triêng nói riêng
Hoàng Nam với: “Đặc trưng văn hóa các dân tộc Việt Nam”, Nxb
Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002 Trong công trình, tác giả giới thiệu một cách khái quát về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam
GS.TS Trần Văn Bính với công trình: “Văn hóa các dân tộc Tây
Nguyên - Thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2004 Tác giả đã đánh giá, phân tích tương đối toàn diện, khách quan thực trạng đời sống văn hóa của một số dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên trong công cuộc đổi mới, đồng thời dự báo xu hướng, đề xuất giải pháp vừa
cơ bản, vừa cấp bách để tiếp tục phát triển đời sống văn hóa các dân tộc trên địa bàn dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 10Và GS.TS Trần Văn Bính cũng chính là tác giả của công trình: “Đời
sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006 Trong công trình, tác giả
tập trung nghiên cứu theo ba hướng chủ yếu:
Thứ nhất, văn hóa các dân tộc thiểu số trước yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thứ hai, văn hóa một số dân tộc ở Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây
Nam Bộ - Những giá trị tốt đẹp trong truyền thống
Thứ ba, Xây dựng và phát triển văn hóa một số dân tộc ở Tây Bắc,
Tây Nguyên và Tây Nam Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Những kết quả nghiên cứu trên vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
TS Phan Văn Hùng với công trình: “Cơ hội và thách thức đối với
vùng dân tộc thiểu số hiện nay”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2009
Trong công trình, tác giả đã đánh giá khái quát thực trạng văn hóa vùng dân tộc thiểu số trong những năm qua Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số
TS Trần Đình Thêm với: “Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên Việt
Nam”, Nxb Thanh niên, 2010 Trong công trình, tác giả đã trình bày một
các tổng quát về Tây Nguyên, giới thiệu sơ lược về các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và những di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc Tây Nguyên
Gần đây nhất là công trình nghiên cứu của tập thể tác giả Dương Thị
Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam với công trình: “Một số vấn đề về
văn hóa – xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay”, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Công trình là tập hợp các bài viết đề cập đến văn hóa truyền thống các dân tộc Tây Nguyên trong sự ổn định và phát
Trang 11triển, về những biến đổi của xã hội truyền thống các dân tộc thiểu số ở Kon Tum hiện nay, về giải pháp phát triển đời sống văn hóa – xã hội Tây Nguyên trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đi sâu vào nghiên cứu văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Kon
Tum có các công trình tiêu biểu như:
“Các dân tộc tỉnh Gia Lai – Công Tum”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội, 1981 do GS Đặng Nghiêm Vạn chủ biên Tác giả đã giới thiệu khái quát về các dân tộc tỉnh Gia Lai – Công Tum nói chung, dân tộc Giẻ - Triêng nói riêng trên các mặt sinh hoạt kinh tế và đời sống vật chất, quan
hệ xã hội, dòng họ, tôn giáo tín ngưỡng, vấn đề hôn nhân và gia đình
Nhóm tác giả Đào Huy Quyền và Ngô Binh với công trình: “Văn
hóa truyền thống các dân tộc Kon Tum”, Nxb Khoa học Xã hội, 2003 Với
tổng thể 5 chương, công trình trình bày một cách khái quát về tự nhiên, dân
cư, những thay đổi về địa giới hành chính, đến dấu tích thời tiền sử Đặc biệt, công trình đã đi sâu giới thiệu 6 dân tộc bản địa và người Kinh cũng như trình bày rõ cả triết lý, tín ngưỡng, hệ thống thần linh, tôn giáo và các loại hình văn hóa truyền thống của các cư dân bản địa Kon Tum, từ văn học dân gian, nhạc khí, nhạc hát (dân ca), đến nghệ thuật múa dân gian, nghệ thuật tạo hình và lễ hội truyền thống
Nhạc sỹ Nguyễn Hùng Khu với công trình: “Văn hóa ứng xử của
người Giẻ - Triêng”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2006 Trong công
trình này, tác giả đã phân tích một cách cụ thể về văn hóa ứng xử của người Giẻ - Triêng, về hôn nhân truyền thống của người Giẻ - Triêng và so sánh với hôn nhân của người Xơ – Đăng Công trình sẽ góp phần vào việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Giẻ - Triêng nói riêng, văn hóa Tây Nguyên nói chung trong vườn hoa đa sắc màu của văn hóa dân tộc Việt Nam
Trang 12“Phác thảo văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum”
của nhiều tác giả, Viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Hà Nội 2008 Công trình chia làm hai phần:
Phần I: giới thiệu khái quát về văn hóa lễ hội ở Kon Tum, về cồng chiêng của các dân tộc thiểu số ở Kon Tum, ý nghĩa tên làng của các tộc người thiểu số…
Phần II: đề cập đến đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của các dân tộc bản địa ở Kon Tum
Bên cạnh đó là tập hợp các bài viết của tập thể và các cá nhân đã có nhiều thời gian sinh sống, công tác, cống hiến và gắn bó với mảnh đất Kon
Tum với công trình: “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Kon Tum”, Sở
Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum, tháng 12 năm 2009 Trong công trình có các bài viết về dân tộc Giẻ - Triêng như: Lễ hội ăn trâu của người Giẻ - Triêng, Nghề dệt cổ truyền của người Giẻ - Triêng ở Kon Tum
Ngoài ra, còn có những bài viết tiêu biểu liên quan đến vấn đề văn hóa các dân tộc thiểu số ở Kon Tum như:
Thanh niên Kon Tum với việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số của Nguyễn Văn Minh, Văn hóa Kon Tum số 7
Trang 13tộc ít người nói riêng, trong đó có các dân tộc thiểu số ở Kon Tum Tuy nhiên, đối với vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum cho đến nay vẫn chưa được đề cập đến như một đề tài chuyên biệt Mặc dù vậy, các kết quả của các công trình nêu trên đã giúp tôi rất nhiều trong việc thực hiện luận văn này
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Làm rõ các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng và thực trạng giữ gìn các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum, trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Một là, phân tích làm rõ nguồn gốc, dân cư, địa bàn cư trú và
những đặc điểm cơ bản hình thành văn hóa dân tộc Giẻ-Triêng ở Kon Tum
- Hai là, phân tích làm rõ các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc
Giẻ - Triêng ở Kon Tum được biểu hiện trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
- Ba là, phân tích thực trạng giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa
đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong giai đoạn hiện nay, đưa ra một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc này
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum trong giai đoạn hiện nay
Trang 144 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông tin qua các tài liệu,
bài viết, công trình nghiên cứu Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch… để làm sáng
tỏ vấn đề cần nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng Trên cơ sở đó, giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc hơn, đầy
đủ hơn về truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum trong giai đoạn hiện nay Luận văn góp phần chỉ ra thực trạng giữ gìn
và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng Trên cơ
sở đó, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum hiện nay
Luận văn không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn Những quan điểm và kết luận của luận văn sẽ góp phần định hướng lý luận và thực tiễn cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung và dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum nói riêng theo quan điểm của Đảng và nhà nước ta hiện nay
Ngoài ra, luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số Luận văn góp thêm tiếng nói khẳng định các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Giẻ -
Trang 15Triêng ở Kon Tum hiện nay để từ đó giúp họ tăng thêm lòng tự hào và ý thức hơn trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 2 chương, 4 tiết
Trang 16Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN TỘC VÀ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG
Ở TỈNH KON TUM HIỆN NAY
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN TỘC
1.1.1 Sự hình thành dân tộc
Lịch sử tiến hóa nhân loại đã chứng minh rằng, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Tuy sự hình thành dân tộc ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực và từng châu lục có đặc thù riêng, song nhìn chung quá trình ấy xét trong tiến trình phát triển của các hình thức cộng đồng vẫn mang tính phổ quát Trước khi cộng đồng dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng khác nhau, theo những bước phát triển từ thấp đến cao, đó là thị tộc, bộ lạc và bộ tộc Nội dung này được C.Mác, Ph.Ăngghen thể hiện trong nhiều tác phẩm Trong
đó, tập trung nhất là ở tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” Tác phẩm phân tích một cách khoa học lịch sử loài người ở những giai đoạn đầu
Qua nghiên cứu tộc người I – rô – qua, Ph.Ăngghen cho rằng thị tộc
là hình thức cộng đồng người đầu tiên, tổ chức xã hội sớm nhất của loài người Thị tộc được hình thành trên cơ sở những mối liên hệ huyết thống
Đó là những người có cùng một tổ tiên Hình thức cộng đồng người này là tất yếu trong điều kiện sản xuất thấp kém Con người sống chủ yếu bằng nghề săn bắt và hái lượm Đối với xã hội thị tộc, có hai hình thái tổ chức cơ bản, đó là thị tộc mẫu quyền và thị tộc phụ quyền Thị tộc đầu tiên do đàn
bà chi phối và nắm quyền gọi là thị tộc mẫu quyền Theo chế độ mẫu quyền, huyết tộc chỉ kể về bên mẹ Con cái chỉ biết có mẹ, không biết bố
Trang 17Đàn bà có quyền hành và uy tín hơn đàn ông Họ đi hái lượm, đảm bảo nguồn sống cho gia đình Còn đàn ông đi săn bắt với công cụ bằng đá rất thô sơ nên kết quả thất thường Thị tộc phụ quyền xuất hiện khi nghề trồng trọt, chăn nuôi xuất hiện Vai trò của người đàn ông tăng lên trong đời sống kinh tế của thị tộc Họ nắm quyền cai quản thị tộc Như vậy, bước quá độ
từ thị tộc mẫu quyền sang thị tộc phụ quyền gắn với sự tan rã của sở hữu công cộng và sự xuất hiện của tư hữu Ph.Ăngghen nhận định rằng thị tộc
là một đơn vị cơ sở của xã hội, toàn bộ chế độ thị tộc phát triển lên bộ lạc như là một tất yếu của lịch sử
Cũng giống như thị tộc, bộ lạc được tổ chức trên cơ sở những mối liên hệ huyết thống Khi đó, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém, sự phân công lao động lớn của xã hội chưa xuất hiện Chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước đều chưa ra đời Theo Ph.Ăngghen đặc trưng của
bộ lạc là: có lãnh thổ, tên gọi riêng, có đất đai, ngôn ngữ, tù trưởng và thủ lĩnh quân sự riêng Mỗi bộ lạc thường có quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo và có nghi thức lễ bái riêng Khi nảy sinh chế độ tư hữu và giai cấp trong lòng công xã thị tộc và bộ lạc, thì chế độ công xã thị tộc, bộ lạc dần dần tan rã Cùng với sự phát triển về kinh tế, ngôn ngữ, phong tục tập quán bộ tộc xuất hiện Các bộ tộc được hình thành từ sự liên kết của nhiều bộ lạc sống trên một lãnh thổ nhất định Ở cộng đồng bộ tộc, những nhân tố tộc người được bảo lưu, kế thừa và phát triển từ những hình thức cộng đồng trước đó, nhưng đã chịu sự chi phối bởi các nhân tố kinh tế và giai cấp, tuy nhiên những mối liên hệ đó còn chưa mạnh mẽ Bộ tộc cũng chưa phải là một cộng đồng người ổn định như dân tộc
Theo V.I.Lênin, ở các nước phương Tây khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện thì các bộ tộc mới phát triển thành dân tộc Nguyên nhân của sự xuất hiện dân tộc trước hết là từ nhu cầu phát triển kinh tế Trên cơ sở phát triển
Trang 18lực lượng sản xuất, nền sản xuất hàng hóa – tiền tệ ra đời đã làm xuất hiện thị trường dân tộc thống nhất Thị trường dân tộc đòi hỏi phải phá vỡ những rào cản của tình trạng cát cứ, ngăn cách Dân tộc xuất hiện là sự phát triển của một bộ tộc hoặc là do hợp nhất của nhiều bộ tộc Loại hình dân tộc do giai cấp tư sản thống trị được gọi là dân tộc tư sản Còn ở phương Đông loại hình dân tộc thường xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản Có hiện tượng ấy là do sự thúc đẩy của những nhân tố tự nhiên, xã hội trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Loại hình dân tộc này gọi là dân tộc tiền tư bản
Trên con đường phát triển của lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, loại hình dân tộc tư sản và dân tộc tiền tư bản sẽ trải qua sự cải biến sâu sắc để trở thành dân tộc xã hội chủ nghĩa, trong đó giai cấp công nhân đóng vai trò lãnh đạo, nhân dân lao động trở thành chủ thể tích cực quyết định mọi vấn đề liên quan đến vận mệnh và sự tiến bộ của dân tộc
1.1.2 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dân tộc
Khái niệm: Dân tộc là hình thức cộng đồng người phát triển sau bộ
tộc, nó kế thừa nhiều đặc điểm của bộ tộc Cũng như bộ tộc, dân tộc là cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, nhà nước và các thể chế chính trị Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát triển lên, song đa số trường hợp được hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và tộc người hợp nhất lại Ngày nay, khái niệm dân tộc phổ biến được hiểu theo hai nghĩa như sau:
Thứ nhất, dân tộc được hiểu theo nghĩa quốc gia – dân tộc (nation): dân tộc là một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về
sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình
Trang 19lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Theo nghĩa này ta có dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Ấn Độ…
Thứ hai, dân tộc được hiểu theo nghĩa là tộc người (ethnie): là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung phương thức sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ chung của cộng đồng và trong sinh hoạt văn hóa có những nét đặc thù so với những cộng đồng khác và thể hiện thành ý thức tự giác của các thành viên trong cộng đồng đó Theo nghĩa này, ta có dân tộc Kinh, dân tộc Bana…Trong luận văn, khái niệm dân tộc được sử dụng chủ yếu theo nghĩa thứ hai – theo nghĩa cộng đồng tộc người
qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc Các mối quan hệ kinh tế là
cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc Dưới thời kỳ xã hội nông nghiệp, có thể phương thức sinh hoạt kinh tế chưa được bền chặt, do sự chi phối của chính quyền trung ương chưa thật chặt chẽ (phương Đông), hay do bị chia thành các lãnh địa cát cứ (Tây Âu) Phương thức sinh hoạt kinh tế đó chặt chẽ hơn dưới thời kỳ xã hội công nghiệp Do đó, mới xuất hiện hình thức dân tộc tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa Nhưng sự bền chắc của nó ngày càng phụ thuộc vào các nước mạnh trên toàn cầu hay trong khu vực Hiện nay, có thể nói không một quốc gia dân tộc nào mà nền kinh tế không bị phụ thuộc vào các nước khác Hiện tượng lệ thuộc vào nhau về kinh tế đã trở thành phổ biến trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc
Thứ hai, các dân tộc có thể cư trú tập trung trên một lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em Chính trên cơ
sở đó, các dân tộc mới tạo ra được những đặc trưng riêng biệt, nhờ thái độ
Trang 20ứng xử với môi trường tự nhiên để khai thác sử dụng các tài nguyên, cũng như cùng nhau xây dựng những thiết chế gia đình, xã hội, những đặc trưng văn hóa, lễ nghi, thờ cúng…Tuy nhiên, lãnh thổ dân tộc là một phạm trù lịch sử đầy rẫy những biến động phức tạp Lãnh thổ có thể được mở rộng,
bị thu hẹp, bị biến mất hoặc được khôi phục lại Đặc trưng này muốn chỉ vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước Bên cạnh đó, việc cư trú xen kẽ với nhiều dân tộc anh
em là xu thế khách quan, tạo nên môi trường cho sự giao lưu văn hóa, hòa hợp và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc nhằm phát triển kinh tế và tăng cường đoàn kết dân tộc.
Thứ ba, các dân tộc có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng
trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia Trong một quốc gia, ngoài ngôn ngữ chung làm công cụ giao tiếp trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tình cảm thì mỗi dân tộc còn có tiếng nói riêng, chữ viết riêng mang tính đặc thù của dân tộc Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các dân tộc khác nhau Nhờ có ngôn ngữ mà con người mới có thể biểu đạt một cách sinh động, độc đáo những cảnh quan đầy biến động của môi trường tự nhiên, cũng như của những quan hệ xã hội phức tạp và nhạy cảm giữa con người với con người trên các lĩnh vực từ thiết chế gia đình, xã hội đến những tình cảm, tín ngưỡng, giá trị của dân tộc Tất cả được phản ánh vào những công trình nghệ thuật, những luân lý, đạo đức, triết học…Nhờ có ngôn ngữ mà văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát triển Có dân tộc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp chung, cũng có dân tộc dùng ngôn ngữ của các dân tộc khác như tiếng mẹ đẻ hoặc sử dụng nhiều ngôn ngữ cùng một lúc bên cạnh ngôn ngữ mẹ đẻ Trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc, sự bảo tồn
và phát triển ngôn ngữ là vô cùng cần thiết Trong giai đoạn hiện nay, mặc
dù chính sách đồng hóa dân tộc, đồng hóa ngôn ngữ không còn là chính
Trang 21sách của những quốc gia đa dân tộc; song tư tưởng của nó, cộng thêm áp lục của thế giới công nghiệp, của toàn cầu hóa sẽ có thể dẫn đến sự thui chột các ngôn ngữ dân tộc, nhất là của các dân tộc nhỏ yếu sinh sống ở những miền ít có điều kiện phát triển
Thứ tư, các dân tộc có nét tâm lý riêng (tâm lý dân tộc) biểu hiện sự
kết tinh trong nền văn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn bó với nền văn hóa của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc) Những biểu hiện cụ thể của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
ở mỗi một dân tộc phản ánh những giá trị truyền thống, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc đó Lịch sử phát triển của các dân tộc gắn liền với lịch sử văn hóa, truyền thống văn hóa của họ Rất nhiều dân tộc trải qua hàng ngàn năm phát triển vẫn không bị đồng hóa về văn hóa nhờ sức sống trường tồn của văn hóa dân tộc Tuy nhiên, cũng có dân tộc để mất đi đặc thù văn hóa của mình Mặc dù không bị chết cứng về mặt sinh học nhưng họ đã bị mất đi vị trí của chính mình trên vũ đài lịch sử; bởi vì, trong quan hệ văn hóa họ hoàn toàn đã hợp lưu vào dòng chảy của nền văn hóa khác Ngày nay, cùng với việc giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc như là một xu thế tất yếu đối với sự phát triển dân tộc
Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng trên Các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định Sự tổng hợp các đặc trưng trên làm cho các cộng đồng dân tộc được đề cập ở đây - về thựuc chất là một cộng đồng xã hội - tộc người, trong đó những nhân tố tộc người đan kết, hòa quyện vào các nhân tố xã hội Điều đó làm cho khái niệm dân tộc khác với các khái niệm sắc tộc, chủng tộc
Trang 22Nghiên cứu khái niệm và các đặc trưng của dân tộc cần thấy rằng khái niệm dân tộc và khái niệm quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau Bởi vì dân tộc ra đời trong một quốc gia nhất định Nhận thức điều này không chỉ
có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn Công cuộc cải tạo
xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng
và các quan hệ xã hội, không thể thiếu nội dung cải tạo, xây dựng cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc Ngược lại, việc cải tạo, xây dựng cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc không thể tách rời công cuộc cải tạo, xây dựng toàn diện xã hội mà trước hết là xây dựng thiết chế chính tri – xã hội, xây dựng nhà nước theo con đường tiến bộ Trong thực tiễn, không nên xem nhẹ hoặc làm lu mờ những nhân tố dân tộc còn tồn tại lâu dài trong một cộng đồng quốc gia gồm nhiều dân tộc Nhân tố dân tộc bao giờ cũng in đậm dấu ấn trong cộng đồng đó Nó là căn cứ chủ yếu để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Điều đó đòi hỏi nhà nước xã hội chủ nghĩa trong khi hoạch định và thực hiện mọi chính sách chung của quốc gia, cần chú ý đến tính đặc thù của cộng đồng gồm nhiều dân tộc, hơn nữa, cần có những chính sách riêng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng mang tính đặc thù của từng dân tộc
1.2 CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN TỘC GIẺ - TRIÊNG
Ở TỈNH KON TUM HIỆN NAY
1.2.1 Nguồn gốc, dân cư và địa bàn cư trú của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum
Nguồn gốc: dân tộc Giẻ - Triêng là một cộng đồng người ổn định
dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa Trên cơ sở những mối liên hệ đó,
họ có ý thức về thành phần dân tộc và tên gọi riêng của mình Những yếu
tố đó được nhiều người thừa nhận là đặc trưng không thể thiếu được của
Trang 23một dân tộc Giẻ - Triêng tuy là một dân tộc nhỏ, trình độ phát triển kinh tế còn thấp nhưng cho tới nay họ vẫn giữ được tiếng nói và văn hóa của mình,
ý thức tự giác dân tộc vẫn còn tồn tại trong mỗi cá nhân người Giẻ - Triêng
Khi bàn về nguồn gốc của dân tộc Giẻ - Triêng đã có nhiều ý kiến được đưa ra Nhóm tác giả Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp cho rằng: “Dân tộc Giẻ - Triêng sống ở Lào, họ di cư sang Việt Nam cách nay khoảng hai,
ba thế kỷ Tuy đôi khi có những tên khác nhau, nhưng tộc danh Giẻ - Triêng được đồng bào thừa nhận, thể hiện ý thức về cộng đồng thống nhất” [46, 136]
Còn tác giả Đặng Nghiêm Vạn lại viết: “Dân tộc Gié – Triêng xuất phát từ miền Coong Nang vùng Khâm Đức (Quảng Nam), họ di cư đi khắp nơi, một bộ phận chuyển sang vùng Xê Ca Mang bên Lào Ở Lào, họ được gọi là Tà Liềng tập trung đông ở ba tỉnh Xê Kông, Xalavan, Attapư,…Sau những biến động vào thế kỷ XVI-XVIII, họ phân ly ra thành nhiều nhóm
Số sang Việt Nam cư trú ở huyện Trà My, Nam Giang, tỉnh Quảng Nam và huyện Đăk Glây, tỉnh Kon Tum” [102, 249]
Trong khi đó, Bùi Thiết lại cho rằng Giẻ - Triêng “là một trong 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme, sinh sống ở tỉnh Kon Tum, trên địa bàn núi cao hiểm trở, có ngọn núi Ngọc Linh…Là cư dân có nguồn gốc bản địa, sinh sống lâu đời ở vùng này (Kon Tum)” [86, 76] Điều này được tác giả Nguyễn Tuấn Triết khẳng định thêm một lần nữa với bài “Vấn đề củng cố và phát huy khối đoàn kết
dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay” trong cuốn “Những thành tựu khoa học xã
hội và nhân văn ở các tỉnh phía nam trong thời kỳ đổi mới” do NXB Khoa
học Xã hội xuất bản năm 2003 Tác giả cho rằng: “Tây Nguyên vốn là địa bàn cư trú lâu đời của nhiều tộc người thiểu số thuộc ngữ hệ Nam Á và ngữ
hệ Nam Đảo có những khác biệt về cội nguồn lịch sử, những sắc thái riêng
Trang 24về văn hóa và ở những bậc thang khác nhau về trình độ phát triển kinh tế -
xã hội Vì thế, Tây Nguyên còn là vùng văn hóa mang nhiều nét đặc thù, bảo lưu được nhiều yếu tố cổ xưa”
Có cùng quan điểm với tác giả Nguyễn Tuấn Triết là tác giả Trần Văn Bính Tác giả Trần Văn Bính khẳng định: “Tây Nguyên là địa bàn cư trú của hai nhóm ngôn ngữ tộc người lớn, điển hình cho Đông Nam Á cổ đại Đó là nhóm Nam Á (Austroasian) Môn Khơme và Nam Đảo (Austroasian), chiếm trên 20 trong số 54 tộc người ở Việt Nam Có nhiều ý kiến dự báo rằng các tộc Nam Á bản địa đã làm chủ Tây Nguyên từ thời cổ đại…Các tộc người của hai nhóm sống xen kẽ, gần gũi nhau từ hàng ngàn năm đã tạo ra một quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa rất sâu sắc” [6, 23-24]
Cụ thể hơn, trong cuốn “Văn hóa truyền thống các dân tộc Kon
Tum”, tác giả Đào Huy Quyền và Ngô Binh cho rằng: “Trước khi đạo
Thiên Chúa được các giáo sỹ Pháp chủ trương đưa lên cao nguyên, vùng Kon Tum hoàn toàn là giang sơn của các dân tộc bản địa Hội tụ ở vùng này là các dân tộc Jrai, Ba Na, Sédang, Giẻ - Triêng, B’râu, Rơmăm Họ được xem là những dân tộc bản địa lâu đời nhất” [74, 67]
Như vậy, có thể khẳng định dân tộc Giẻ - Triêng đã sinh sống lâu đời
ở Kon Tum, ở Quảng Nam và Lào Họ là một trong những dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm Môn – Khmer, là nhóm có sự phân bố tương đối rộng, không chỉ ở Việt Nam mà có cả ở Mianmar, Lào, Campuchia
Về tên gọi: mỗi một dân tộc khi mới hình thành đã có ngay nhu cầu
đặt cho mình một tên gọi Các dân tộc khác xung quanh họ, khi biết đến họ lại cũng có nhu cầu đặt cho họ một cái tên gọi Mặt khác, bản thân dân tộc
và tên gọi của dân tộc cũng không phải là bất biến Chính vì những lý do đó
mà mỗi dân tộc, trong suốt quá trình lịch sử cũng như trong một thời điểm
Trang 25nào đó đồng thời có nhiều tên gọi khác nhau Tuy nhiên, trong rất nhiều tên gọi đó, việc phải chọn cho họ một cái tên đúng đắn là biểu thị thái độ tôn trọng đối với dân tộc và cũng là biểu hiện thái độ nghiêm túc về mặt khoa học
Đối với dân tộc Giẻ - Triêng, trong quá trình lịch sử họ còn có các tên gọi khác như Vẻh, Bnoong, Giang Rẫy, Ta Trẽ, Cà Tang [53, 111] Hiện nay, tên gọi của dân tộc này vẫn chưa được thống nhất Có một số
sách gọi dân tộc này là Gié – Triêng như các cuốn: “Sơ lược truyền thống
văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”, Vũ Ngọc Khánh chủ biên do Nhà
xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1998; “Những thành tựu Khoa học Xã hội
và Nhân văn”, Nguyễn Thế Nghĩa chủ biên do Nhà xuất bản Khoa học Xã
hội xuất bản năm 2003, “Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam”, Đặng
Nghiêm Vạn chủ biên do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2003
Cũng về tên gọi của dân tộc này, số sách chiếm số đông lại gọi là Giẻ
- Triêng như: “Các dân tộc tỉnh Gia Lai – Công Tum” của Đặng Nghiêm Vạn chủ biên do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1981; “Văn
hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” của Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp
do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1998; “Phong tục tập quán các
dân tộc Việt Nam” của Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn
Trụ do Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản năm 1997; “Kon Tum, đất
nước, con người” của nhiều tác giả do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản
năm 1998; “54 dân tộc Việt Nam và các tên gọi khác” của Bùi Thiết do Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm 1999; “Văn hóa truyền thống các
dân tộc Kon Tum” của Đào Huy Quyền, Ngô Binh do NXB Khoa học Xã
hội xuất bản năm 2003; “Phác thảo văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số
Trang 26tỉnh Kon Tum” của nhiều tác giả do Viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam
xuất bản năm 2008
Căn cứ vào bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam được Nhà nước ban hành ngày 2 tháng 3 năm 1979, căn cứ vào địa bàn cư trú của họ ở các làng thuộc xã Đăknông, Đăkdục (huyện Ngọc Hồi) và các làng thuộc xã Đăkmôn, Đăklong (huyện Đăk Glei) ở tỉnh Kon Tum thì thấy rằng gọi tên dân tộc này là Giẻ - Triêng là phù hợp hơn cả
Về ngữ hệ: người trong một dân tộc dễ dàng nhận ra nhau, cho dù ở
nước này hay nước khác một phần là qua ngôn ngữ Ngôn ngữ là dấu hiệu khó có thể thiếu được trong việc xác định một dân tộc Có nhà ngôn ngữ học đã từng nói rằng ngôn ngữ còn, dân tộc còn Thật vậy, ngôn ngữ mẹ đẻ
là thân thương với mọi người, là tiếng nói từ tuổi thơ được người mẹ “đánh thức cả một quá khứ dân tộc” trong lời ru con trẻ, là tiếng nói thiêng liêng của một chiến binh ngã trên chiến trường trước khi rời đồng đội Qua tiếng nói, con người biểu đạt một cách sinh động và cụ thể những cảnh quan đầy biến động của môi trường tự nhiên, cũng như những quan hệ xã hội phức tạp giữa con người với con người trên các lĩnh vực từ gia đình, xã hội đến tình cảm, tín ngưỡng, giá trị của dân tộc Tất cả được phản ánh qua lời thơ, tiếng hát, ca dao cho đến những truyền thuyết, huyền thoại bất hủ
Việt Nam có 54 dân tộc và được xếp thành 3 dòng ngôn ngữ Trong đó:
Thứ nhất, dòng Nam - Á gồm ngôn ngữ Việt - Mường có 4 dân tộc,
ngôn ngữ Môn - Khmer có 21 dân tộc
Thứ hai, dòng Nam - Thái gồm ngôn ngữ Tày - Thái (hay Kăm -
Thái, Choang - Đồng) có 8 dân tộc, ngôn ngữ Hmông - Dao (hay Miêu - Dao) có 3 dân tộc, ngôn ngữ Kađai (hay Cơ Lao) có 4 dân tộc, ngôn ngữ Nam - Đảo (Malayo - Polinesien) có 5 dân tộc
Trang 27Thứ ba, dòng Hán - Tạng gồm ngôn ngữ Tạng - Miến có 6 dân tộc,
ngôn ngữ Hán có 3 dân tộc [102, 178-179]
Trong ba dòng ngôn ngữ nêu trên, ngôn ngữ của dân tộc Giẻ - Triêng
ở Kon Tum thuộc dòng Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer Đối với nhóm Môn - Khmer, sự phân bố là khá rộng lớn, không chỉ ở Việt Nam mà
cả ở Mianmar, Lào, Campuchia Ở Việt Nam, số dân cư nói tiếng Môn - Khmer không nhiều nhưng lại chiếm gần nửa số dân tộc (21/54), với sự hình thành khá phức tạp, hay thay đổi nơi cư trú
Về chữ viết: Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách dân
tộc đối với tiếng nói và chữ viết Quyết định số 53/CP ngày 22 thánh 02 năm 1980 của Hội đồng chính phủ về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số cho rằng chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa
là vốn quý của dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước, ở các vùng dân tộc thiểu số, chữ dân tộc được dùng đồng thời với chữ phổ thông Hiện nay, dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum đã có chữ viết riêng và đang được sử dụng trong cộng đồng Đặc biệt, ở cán bộ đảng viên, việc học chữ Giẻ - Triêng được chính quyền cấp xã chú trọng Việc mở lớp bối dưỡng chữ viết Giẻ - Triêng ở huyện Đăk Glei tại trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm chính trị của huyện đã góp phần không nhỏ trong công tác, giao tiếp đối với cán bộ và nhân dân địa phương
Về dòng họ: trong các dân tộc ở Tây Nguyên, khi muốn phân biệt
giới tính thông qua tên gọi hoặc chữ viết, chúng ta đa phần chỉ gặp là chữ
A hoặc chữ Y trước tên gọi Đây là các dân tộc không có họ
Riêng đối với dân tộc Giarai và dân tộc Giẻ - Triêng thì có họ Hiện
nay, người Giẻ - Triêng ở Kon Tum vẫn tồn tại hai loại họ (choong) là: dòng họ nam (choong con khló) và dòng họ nữ (choong con hđrây) Theo
Nguyễn Hùng Khu, “vấn đề dòng họ của người Giẻ - Triêng là để phân
Trang 28biệt, xác định huyết thống trong hôn nhân của họ Họ không bị rối rắm về vấn đề anh chị em trong nội tộc lấy lẫn nhau” [45, 64] Ngày nay, dân tộc Giẻ - Triêng đang trong quá trình chuyển từ chế độ mẫu hệ sang phụ hệ nên
họ của nam thấy khá rõ, còn họ của nữ thì thấy mờ nhạt hơn
Đồng quan điểm với Nguyễn Hùng Khu, tác giả Trần Văn Bính cũng cho rằng: “Một số dân tộc Tây Nguyên đã chuyển sang chế độ phụ quyền như người Mạ, một số đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ mẫu quyền sang phụ quyền (biểu hiện rõ ở hình thức hôn nhân cư trú bên chồng hoặc bên vợ do thỏa thuận): Bana, Gié – Triêng, Hrê, Xơđăng…Đây chính
là sự phát triển tất yếu của lịch sử, phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại” [6, 88]
Dòng họ nam: nhìn chung, dòng họ nam của dân tộc Giẻ - Triêng
vẫn còn tương đối đông, đều có các truyền thuyết liên quan và mang tên chim, tên thú, tên cây cỏ, tên đặc điểm thiên nhiên nơi đồng bào cư trú hoặc tên người sáng lập ra dòng họ Dòng họ nam có vai vế trong xã hội hơn dòng họ nữ và được mọi người biết đến Một số họ nam tiêu biểu như: Brôl (dúi), Đoắt (khướu), Đé (nai), Prốc (nấm mối), Naxó (đất đỏ), Trơ Rim (cái cầu), Un (lửa)…
Dòng họ nữ: đối với dân tộc Giẻ - Triêng, dòng họ nữ nay phai mờ,
chỉ có người già biết đến, nhưng cũng đã quên hết các truyền thuyết liên quan đến các dòng họ này và thường chỉ được nhắc tới khi nào muốn truy tìm về nguồn gốc “Điều đó phản ánh vị trí của chế độ phụ hệ trong quan
hệ dòng họ đang chiếm ưu thế hiện nay” [45, 108] Một số họ nữ ở làng Dục Nhây, xã Dục Nông, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum vẫn còn tồn tại như: La Póc, Đắc Lóc, Hđruông, KiaUn, Rang, Róa, Brá, Đăc Kơl, Pa Ác, Líp Phiên, Líp Bốc, Gơl
Trang 29Như vậy, chỉ qua tên gọi về dòng họ của dân tộc Giẻ - Triêng, ta thấy
sự phản ánh về mối quan hệ sâu sắc, gắn bó giữa con người với núi rừng tự nhiên, ghi đậm dấu ấn của văn hóa núi rừng Những dấu ấn đó gợi cho ta sự gắn bó đã trở thành máu thịt trong đời sống của dân tộc Giẻ - Triêng đối với môi trường tự nhiên của vùng núi rừng nhiệt đới Tây Nguyên
Dân cư và địa bàn cư trú: dân tộc Giẻ - Triêng được hình thành từ
các nhóm địa phương là: Đgích, Tarch, Giang Rẫy, Pin, Triêng, Treng, Tariêng, Ve (Veh), Lave, Catang Nếu tính các nhóm lớn, dân tộc Giẻ -
Triêng gồm hai nhóm là Giẻ và Triêng “Nhóm Giẻ cư trú chủ yếu ở huyện
Đăk Glei, nhóm Triêng ở huyện Ngọc Hồi” [67, 306] Đến năm 2010, dân
số của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum là 33.043 người, chiếm trên 10,51% dân số của toàn tỉnh Giẻ - Triêng là dân tộc đông thứ ba trong sáu
dân tộc bản địa ở tỉnh Kon Tum
Có thể khẳng định rằng không một dân tộc nào lại không cư trú trên một địa bàn nhất định Chính trên cơ sở đó, họ mới tạo ra được những đặc trưng mang tính dân tộc rất riêng biệt, nhờ thái độ ứng xử với môi trường
tự nhiên để khai thác sử dụng các tài nguyên, cũng như cùng nhau xây dựng những thiết chế gia đình, xã hội, những đặc trưng văn hóa, lễ nghi, thờ cúng…Khu vực cư trú tập trung của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum là huyện Đăk Glei và sau đó là huyện Ngọc Hồi Huyện Đăk Glei có diện tích tự nhiên là 1.532,50 km2 (chiếm 15,80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), đất rừng tự nhiên chiếm 71% Dân số là 40.012 người, trong đó 80%
là dân tộc Giẻ - Triêng và Xê Đăng Huyện Đăk Glei có mật độ dân số trung bình là 27 người/km2 so với toàn tỉnh là 34 người/km2 nên là huyện
có mật độ dân số thấp nhất trong toàn tỉnh Mặt khác, vì Kon Tum lại là tỉnh có mật độ dân số thưa nhất trong cả nước nên huyện Đăk Glei trở thành nơi có mật độ dân số thưa nhất so với cả nước Huyện Ngọc Hồi có
Trang 30diện tích tự nhiên là 844,54 km2 (chiếm 8,40% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), đất rừng tự nhiên chiếm 59% Dân số hiện có 43.845 người, trong đó 23%
là dân tộc Giẻ - Triêng
Tại Kon Tum, dân tộc Giẻ - Triêng ngoài việc cư trú tập trung tại huyện Đăk Glei và Ngọc Hồi thì thông qua việc công tác trong các cơ quan,
xí nghiệp, lực lượng vũ trang, học tập và thông qua con đường hôn nhân,
họ còn có số ít sống rải rác ở thành phố Kon Tum, ở huyện Đăk Hà và huyện Kon Plông Ngoài tỉnh Kon Tum, dân tộc Giẻ - Triêng còn có mặt ở địa bàn của huyện Giằng, huyện Hiên và huyện Phước Sơn tỉnh Quảng Nam Đặc biệt đồng tộc của họ còn khá đông ở bên nước Lào Dọc biên giới Việt – Lào của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam, dân tộc Giẻ - Triêng
ở Kon Tum có thể đi lại thăm hỏi, buôn bán, làm ăn, thậm chí lấy vợ, lấy chồng qua lại lẫn nhau với dân tộc Giẻ - Triêng bên Lào vì ngôn ngữ của
họ vẫn có thể dùng chung được
Cả hai khu vực cư trú của dân tộc Giẻ - Triêng tại huyện Ngọc Hồi
và huyện Đăk Glei đều là vùng rừng núi hiểm trở, có núi Ngọc Linh cao nhất Tây Nguyên và cao thứ hai so với cả nước Đây là vùng biên giới giữa Việt Nam và Lào, thuộc khí hậu nhiệt đới, gió mùa cao nguyên, nhiệt độ trung bình từ 220C - 230C Có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 tới tháng
11, có gió theo hướng Tây - Nam, lượng mưa trung bình hằng năm là 2.121mm (tháng 8 là tháng mưa cao nhất trong năm); mùa khô từ tháng 12 tới tháng 3 năm sau, có gió theo hướng Đông – Bắc và rất dễ xảy ra cháy rừng Nơi đây có sông, suối nhỏ nhưng về mùa mưa nước chảy xiết
Nơi cư trú của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum thuộc vùng đất trắng xám, khác hẳn với vùng đất đỏ bazan ở phía Nam (Gia Lai) và nếu đi về phía Bắc (Quảng Nam) thì núi đá xuất hiện mỗi lúc một nhiều Đây là vùng rừng núi hiểm trở, có đặc trưng bởi các dãy núi cao, dốc thẳng đứng và các
Trang 31thung lũng hẹp, rất dễ xảy ra mưa đá và đất sụt Đây là khu vực rừng có độ che phủ tới hơn 65%, lớn nhất trong tỉnh và cả nước Nhiều nơi ánh nắng mặt trời khó có thể xuyên qua những tán lá um xùm của những khu rừng già, lâu năm, hằng ngày sương mù đến trưa mới tan hết Rừng ở đây có hơn
100 loài thực vật, thuộc hơn 180 chi, 75 họ thực vật có hoa, có các loại gỗ quý như: Cẩm lai, Hương, Trắc, Táu, Sao… Trong đó có nhiều loại dược liệu quý hiếm như sâm, trầm hương, quế, mật ong, gạc nai…Đây cũng là vùng có động vật rất phong phú, đa dạng và quí hiếm như các loại chim, tê giác, voi, hươu, nai, hổ, báo, bò tót…nên rừng đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế của dân tộc Giẻ - Triêng
Do định cư trên địa bàn như vậy nên giao thông, đi lại đối với dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum rất khó khăn Sinh hoạt của họ chủ yếu tập trung trong đơn vị làng, chỉ khi có việc thật cần thiết họ mới phải sang làng khác, khu vực khác để trao đổi lấy những gì mà làng bị thiếu Đường Hồ Chí Minh có chiều dài 72 km đi qua địa bàn huyện Đăk Glei và 62 km đi qua địa bàn huyện Ngọc Hồi đã làm thay đổi ở những nơi có đường đi qua Tuy nhiên, ở vùng sâu (khu vực núi Ngọc Linh) tới nay, nhiều làng vẫn chưa có đường ô tô, chưa có đường giao thông liên xã nên họ vẫn phải đi lại bằng những lối mòn Chính điều này phần nào làm cho sự phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu văn hóa của dân tộc Giẻ - Triêng trong quá khứ cũng như hiện nay gặp rất nhiều khó khăn
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của dân tộc Giẻ - Triêng ở tỉnh Kon Tum
Thứ nhất, hình thái tổ chức xã hội tiền giai cấp
Cho đến nay, tuy có nhiều thay đổi nhưng về cơ bản, dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum vẫn đang ở trong cơ cấu xã hội mang đậm hình thái kinh tế - xã hội tiền giai cấp Xã hội truyền thống của dân tộc Giẻ - Triêng
Trang 32là xã hội của chế độ mẫu hệ và hiện nay đang trong quá trình chuyển đổi bước đầu từ mẫu hệ sang phụ hệ nên trong xã hội của họ đang đồng thời tồn tại cả mẫu hệ và phụ hệ
Về tổ chức cộng đồng, đơn vị xã hội truyền thống nhỏ nhất và duy nhất của các dân tộc bản địa ở Kon Tum nói chung và của dân tộc Giẻ - Triêng nói riêng là làng Làng là tên gọi phổ biến theo tiếng Kinh “Người Bana gọi làng là “Kon”, người Xêđăng gọi làng là “Plơi”, người Giarai gọi làng là “Bôn”, người Giẻ - Triêng gọi làng là “Plây” hay “Plây tum”, người Brâu gọi làng là “Đê”, người Rơmăm gọi làng là “Srúc” [62, 58] Làng là nơi cư trú của cộng đồng trên cơ sở huyết thống kết hợp láng giềng Xưa kia, cư dân một làng thường chỉ gồm những người là bà con của nhau Hiện nay, do có nhiều biến động, nên những quan hệ họ hàng bị loãng đi vì có
cư dân làng khác cùng sinh sống Trong cuốn “Văn hóa các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam”, nhóm tác giả Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp cũng đã viết:
“Các tộc người Trường Sơn – Tây Nguyên cho đến cuối thế kỷ XIX đang còn ở giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy chuyển sang xã hội có giai cấp Tổ chức xã hội duy nhất là làng Ruộng tư đã xuất hiện, nhưng chế độ
sở hữu công cộng đối với toàn bộ đất đai còn giữ vai trò chủ đạo Tình hình
đó còn kéo dài đến những năm 50 của thế kỷ XX Trong lòng xã hội đã có
sự phân hóa sâu sắc và bị chi phối bởi những tập quán cổ truyền của rừng dân tộc Làng không còn là công xã huyết tộc, mà bao gồm những người có mối quan hệ láng giềng chung sống” [46, 25] Đứng đầu làng của dân tộc
Giẻ - Triêng là Già làng (ngai krạ plây hay ngai krạ bút) Đó là người hiểu
biết phong tục, kinh nghiệm sản xuất và có uy tín, là người chủ nóc nhà lớn hay trưởng họ Ở một số vùng, chức Già làng được thừa kế Thời gian giữ chức vụ này cũng tùy vào người được bầu Nếu người đó già yếu hặc ốm đau thì người con trai cả sẽ thừa kế chức vụ này Già làng là người đại diện
Trang 33cho làng quản lý đất đai công cộng, chủ trì những công việc chung của làng như săn bắt tập thể, dời bản, lễ đâm trâu…, đồng thời cũng là người giải quyết những vụ xích mích, kiện cáo trong nội bộ dân làng, cùng với các già làng khác liên quan giải quyết các công việc giữa các làng Bên cạnh Già làng còn có “Hội đồng già làng” Thành viên “Hội đồng già làng” là những người đứng đầu các gia đình lớn, nhưng quyền lực tối cao vẫn thuộc về Già làng
Già làng luôn được mọi người kính nể Trong những ngày lễ, cúng
tế, cưới xin…ông được ngồi ở vị trí danh dự nhất Ngoài ra, Già làng không có đặc quyền, đặc lợi gì khác, ông cũng phải lao động giống như những người dân khác trong làng Khi bàn công việc chung, ý kiến của dân làng cả trai lẫn gái rất được tôn trọng Họ có quyền tham dự những buổi họp và phát biểu ý kiến của mình về những công việc chung Già làng cùng
với Hội đồng già làng mà thành viên là các chủ nóc (krạ khul), dựa vào ý
kiến của họ mà quyết định công việc
Trong các làng, quan hệ giữa các thành viên là quan hệ công xã láng giềng Tất cả đất đai, sông suối, núi rừng là của chung, thuộc quyền sở hữu của từng làng Những thành viên trong làng có quyền canh tác, săn bắn, đánh cá… trong phạm vi đất đai của làng mình Người ở làng khác muốn khai phá trên đất đai của làng phải được sự đồng ý của Già làng
Như vậy có thể thấy rằng, cộng đồng làng là một tổ chức thống nhất bền chặt Trong đó mỗi cá nhân luôn là một thành viên gắn bó mật thiết với cộng đồng làng Họ tắm mình trong không khí làng và bị chi phối bởi lối sống mang tính cộng đồng, cả cống hiến cũng như hưởng thụ Giữa cá nhân
và cộng đồng luôn hòa quyện vào nhau, tạo mối quan hệ cố hữu bền chặt trong từng đơn vị nhất định
Trang 34Trong đời sống xã hội dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum cũng đã xuất hiện sự phân biệt giữa giàu và nghèo vì thực tế cuộc sống đã hình thành
nên ba lớp người chính, đó là lớp người thừa ăn (Ngai gắp khoan), lớp người đủ ăn (Ngai gắp cha) và lớp người nghèo (Ngai tôi đal)
Người thừa ăn (Ngai gắp khoan): là những gia đình có nhiều lao
động, với sự chăm chỉ của mình và những kinh nghiệm sản xuất tích lũy được, làm được nhiều nương rẫy, lúa gạo, chăn nuôi được nhiều trâu bò…Vì vậy, người thừa ăn chỉ hơn người khác vài kho thóc, vài chiếc ché,
bộ chiêng, vài con trâu Thường Già làng thuộc lớp người này
Người đủ ăn (Ngai gắp cha): là những người làm đủ ăn, đủ mặc và
có vài ba chiếc chiêng, ché Tầng lớp này chiếm số đông trong cư dân
Người nghèo (Ngai tôi đal): là những người ít hoặc không có của,
thiếu sức hay lười lao động, hằng năm thiếu ăn nhiều tháng Số người này chiếm tỉ lệ không nhiều
Ngoài ba lớp người chính nêu trên thì trong xã hội dân tộc Giẻ -
Triêng còn có cả người nô lệ (Ngai đích nóc) Đó là những người mắc nợ
không trả được, những kẻ mồ côi không nơi nương tựa Người bị mắc nợ
có thể do bố mẹ để lại, hoặc do bản thân bị phạt vạ, bị suy sụp về kinh tế hoặc do chi tiêu vào những việc bất thường Những người này phải lao động cho chủ đến khi nào trả xong nợ hay có tiền chuộc thì được giải phóng Nếu nợ chưa trả được, vợ con phải làm nô lệ thay thế
Bên cạnh đó, trong xã hội của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum, gia đình được chia thành hai loại: loại gia đình lớn và loại gia đình nhỏ
Loại gia đình lớn: bao gồm các dạng như cùng sống dưới một mái
nhà, cùng làm chung và ăn chung; hay sống chung dưới một mái nhà hoặc
ở thành từng nhóm, làm chung, ăn riêng nhưng vẫn giữ quan hệ chặt chẽ với nhau về kinh tế và tinh thần Thực tế, loại gia đình này đang ở giai đoạn
Trang 35chuyển tiếp sang loại gia đình nhỏ Người đứng đầu gia đình lớn thường là người đàn ông, còn người vợ thường là người làm “mẹ lúa” Người chủ gia đình và vợ của mình trông coi mọi việc sản xuất, chi tiêu trong gia đình, là người đại diện cho gia đình, tiếp khách, giao thiệp với các gia đình khác và tham gia vào các công việc công cộng của làng Trong gia đình của dân tộc Giẻ - Triêng, ta không tìm thấy bóng dáng của một gia trưởng đầy quyền lực, chi phối mọi hoạt động, sinh hoạt của gia đình Ở đây còn tồn tại hình thức giống như hội nghị gia đình Sau bữa ăn tối, mọi người ngồi trò chuyện quanh bếp lửa Khi rỗi rãi, lúc nghỉ ngơi trên rẫy…đều là những dịp
để mọi người có thể trao đổi, thống nhất với nhau về những công việc trong gia đình
Về mặt tổ chức lao động, trong gia đình lớn của dân tộc Giẻ - Triêng
ở Kon Tum có hai hình thức song song tồn tại, đó là phân công theo giới tính, lứa tuổi và phân công theo từng nhóm gia đình nhỏ trong gia đình lớn Phân công theo giới tính và lứa tuổi đã có từ lâu và mang tính truyền thống Những công việc như giã gạo, kiếm củi, bếp nước, nấu ăn, chăm sóc con cái là công việc của phụ nữ…Những việc nặng nhọc như phát rẫy, làm nhà, săn bắn…là việc của đàn ông Mặt khác, tùy theo từng lứa tuổi, họ phân công cho những công việc thích hợp Hình thức phân công theo từng nhóm gia đình nhỏ trong gia đình lớn xuất hiện muộn hơn Theo hình thức này, số nương rẫy của gia đình lớn được đem chia cho từng gia đình nhỏ tương ứng với số thành viên còn sức lao động Đến mùa, số thóc thu hoạch được đem nhập vào kho của toàn gia đình Đối với những gia đình lớn dựa trên nền tảng kinh tế chung thì việc phân phối thành quả lao động cũng mang tính chất tập thể Thức ăn do mọi thành viên kiếm được đem góp lại, cùng với cơm phân đều cho mọi thành viên của từng gia đình nhỏ Việc nấu cơm, nước được cắt lần lượt cho từng gia đình nhỏ trong thời gian nhất định
Trang 36Quần áo, chăn màn… của mọi thành viên được người chủ gia đình lấy từ quỹ của chung ra mua sắm Ngoài phần chi tiêu hằng ngày, phần quỹ được dành dụm để dùng khi gia đình có việc quan trọng như dựng vợ gả chồng, tang ma…
Đối với những gia đình lớn vẫn làm chung nhưng ăn riêng thì việc phân chia sản phẩm chỉ là thóc lúa, còn những thứ khác như rau cỏ hay gia súc nhỏ là của riêng Sau mỗi vụ gặt, số thóc được gom vào kho của gia đình lớn và đem chia cho từng gia đình nhỏ tương ứng với số người theo định kỳ vài ba ngày hay nửa tháng một lần
Với những gia đình cùng ở chung nhưng đã làm riêng và ăn riêng, về mặt kinh tế, các cặp vợ chồng giữ tính độc lập nhưng không phải đã mất đi hoàn toàn những dấu vết về cộng đồng kinh tế trước đây Khi bắn được con thú, thịt con lợn, con gà…, họ vẫn chia đều cho mọi gia đình “Ở đây không có hiện tượng gia đình này còn thức ăn, trong khi đó người khác trong nóc lại bị đói” [45, 75]
Loại gia đình nhỏ: là những gia đình ở riêng, làm riêng và ăn riêng
Quan hệ với họ hàng chủ yếu là về mặt tinh thần, còn sự tương trợ về kinh
tế chỉ diễn ra trong những điều kiện nhất định như khi có ma chay, cưới xin…
Sau năm 1975, phần lớn số gia đình dân tộc Giẻ - Triêng đang trong giai đoạn cùng cư trú dưới một mái nhà nhưng độc lập về kinh tế Vài nhóm gia đình nhỏ tách khỏi gia đình lớn, cư trú gần gia đình lớn, rồi từ đấy lại tách ra thành các gia đình nhỏ độc lập Đó là xu hướng phân chia phổ biến hiện nay, “báo hiệu sự cáo chung của chế độ đại gia đình” [100, 261] Hiện nay, xu hướng phát triển thành gia đình nhỏ đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ, nhất là trong bước đường tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 37Ngày nay, trong các làng truyền thống của dân tộc Giẻ - Triêng có
sự đan xen, phân biệt giữa cuộc sống thực tại và cuộc sống truyền thống với nhau Hiện trạng này thể hiện rõ kết quả của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa của dân tộc Giẻ - Triêng với các nền văn hóa khác
Thứ hai, đặc trưng văn hóa núi rừng
Có thể nói, toàn bộ đời sống vật chất cũng như tinh thần của các dân tộc Tây Nguyên từ tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, nghi lễ, đời sống tình cảm của con người đều gắn bó với rừng núi và nương rẫy Cũng như nhiều dân tộc láng giềng trong khu vực Tây Nguyên, dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum sống rất gắn bó với rừng nên văn hóa của họ cũng thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa núi rừng Văn hóa núi rừng thực chất là phương thức ứng xử với tự nhiên theo cách riêng của họ được hình thành trong lịch sử nhiều thế kỷ cộng cư trên vùng đất cao nguyên rừng rộng, người thưa, đất đai màu mỡ này Do sống trong rừng, lấy cái ăn từ rừng, được rừng chở che, bao bọc nên họ rất coi trọng rừng Rừng thường xuyên thâm nhập vào con người và tâm thức của dân tộc Giẻ - Triêng là tâm thức rừng “Họ xem rừng như một thực thể có linh hồn, hồn thiêng” [40, 221] Các sinh vật trong rừng cũng là những thực thể có hồn Chính vì vậy, họ chỉ khai thác rừng vừa đủ để đảm bảo đời sống hằng ngày của mình và bảo đảm rừng có thể tái sinh Rừng không là sở hữu của riêng ai mà thuộc về làng Mọi người trong làng đều phải tuân thủ những luật tục về cư trú, sinh hoạt, sản xuất trong rừng Rừng thiêng của làng, mà thực chất là rừng đầu nguồn, là nơi dân làng không được khai thác dưới bất kỳ hình thức nào Như vậy, đối với dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum, rừng không chỉ là tài nguyên mà rừng là tất cả, là toàn
bộ cuộc sống của họ, là chính bản thân họ Rừng không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là thời gian sinh tồn đối với họ “Rừng núi là một thế giới sống, có tổ chức và luật lệ riêng, tương tự thế giới con người” [6, 27] Rừng
Trang 38là sự vĩnh hằng, là cõi vô cùng, là cội nguồn ở đầu bên này nhưng cũng là cõi mịt mùng thăm thẳm ở đầu bên kia Con người sống với rừng, hòa vào rừng, do rừng và vì rừng Không có nhu cầu to lớn hay nhỏ bé nào của con người lại không xuất phát từ rừng và liên quan đến rừng Với dân tộc Giẻ - Triêng, có rừng là có tất cả và mất rừng là mất phần lớn môi trường và điều kiện sống Đây cũng chính là điều mà nhà văn Nguyên Ngọc đã từng lo ngại Ông cho rằng khi rừng bị mất thì văn hóa cũng sẽ tiêu điều, suy kiệt, bởi xét trong bản chất của nó, văn hóa Tây Nguyên chính là văn hóa rừng
Đặc trưng văn hóa núi rừng ghi đậm trong đời sống thường ngày của dân tộc Giẻ - Triêng, được thể hiện qua việc ăn, mặc, ở nhà sàn, xây dựng nhà rông; qua việc đi lại, văn hóa cồng chiêng, văn hóa nhà mồ, tín ngưỡng vật linh, các phong tục và lễ hội…Như vậy, có thể thấy rừng là cội nguồn văn hóa Không có một biểu hiện văn hóa nào lại không liên quan đến rừng Trong sắc màu chung của văn hóa núi rừng Tây Nguyên, văn hóa núi rừng của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum vẫn có những đặc điểm riêng, bản sắc riêng và sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể, chi tiết trong chương 2
Thứ ba, tính cộng đồng và tính tự trị
Một trong những giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc Giẻ - Triêng là tính cố kết cộng đồng Có thể nói, tính cộng đồng thấm đẫm trong lao động, chiến đấu tới sinh hoạt văn hóa, sinh hoạt hằng ngày của họ Tính cộng đồng như một sợi dây vô hình mà bền chặt, kết nối những cá nhân riêng lẻ thành một khối thống nhất, đoàn kết, gắn bó Nguyên nhân dẫn đến
sự hình thành và duy trì tính cộng đồng là do phương thức sinh sống của
họ Từ ngàn xưa và mãi đến tận ngày nay, săn bắt và hái lượm vẫn là một phương thức sinh sống phổ biến của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum Để công việc săn bắt có hiệu quả, đòi hỏi mọi người phải liên kết với nhau Sự cần thiết phải nương tựa vào nhau giữa các cá nhân riêng lẻ trong cuộc
Trang 39mưu sinh đã khiến họ gắn bó ngày càng khăng khít Tinh thần tương trợ được thể hiện rất rõ nét trong lao động, sản xuất Đến mùa phát nương, trả lúa, các nhà trong làng thường làm đổi công cho nhau, nhà nào ăn cơm nhà
đó Nếu làng nhỏ thì chỉ có một nhóm đổi công; còn làng lớn thì chia làm hai, ba nhóm Nhóm không cố định, được hình thành từng vụ, từng năm trên nguyên tắc tự nguyện “Đó là hình thức manh nha của tổ đổi công ngày nay” [100, 242] Tinh thần giúp đỡ nhau còn được thể hiện trong những năm mất mùa, vào dịp có công việc như tế lễ, cưới xin…Người vay có khi không cần phải đến nhà “chủ nợ” để hỏi Biết tin, “chủ nợ” đem con lợn, con trâu, hay đôi gà, gùi gạo…đến cho vay Kỳ hạn trả thường không quy định Người ta chỉ trả khi đến lượt “chủ nợ” lại có công việc Do đó, có rất nhiều trường hợp đời cha vay, đến đời con mới trả Số lượng vay và trả không nhất thiết phải cân bằng nhau Vay một con trâu có thể chỉ trả một con lợn hoặc ngược lại, tùy theo yêu cầu và khả năng của từng người “Rút cuộc, ai cũng là người đi vay và cũng từng là người cho vay” [100, 243]
Nếu như phương thức sinh sống là nguyên nhân trực tiếp hình thành tính cộng đồng của dân tộc Giẻ - Triêng thì buôn làng chính là không gian nuôi dưỡng, duy trì giá trị truyền thống ấy Đó là không gian sinh sống tương đối khép kín, độc lập với thế giới bên ngoài Quan sát một làng truyền thống của người Giẻ - Triêng ở huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, chúng ta thấy vị trí nhà ở của họ và nhà rông giống như một đàn gà (gà mẹ
và các gà con) đang kiếm ăn Gà mẹ (nhà rông) ở giữa, các gà con (nhà ở) vây xung quanh Qua đó cho thấy nhà ở của dân tộc Giẻ - Triêng hình thức quần tụ khá kín đáo, ấm áp, thể hiện tính cộng đồng rất cao và sâu đậm Nếu như người Việt khi xa quê hương thường nhớ về cây đa, bến nước, sân đình thì đối với dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum, đầu trâu, máng nước, nhà rông chính là những biểu trưng của buôn làng
Trang 40Đặc biệt, do điều kiện địa lý và tập tục cư trú, canh tác mà tính chất biệt lập, tự cung, tự cấp của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum còn thể hiện khá đậm nét Truyền thống sản xuất chủ yếu là canh tác lúa rẫy, phó mặc trời đất, kết hợp với phương thức “phát – đốt – chọc – trỉa” Hình thức chăn nuôi vừa thả rông, vừa “chăn thả” vẫn còn tồn tại cho đến hiện nay Với các loại đại gia súc như trâu, bò, dê được thả vào rừng, khi cần mới tìm về; với heo, gà, vịt, chó…thì thả rông bên ngoài, tối về mới cho ăn thêm Mục đích chăn nuôi chủ yếu là dùng các vật nuôi để tế thần, sau đó mới là thực phẩm “Đời sống tự cung tự cấp đã gần như triệt tiêu nhu cầu mua bán, có chăng chỉ diễn ra dưới hình thức trao đổi, vật đổi vật rất thô sơ” [6, 91]
Tính cộng đồng của các thành viên trong làng còn được gia cố bởi mối quan hệ thân tộc giữa họ Trước đây, mỗi làng là nơi cộng cư của một vài dòng họ Những người trong một dòng họ thường dựng nhà cạnh nhau.“Vì vậy việc làng thực chất là việc của một gia đình lớn, rất dễ bàn bạc, thống nhất và thực hiện” [45, 89] Ngày nay, cùng với sự chia nhỏ bếp
ăn của ngôi nhà dài, các gia đình mang các họ khác nhau đã sống xen kẽ Như vậy, những thành viên trong buôn làng không chỉ có mối quan hệ láng giềng mà còn quan hệ họ hàng (thân tộc, thích tộc) với những mức độ xa gần khác nhau Tính cộng đồng còn thể hiện rõ ở tinh thần cộng cảm giữa các thành viên trong buôn làng Một đứa trẻ chào đời không chỉ là niềm vui của một gia đình mà còn là niềm hân hoan của cả buôn làng Sự hồn nhiên, thẳng thắn trong cách cảm, cách nghĩ và hành động của dân tộc Giẻ - Triêng đã làm đặc sắc thêm tính cộng đồng của họ Họ chia sẻ niềm vui, nỗi buồn và cả vật chất với nhau một cách tự nhiên, chân thành, không vụ lợi
Tính tự trị được xem như là một hệ quả tất yếu của tính cộng đồng,
nó được thể hiện rất rõ trong đời sống của dân tộc Giẻ - Triêng ở Kon Tum