1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân khu vực đang xảy ra ô nhiễm môi trường (điển cứu tại khu vực kênh bình thọ, quận thủ đức, thành phố hồ chí minh)

163 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính những băn khoăn, trăn trở đó, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề: “Hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân khu vực đang xảy ra ô nhiễm môi trường Điển cứu tại khu vực kênh Bình Thọ,

Trang 1

PHAN HOÀNG NGỌC ANH

HÀNH VI CHĂM SÓC SỨC KHỎE

CỦA NGƯỜI DÂN KHU VỰC ĐANG XẢY RA

Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

(Điển cứu tại khu vực kênh Bình Thọ, phường Trường Thọ,

quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2011

Trang 2

PHAN HOÀNG NGỌC ANH

HÀNH VI CHĂM SÓC SỨC KHỎE

CỦA NGƯỜI DÂN KHU VỰC ĐANG XẢY RA

Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

(Điển cứu tại khu vực kênh Bình Thọ, phường Trường Thọ,

quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh)

CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC

MÃ SỐ: 60.31.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS, GVC VŨ QUANG HÀ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2011

Trang 3

Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Vũ Quang Hà, người trực tiếp hướng dẫn em làm luận văn Thầy đã rất tận tâm, tận tình và gợi mở phương pháp, song song với việc thường xuyên khích lệ động viên tinh thần để em có thể hoàn thành tốt luận văn Những lời động viên, những chỉ dẫn kịp thời của Thầy là động lực giúp em tự tin vượt qua những khó khăn khi làm bài

Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ủy ban nhân dân phường Trường Thọ, các cô, chú tổ trường các khu phố 5,6,8,9 cùng các hộ dân sống tại khu vực kênh Bình Thọ thuộc các khu phố 5,6,8,9 Các cô, chú đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc liên hệ với các gia đình để thu thập thông tin cũng như cung cấp tư liệu sẵn có phục vụ cho đề tài luận văn

Xin chân thành cảm ơn các bạn lớp Cao học Xã hội học khóa 2008-2011, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã có những hỗ trợ cần thiết để tôi có thể hoàn thành luận văn này

TP Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 10 năm 2011

Phan Hoàng Ngọc Anh

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết luận trong đề tài này chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 10 năm 2011

Tác giả luận văn

Phan Hoàng Ngọc Anh

Trang 5

PHẦN DẪN NHẬP 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5

2.1 Đối tượng nghiên cứu 5

2.2 Khách thể nghiên cứu 5

3 Phạm vi nghiên cứu 5

3.1 Về phạm vi không gian 5

3.2 Về phạm vi thời gian 5

3.3 Về phạm vi nội dung nghiên cứu 5

4 Mục tiêu nghiên cứu 6

4.1 Mục tiêu chung 6

4.2 Mục tiêu cụ thể 6

5 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng 6

5.1 Phương pháp nghiên cứu 6

5.1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp sẵn có 7

5.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 7

5.1.3 Phương pháp chọn mẫu 9

5.2 Kỹ thuật sử dụng trong phân tích và xử lý thông tin 10

5.2.1 Phân tích và xử lý thông tin định lượng 10

5.2.2 Phân tích và xử lý thông tin định tính 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11

6.1 Ý nghĩa lý luận .11

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 12

7 Vài nét về quá trình thực hiện đề tài .12

7.1 Những thuận lợi 12

7.2 Những khó khăn 12

Trang 6

1.2 Cách tiếp cận và lý thuyết áp dụng .23

1.2.1 Cách tiếp cận 23

1.2.2 Lý thuyết áp dụng 24

1.3 Các khái niệm công cụ 27

1.4 Giả thuyết nghiên cứu 31

1.5 Khung lý thuyết 32

CHƯƠNG 2: HÀNH VI CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI DÂN KHU VỰC ĐANG XẢY RA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 33

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 33

2.1.1 Vài nét sơ lược về quận Thủ Đức 33

2.1.2 Tình hình chung về phường Trường Thọ 36

2.1.3 Đặc điểm của kênh Bình Thọ 40

2.1.4 Các công trình dự án liên quan đến việc cải tạo, nâng cấp kênh Bình Thọ và cải thiện môi trường sống tại phường Trường Thọ 41

2.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 43

2.3 Thực trạng môi trường sống của người dân tại khu vực kênh Bình Thọ 47

2.3.1 Không gian sống của người dân tại khu vực kênh Bình Thọ 47

2.3.2 Mức độ ô nhiêm môi trường ở kênh Bình Thọ 50

2.3.3 Nguồn ô nhiễm .51

2.3.4 Các hoạt động cải thiện môi trường kênh Bình Thọ 54

2.4 Nhận thức, thái độ của người dân về giá trị của sức khỏe và sự tác động của môi trường đến sức khỏe .56

2.4.1 Nhận thức về giá trị của sức khỏe 56

2.4.2 Nhận thức về nguy cơ bệnh tật từ phía môi trường và mối quan hệ giữa môi trường và sức khỏe 57

2.5 Hành vi chăm sóc sức khỏe trong lĩnh vực khám bệnh 60

2.5.1 Người dân tự đánh giá sức khỏe của bản thân .60

Trang 7

2.6.1 Số lần ốm đau trong năm 68

2.6.2 Cách thức điều trị 69

2.6.3 Nơi điều trị ốm đau 71

2.6.4 Chi phí điều trị 74

2.7 Hành vi chăm sóc sức khỏe trong lĩnh vực phòng bệnh 76

2.7.1 Vấn đề khám sức khỏe định kỳ 76

2.7.2 Thuốc dự phòng 79

2.7.3 Bảo hiểm y tế 80

2.7.4 Vấn đề nước sạch và nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt 82

2.7.5 Ứng xử của người dân ven kênh Bình Thọ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe khi môi trường sống bị ô nhiễm .86

2.7.6 Các yếu tố tác động đến hành vi chăm sóc sức khỏe 87

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

1 Kết luận 89

2 Khuyến nghị 91

2.1 Về tình trạng ô nhiễm của kênh Bình Thọ và môi trường sống của người dân ven kênh Bình Thọ 91

2.2 Đối với hành vi chăm sóc sức khỏe 93

Trang 8

Biểu đồ 2.2: Nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu 44

Biểu đồ 2.3: Trình độ học vấn của mẫu nghiên cứu 45

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu nghề nghiệp của mẫu nghiên cứu 45

Biểu đồ 2.5: Thời gian sống tại phường Trường Thọ của mẫu nghiên cứu 47

Biểu đồ 2.6: Đánh giá về không gian sống 48

Biểu đồ 2.7: Đánh giá về không gian sống phân theo khu phố 49

Biểu đồ 2.8: Đánh giá thực trạng ô nhiễm kênh Bình Thọ 50

Biểu đồ 2.9: Nguồn gây ô nhiễm kênh Bình Thọ 52

Biểu đồ 2.10: Điểm trung bình của các hệ giá trị xã hội cơ bản 56

Biểu đồ 2.11: Ảnh hưởng của kênh Bình Thọ dến cuộc sống của người dân 59

Biểu đồ 2.12: Đánh giá về tình trạng sức khỏe 61

Biểu đồ 2.13: Các bệnh thường mắc phải 62

Biểu đồ 2.14 : Các bệnh thường mắc phải và giới tính 64

Biểu đồ 2.15: Đánh giá về triệu chứng bệnh 65

Biểu đồ 2.16: Hoạt động khám sức khỏe hàng năm và trình độ học vấn 68

Biểu đồ 2.17: Cách thức chữa bệnh 70

Biểu đồ 2.18: Lý do người dân tự chữa bệnh nhà 71

Biểu đồ 2.19: Khu vực y tế được chọn để điều trị ốm đau 71

Biểu đồ 2.20: Nơi chữa bệnh trong khu vực y tế công cộng 73

Biểu đồ 2.21: Nơi chữa bệnh trong khu vực y tế tư nhân 74

Biểu đồ 2.22: Nơi trả chi phí điều trị bệnh 75

Biểu đồ 2.23: Thời điểm khám sức khỏe 77

Biều đồ 2.24: Lý do không tham gia bảo hiểm y tế 82

Biểu đồ 2.25: Nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt 82

Trang 10

Bảng 2.1: Ở phường Trường Thọ có diễn ra các hoạt động cải thiện MT? 55

Bảng 2.2: Đơn vị/cá nhân tổ chức các hoạt động cải thiện MT? 55

Bảng 2.3: Sống gần kênh/rạch bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe 58

Bảng 2.4 Các bệnh thường mắc phải và thời gian sống tại phường 65

Bảng 2.5: Hoạt động khám sức khỏe hàng năm 66

Bảng 2.6: Số lần khám sức khỏe trong một năm 66

Bảng 2.5: Hoạt động khám sức khỏe hàng năm và độ tuổi 67

Bảng 2.6: Hoạt động khám sức khỏe hàng năm và giới tính 67

Bảng 2.7: Số lần ốm trong một năm 68

Bảng 2.8: Số lần ốm trong một năm theo giới tính 69

Bảng 2.9: Nơi trả chi phí điều trị bệnh và độ tuổi 75

Bảng 2.10: Có đi khám sức khỏe định kỳ hàng năm hay không? 76

Bảng 2.11 : Thời điểm khám sức khỏe và giới tính 78

Bảng 2.12 : Thời điểm khám sức khỏe và độ tuổi 78

Bảng 2.13: Có dự trữ thuốc tại nhà hay không? 79

Bảng 2.14: Các loại thuốc dự trữ tại nhà 80

Bảng 2.15: Có tham gia bảo hiểm y tế hay không? 80

Bảng 2.16: Các biện pháp để hạn chế sự tác động của ô nhiễm MT? 86

Trang 11

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

TNMT: Tài nguyên môi trường

UBND: Ủy ban nhân dân

TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

PHẦN DẪN NHẬP

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và Thủ Đức nói riêng đang trong quá trình

đô thị hóa mạnh mẽ với sự hình thành các khu công nghiệp, khu dân cư, đô thị mới Chính sự tập trung cao độ các khu công nghiệp, khu chế xuất với một lượng lớn chất thải chưa qua xử lý hoặc xử lý sơ sài, không đúng cách đã dẫn đến môi trường sống của người dân ở những khu vực ven đô đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người Cùng với vấn đề ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn thì

ô nhiễm nguồn nước ở hệ thống kênh, rạch tại thành phố Hồ Chí Minh đang là vấn đề nổi cộm, thu hút sự quan tâm của dư luận và các ngành, các cấp có liên quan Kết quả quan trắc của Chi cục bảo vệ môi trường năm 2007 cho thấy ô nhiễm nguồn nước của các kênh gia tăng so với trước1 Tình hình ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn quận Thủ Đức là khá nghiêm trọng Thủ Đức hiện có trên 1.000 nhà máy, khu công nghiệp, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp2 Vì thế, lượng chất thải, rác thải công nghiệp lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe người dân Một số khu vực ô

nhiễm đang ở mức báo động có thể kể đến đó là: kênh Bình Thọ (còn được gọi bằng các tên gọi dân gian khác như rạch Bình Thái, mương Bình Thọ), kênh Ba Bò,… Dòng

nước của kênh Bình Thọ theo quan sát của chúng tôi có sự thay đổi về màu sắc vào những khoảng thời gian khác nhau trong ngày: lúc đen ngòm, lúc đỏ quạch, lúc tím than, lúc lại chuyển sang xanh Đất hai bên bờ rạch cũng bị ngấm và chuyển sang xanh Nhiều nhà dân lấn ra hẳn ra lòng kênh, mọi sinh hoạt đều diễn ra trên mặt nước ô nhiễm kể cả xả rác và đi vệ sinh Vào những đợt triều cường, người dân tại đây đã khổ

vì ngập nước thì càng khổ hơn vì rác thải tràn thẳng vào nhà Tình trạng nước tù đọng

và ô nhiễm nước mặt, nước ngầm tầng nông nơi đây mang mức độ trầm trọng Ở phường Trường Thọ, những người trồng rau muống, rau nhút, rau cần nước thường

Trang 13

tận dụng diện tích mặt nước để trồng rau hoặc dẫn trực tiếp nguồn nước của kênh Bình Thọ vào ruộng để tưới tiêu Nếu người dân thường xuyên sử dụng các loại rau này thì nguy cơ nhiễm độc và nhiễm bệnh rất cao

Ở điều kiện bình thường, hệ thống kênh, rạch sẽ là một bộ máy điều hòa không khí khổng lồ, nhưng khi hệ thống kênh, rạch bị ô nhiễm nó lại trở thành môi trường tốt

để bệnh tật phát triển Ở quận Thủ Đức, kênh Bình Thọ có chức năng tiêu thoát nước chính cho phường Trường Thọ và phường Bình Thọ Trong nhiều năm qua, kênh Bình Thọ chưa được nạo vét, hơn nữa lòng kênh Bình Thọ đang bị người dân lấn chiếm để xây cất nhà làm giảm khả năng tiêu thoát nước Với hiện trạng kênh thoát nước bị co hẹp cùng với lượng chất thải lớn từ các nhà máy đã làm cho kênh Bình Thọ ô nhiễm và trở thành môi trường truyền bệnh

Phường Trường Thọ, với điều kiện địa lý: phía Đông giáp phường Bình Thọ và phường Phước Long A, Phước Long B; phía Tây giáp phường Linh Tây và phường Linh Đông; phía Nam giáp phường An Phú; phía Bắc giáp phường Linh Chiểu, có bốn khu phố tại phường Trường Thọ (khu phố 5, 6, 8, 9) nằm dọc theo kênh Bình Thọ, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự ô nhiễm của con kênh

Theo bài viết ngày 25/9/2008: Truy tìm hung thủ bức tử kênh rạch: Tiếng kêu

cứu từ con rạch bốn màu, đăng trên trang web của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Việt Nam3 thì rạch Bình Thái (một tên gọi khác của kênh Bình Thọ) bắt nguồn từ phường Hiệp Phú và Tăng Nhơn Phú B, chảy qua phường Phước Long B đến phường Phước Long A (quận 9) đến phường Trường Thọ (quận Thủ Đức), sau đó đổ thẳng ra sông Sài Gòn

Trên địa bàn phường Hiệp Phú và phường Tăng Nhơn Phú B (quận 9) có các cơ

sở sản xuất lớn như Công ty Dệt Phong Phú, Công ty cổ phần Sản xuất - Dịch vụ Dệt may Phước Long, Công ty TNHH Thương mại Sản xuất Việt Thắng Jean, Công ty

3

Xem thêm: http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&cateID=24&id=51334&code=9Y3Q151334

Trang 14

TNHH Saitex international VN4 với lượng chất thải rất lớn trực tiếp xả xuống kênh

Bình Thọ Nước của kênh Bình Thọ có sự thay đổi về màu sắc, một phần do nước thải

các nhà máy dệt nhuộm chưa qua xử lý sẽ chứa nhiều kim loại nặng, khi thải vào môi trường sẽ cản trở ôxy hòa tan gây ô nhiễm môi trường nước; một phần khác còn do hành vi xả rác sinh hoạt và chất thải từ chăn nuôi của người dân - điển hình là trại chăn nuôi heo ở Phước Long (quận 9), là một trong những tác nhân gây ô nhiễm hữu cơ và

vi sinh Kênh Bình Thọ bị ô nhiễm, sự tác động của nó không chỉ dừng lại ở một khu vực đó là quận 9 mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của hàng ngàn cư dân phường Trường Thọ (quận Thủ Đức) sống cùng trong lưu vực, vì đây là nơi gánh chịu lượng chất thải lớn nhất trước khi kênh Bình Thọ đổ ra sông Sài Gòn Trong khi đó ở phường Trường Thọ, các hộ gia đình phần lớn còn sử dụng nguồn nước từ giếng khoan

và giếng đào để phục vụ cho sinh hoạt nên rất dễ nhiễm bệnh khi nguồn nước ngầm bị

ô nhiễm

Theo bác sĩ Nguyễn Huy Nga (Vụ Y tế dự phòng, Bộ Y tế): "Ở Việt Nam, chúng ta có gần 80% loại bệnh tật có liên quan đến chất lượng nước và vệ sinh môi trường mà chủ yếu là do chất lượng nước, nhất là các bệnh về đường ruột, bệnh tả,

4

Xem thêm: http://www.cand.com.vn/vi-VN/kinhte/2010/10/139080.cand

Công ty Saitex International VN xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường: Sau nhiều ngày trinh sát, thu thập chứng cứ, ngày 26/10/2010, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường và lực lượng phối hợp

đã bắt quả tang Công ty TNHH Saitex International Việt Nam (Công ty Saitex) xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng lưu vực sông Sài Gòn thuộc địa bàn quận 9, TP HCM

Công ty Saitex 100% vốn nước ngoài, có trụ sở sản xuất kinh doanh chính tại đường số 8 KCN Biên Hoà I, tỉnh Đồng Nai Tại quận 9, TP HCM, Công ty Saitex thuê đất trong khuôn viên Công ty Dệt - may Phong Phú, tại phường Tăng Nhơn Phú B để mở chi nhánh sản xuất dệt nhuộm, may mặc, wash quần áo jean… xuất khẩu qua thị trường châu Âu và châu Mỹ; công suất 180.000 sản phẩm/tháng; lưu lượng nước thải 600m3/ngày đêm

Tại hiện trường, ông Nguyễn Xuân Khương, công nhân vận hành hệ thống xử lý nước thải khai nhận:

Từ tháng 5/2008, ông Khương được chuyển qua làm việc tại bộ phận xử lý nước thải Vận hành hệ thống xử lý nước thải được chia thành 3 ca, vận hành ngày đêm làm công việc xử lý nước thải, ngoài tổ xử lý thải của ông còn có tổ của Lâm Quốc Khánh và Nguyễn Vũ Hoàng

Qua kiểm tra, hệ thống xử lý nước thải của Công ty Saitex được thiết kế và vận hành đúng kỹ thuật phải là: Nước từ nhà máy wash, nhuộm được đưa vào bồn số 2 của khu xử lý, có thể tích 180m3 Từ bồn số 2, nước được bơm bồn phản ứng rồi chảy qua bồn lắng Tại bồn lắng, bùn được kết tụ xuống đáy bồn còn nước chảy theo ống tràn xuống hồ thứ 3 Từ đây, máy bơm nước lên bồn lọc cát qua, rồi qua bồn lọc than rồi xả nước thải qua cống xả thải chung với Tổng Công ty Phong Phú Nhưng, Công ty Saitex đã bỏ qua các công đoạn kỹ thuật trên

để nước thải từ bồn lắng chảy thẳng ra môi trường

Trang 15

bệnh thương hàn, " 5 Ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người dân sống dọc theo kênh Bình Thọ Các bệnh thường gặp là các bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da, bệnh về mắt, các bệnh liên quan đến thần kinh, bệnh phụ khoa và đường ruột, đặc biệt là sốt xuất huyết Các bệnh ngoài da như ghẻ, zona… bám chặt lấy người dân ở đây Đặc biệt, người dân ở đây sử dụng các loại thực phẩm bị nhiễm kim loại khi chúng được tưới tiêu bằng nước ô nhiễm thì về lâu dài, nguy cơ nhiễm bệnh rất cao Thực phẩm nhiễm bẩn có thể sẽ không gây ngộ độc cấp tính hoặc gây chết người ngay, nhưng nếu sử dụng trong thời gian dài chúng sẽ tích lũy dần và hủy hoại cơ thể con người Đặc biệt, nó có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh, răng, tóc,

da và có thể gây ung thư

Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là thứ chỉ có thể bảo vệ, giữ gìn, khôi phục chứ không thể mua bán Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe là nhu cầu thiết yếu và chính đáng của con người, đặc biệt là nhóm dân cư sống trong khu vực ô nhiễm với nhiều nguy cơ bệnh tật Bởi ngoài những bệnh tật mà bất kỳ người bình thường nào cũng có thể mắc phải, người dân ở ven kênh Bình Thọ còn đối mặt với những loại bệnh

có liên quan đến ô nhiễm môi trường Khi môi trường sống bị ô nhiễm, sức khỏe của người dân ở ven kênh Bình Thọ bị đe dọa thì chấp nhận sống chung với kênh rạch bị ô nhiễm có phải là xu hướng phổ biến của người dân sống ở khu vực kênh Bình Thọ hay không? Thực trạng phòng bệnh, khám chữa bệnh của người dân ở khu vực bị ô nhiễm đang diễn ra như thế nào? Đó là những câu hỏi cần phải được giải đáp Chính những

băn khoăn, trăn trở đó, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề: “Hành vi chăm sóc sức khỏe

của người dân khu vực đang xảy ra ô nhiễm môi trường (Điển cứu tại khu vực kênh Bình Thọ, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh)

5

Nước sạch và vệ sinh môi trường – Hiện trạng sử dụng nước sạch ( http://maxreading.com/?chapter=11363)

Trang 16

2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân ở khu vực đang xảy ra ô nhiễm môi trường

2.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của đề tài là:

- Chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ hộ thuộc các hộ dân đang sinh sống quanh khu vực kênh Bình Thọ, thuộc phường Trường Thọ, cụ thể là các hộ dân ở các khu phố 5, 6, 8, 9;

- Những người cao tuổi nắm rõ lịch sử kênh Bình Thọ và lịch sử cộng đồng dân

cư nơi con kênh chảy qua;

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Về phạm vi không gian

Kênh Bình Thọ bắt nguồn từ phường Hiệp Phú và Tăng Nhơn Phú B, chảy qua phường Phước Long B đến phường Phước Long A (quận 9) rồi qua phường Trường Thọ (quận Thủ Đức), sau đó đổ thẳng ra sông Sài Gòn Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài luận văn thạc sỹ, với thời gian và nguồn kinh phí có hạn nên chúng tôi không thể nghiên cứu trên diện rộng như mong muốn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại phường Trường Thọ cụ thể là bốn khu phố 5, 6, 8, 9

3.2 Về phạm vi thời gian

Đề tài được bắt đầu nghiên cứu từ tháng 10/2010 và kết thúc vào tháng 9/2011

3.3 Về phạm vi nội dung nghiên cứu

Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân ở khu vực ven kênh Bình Thọ ở các khía cạnh: khám bệnh, chữa bệnh, phòng ngừa bệnh tật

để làm rõ thực trạng về hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân ven kênh Bình Thọ trong điều kiện môi trường nước bị ô nhiễm

Trang 17

4 Mục tiêu nghiên cứu

4.1 Mục tiêu chung

Đề tài mong muốn tìm hiểu hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân ở khu vực đang xảy ra ô nhiễm môi trường thông qua việc nghiên cứu hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân đang sinh sống ven kênh Bình Thọ, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh

4.2 Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, đánh giá thực trạng về không gian sống, thực trạng ô nhiễm môi

trường, nguồn ô nhiễm và các hoạt động cải thiện môi trường ở kênh Bình Thọ, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh;

Thứ hai, tìm hiểu hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân sống ven kênh Bình

Thọ trong lĩnh vực phòng bệnh, khám bệnh và chữa bệnh;

Thứ ba, đề xuất các giải pháp để nâng cao ý thức phòng bệnh, khám chữa bệnh,

khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho cư dân ở khu vực ven kênh Bình Thọ

5 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học là phương pháp chủ đạo Ngoài ra đề tài còn áp dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát hóa tài liệu

có liên quan đến đề tài Phương pháp quan sát cũng được chúng tôi sử dụng nhằm bổ sung thông tin về hoàn cảnh, điều kiện sống, ăn, ở, sinh hoạt của đối tượng nghiên cứu

Trong phương pháp nghiên cứu xã hội học, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp thu thập thông tin khác nhau: phương pháp thu thập tư liệu thứ cấp sẵn

có, phương pháp thu thập thông tin định lượng và phương pháp thu thập thông tin định tính Việc kết hợp nhiều phương pháp thu thập thông tin nhằm đảm bảo độ tin cậy của các dữ liệu và để tạo thành một thể thống nhất trong việc thu thập và ghi nhận một cách

có hiệu quả các thông tin từ thực tế tại khu vực điển cứu Nguyên tắc kết hợp giữa phương pháp thu thập thông tin định lượng và định tính trong nghiên cứu này là:

Trang 18

phương pháp thu thập thông tin định tính bổ sung thông tin cho phương pháp thu thập thông tin định lượng

5.1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp sẵn có

Thông tin thứ cấp được thu thập thông qua các tư liệu sẵn có tại địa bàn nghiên cứu, cụ thể là Phòng Tài nguyên Môi trường; Phòng Y tế, các báo cáo Kinh tế - Xã hội hàng năm của quận Thủ Đức và phường Trường Thọ; các dự án cải tạo và nâng cấp kênh Bình Thọ Ngoài ra, nguồn tài liệu thứ cấp còn là các bài viết trên các tạp chí Khoa học xã hội, tạp chí Xã hội học, tạp chí Giáo dục sức khỏe… Thông qua nguồn tư liệu sẵn có, tác giả phân tích, nghiên cứu, và chắt lọc những thông tin có liên quan đến

đề tài Các tư liệu này được tổng hợp và đúc kết thành từng nhóm ý chính phục vụ cho

đề tài

5.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

- Phương pháp thu thập thông tin định lượng:

Hành vi là hoạt động đã diễn ra và chúng ta có thể quan sát và đo lường được nên đề tài đã sử dụng phương pháp thu thập thông tin định lượng - dùng bảng anket kết hợp với quan sát

Phương pháp thu thập thông tin định lượng được thực hiện bằng công cụ bảng hỏi nhằm đáp ứng cho các mục tiêu về tìm hiểu thực trạng không gian sống, tình hình ô nhiễm, một phần về thực trạng hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân tại khu vực đang xảy ra ô nhiễm môi trường cũng như các yếu tố tác động đến hành vi chăm sóc sức khỏe của họ Bảng hỏi được chuẩn bị kỹ theo một cấu trúc xác định và được hỏi theo cách thức giống nhau cho mọi khách thể nghiên cứu Kết quả điều tra khảo sát cho phép chúng tôi tiến hành những suy luận thống kê, đo lường và đánh giá mối liên hệ giữa các biến số Từ kết quả thu được ở mẫu để có thể khái quát lên tổng thể lớn; kết quả điểu tra chuẩn hóa có thể được sử dụng để so sánh theo các đặc tính về thời gian, giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi… và kết quả là các con số phản ánh những đặc

trưng cần nghiên cứu của tổng thể

Trang 19

- Phương pháp thu thập thông tin định tính:

Với phương pháp thu thập thông tin định tính, chúng tôi sử dụng công cụ phỏng vấn sâu bán cơ cấu Muốn nghiên cứu về hành vi chăm sóc sức khỏe, chúng ta cần phải

có những thông tin về nhận thức và thái độ về vấn đề chăm sóc sức khỏe Đây là những thông tin mang tính chất riêng tư cá nhân, thiên về đặc điểm, tính chất của cảm xúc, suy nghĩ sâu bên trong của mỗi cá nhân nên cần sử dụng phương pháp thu thập thông tin định tính với công cụ phỏng vấn sâu Phỏng vấn sâu giúp chúng tôi vừa trực tiếp quan sát khách thể nghiên cứu để có thể nhận xét cơ bản về họ Quan trọng hơn, chúng tôi có thể trò chuyện trực tiếp với người được thu thập thông tin để tìm hiểu nguyên nhân tác động đến hành vi chăm sóc sức khỏe của họ Người được phỏng vấn sâu sẽ có thêm nhiều cơ hội bày tỏ thái độ, quan điểm, hiểu biết của họ một cách thoải mái, cởi

mở và tin cậy Sử dụng công cụ phỏng vấn sâu một mặt, cho phép chúng tôi thực hiện một cách linh động cả về trình tự lẫn cách đặt câu hỏi Mặt khác, chúng tôi có thể tìm hiểu sâu về hoàn cảnh sống, về những vướng mắc cũng như những nguy cơ mà khác thể nghiên cứu phải đối diện trong cuộc sống, về những mong muốn của người dân sống ven kênh Bình Thọ Mặc dù không mang tính đại diện nhưng dữ liệu thu được sẽ rất chi tiết, phong phú và toàn diện Chúng sẽ là những minh chứng tốt nhất để khẳng định, thái độ, hành vi chăm sóc sức khỏe và quan điểm của những người đã tham gia nghiên cứu định lượng Phương pháp thu thập thông tin định tính sẽ giúp cho chúng tôi thực hiện được mục tiêu tìm hiểu sự tác động của nhận thức, thái độ, các giá trị, chuẩn mực đến hành vi chăm sóc sức khỏe Bởi hành vi chăm sóc sức khỏe có khi rõ ràng, công khai có thể quan sát được cũng có khi là những trạng thái cảm xúc nên sử dụng công

cụ phỏng vấn sâu có thể tìm hiểu được khía cạnh này của hành vi chăm sóc sức khỏe

Trang 20

5.1.3 Phương pháp chọn mẫu

Với phương pháp thu thập thông tin định lượng, đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, cụ thể là cách chọn mẫu chỉ tiêu Chúng tôi không dựa trên một khung mẫu nào cả mà chỉ dựa vào các đặc điểm của mẫu sau đó chọn trên cơ sở những nhóm đã có sẵn Tiêu chí chọn mẫu là các hộ gia đình hiện đang sống cạnh, ven hoặc xung quanh khu vực kênh Bình Thọ, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, thành phố

Hồ Chí Minh và hiện đang bị ảnh hưởng bởi tình trạng ô nhiễm của kênh Bình Thọ

Do đó đề tài sẽ chọn mẫu ở 4 khu phố 5, 6, 8, 9 Khu phố 5 gồm 19 tổ có 1.203 hộ gia đình, khu phố 6 gồm 16 tổ có 1.003 hộ gia đình, khu phố 8 gồm 6 tổ có 437 hộ gia đình, khu phố 9 gồm 8 tổ có 503 hộ gia đình6 Đây là những khu phố mà người dân sống dọc theo con kênh và chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ sự ô nhiễm của con kênh Trong trường hợp lý tưởng, thực hiện cách chọn mẫu xác suất sẽ đáp ứng được tính đại diện của thông tin Tuy nhiên với tình hình thực tế là rất khó nắm được một cách chính xác số lượng các hộ gia đình chịu ảnh hưởng sự ô nhiễm của con kênh Chính vì vậy nếu chọn mẫu theo cách chọn xác suất thì đề tài sẽ không đảm bảo được số hộ gia đình trong khung mẫu (danh sách dân cư) đã chọn sẽ là những hộ đang sinh sống dọc theo con kênh Dung lượng mẫu gồm 200 đơn vị mẫu (ngoài ra còn có 20 đơn vị mẫu dự trữ) Số lượng phiếu phát ra là 220 phiếu, thu vào là 211 phiếu

Với phương pháp thu thập thông tin định tính, đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất theo cách chọn chỉ tiêu theo các đặc điểm giống như cách chọn mẫu trong phương pháp thu thập thông tin định lượng Dung lượng gồm 6 đơn vị mẫu (4 đơn vị mẫu là chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ hộ; 2 đơn vị mẫu là người cao tuổi nắm rõ lịch sử cộng đồng)

6

Theo Thống kê dân số của phường Trường Thọ

Trang 21

5.2 Kỹ thuật sử dụng trong phân tích và xử lý thông tin

5.2.1 Phân tích và xử lý thông tin định lượng

Đối với thông tin định lượng chúng tôi sẽ xử lý thông tin thông qua sự hỗ trợ của phần mềm SPSS Ngoài việc xử lý và phân tích những số liệu thống kê mô tả, các phân tích dữ liệu đa biến cũng được áp dụng để xem xét mối tương quan giữa các yếu

tố được giả định là có tác động đến hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân ở khu vực đang xảy ra ô nhiễm về môi trường Ví dụ: các đặc điểm về nhân khẩu học xã hội (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, khu phố, số năm sống tại phường…); điều kiện sống; môi trường sống… Với các câu hỏi mở chúng tôi sẽ lượng hóa các câu trả lời giống nhau, mã hóa lại và sử dụng các phép tính trong SPSS để tính toán và phân tích

Phân tích sâu hành vi chăm sóc sức khỏe sử dụng nhiều phương pháp khác nhau

và được chia thành phân tích đơn biến và đa biến Các phân tích đơn biến sơ cấp ứng dụng với các bảng chéo để xác định các mối quan hệ Các biểu đồ cũng được sử dụng thích hợp Các phân tích đa biến được sử dụng nhưng ít hơn đơn biến để xác định sự tác động riêng rẽ của các biến độc lập tới biến hành vi chăm sóc sức khỏe

Lựa chọn các biến độc lập: Các biến độc lập được sử dụng trong phân tích gồm:

- Nhóm tuổi : 20-40; 41-60; 61-80

- Giới tính: Nam và nữ

- Nghề nghiệp: Lao động tự do (làm thợ hồ, chạy xe ôm, bán hàng rong, thủ công đan lát; làm thuê cho cơ sở sản xuất – kinh doanh; buôn bán nhỏ (có địa điểm cố định); chủ cơ sở sản xuất - kinh doanh; cán bộ - công nhân viên; nội trợ; học sinh, sinh viên; về hưu; già yếu không làm việc; không nghề/không việc;

- Trình độ học vấn: THCS (trung học cơ sở); PTTH(phổ thông trung học); TCCN (trung cấp chuyên nghiệp; CĐ, ĐH (cao đẳng, đại học);

- Thời gian sống tại phường: 20-40; 41-60; 61-80 (năm)

- Khu phố: 5, 6, 8, 9

Trang 22

5.2.2 Phân tích và xử lý thông tin định tính

Dựa vào biên bản phỏng vấn sâu, những phát biểu đặc trưng phổ biến và có giá trị sẽ được sử dụng như những dẫn chứng để làm rõ hoặc chứng minh cho các luận điểm trình bày trong báo cáo

Ngoài ra, chúng tôi tiến hành đối chiếu, so sánh điểm giống và khác nhau theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thời gian sống tại phường… của khách thể được chọn để lấy thông tin từ đó lập bảng biểu so sánh để thấy rõ sự khác biệt và tương đồng trong hành vi chăm sóc sức khỏe của từng nhóm đối tượng Các ý kiến giống nhau sẽ được sắp xếp theo từng nhóm chủ đề để lượng hóa thông tin bằng cách lấy tỉ lệ ý kiến trên tổng số người trả lời mà không tính phần trăm như xử lý thông tin định lượng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Sự biến đổi của môi trường kinh tế - xã hội tất yếu sẽ gây ra những biến đổi về môi trường sống, đòi hỏi mỗi người, mỗi gia đình phải có những cơ chế, những phản ứng phù hợp với điều kiện sống mới Hoạt động chăm sóc sức khỏe cũng không phải là một ngoại lệ Sức khỏe là vốn quý trong cuộc sống của mỗi con người, là động lực của

sự phát triển Con người luôn có những cơ chế phòng ngừa và bảo vệ sức khỏe của mình Với tính cấp thiết của đề tài, cuộc nghiên cứu được tiến hành nhằm thu thập một

số thông tin định lượng và định tính với hy vọng góp được phần nào vào hệ thống lý luận và phương pháp luận về lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe cũng như vấn đề an sinh xã hội Bên cạnh đó, nghiên cứu đề tài này không chỉ giúp chúng tôi hiểu biết sâu sắc hơn về các lý thuyết của xã hội học, mà còn có điều kiện vận dụng chúng để giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra

Trang 23

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả bước đầu của đề tài sẽ góp phần nâng cao hoạt động chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là nâng cao nhận thức cho người dân về sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe Bên cạnh đó, những kết quả nghiên cứu cụ thể của đề tài sẽ giúp chính quyền địa phương cùng với người dân có những biện pháp hữu hiệu để cải thiện môi trường sống của mình và của những xung quanh khu vực kênh Bình Thọ Ngoài ra, việc tiến hành cuộc nghiên cứu này sẽ giúp bản thân tác giả có cơ hội cọ xát với thực tế để nâng cao năng lực, kỹ năng nghiên cứu và tư duy độc lập

7 Vài nét về quá trình thực hiện đề tài

7.1 Những thuận lợi

 Cuộc nghiên cứu diễn ra dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của TS.Vũ Quang Hà Thầy đã hướng dẫn, hỗ trợ chúng tôi về mặt chuyên môn, phương pháp và giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc liên hệ với chính quyền địa phương trong giai đoạn thu thập thông tin

 Trong quá tình thu thập thông tin, tôi đã nhận được sự hỗ trợ rất nhiệt tình từ chính quyền và nhân dân địa phương: Các cán bộ Phường Trường Thọ, lực lượng dân quân đặc biệt là các cô, bác tổ trưởng tổ dân phố và nhân dân các khu phố 5, 6, 8, 9

7.2 Những khó khăn

Trong quá trình nghiên cứu, từ giai đoạn chuẩn bị đến giai đoạn thu thập và xử

lý thông tin, tôi đã gặp phải một số khó khăn cả về khách quan lẫn chủ quan:

7.2.1 Thứ nhất về mặt khách quan:

 Trong quá trình tổng quan tài liệu, lĩnh vực y tế sức khỏe có nhiều công trình nghiên cứu nhưng hành vi chăm sóc sức khỏe đặt trong bối cảnh có ô nhiễm môi trường thì nguồn tài liệu thứ cấp vẫn còn rất ít Vì thế tôi có rất ít nguồn tư liệu thứ cấp sẵn có để tham khảo cũng như làm cơ sở để đối chiếu so sánh khi phân tích

 Trong quá trình thu thập thông tin:

Khi cung cấp thông tin, một số hộ gia đình quá nhấn mạnh vào yếu tố môi

Trang 24

trường Một số hộ gia đình khác trả lời theo chuẩn mực của xã hội vì thế chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác nhận lại thông tin

Đa số các hộ gia đình ở ven kênh Bình Thọ đều đi làm vào ban ngày nên chúng tôi thường xuyên phải tiến hành thập thông tin vào buổi tối Vì thế chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc di chuyển tới địa bàn nghiên cứu

7.2.2 Thứ hai, về mặt chủ quan:

Với tư cách là học viên cao học đi thu thập thông tin luận văn nên còn khó khăn trong việc thuyết phục người dân cung cấp thông tin, đặc biệt là vùng ven như phường Trường Thọ, quận Thủ Đức - nơi mà người dân chưa quen với những cuộc phỏng vấn như thế này

7.2.3 Hạn chế của việc thu thập thông tin qua cuộc nghiên cứu:

Thứ nhất, đối với câu hỏi yêu cầu đối tượng thu thập thông tin tự đánh giá về

tình trạng sức khỏe của mình hiện nay và so sánh với bạn bè cùng trang lứa thì số liệu chỉ cung cấp quan điểm chủ quan của từng người về sức khỏe của mình Không có cơ

sở nào đánh giá khách quan tình trạng sức khỏe mặc dù bản thân người trả lời đã có những cơ sở nhất định

Thứ hai, thông tin về nguồn trả chi phí và dịch vụ khám chữa bệnh chưa thật

đầy đủ

Trang 25

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Các tài liệu tổng quan được phân chia thành các mục sau:

1.1.1 Cơ sở pháp lý về vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe

- Ngay lời đầu tiên của Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân (Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày

30 tháng 6 năm 1989) đã nêu rõ: “Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan

trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc.”

Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân đã có những quy định về quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân:

 Tại Khoản 1 - Điều 1, quy định: “Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và được phục vụ về chuyên môn y tế” Như vậy, bảo vệ sức khỏe và nâng cao sức khỏe không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của mỗi người Mỗi người phải tự chăm sóc sức khỏe của chính mình, chăm sóc sức khỏe cho người thân trong gia đình và những người xung quanh, có quyền kiến nghị với chính quyền các cấp về các giải pháp cần thiết nhằm đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của cá nhân nhất là người nghèo, người thuộc diện chính sách xã hội

 Điều 3 quy định: “Trách nhiệm của Nhà nước: Hoàn thiện, nâng cao chất lượng và phát triển mạng lưới phòng, chống dịch, khám bệnh, chữa bệnh; kết hợp phát triển hệ thống y tế Nhà nước với y tế tập thể và y tế tư nhân”

 Điều 8 quy định về “vệ sinh nước và các nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân”: “Các cơ quan, xí nghiệp cấp nước phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân Nghiêm cấm các tổ chức Nhà nước, tập thể, tư nhân

và mọi công dân làm ô nhiễm các nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân”

Trang 26

 Điều 10 đã quy định về vệ sinh các chất thải trong công nghiệp và trong sinh

hoạt Thứ nhất, “các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất của Nhà nước, tập thể, tư nhân phải thực hiện những biện pháp xử lý chất thải trong công nghiệp để phòng, chống ô nhiễm không khí, đất và nước theo quy định của Hội đồng bộ trưởng” Thứ hai, “Các tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể, tư nhân và mọi công dân không được để các chất phế thải trong sinh hoạt làm ô nhiễm môi trường sống ở các khu dân cư”

- Năm 1996, Chính phủ ra Nghị quyết 37/CP, ngày 20/6/1996 về Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong thời gian 1996-2000

và Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam Nghị quyết này thừa nhận những khó khăn của Nhà nước trong việc đảm bảo công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo và những người có hoàn cảnh khó khăn Nghị quyết này nhấn mạnh: Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe Có chính sách và biện pháp thích hợp để tất cả mọi người, đặc biệt là người có công, gia đình chính sách, người nghèo, đồng bào vùng núi, vùng sâu được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cả chăm sóc sức khỏe ban đầu và các dịch vụ khám chữa bệnh ở tuyến cao hơn Chấm dứt tình trạng người nghèo không được khám chữa bệnh vì không có tiền

- Ngày 15/10/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về việc khám chữa bệnh cho người nghèo Đây là một chủ trương hết sức đúng đắn và kịp thời hỗ trợ cho người nghèo một cách tích cực, toàn diện và hiệu quả hơn trong lĩnh vực khám chữa bệnh

- Ngoài ra, ngày 19/3/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001-2010; đến năm 2002, Ban Bí thư TW Đảng ra chỉ thị 06/CT-TW ngày 22/01/2002 về “Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở”, năm 2005 Bộ Chính trị Ban chấp hành TW ban hành Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/02/2005 về “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới”;…

Trang 27

Tóm lại, trên bình diện pháp lý và chính sách, nhà nước đã có các văn bản nói rõ việc ưu tiên đảm bảo sự tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản và các hoạt động chăm sóc sức khỏe toàn dân, đặc biệt là các nhóm dân cư đặc biệt: nghèo đói, nhóm xã hội thiệt thòi, nhóm đang sống trong vùng ô nhiễm với nguy cơ bệnh tật cao

Vì vậy trong những năm qua, “y tế Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển; nhiều dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi; các dịch vụ y tế ngày một đa dạng; nhiều công nghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng; việc cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế đã có nhiều cố gắng hơn trước Bảo hiểm y tế (BHYT) được hình thành và bước đầu phát huy tác dụng Nhân dân ở hầu hết các vùng, miền đã được chăm sóc sức khỏe tốt hơn; phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khoẻ của nước ta đều vượt các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người”.7

Tuy nhiên sau hơn 20 năm đổi mới, thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngành y tế còn “chậm đổi mới, còn lúng túng cả về nhận thức

và xây dựng cơ chế hoạt động, đặc biệt là cơ chế tài chính, nên chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của các đơn vị y tế cũng như của cán bộ y tế, chưa huy động đầy đủ nguồn lực xã hội để vừa thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, công bằng trong chăm sóc sức khỏe, vừa bảo đảm yêu cầu phát triển hệ thống y tế trong nền kinh tế thị trường”.8

1.1.2 Vấn đề tác động của môi trường đến sức khỏe

- Công trình “Hành vi sức khỏe cư dân nông thôn trong bối cảnh xung đột môi

trường” của tác giả Trịnh Hòa Bình Đề tài đã tập trung nghiên cứu ở các nội dung:

Khảo sát thực trạng xung đột môi trường với tính cách như là bối cảnh của hành vi sức khỏe cư dân; trên cơ sở nghiên cứu tình hình sức khỏe, bệnh tật có liên quan đến ô

7

Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam: Nghị quyết 46/NQ-TW của Bộ Chính trị

về “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới”, ngày 23/2/2005

8

Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam: Kết luận của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế hoạt động , cơ chế tài chính ( trong đó có tiền lương và giá dịch vụ y tế) đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập” ( Kết luận số 42/KL-TW ngày 01 tháng 4 năm 2009)

Trang 28

nhiễm môi trường tại các làng nghề Đề tài cũng đã phân tích thái độ, hành vi sức khỏe của cư dân Đồng thời đề tài cũng đánh giá nguyên nhân và cơ chế tác động đến khuôn mẫu ứng xử của cộng đồng trước những vấn đề “môi trường và sức khỏe”

Cuộc nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, việc phát triển và mở rộng làng nghề truyền thống ở nông thôn là xu thế tất yếu nhằm phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động qua đó, các lĩnh vực như giáo dục, y tế cũng phần nào được quan tâm hơn Bên cạnh những đóng góp tích cực của làng nghề cho địa phương

về kinh tế, việc làm… vẫn còn tồn tại phổ biến tình trạng ô nhiễm môi trường từ rất nhiều nguồn như không khí, rác thải, tiếng ồn, hóa chất… và có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân làm nghề cũng như không làm nghề đang sinh sống trong khu vực đó Tuy nhiên, nhận thức của người dân về chăm sóc sức khỏe còn nhiều hạn chế Việc khám chữa bệnh định kỳ tại các cơ sở y tế chưa được chú trọng Người dân cũng chưa thực sự quan tâm nhiều đến việc mua bảo hiểm y tế đề phòng các trường hợp rủi

ro có thể gặp phải trong cuộc sống Một bộ phận dân cư muốn mua song do những bất cập trong điều kiện tham gia nên cũng không thể tiếp cận với các dịch vụ này Hơn thế nữa, do mặt bằng sản xuất thiếu, rào cản tâm lý, tập quán sản xuất… đã cản trở việc tách khu sản xuất ra khỏi nơi sinh hoạt Vì vậy, cho đến thời điểm khảo sát, nhìn chung các hộ gia đình vẫn sản xuất tại nhà Điều này đã gây ô nhiễm môi trường và tác động xấu đến sức khỏe Rõ ràng, ý thức bảo vệ sức khỏe của chính bản thân người dân cũng như bảo vệ sức khỏe cho những người xung quanh chưa cao Khi nghiên cứu về hành

vi chăm sóc sức khỏe, đề tài nhận thấy hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân nông thôn ở làng nghề đã có xu hướng tìm đến các dịch vụ y tế hiện đại như các bệnh viện, phòng khám công và tư Các biểu hiện chăm sóc sức khỏe của người dân chủ yếu là tập trung vào hai khu vực phổ thông (chăm sóc tại nhà, mua thuốc điều trị) và chuyên môn cao (sử dụng các dịch vụ y tế công và tư)

- Công trình: Nữ công nhân lao động ở Hà Nội: sức khỏe - môi trường của

PGS,TS Lê Thị Nhâm Tuyết và ThS Hoàng Bá Thịnh: Nhóm tác giả đã có những

Trang 29

phát hiện về tình trạng sức khỏe của công nhân nữ ở Công ty môi trường đô thị Hà Nội Do môi trường ô nhiễm, công nhân thường xuyên làm việc trong môi trường hỗn hợp, bụi vô cơ và bụi hữu cơ nên tỷ lệ công nhân mắc bệnh cao hơn rất nhiều so với những nhóm khác Nghiên cứu năm 1993 trong nhóm nữ công nhân tiếp xúc với bụi

H2S, NH3 cho thấy tỉ lệ viêm phế quản mãn tính cao gấp 74,3 lần so với công nhân không tiếp xúc với các yêu tố này và như vậy nguy cơ mắc bệnh do tiếp xúc với môi trường độc hại của công nhân môi trường cao hơn các nghề khác nhiều lần Tuy nhiên, công trình mới chỉ dừng lại ở việc phân tích sự tác động của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe của nữ công nhân, cuộc nghiên cứu chưa chỉ ra được các biện pháp nhằm giúp nữ công nhân đối phó với tác hại của ô nhiễm để bảo vệ sức khỏe của chính mình khi không cần dùng đến biện pháp nghỉ việc

- Bài viết: Nước sạch và sức khỏe cộng đồng, Bác sỹ Nguyễn Minh Thu, Tạp

chí Giáo dục sức khỏe số 4/2011 Bài viết tập trung phân tích thực trạng về nguồn nước

và những giải pháp để bảo vệ và sử dụng nguồn nước sạch Bài viết đã đưa ra nhận định: Nước sạch quyết định sự sống, là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt Theo bài viết thì ở thành phố hiện nay, người dân chủ yếu sử dụng nước máy, một số hộ kết hợp

sử dụng nước giếng khoan Nước máy bắt buộc phải đạt các tiêu chuẩn nước sạch như

tỷ lệ chất hữu cơ toàn phần, nitrít, nitrát, kim loại nặng toàn phần, sắt, thạch tín…; các tiêu chuẩn vệ sinh như chỉ số E.coli…nhưng không phải lúc nào cũng đạt được các tiêu chuẩn này Nguyên nhân có thể do ô nhiễm nước đầu nguồn hoặc do nước đi qua đường ống không chuẩn, không sạch Do đó việc cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước, xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các khu dân cư, phát triển cây xanh

ở các công trình công cộng cần phải được ưu tiên hàng đầu Song song với công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, việc bảo vệ nguồn nước sạch cần phải tập trung hơn nữa vào công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng với các nội dung và hình thức truyền thông phù hợp, nhằm nâng cao ý thức để thay đổi hành vi và thói quen sinh hoạt trong việc sử dụng nguồn nước hiện có Tuy nhiên bài viết mới chỉ đi sâu phân tích

Trang 30

mối quan hệ giữa nước sạch và sức khỏe cộng đồng chủ yếu ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và đặc biệt là ở miền núi Những phát hiện của bài viết sẽ là cơ sở

để chúng tôi so sánh về thực trạng nước sạch ở nông thôn và thành thị cụ thể là ở phường Trường Thọ, Q.Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh

- Dự án: Ô nhiễm không khí, đói nghèo và tác động sức khoẻ ở TP.HCM viết tắt

là APPH (2008) do chi cục Bảo vệ môi trường thành phố, sở Y tế Thành phố và Viện nghiên cứu sức khoẻ Mỹ (HEI) phối hợp thực hiện Nhóm nghiên cứu đã kết luận, Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ phát triển nhanh nhưng tiềm ẩn lớn những rủi ro trong công tác quy hoạch, thực thi chính sách và dễ phát sinh các hiểm hoạ ô nhiễm Một trong những kết quả nghiên cứu của dự án đã chỉ ra rằng, mức sống của gia đình tỉ

lệ nghịch với khả năng nhiễm bệnh do ô nhiễm Bà Sumi Mehta, một thành viên thực hiện dự án APPH cho biết, môi trường ô nhiễm sẽ tác động đến người nghèo nhiều hơn Khả năng chịu đựng của người nghèo do tác động ô nhiễm môi trường thấp hơn

do chế độ dinh dưỡng thiếu thốn, tỷ lệ mắc bệnh cao và không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

1.1.3 Chăm sóc sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế

- Hội thảo chuyên đề: Chăm sóc sức khoẻ của các nước ASEAN lần thứ hai do Royal Philips Electronics phối hợp với Tạp chí Business Week tổ chức vào ngày 5 và 6/6/2008 Đây là một cuộc hội thảo cho các chuyên gia y tế hàng đầu thảo luận và trao

đổi những vấn đề quan trọng về chăm sóc sức khoẻ mà các nước trong khu vực Asean đang phải đối mặt

Hội thảo đã tập trung làm rõ các câu hỏi: Thứ nhất, làm thể nào để chúng ta xây dựng nên một khung chăm sóc sức khoẻ có chất lượng và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch y tế của người dân; thứ hai, làm thế nào để chúng ta có thể quản lý sự tham gia và đóng góp của cả hai bên (bên cung cấp dịch vụ y tế và một bên là đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế) nhằm phát triển mối quan hệ bền vững này trong mối tương quan cung - cầu dịch vụ y tế

Trang 31

Cuộc hội thảo cũng đã đưa ra chương trình cải cách chăm sóc sức khoẻ bằng cách tập trung vào phòng ngừa và thực hiện các hành vi lành mạnh để giữ gìn và tăng cường sức khỏe

- Đề tài “Bảo hiểm y tế: nhu cầu khả năng mở rộng ở nông thôn” của Trịnh

Hòa Bình đã cho chúng ta thấy thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của người dân ở nông

thôn Trong đó, tác giả tập trung phân tích các nội dung: mức độ bao phủ của bảo hiểm

y tế; tình hình sử dụng bảo hiểm y tế; mức độ hài lòng về bảo hiểm y tế; nhận thức về bảo hiểm y tế của người dân Một phần kết quả nghiên cứu của đề tài cho chúng ta thấy

rõ thực trạng tìm kiếm dịch vụ và chăm sóc sức khỏe của người dân Tác giả tìm hiểu

về tình trạng sức khỏe của người dân thông qua chỉ số ốm đau của 12 tháng qua (so với thời điểm khảo sát) Vấn đề chăm sóc sức khỏe của người dân được làm rõ hơn khi tác giả tìm hiểu, nghiên cứu mô hình và các thói quen lựa chọn, tìm kiếm các loại hình dịch vụ, cách thức chăm sóc y tế của họ Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, việc điều trị tại nhà vẫn còn là một hiện tượng phổ biến ở khu vực nông thôn (chiếm 43.2%), người dân thường mua thuốc về tự uống hoặc sử dụng các loại thuốc cổ truyền Đáng chú ý là người dân lựa chọn bệnh viện tuyến trên với tỷ lệ khá cao 41.9% cho thấy khi

họ gặp vấn đề về sức khỏe, họ đã tìm đến cơ sở điều trị tuyến trên mà ít đến các trạm y cấp xã/phường(chỉ chiếm10.1%) Nguyên nhân là do năng lực của y tế tuyến xã chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân Hơn nữa, xu hướng mua bảo hiểm y tế trực tiếp ở những nơi khám và điều trị tuyến huyện trên gia tăng và nên người dân giảm mua ở tuyến cơ sở y tế xã Việc đến cơ sở y tế tư nhân vẫn còn khá hạn chế (20.7%) do ít có sự lựa chọn về số lượng cơ sở y tế (còn ít) và chưa thực sự phù hợp với khả năng tài chính của người dân Về chi phí điều trị ốm đau của người dân: qua khảo sát cho thấy phần lớn là tiền có sẵn của gia đình (75.2%) Tỷ lệ chi trả lớn thứ hai nên là thanh toán qua bảo hiểm y tế (28.4%) Nguồn chi phí tiếp theo là trợ cấp/được cho/biếu chiếm 10.8% Các khoản chi phí lấy từ tiền vay mượn, gửi tiết kiệm, bán các vật dụng và bán các sản phẩm sản xuất đều chiếm tỉ lệ không cao

Trang 32

Vì đây là đề tài mà mục tiêu nghiên cứu chính là nhu cầu khả năng mở rộng bảo hiểm y tế ở nông thôn nên tác giả chỉ khái quát các đặc điểm nổi bật của hành vi chăm sóc sức khỏe Hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân mới chỉ dừng lại ở các chỉ số

ốm đau; cách thức điều trị bệnh và chi phí điều trị bệnh Còn các hành vi bảo vệ và nâng cao sức khỏe vẫn chưa được đề cập tới

- Dự án: Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người nghèo tại năm tỉnh

miền núi trung du phía Bắc và Tây Nguyên (2007) của nhóm tác giả Đàm Viết Cương,

Trần Thị Mai Oanh, Dương Huy Lương, Nguyễn Khánh Phương, Trần Văn Tiến, Vũ Thị Minh Hạnh, Phan Hồng Vân và cộng sự Nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch

vụ y tế cho người nghèo, Uỷ Ban Châu Âu (EC) đã xây dựng dự án HEMA (Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người nghèo tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên) nhằm hỗ trợ 5 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Gia Lai và Kon Tum giai đoạn 2006-

2010 Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đã tiến hành điều tra về tình hình sức khỏe

và khám chữa bệnh cho người nghèo tại 5 tỉnh của dự án HEMA nhằm thu thập các thông tin cơ bản để xây dựng và đánh giá dự án Đây là một cuộc điều tra mang tính toàn diện, không chỉ đánh giá từ góc độ người cung ứng các dịch vụ y tế và góc độ các nhà quản lý mà còn đánh giá việc chăm sóc sức khỏe người nghèo từ góc độ người hưởng lợi Cuộc điều tra được thực hiện ở 1.575 hộ gia đình Kết quả nghiên cứu của

dự án đã chỉ ra rằng: Người nghèo khi ốm đau chủ yếu đến cơ sở y tế nhà nước khám chữa bệnh Khoảng 30-40% người nghèo ở các tỉnh Miền núi phía Bắc và 20% ở Tây Nguyên tự điều trị khi ốm đau Hầu hết người dân mắc bệnh nhẹ đến khám chữa bệnh tại trạm y tế xã, khoảng 97% Đối với các bệnh nặng, người dân có xu hướng sử dụng dịch vụ ở các cơ sở y tế tuyến trên như bệnh viện huyện và bệnh viện tỉnh Tuy nhiên người dân đến khám chữa bệnh nặng chủ yếu tại trạm y tế xã, khoảng 80% Lý do phổ biến của việc người dân không đi khám chữa bệnh là bệnh chưa nặng và khó khăn trong đi lại Kết quả nghiên cứu của dự án cũng đã chỉ ra rằng, Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo có tác động tích cực tới việc chăm sóc sức khỏe cho người nghèo

Trang 33

trong nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cũng như giảm gánh nặng tài chính cho nhóm đối tượng hưởng lợi Tuy nhiên một số đối tượng hưởng lợi chưa thực

sự được hưởng lợi từ Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo Nhiều người nghèo không đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế

- Công trình: Xã hội hóa y tế ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn do

GS.TS Đỗ Nguyên Phương và GS.TS Phạm Huy Dũng chủ biên đã trình bày một cách rõ ràng và chi tiết những thách thức đối với các thệ thống y tế trên thế giới và các giải pháp thích ứng, trong đó có Việt Nam Công trình nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp để giải quyết những thách thức chính là xã hội hóa y tế đối với trường hợp Việt Nam Nhóm tác giả đã tổng quan Báo cáo tình hình sức khỏe trên thế giới năm 2002 (World Health Report 2002) và nhiều tài liệu liên quan khác Trong Báo cáo tình hình sức khỏe trên thế giới năm 2002, Tổ chức Y tế thế giới đã công bố một số yếu tố, là nguy cơ hàng đầu đối với sức khỏe của người dân trên thế giới, đó là: tình trạng nhẹ cân, tình dục không an toàn, thiếu sắt, mỡ trong máu cao, béo phì và đặc biệt là ô nhiễm môi trường

Như vậy, hành vi chăm sóc sức khỏe đã được nhiều tác giả/nhóm tác giả nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, ở những vùng miền khác nhau Tuy nhiên hành vi chăm sóc sức khỏe dưới tác động của điều kiện sống có ô nhiễm thì vẫn chưa được nghiên cứu một cách sâu rộng Hành vi chăm sóc sức khỏe cần phải được tìm hiểu và lý giải dưới góc

độ là một hành vi xã hội Những yếu tố nào tác động đến hành vi chăm sóc sức khỏe;

xu hướng biến đổi hành vi chăm sóc sức khỏe trong điều kiện ô nhiễm môi trường cần phải được làm rõ Hành vi chăm sóc sức khỏe được nghiên cứu trong đề tài là kết quả của nhận thức, thái độ đồng thời là phản ứng của cá nhân, cộng đồng khi môi trường sống có sự thay đổi Đặc biệt, thông qua quá trình nghiên cứu thực tế từ một cộng đồng dân cư, đại diện cho những người đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hậu quả của ô nhiễm môi trường, chúng tôi muốn làm rõ khuôn mẫu ứng xử của cộng đồng trong hành vi chăm sóc sức khỏe Đồng thời, thông qua kết quả bước đầu của đề tài, chúng

Trang 34

tôi mong muốn rằng vấn đề sức khỏe môi trường đã sớm được quan tâm thông qua hệ thống văn bản pháp luật, các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường thì việc triển khai nó trong thực tế cần phải thực hiện đồng bộ và dứt khoát

1.2 Cách tiếp cận và lý thuyết áp dụng

1.2.1 Cách tiếp cận

- Các tiếp cận cấu trúc chức năng

Đề tài sử dụng cách tiếp cận cấu trúc - chức năng để giải thích sự tác động của các yếu tố môi trường, điều kiện sống, chính sách, luật pháp… tới hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân ở khu vực có ô nhiễm về môi trường Các yếu tố trên có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi chăm sóc sức khỏe Khi một trong các yếu tố đó thay đổi thì hành vi chăm sóc sức khỏe cũng phải thay đổi

Nhà lý thuyết cấu trúc chức năng Talcot Parson đã chỉ ra rằng có hai loại chức năng chính:

Chức năng thứ nhất là chức năng biểu hiện (công khai): Là chức năng đã được

dự tính trước - đây là những chức năng có mục đích và được thừa nhận

Chức năng thứ hai là chức năng tiềm ẩn: Là chức năng không được dự tính trước - thường không được ghi nhận

Ngoài ra còn có phản chức năng - là một dạng của các “hệ quả ngoài dự kiến”,

nó phản chức năng với hệ thống được chỉ định

Thất nghiệp, không có việc làm, ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội… là những chức năng tiềm ẩn bởi chúng là những hệ quả ngoài dự kiến bất tương thích với hệ thống mà chúng có ảnh hưởng về mặt chức năng Những tác động xấu tới sức khỏe dưới tác động của ô nhiễm môi trường hay những hành vi chăm sóc sức khỏe không lành mạnh là những chức năng tiềm ẩn trong mối quan hệ của đời sống con người với các yếu tố xung quanh Ngược lại môi trường sống hài hòa, trong lành, hệ thống chăm sóc sức khỏe tốt sẽ là môi trường thuận lợi để con người nâng cao và

cải thiện chất lượng sống đặc biệt ở khía cạnh sức khỏe

Trang 35

- Cách tiếp cận lối sống

Trong công trình nghiên cứu: “Những chỉ báo về lối sống của xã hội Xô Viết”, các

tác giả G.E Bantughiu, A.N.Malinki đã định nghĩa về lối sống như sau: “Lối sống như

là tổng hòa các dạng hoạt động sống điển hình đối với một xã hội nhất định, được xem xét thống nhất với điều kiện của các dạng hoạt động sống”9

Hành vi chăm sóc sức khỏe là một dạng hoạt động sống của con người, một biểu hiện của lối sống Mà khi nói đến hoạt động sống chính là nói đến những hoạt động có tính mục đích, tính định hướng rõ ràng trong hành động của một cá nhân, một nhóm, một cộng đồng đối với các điều kiện sống khác nhau Trong đề tài này chúng tôi sử dụng cách tiếp cận lối sống, đặc biệt chú ý đến điều kiện sống của cộng đồng dân cư Khi sống trong điều kiện môi trường bị ô nhiễm, hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân sẽ thay đổi ra sao? Những thói quen trong sinh hoạt hằng ngày của cư dân ven kênh Bình Thọ ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe và môi trường sống của họ Cộng đồng dân cư có thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe hay họ vẫn giữ những thói quen như trước đây khi môi trường sống đã thay đổi? Cách tiếp cận lối sống là một gợi

ý quan trọng trong việc xác định các yếu tố tác động đến hành vi sức khỏe của người dân

1.2.2 Lý thuyết áp dụng

- Mô hình niềm tin sức khỏe của Rosentock – 1974

Theo mô hình này con người quyết định thực hiện một hành vi chăm sóc sức khỏe hay không, sẽ tùy thuộc vào nhận thức:

Thứ nhất là nhận thức về mối đe dọa của bệnh Ở đây ta có thể áp dụng để phân

tích nhận thức của người dân khi gặp phải các chứng bệnh do môi trường ô nhiễm gây

ra, đánh giá về thời điểm khám, chữa bệnh của người dân Trong đó có nhận thức về khả năng nhiễm bệnh, mức độ trầm trọng của bệnh, sự cảnh báo (thấy người khác bệnh, cảnh báo của y tế, của các chuyên gia về môi trường )

Thứ hai là nhận thức về những lợi ích và những trở ngại trong việc thực hiện

9

Trần Thị Kim Xuyến,Xã hội học lối sống.

Trang 36

hành vi

Mô hình này nhấn mạnh đến vai trò của truyền thông trong giáo dục sức khỏe thông qua những thông tin về sự nguy hiểm của bệnh bên cạnh việc phân tích lợi hại và mức độ cảnh báo qua truyền thông đại chúng hoặc chính quyền

Hành vi chăm sóc sức khỏe được giả định xuất hiện đồng thời các yếu tố sau: Thứ nhất, sự tồn tại mối quan tâm về sức khỏe (nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe); thứ hai, niềm tin rằng có khả năng bị nhiễm bệnh nghiêm trọng (sức khỏe bị đe dọa, khả năng nhiễm bệnh cao do tác động của ô nhiễm môi trường); thứ ba, niềm tin rằng, làm một điều gì đó có thể giảm khả năng nhiễm bệnh với chi phí có thể chấp nhận được (hoạt động khám chữa bệnh) Nguyên lý của mô hình này là cách một người nhận thức về thế giới quan và chính những nhận thức này là động cơ để cá nhân đó thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe

Nhận thức về dấu hiệu bệnh

Nhận thức về mối đe dọa của bệnh

Nhận thức về sự

nhạy cảm/độ trầm

trọng của bệnh

So sánh lợi ích với những trở ngại thay đổi hành vi sức khỏe

Khả năng thay đổi hành vi

Trang 37

- Phân tích hành vi chăm sóc sức khỏe dưới góc độ kinh tế

Con người được xem là một sinh vật hay một con người kinh tế (economic man) tức là mong muốn và tìm cách đạt được hiệu năng cao nhất với phí tổn thấp nhất Chính vì vậy mà đứng trước lựa chọn mới trong hành vi chăm sóc sức khỏe hoặc đơn giản là việc sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ sức khỏe con người thường sẽ suy xét cân nhắc giữa phí tổn và lợi ích

Phí tổn hay những thiệt hại là một yếu tố hết sức quan trọng trong việc cân nhắc

trước khi thực hiện hành vi Chi phí tính được ví dụ như: Chi phí để chẩn đoán, điều trị, phục hồi, chi phí thăm nom, chăm sóc của người thân, mất giờ công lao động của bệnh nhân, người thân Chi phí không tính được ví dụ như: Đau đớn của người bệnh,

sự lo buồn của người nhà bệnh nhân…

Lợi ích, còn gọi là tính hiệu dụng (utility) của hành vi chăm sóc sức khỏe hoặc

của sản phẩm sức khỏe cũng là một yếu tố quan trọng Đối với một người, tính hiệu dụng phụ thuộc vào chủ quan của người đó nên tính hiệu dụng của cùng một hành vi hay sản phẩm ở những người khác nhau có thể không giống nhau

Ví dụ: cũng là thuốc được phát miễn phí, có người rất quý nó nhưng có người lại

người dân tiêu thụ Ví dụ: Chính quyền có thể giảm thuế cho các công ty sản xuất sữa

để họ giảm giá thành, điều tiết kinh phí từ các nguồn khác qua bù cho bộ phận cung ứng dịch vụ y tế để giảm giá dịch vụ hoặc cung cấp miễn phí dịch vụ

Biện pháp thứ hai, thêm quà khích lệ để bù đắp phần nào những phí tổn về mặt vật chất hoặc tinh thần Bởi phí tổn cơ hội là giá trị mà lẽ ra đã có được nếu không thực hiện một hành động nào đó

Trang 38

Biện pháp thứ ba, giáo dục sức khỏe để giúp người dân nhận thức được những lợi ích của hành vi hoặc sản phẩm sức khỏe và hướng dẫn những cách thức để giảm bớt những phí tổn

1.3 Các khái niệm công cụ

1.3.1 Khái niệm sức khỏe

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái

cả về thể chất, tinh thần và các quan hệ xã hội chứ không đơn giản tình trạng không có bệnh tật hoặc ốm yếu

Khi xem sức khỏe trong sự tác động của môi trường thì sức khỏe tốt là sự thích ứng tốt của cơ thể với môi trường, ngược lại bệnh tật là biểu thị sự không thích ứng Như vậy, sức khỏe là một tiêu chuẩn về sự thích ứng của cơ thể con người đối với điều kiện môi trường và cũng là một tiêu chuẩn đánh giá môi trường sống, không gian sống

1.3.2 Khái niệm môi trường

Theo Luật bảo vệ môi trường (do Quốc hội ban hành năm 1993 và sửa đổi năm 2005): Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật

Nhìn chung, môi trường gồm hai thành phần cơ bản là môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo Khi nghiên cứu hành vi chăm sóc sức khỏe dưới tác động của ô nhiễm trường thì chúng tôi nghiêng về xem xét các yếu tố môi trường tự nhiên, có ảnh hưởng tới con người mà con người có thể cải tạo được

1.3.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường

Theo Luật bảo vệ môi trường do Quốc hội ban hành năm 1993 và sửa đổi năm

2005 thì ô nhiễm môi trường được hiểu là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật

1.3.4 Khái niệm ô nhiễm nước

Hiến chương châu Âu về nước đã nêu ra khái niệm về ô nhiễm nước: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẫn nước và gây

Trang 39

nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã”

Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các hóa chất độc hại, các vi khuẩn gây bệnh, vi rút, kí sinh trùng phát sinh từ các nguồn rác thải khác nhau như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt của con người hay hóa chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được đẩy ra các ao, hồ, kênh, rạch hoặc ngấm xuống nước ngầm mà không qua xử lý hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các ao, hồ, kênh, rạch…

Ô nhiễm nước có hai loại ô nhiễm tự nhiên và ô nhiễm nhân tạo Trong đề tài này, chúng tôi chỉ tìm hiểu ô nhiễm nước nhân tạo Ô nhiễm nước nhân tạo do các tác nhân như từ sinh hoạt, các hoạt động công nghiệp, từ y tế, từ hoạt động sản xuất nông - ngư nghiệp Trong đề tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu hai tác nhân cơ bản:

Thứ nhất, từ sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan, trường học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt và vệ sinh của con người Ở nhiều vùng, phân và nước thải sinh hoạt không được

xử lý mà quay trở lại vòng tuần hoàn của nước, do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan

và gây ô nhiễm môi trường Nước thải không được xử lý chảy vào sông, rạch gây thiếu hụt oxy, làm nhiều loại động vật và cây cỏ không thể tồn tại

Thứ hai, từ các hoạt động công nghiệp: Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải Khác với nước thải sinh hoạt hay nước thải đô thị, nước thải công nghiệp không có thành phần

cơ bản giống nhau mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể Các nhà máy công nghiệp, các khu chế xuất phần lớn vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải Nhiều nhà máy vẫn dùng công nghệ cũ, do đó các thành phần có hại cho môi trường trong nước thải công nghiệp đều vượt quá giới hạn cho phép Đặc biệt là nước thải các ngành công nghiệp nhuộm, thuộc da, chế biến thực phẩm, hóa chất có hàm lượng các chất gây

Trang 40

ô nhiễm cao, không được xử lý đã thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước đã làm cho nguồn nước bị ô nhiễm nặng

1.3.5 Khái niệm hành vi

- Các nhà sinh vật học xem xét hành vi với tư cách là hoạt động sống của con

người trong môi trường nhất định dựa trên sự thích nghi tối thiểu của cơ thể đối với môi trường Hành vi của con người bị bó hẹp trong các hoạt động nhằm thích nghi với môi trường để đảm bảo sự tồn tại của cá thể trong môi trường đó Chuẩn mực để đánh giá hành vi chính là mức độ thích nghi của cơ thể với môi trường Hành vi nào phù hợp với môi trường, đảm bảo sự tồn tại chắc chắn của cơ thể được coi là hành vi hợp chuẩn, hành vi nào làm cơ thể không thích nghi được với môi trường có thể coi là hành vi lệch chuẩn

- Những người theo Chủ nghĩa hành vi quan niệm: Hành vi là tổ hợp các phản

ứng của cơ thể trả lời các kích thích của môi trường tác động vào cơ thể Và con người không chỉ phản ứng với các kích thích có tính chất sinh học mà con người còn phản ứng với các kích thích khác Con người không chỉ thích ứng với môi trường tự nhiên

mà còn thích ứng với môi trường xã hội, khi bị kích thích, con người có sự lựa chọn các kích thích và thường chỉ trả lời các kích thích có lợi cho mình Quá trình sống của con người thực chất là quá trình lựa chọn và trả lời các kích thích có lợi cho cuộc sống của họ

Trong đề tài này hành vi là cách ứng xử/phản ứng của con người đối với con người,

sự vật, sự kiện, hiện tượng trong một hoàn cảnh cụ thể Hành vi con người bao gồm các yếu

tố nhận thức, kiến thức, niềm tin, thái độ, giá trị, hành động cụ thể của con người

1.3.6 Khái niệm hành vi chăm sóc sức khỏe

Hành vi sức khỏe là “những thuộc tính cá nhân như niềm tin, sự mong đợi, động lực thúc đẩy, giá trị nhận thức và kinh nghiệm; những đặc điểm về tính cách bao gồm tình cảm, cảm xúc, các loại hành động và thói quen có liên quan đến sự duy trì, phục hồi và cải thiện sức khỏe”10

Hành vi chăm sóc sức khỏe trong đề tài được hiểu là các loại hành động, thói

10

Gochman (1982)

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w