1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ giáo dục đại học hoa kỳ việt nam những năm đầu thế kỷ xxi luận văn

177 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Giáo Dục Đại Học Hoa Kỳ Việt Nam Những Năm Đầu Thế Kỷ XXI
Tác giả Nguyễn Thị Huyền Thảo
Người hướng dẫn TS. Đào Minh Hồng
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử Thế Giới
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PD&PA Vụ Ngoại giao nhân dân và các vấn đề công chúng Public Diplomacy and Public Affairs PNTR : Quan hệ Thương mại bình thường vĩnh viễn POW/MIA Tù nhân chiến tranh/ Mất tích trong chiế

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ

- -

NGUYỄN THỊ HUYỀN THẢO

QUAN HỆ GIÁO DỤC ĐẠI HOA KỲ

-VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỈ

XXI CHUYÊN NGÀNH : LỊCH SỬ THẾ GIỚI

MÃ SỐ : 60.22.03.11 LUẬN VĂN THẠC SỸ

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 8 NĂM 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ

- -

NGUYỄN THỊ HUYỀN THẢO

QUAN HỆ GIÁO DỤC ĐẠI HOA KỲ VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỈ

-XXI CHUYÊN NGÀNH : LỊCH SỬ THẾ GIỚI

MÃ SỐ : 60.22.03.11 LUẬN VĂN THẠC SỸ Người hướng dẫn: TS Đào Mình Hồng

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 8 NĂM 2015

Trang 3

LỜI TRI ÂN

Sau hai năm học tập tại Khoa Lịch sử -Trường KHXH& NV- TpHCM, được sự dạy dỗ và dìu dắt của các thầy cô trong tổ bộ môn Lịch Sử thế giới, em đã hoàn thành công trình nghiên cứu của mình đánh dấu kết thúc chương trình học

Đầu tiên, em xin gửi lời tri ân đến các thầy cô trong tổ bộ môn Lịch Sử Thế giới

và các thầy cô đã dạy em các chuyên đề trong chương trình học Mỗi một thầy cô, với phương pháp dạy khác nhau, đã giúp em tiếp cận các kiến thức khoa học ở nhiều góc

độ, giúp em hiểu thêm về các vấn đề của lịch sử Khi báo cáo công trình này, em không có cơ hội được gặp lại các thầy cô Em xin chúc các thầy cô sức khoẻ, thành công và tiếp tục truyền ngọn lửa đam mê khoa học cho các thế hệ sau

Em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Đào Minh Hồng, người thầy đã hướng dẫn tận tình em trong hai năm qua để em hoàn thành công trình này Cảm ơn cô vì tất cả những gì cô đã dành cho em trong suốt thời gian qua Cô là người đâu tiên em được học ở bậc học này khi mới bước chân vào trường Em vẫn nhớ những ngày đầu gặp cô, được cô truyền cho rất nhiều kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy và nghiên cứu Vốn dĩ là sinh viên Sư Phạm, việc nghiên cứu đối với em vẫn còn rất nhiều bỡ ngỡ và chưa có kinh nghiệm Cô đã hướng dẫn tận tình từ những chi tiết nhỏ nhất của một bài tiểu luận đến luận văn Cô đã chia sẽ thẳng thắn các vấn đề để em nhìn nhận ra các hạn chế và khuyết điểm của mình trong cách viết Với em, cô chân thành và cở mở Cô luôn động viên để em cảm thấy tư tin sau những phiền muộn của cuộc sống Cảm ơn

cô rất nhiều!

Những gì được học hỏi và tích luỹ trong thời gian qua, em đã cố gắng hoàn thành công trình này.Tuy nhiên, vì là công trình đầu tiên nên không tránh khỏi những thiếu sót Những góp ý chân thành của các thầy cô sẽ là bài học quý cho em sau này Xin chân thành cảm ơn các thầy cô!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực

Nguyễn Thị Huyền Thảo

Trang 5

CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

AUN Mạng lưới các trường Đại học ASEAN

BECA Ban các vấn đề văn hóa và giáo dục (Bureau of Educational and Cultural Affairs)

CNTT Công nghệ thông tin

CNTT-TT Công nghệ thông tin và truyền thông

ĐH Đại học

EU Liên minh Châu Âu

IIE Viện giáo dục quốc tế (Institute of International Education

FA Đạo Luật Fulbright ( Fulbright Act)

FUV Đại học Fulbright Việt Nam (Fulbright University Vietnam)

GDP Tổng sản lượng quốc dân (Gross Domestic Product )

GDĐH Giáo dục Đại học

HEEAP Liên minh giáo dục kỹ thuật bậc cao (Higher Engineering Education Alliance Program)

Trang 6

PD&PA Vụ Ngoại giao nhân dân và các vấn đề công chúng (Public Diplomacy and Public Affairs)

PNTR : Quan hệ Thương mại bình thường vĩnh viễn

POW/MIA Tù nhân chiến tranh/ Mất tích trong chiến tranh (Prisoner of War/ Missing in Action )

KHKT Khoa hoc kĩ thuật

KHTN Khoa học tự nhiên

KHXH Khoa học xã hội

MECEA Đạo luật trao đổi giáo dục và văn hoá ( Mutual Educational and Cultural Exchange Act)

NGO Tổ chức phi chính phủ ( Non- Governmental Organization)

TPP Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (),

SMA Đạo luật Smith- Mundt ( Sith – Mundt Act )

UNESCO Tổ chức Giáo dục khoa học và văn hoá Liên Hợp Quốc

USACPD Uỷ ban Tư vấn (về ) ngoại giao nhân dân của Hoa Kỳ ( U.S Advisory Commission on Public Diplomacy)

USIA Cơ quan thông tin Hoa Kỳ ( United States Information Agency )

USIAAA Hiệp hội Sinh viên USIA ( USAID Alumni Association)

USAID Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (United States Agency for International Development-)

VEF Quỹ giáo dục Việt Nam ( Vietnam Education Fund)

VOCW Dự Án Học liện mở Việt Nam

WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization

Trang 7

BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1 : Trao đổi thương mại hàng hoá giữa Hoa Kỳ- Việt Nam …… …………53 Bảng 2.1 : Bản lộ trình của Hoa Kỳ ……….78 Bảng 3.1 : Bảng số liệu học bổng Fulbright Việt Nam ( 1998- 2015)………… … 124 Bảng 3.2 : Bảng số liệu nghiên cứu sinh của VEF từ 2003- 2014……….128 Bảng 3.3 : Bảng số liệu học sinh du học tại Hoa Kỳ và Việt Nam từ 2000- 2012….138 Bảng 3.4 : Các chỉ số kinh tế tri thức của Việt Nam và các nước trong vùng Đông Nam Á và Hoa Kỳ……… 143

Trang 8

MỤC LỤC

CHỮ VIẾT TẮT 3

MỤC LỤC 6

PHẦN DẪN LUẬN 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10

3 Mục đích nghiên cứu 19

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

5 Phương pháp nghiên cứu 20

6 Nguồn tư liệu nghiên cứu 20

7 Bố cục luận văn 21

8.Những đóng góp của đề tài 21

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HOA KỲ,VIỆT NAM VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA HAI QUỐC GIA 22

1.1 Nét độc đáo của giáo dục đại học Hoa Kỳ 22

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Đại học Hoa Kỳ 22

1.1.2 Đặc điểm nổi bật của giáo dục đại học Hoa Kỳ 25

1.2 Giáo dục Đại học Việt Nam 28

1.2.1 Thời kỳ phong kiến (1076 - 1885) 28

1.2.2 Thời kỳ thuộc Pháp (1885 – 1945) 29

1.2.3 Thời kỳ 1945 -1975 32

1.3 Tổng quan về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam 35

1.3.1 Những cơ hội bị bỏ lỡ trước 1954 35

1.3.2 Đối đầu căng thẳng ( 1954- 1975) 37

1.3.3 Những chuyển biến trong quan hệ của hai nước (1975- 1991) 38

1.3.4 Hoa Kỳ chủ động phát triển quan hệ với Việt Nam (1991- 1995) 41

1.3.5 Một số thành tựu trên lĩnh vực ngoại giao và kinh tế từ 1995 đến nay 42

1.3.6 Thực trạng của quan hệ Hoa Kỳ- Việt Nam 49

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ THIẾT LẬP QUAN HỆ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HOA KỲ- VIỆT NAM 52

2.1.Quan hệ giáo dục là gì? 52

2.1.1 Giáo dục- quyền lực mềm trong quan hệ quốc tế 52

Trang 9

2.1.2 Quan hệ giáo dục đại học là gì? 54

2.1.3 Lịch sử tên gọi “Quan hệ giáo dục Hoa Kỳ- Việt Nam” 56

2.2 Toàn cầu hóa giáo dục Đại học là một xu thế 57

2.2.1 Đặc điểm của giáo dục Đại học trong thế kỉ XXI 57

2.2.2 Những bài học kinh nghiệm của các quốc gia khu vực Châu Á 61

2.3.Giáo dục trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ 67

2.3.1 Cơ sở pháp lý cho các hoạt động trao đổi giáo dục trong chính sách ngoại giao 69

2.2.2.Một số các cơ quan phụ trách hoạt động trao đổi giáo dục 74

2.4 Quan hệ giáo dục Đại học Hoa kỳ - Việt Nam trước thế kỉ XXI 78

2.4.1 Cơ hội bị bỏ lỡ (1945- 1954) 78

2.4.2 Thiết lập quan hệ giáo dục Đại học với Việt Nam cộng hoà (1954-1975) 79 2.4.3.Vai trò của những cá nhân cấp tiến trong quan hệ giáo dục Đại học Hoa Kỳ - Việt Nam (1975- 1991) 82

2.4.4 Hoa Kỳ chủ động thiết lập quan hệ giáo dục Đại học (1991 đến 2000) 87

CHƯƠNG 3 : QUAN HỆ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HOA KỲ- VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỈ XXI 95

3.1 Hợp tác giáo dục Đại học trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ những năm đầu thế kỉ XXI 95

3.1.1.Thời kỳ G.W Bush (2000-2008) 95

3.1.2 Thời kỳ tổng thống B Obama (2008 đến nay ) 97

3.2 Vị trí Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ 99

3.3 Quan điểm hợp tác quốc tế về giáo dục trong chính sách đối ngoại của Việt Nam 101

3.4 Quá trình thiết lập quan hệ giáo dục song phương Hoa Kỳ- Việt Nam 107

3.4.1 Giai đoạn (2000- 2008) 109

3.4.2 Giai đoạn từ 2008 đến nay 113

3.5.Các hoạt động giáo dục Đại học của Hoa Kỳ tại Việt Nam 118

3.5.1 Tuần lễ giáo dục 118

3.5.2 Triển lãm giáo dục 118

3.5.3 Hội thảo giáo dục Đại học 119

3.5.4.Phát triển công nghệ thông tin và dự án học liệu (VOCW) 121

3.5.5 Các học bổng của Hoa Kỳ dành cho sinh viên Việt Nam 122

Trang 10

3.5.6 Hoạt động của quỹ giáo dục VEF 126

3.5.7 Hoạt động của nhóm chuyên trách 129

3.5.8 Hoạt động của HEEAP- Khoa học kỹ thuật 133

3.5.9 Hoạt động của cá nhân 135

3.6 Một số nhìn nhận và đánh giá về quan hệ giáo dục Đại học Hoa Kỳ- Việt Nam 139

3.6.1 Tác động đến giáo dục Đại Học Việt Nam 139

3.6.2 Cầu nối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam 140

3.6.3 Một số vấn đề cho Việt Nam trong hội nhập giáo dục qua trường hợp quan hệ Hoa Kỳ- Việt Nam 142

KẾT LUẬN 149

MỤC LỤC THAM KHẢO 153

PHỤ LỤC 172

Trang 11

PHẦN DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm cùng với biến động của lịch sử Vào thế kỉ XIX, Hoa Kỳ và Việt Nam đã có từng có những tiền đề thuận lợi cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao như: theo lệnh của vua Tự Đức, Bùi Viện là người Việt Nam đầu tiên đã hai lần đặt chân đến Hoa Kỳ để đề nghị Hoa Kỳ giúp Việt Nam chống Pháp vào những năm 70 của thế kỉ XIX Điều này chỉ để lại cho hai bên những “ấn tượng” ban đầu Bước sang thế kỉ XX, Nguyễn Ái Quốc trong quá trình bôn

ba ở nước ngoài đi tìm đường cứu nước, Người đã đến Hoa Kỳ và tìm hiểu về cuộc đấu tranh giành độc lập của Hoa Kỳ và có thiện cảm đối các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ trong cuộc đấu tranh chống giành độc lập Cuộc chiến tranh thế giới II (1939-1945), Mặt Trận Việt Minh của Việt Nam đã hợp tác rất tốt với quân đồng minh của Hoa Kỳ

để chống lại phát xít Với những sự kiện trên, triển vọng quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam

sẽ được mở ra với một tương lai tốt đẹp, tuy nhiên, quan hệ Hoa Kỳ- Việt Nam lại không được thiết lập như mong muốn của chủ tịch Hồ Chí Minh Sau 1954, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam đối đầu căng thẳng Cuộc chiến tranh diễn suốt từ 1954- 1975, để lại biết bao đau thương mất mát cho cả hai bên

Sau 1975, quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam gặp nhiều trắc trở nhất là sau khi chính sách cấm vận được ban hành Những nổ lực không mệt mỏi của các cựu binh, chính khách, mà đứng đầu là Tổng thống B.Clinton Ông đã quyết định xóa bỏ quy định cấm vận thương mại; tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào ngày 11-7-1995 Đây được xem là một mốc son đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ song phương Kể từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam đã có những chuyển biến tốt đẹp trên nhiều lĩnh vực

Chiến tranh lạnh kết thúc (1989) đã mở ra một xu thế mới trong quan hệ quốc

tế, chấm dứt thời kỳ đối đầu sang đối thoại hợp tác, đồng thời mở ra thời kỳ toàn cầu hoá Ở giai đoạn này, loài người đã và đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới

từ văn minh công nghiệp sang văn minh tin học với những đột phá trong tư duy, quản

lý, kinh tế và đặc biệt là giáo dục Giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên

Trang 12

quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân Giáo dục tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mọi quốc gia Giáo dục được xem là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội Vì thế mà, giáo dục luôn được quốc sách hàng đầu của các quốc gia Việc đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển trong tương lai nên giáo dục phải đi trước một bước

Hoa Kỳ là nước có nền giáo dục phát triển Triết lý giáo dục tự do, phát huy tính sáng tạo tối đa của người học, đã tạo nên sức hấp dẫn và thu hút đông đảo các du học sinh trên thế giới đến học tập, nghiên cứu Sự thay đổi linh hoạt trong việc điều chỉnh chính sách của nhà nước đối với giáo dục và thu hút nhân tài, đã tạo cho Hoa Kỳ

có một vị trí riêng, cũng giá trị riêng của mình hình thành thương hiệu “giá trị Mỹ” trong giáo dục

Trong khi đó, giáo dục Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm, biến động của lịch

sử, nên chịu nhiều sự tác động của các nền giáo dục bên ngoài như : Trung Quốc, Pháp, Liên Xô và Hoa Kỳ Đến nay Việt Nam vẫn đang loay hoay tìm kiếm một mô hình giáo dục cho phù hợp để đưa giáo dục Việt Nam sớm thoát khỏi những hạn chế

và theo kịp sự phát triển chung của thế giới

Sau chuyến thăm Hoa Kỳ của chủ tịch nước Trương Tấn Sang vào năm 2013,

quan hệ hai nước đã nâng tầm thành quan hệ “Đối tác toàn diện” và mở ra nhiều cơ

hội hợp tác cho cả hai bên Song, khi nghiên cứu về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao và văn hóa Chưa có công trình nào đề cập đến lĩnh vực giáo dục với tư cách là một đối tượng, chủ thể của một đề tài nghiên cứu Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa

khoa học, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Quan hệ giáo dục Đại học Hoa Kỳ- Việt Nam

những năm đầu thế kỉ XXI”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam là một trong những đề tài thu hút rất nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Từ khi bình thường hoá quan hệ (1995) đến nay, hầu hết các công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề sau :

1 Các nghiên cứu trong nước

Trang 13

a Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên các lĩnh vực như kinh tế, ngoại giao, chính trị gồm có các công trình sau :

Năm 2002, Nguyễn Thiết Sơn (chủ biên) “Nước Mỹ năm đầu thế kỉ XXI”,

Trung Tâm khoa học xã hội nhân văn quốc gia – Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ, NXB KHXH Tác giả đề cập đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệ của Hoa Kỳ với các nước trên thế giới dưới góc nhìn từ phía Hoa Kỳ Trong đó, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam được đề cập đến một cách khái quát về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Tác giả đã đề cập đến quan hệ của hai nước trên lĩnh vực giáo dục, nhưng mới chỉ nói đến đây là hoạt động nằm chung trong lĩnh vực văn hóa

Năm 2005, PGS TS Lê Văn Quang với “Quan hệ Việt – Mỹ thời kỳ sau chiến

tranh lạnh (1990- 2000), NXBĐHQG TP.HCM Tác giả đề cập đến quá trình đi

đến bình thường hóa quan hệ của hai quốc gia Trong đó tác giả đề cập chủ yếu đến quan hệ ngoại giao, chính trị, kinh tế một cách chặt chẽ và có tính hệ thống từ 1990- 2000 Tác giả dự báo giáo dục là một lĩnh vực mới mà hai quốc gia đang hướng đến

Năm 2008, GS.TSKH Nguyễn Mại (chủ biên),“Quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ

hướng về phía trước” Đây có thể xem là một công trình nghiên cứu về quan hệ Việt

– Mỹ dước góc nhìn từ hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam Tác giả đề cập đến nhiều lĩnh vực như : kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa- xã hội Trong đó tác giả chú trọng đến lĩnh vực kinh tế

GS.TS Nguyễn Thiết Sơn (Viện nghiên cứu Châu Mỹ), “Những bước phát

triển trong quan hệ kinh tế Việt Nam- Hoa Kỳ”, tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 6, tác

giả đề cập đến những yếu tố tác động đến quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ

TS Tạ Minh Tuấn, Quan hệ Việt- Mỹ: những thách thức trong nhiệm kỳ của

tổng thống Obama, Châu Mỹ ngày nay số 4- 2009, tác giả tổng quát lại quan hệ của

hai nước từ 1995 đến nay trên các lĩnh vực như kinh tế, quốc phòng và các lĩnh vực khác Trong đó, tác giả đề cập đến những thuận lợi và thách thức đối với chính quyền B.Obama trong việc thiết lập quan hệ với Việt Nam và nâng tầm quan hệ này lên một bước mới

Trang 14

Năm 2010, ThS Bùi Thị Thảo, Nhìn lại quá trình bình thường hóa quan hệ

Việt Nam- Hoa Kỳ và những chuyển biến trong quan hệ song phương đầu thế kỉ XXI (2001-2010), Châu Mỹ ngày nay, số 12- 2010 Tác giả tập trung chủ yếu trên lĩnh

vực kinh tế và triển vọng của mối quan hệ này Bên cạnh đó, tác giả nhận định thông qua các chuyến ngoại giao của hai nước trong những năm gần đây sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng tấm mối quan hệ sang một nấc thang mới

Nguyễn Thiết Sơn, Quan hệ kinh tế Việt Nam- Hoa Kỳ triển vọng hợp tác,

Châu Mỹ ngày nay, số 6- 2010 Tác giả đề cập đến quan điểm hợp tác của hai nước

Việt - Mỹ Quan hệ của hai nước đã đạt được những thành công nhất định là do hai nước đã xóa bỏ dần những đau thương trong qua khứ và tiến lên phía trước Tuy nhiên, lĩnh vực chủ yếu mà hai bên đạt được nhiều thành tựu vẫn là kinh tế Tác giả nhận định trong tương lai quan hệ hai nước sẽ là hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực

Nguyễn Mạnh Hùng, Quan hệ Việt – Mỹ : 35 năm nhìn lại, Nghiên cứu quốc

tế số 3 (82), 9/2010 Tác giả đề cập chủ yếu về quan hệ chính trị, hợp tác quân sự

Tác giả đi sâu phân tích quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ dưới góc độ chính trị và chiến lược trong bối cảnh chung của quan hệ quốc tế Tác giả cho rằng nhân tố “ Trung Quốc” sẽ thúc đẩy cho quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ xích lại gần nhau hơn

Trần Nam Tiến, “Quan Hệ Việt Nam – Hoa Kỳ thực trạng và triển vọng”,

NXB Thông tin và Truyền Thông Tác giả đã miêu tả bức tranh toàn cảnh về mối quan

hệ Việt Nam- Hoa Kỳ từ những năm 70 của thế kỉ XIX đến năm 2010 Trong đó, phần lớn đề cập đến giai đoạn 1995- 2010 trên nhiều lĩnh vực Tác giả cũng nêu lên những hạn chế và tồn tại của qua hệ hai nước về ý thức hệ và những vấn đề làm cho quan hệ hai nước chưa trở thành “đối tác” quan trọng Cuối cùng, tác giả cho rằng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ sẽ phát triển cao hơn nữa trong tương lai

Năm 2011, Nguyễn Anh Cường, Vài nét chính về chính sách của Mỹ đối với

Việt Nam (1976-2008), Châu Mỹ ngày nay, số 7-2011, tác giả chỉ đề cập đến chính

sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam trên các lĩnh vực như : kinh tế, chính trị, y tế, nhân quyền, khoa học kỹ thuật

Trang 15

TS Bùi Thị Phương Lan, Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 1994- 2010,

NXBKHXH Tác giả trình bày quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ dưới cách nhìn của Hoa

Kỳ Đây là tác phẩm đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của mối quan hệ Việt –Mỹ từ khi bùng nổ cuộc chiến tranh ở Việt Nam cho đến khi bình thường hóa quan hệ Trong đó quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế được trình bày một cách cụ thể có hệ thông thông qua việc phân tích chính sách của cả hai bên Việt Nam- Hoa Kỳ cho thấy sự thăng – trầm trong quan hệ hai nước Tác giả dự báo trong tương lai Việt Nam sẽ là đối tác toàn diện của Hoa Kỳ

Năm 2012, Th.S Nguyễn Văn Hoàn- Lê Văn Dũng, Tìm hiểu quan hệ chính

trị giữa cách mạng Việt Nam và Hoa Kỳ giai đoạn 1940-1945, Châu Mỹ ngày nay, số

11- 2012 Tác giả đề cập đến những sự kiện đề cập đến những quan hệ chính trị của hai nước, cho thấy cơ hội hợp tác và triển vọng của quan hệ hai nước trong tương lai, nhưng lịch sử không đi theo ý muốn, nên hai nước đã đánh mất đi cơ hội hợp tác

Năm 2013, TS Nguyễn Anh Cường, Hồ Chí Minh với Hoa Kỳ 1941-1954,

Châu Mỹ ngày nay, số 3- 2013 Tác giả đề cập đến những hoạt động của đại diện Việt

Nam là chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều hoạt động như giúp đỡ, hổ trợ của Việt Nam với quân Đồng Minh trong suốt thời kỳ từ 1941- 1954 Kết quả của những

nổ lực đó đã không đem lại cơ hội hợp tác của hai nước

Th.S Nguyễn Anh Hùng, Đôi nét về nhóm lợi ích với quan hệ Việt Nam- Hoa

Kỳ, Châu Mỹ ngày nay, số 5-2013 Tác giả tiếp cận quan hệ Việt- Mỹ dưới góc độ

kinh tế, qua đó tác giả đề cập đến những nhóm lợi ích của các nhóm phía Mỹ và Việt Nam Cuối cùng, tác giả đề ra những giải pháp cho Đảng và nhà nước Việt Nam trong mối quan hệ với Mỹ

Nguyễn Tuấn Minh, Chủ tịch Trương Tấn Sang thăm Hoa Kỳ và đối tác toàn

diện Việt Nam- Hoa Kỳ, Châu Mỹ ngày nay, số 7- 2013.Tác giả đề cập đến hoạt động

và ký kết giữa Việt Nam – Hoa Kỳ trong chuyến thăm và làm việc của chủ tịch Trương Tấn Sang tại Mỹ Tác giả đề cập đến quan hệ giữa hai nước với những bước triển vọng mới trên những lĩnh vực hợp tác như : kinh tế, quốc phòng, văn hóa , giáo dục

Trang 16

TS Bùi Thành Nam, Quan hệ Việt – Mỹ trong bối cảnh quan hệ Mỹ- ASEAN,

Châu Mỹ ngày nay, số 7-2013 Tác giả đề cập sơ lược về quan hệ của hai nước qua

các giai đoạn lịch sử, thông qua chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ASEAN, thì quan

hệ giữa Mỹ - Việt Nam đều chịu tác động khá lớn đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế và đối ngoại

b.Các công trình nghiên cứu về giáo dục Việt Nam và Hoa Kỳ

* Giáo dục Việt Nam

Năm 2006, GS.TSKH Vũ Ngọc Hải, PGS.TS Đặng Bá Lâm, PGS.TS Trần

Khánh Đức “Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hóa”, NXBGD Đề

cập đến quan hệ hợp tác giáo, tác giả cho rằng hợp tác quốc tế về giáo dục với những nước có nền giáo dục tiên tiến là một cách đi phù hợp nhất để đưa nền giáo dục Việt Nam nhanh chóng bắt kịp với trình độ của thế giới

Năm 2009, TS Nguyễn Minh San (chủ biên),“Giáo dục Việt Nam 10 thế kỉ

(1010-2010)”, NXBGD Ông đề cập đầy đủ về sự hình thành và phát triển của nền giáo dục

Việt Nam từ khi ra đời vào thế kỉ XI đến nay Trước xu thế phát triển của thế giới và

xu thế toàn cầu hóa ngày càng mạnh, giáo dục Việt Nam cần phải đổi mới cho phù hợp với nhịp độ phát triển chung của giáo dục thế giới Trong đó, tác giả cho rằng hợp tác quốc tế cũng là một cách tốt để nâng cao trình độ phát triển của giáo dục

Năm 2010, Nguyễn Văn Tuấn, Chất lượng giáo dục đại học nhìn từ góc độ

hội nhập, NXBTH Tác giả trình thực trạng giáo dục Việt Nam trước xu thế toàn cầu

hóa và tìm hiểu nguyên nhân vì sao giáo dục Việt Nam có vị trí thấp so với các nước trong khu vực và thế giới

Năm 2011, Ngô Bảo Châu, Pierre Darriulat, Cao Huy Thuần- Hoàng Tụy,

Nguyễn Xuân Xanh, Phạm Xuân Yêm “Kỉ yếu- Festschrif Đại học Humboldt 200

năm (1810-2010) Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam” Đây là tác phẩm đề cập đến

thực trạng giáo dục đại học Việt Nam Các tác giả phân tích tính ưu việt và cái hay, độc đáo của giáo dục Mĩ cũng như một số nước phát triển Qua đó, tác giả cũng cho rằng việc hợp tác, trao đổi giáo dục của Việt Nam với các nước phát triển là một viêc nên làm

Trang 17

*Giáo dục Hoa Kỳ

Năm 2007, Đỗ Thị Diệu Ngọc, Hoa Kỳ : giáo dục và sáng kiến nâng cao tính

cạnh tranh quốc gia Tác giả đưa ra các nhận định về vị trí giáo dục Hoa Kỳ, những

thách thức của thế giới đối với vị trí giáo dục của Hoa Kỳ qua đó tác giả rút ra những kinh nghiệm cho giáo dụcViệt Nam

Năm 2008, Đỗ Lộc Diệp, Những phương hướng chính sách ưu tiên chiến

lược trong chính sách giáo dục của Hoa Kỳ trước triển vọng thế kỉ XX, Châu Mỹ ngày

nay, số 2, 2008 Tác giả đề cập đến cơ sở lý thuyết, thể chể của nền giáo dục, các đạo luật

giáo dục của tổng thống Bush nhằm khôi phục nên giáo dục, qua đó giáo dục Mỹ cần tạo sức hút đối với các nước trên thế giới

“Tóm lược giáo dục Hoa Kỳ , Ấn phẩm của chương trình Thông tin quốc tế”, Bộ

ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 9-2008 Đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của giáo dục Đại học Hoa Kỳ

Năm 2010, Hà Văn Hội, Phạm Thu Phương, Một số điểm nổi bật trong chính

sách giáo dục Đại Học Mỹ, Châu Mỹ ngày nay, số 9 Tác giả đề cập đến mô hình giáo

dục đại học và sau đại học ở Mỹ, chi tiêu ngân sách của Hòa Kỳ dành cho giáo dục qua thời kỳ Tổng thống B.Obama

Nguyễn Ngọc Mạnh, Phát triển khu vực dịch vụ giáo dục đại học ở Hoa Kỳ,

Châu Mỹ ngày nay, số 10 Tác giả đề cập đến mô hình giáo dục đại học ở Hoa Kỳ,

cách huy động các nguồn tài chính và tác giả đưa ra những đặc trưng của nền giáo dục

Mỹ Cuối cùng tác giả nhận định giáo dục Mỹ có vị trí như hiện nay là do chính sách linh hoạt của nhà nước

Năm 2012, Nguyễn Anh Hùng, Tìm hiểu chính sách hỗ trợ phát triển giáo

dục của Hoa Kỳ, Châu Mỹ ngày nay, số 5 Tác giả trình bày các chính sách giành cho

giáo dục như : đối với giáo viên, thư viện, giáo dục tư nhân, dạy nghề phát triển nguồn nhân lực Qua đó tác giả đưa ra các số liệu chi ngân sách cho từng mảng

Nguyễn Anh Hùng, Những chính sách giáo dục cơ bản của Hoa Kỳ trong nữa

thế kỉ qua, Châu Mỹ ngày nay, Tác giả đề cập đến các đạo luật chi phối hoạt động

Trang 18

giáo dục qua các đời tổng thống qua đó cho thấy giáo dục dành cho tất cả mọi người một cách công bằng và bình đẳng

Nguyễn Anh Hùng, Cơ chế và tổ chức hệ thống giáo dục Hoa Kỳ, Châu Mỹ ngày

nay, số 9 Tác giả trình bày sơ lược về chính sách, cơ cấu, tổ chức giáo dục Hoa Kỳ từ

thế kỉ XIX đến nay và những chính sách điều chỉnh và hổ trợ cho việc phát triển giáo dục Đại học Hoa Kỳ

c Các công trình nghiên cứu về quan hệ giáo dục Việt Nam – Hoa Kỳ gồm có những công trình sau :

Năm 2008, Trần Nam Tiến, Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên lĩnh vực giáo

dục đào tạo giai đoạn 1995-2005, Tạp chí khoa học xã hội số 01- 2008 Đây được

xem là công trình đầu tiên nghiên cứu về quan hệ giáo dục giữa Việt Nam- Hoa Kỳ Tác giả trình bày quá trình thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ từ khi bình thường hóa đến năm 2010 Trong đó, tác giả đề cập đến nhiều hoạt động trao đổi, hợp tác phát triển giáo dục đào tạo của hai nước chủ yếu giai đoạn (1995- 2005) Cuối cùng tác giả cho rằng mối quan hệ này sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn và hai nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực này

Năm 2010, Nghiêm Thị Thủy (Viện nghiên cứu Châu Mỹ), “ Trao đổi , phát

triển giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ”, tạp chí Châu Mỹ ngày nay Tác giả đề cập

đến ưu điểm của nền giáo dục Mỹ, tác giả miêu tả sự hợp tác, trao đổi giáo dục của hai nước từ khi bình thường hóa quan hệ đến năm 2010 Tác giả tiếp cận dưới góc độ của giáo dục học khi đề cập đến việc trao đổi, phát triển giáo dục của hai nước Tác giả nhận định hợp tác giáo dục Việt- Mỹ sẽ thúc đẩy cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam

Nguyễn Bích Thảo đã công bố luận văn Thạc Sỹ với đề tài “ Quan hệ Việt

Nam – Hoa Kỳ trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục và xã hội từ năm 1995 đến nay”, tác

giả đề cập đến vấn đề giáo dục trong mối quan hệ giữa hai nước thông qua phân tích

về sự hợp tác của hai nước và đưa ra định hướng và giải pháp để đẩy mạnh hướng phát triển.Tác giả cũng nhận định quan hệ giáo dục là một lĩnh vực mà hai quốc gia sẽ đẩy mạnh hơn nữa trong tương lai

Trang 19

TS Cù Chí Lợi, Quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ : Hướng tới mối quan hệ chiến

lược, Châu Mỹ ngày nay, số 8-2010 Tác giả đề cập đến những thay đổi trong quan hệ

của hai nước kể từ khi bình thường hóa quan hệ Trong đó, tác giả đề cập đến quan hệ văn hóa, giáo dục với những số liệu về số lượng du học sinh Việt Nam so với các nước khác Qua đó, tác giả cho đây là mối quan hệ mới cần được nâng tầm trong tương lai

Lê Thị Vân Nga, Hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ hiện tại và tương lai, Châu Mỹ

ngày nay, số 6-2010 Tác giả đề cập đến hợp tác kinh tế, văn hóa, chính trị Trong đó,

tác giả đề cập đến quan hệ giáo dục của hai nước trong đó tác giả đưa ra số liệu du học sinh Việt Nam ở Mỹ năm 2008- 2009 tăng 50% so với năm 2007-2008 Qua đó tác giả đưa ra những dự báo về quan hệ của hai nước trong tương lai

ThS Lê Thị Thu đã tìm hiểu về việc Hổ trợ phát triển của Hoa Kỳ cho Việt

Nam trong những năm vừa qua, Châu Mỹ ngày nay, số 6- 2010 Tác giả đề cập đến

các số liệu hợp tác mà Hoa Kỳ hổ trợ cho Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, trong đó có

hổ trợ cho giáo dục thông qua học bổng Fullbright

TS Nguyễn Thị Thanh Thủy, Ngoại giao nhân dân trong quan hệ đối ngoại

của Mỹ, NXBCTQG Tác giả đề cập đến quan hệ ngoại giao nhân dân Mỹ trong việc

thiết lập chiến lược toàn cầu của Mỹ Tác giả xem quan hệ này là chính sách mềm để nâng cao vị thế và giá trị của Mỹ sau cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam cũng như các nước mà Mỹ đã thiết lập mối quan hệ đồng minh nhằm duy trì tính ổn định mối quan hệ này Ngoại giao nhân dân bao gồm rất nhiều lĩnh vực, nhưng chủ yếu là trên lĩnh vực văn hóa Tác giả cũng đề cập đến việc trao đổi hợp tác văn hóa của hai nước trên lĩnh vực giáo dục trong tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước.Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến học bổng, số liệu du học sinh đến năm 2008

2 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài về quan hệ Hoa Kỳ- Việt Nam trên lĩnh vực giáo dục

Năm 2011, Institute of International Education : What international students

think about U S higher education attitudes and perceptions of prospective students

in Africa, Asia, Europe and Latin America Tác giả đề cập đến số lượng du học sinh

từ các nước đến Hoa Kỳ học tập, trong đó, số lượng du học sinh Việt Nam ngày càng

Trang 20

tăng , một trong những nguyên nhân thúc đẩy cho du học sinh là do quan hệ hai nước

ngày càng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho du học sinh sang học

Năm 2013, Mark E Manyin, US-VN Relations in 2013 Current Isses And

Implication for US Policy 2013, Congressial Research Service Tác giả điểm lại môt

số các thành tựu của mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên nhiều lĩnh vực.Tác giả công

bố những số liệu mới nhất về các lĩnh vực mà hai nước đã đạt được kể từ khi bình

thường hóa quan hệ đến năm 2013 Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra một số những tồn

tại trong quan hệ của hai nước và dư báo trong tương lai quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ sẽ

nâng lên một tầm mới

Elizabeth M Robbins, From Enemies to Friend : the improvement of U.S – Viet

Nam ralations through educational exchanges, 1992- 2013, Thesis Master of Arts in

Liberal studies Tác giả đã đề cập trao đổi giáo dục Việt Nam – Hoa Kỳ từ năm 1992 –

2013 Tác giả tiếp cận vấn đề dưới góc độ là hợp tác và phát triển giáo dục của hai

nước Trên nền tảng đó, đã thúc đẩy cho quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ phát triển lên

một tầm cao mới Trong đó hoạt động trao đổi giáo dục đã giúp cho giáo dục bậc cao

của Việt Nam phát triển thông qua số lượng học viên về nước, đóng góp cho công

cuộc xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam

The Embassy of the United States, Hanoi “American Support for Education in

Vietnam: A Brainstorming Conference for American Stakeholders, Conference

Report.”(http://photos.state.gov/libraries/vietnam/8621/pdf-forms/EduConfReport-Jan08.pdf (accessed January 29, 2013) Tác giả đề cập đến những đóng góp của Hoa

Kỳ nhằm thúc đẩy giáo dục Đại học Việt Nam Qua đó kiến nghị giáo dục Đại học

Việt Nam cần có những thay đổi, điều chỉnh để phù hợp với sự hổ trợ từ phía Hoa Kỳ

Tsai, Jenny “One First Trip to U.S., Vietnam Prime Minsiter Visits Harvard.”

The Harvard Crimson, June 27, 2005

http://www.thecrimson.com/article/2005/6/27/on-first-trip-to-us-vietnam/

(accessed on February 6, 2013) Bài viết đề cập đến hoạt động của thủ tướng Phan Văn

Khải đến thăm Hoa Kỳ và qua đó, từng bước thiết lập quan hệ trên lĩnh vực giáo dục

đại học giữa hai nước

Trang 21

Hầu hết các công trình nghiên cứu vế quan hệ giữa Hoa Kỳ - Viêt Nam đã tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Một số công trình đã cho đề cập đến lĩnh vực giáo dục Tuy nhiên, các công trình đó chỉ đề cập một cách sơ lược, chưa có cái nhìn toàn diện và một cách có hệ thống để miêu tả đầy đủ về mối quan hệ này Khi nghiên cứu

về đề tài này, tôi có tiếp nhận và sử dụng thành quả của các công trình trước đó và bổ sung để cho công trình nghiên cứu được hoàn thiện và đầy đủ hơn

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về giáo dục Đại học Hoa Kỳ - Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI, nhằm mục đích trình bày một cách có hệ thống về mối quan hệ giáo dục Hoa Kỳ- Việt Nam được thiết lập như thế nào, phát triển ra sao và đã đạt được những thành quả

gì trong thời gian qua? Qua đó, luận văn đưa ra những nhận định, đánh giá về vị trí của mối quan hệ này như thế nào trong mối quan hệ song phương của hai quốc gia

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Xác định rõ đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ giáo dục Đại học Hoa Kỳ - Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI, trong đó tập trung làm rõ các giai đoạn phát triển của quan hệ giáo dục Đại học Hoa Kỳ- Việt Nam Quá trình hình thành

và phát triển của quan hệ giáo dục Hoa Kỳ- Việt Nam thông qua: mối quan hệ Hoa

Kỳ - Việt Nam trước và đầu thế kỉ XXI; vị trí của giáo dục trong chính sách đối nội và đối ngoại của hai quốc gia và thành quả của quan hệ giáo dục trong quan hệ song phương Hoa Kỳ- Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những năm đầu thế kỉ XXI, tức là bắt đầu

từ năm 2000 đến nay Mặc dù, Việt Nam – Hoa Kỳ bình thường hoá quan hệ đã 20 năm (1995-2015), nhưng quan hệ giáo dục lại thiết lập muộn hơn Mãi đến năm 2000, khi Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đến thăm Việt Nam, đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của người đứng đầu nhà nước Hoa Kỳ sau khi hai nước thiết lập quan hệ Sau buổi nói chuyện của ông tại Đại học Quốc gia Hà Nội, với mong muốn mở rộng hơn nữa trong việc trao đổi hợp tác giáo dục của hai quốc gia Khi về nước, ông đã đề nghị lên Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật trao đổi giáo dục Việt Nam (VEF) Từ đây quan hệ giáo dục chính thức được thiết lập Vì thế, luận văn trình bày mối quan hệ này từ năm 2000 đến nay

Trang 22

5 Phương pháp nghiên cứu

Đây là công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Lịch Sử Thế Giới Nghiên cứu về mối quan hệ giáo dục của hai nước là nghiên cứu mối quan hệ này qua từng thời kỳ với các giai đoạn lịch sử Nên nguyên tắc phân kỳ phải phù hợp với đặc trưng

cơ bản của từng giai đoạn để người đọc hiểu rõ hơn Song song với việc trình bày, mô

tả mối quan hệ giáo dục Hoa Kỳ- Việt Nam Luận văn còn phân tích các mối liên hệ , yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến mối quan hệ này để rút ra những nhận định, đánh giá góp phần làm cho mối quan hệ này được cụ thể và rõ ràng hơn Nên phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, quan hệ giáo dục là lĩnh vực thuộc phạm vi của ngành quan hệ quốc tế; vì thế ,tôi sử phương pháp liên ngành giữa sử học với quan hệ quốc tế Đó là phân tích mối quan hệ theo từng cấp độ trong quan hệ quốc tế là từ cá nhân, quốc gia và khu vực Phương pháp này giúp người nghiên cứu hiểu rõ hơn bản chất và xu thế, vai trò của từng cấp độ trong mối quan hệ giáo dục Đại học Hoa Kỳ- Việt Nam Việc vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu để làm cho đề tài được tiếp cận ở nhiều góc nhìn,

từ đó, có những kết luận khách quan trong việc đánh giá và đưa ra kết luận

6 Nguồn tư liệu nghiên cứu

Qua lịch sử nghiên cứu vấn đề thì đây là công trình đầu tiên trình bày về quan hệ giáo dục Hoa Kỳ- Việt Nam Do đó, tài liệu nghiên cứu còn khá mới, tản mạn và rời rạc từ nhiều nguồn khác nhau : Luận văn, sách, các bài báo, các bản báo cáo, Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu phục vụ nghiên cứu của Viện khoa học xã hội Việt Nam và tài liệu Internet Các bảng thông kê, các bản báo cáo, văn kiện Đại hội Đảng qua các Đại hội Luận văn tiếp cận với một số văn bản gốc

(bậc 1) là các văn bản ký kết giữa Hoa Kỳ- Việt Nam như : Đạo luật trao đổi giáo dục Việt Nam (VEF)- 106TH CONGRESS 2D SESSION H R 5581 (phụ lục); Biên Bản ghi nhớ giữa Bộ giáo dục Đào tạo Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ ngoại giao Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về Thành lập nhóm chuyên trách về giáo dục thúc đẩy hợp tác trong giáo dục Đại học (phụ lục); Quyết định Phê duyệt Đề Án “ Đào tạo theo chương trình tiên tiến tại một số trường đại học Việt Nam giai đoạn 2008- 2015” số 1505/QĐ- TTG ngày 15- 10- 2008 (phụ lục) Tất cả được khai thác và

Trang 23

sử dụng, tổng hợp, lựa chọn, kiểm chứng, so sánh, đối chiếu để phục dựng mối quan

hệ giáo dục Hoa Kỳ - Việt Nam

7 Bố cục luận văn

Luận văn ngoài phần dẫn luận và kết luận còn có 3 chương

Chương 1 : Tổng quan về giáo dục đại học Hoa Kỳ, Việt Nam và mối quan hệ của hai quốc gia Trong đó, luận văn tập trung miêu tả khái quát về giáo dục Đại học Hoa

Kỳ, Việt Nam và tổng quan về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử để cho người đọc có cái nhìn tổng quát về nền giáo dục Đại học và mối quan hệ của hai quốc gia trước khi quan hệ giáo dục được xác lập

Chương 2 : Cơ sở thiết lập quan hệ giáo dục Hoa Kỳ- Việt Nam

Chương này, luận văn trình bày khái niệm quan hệ giáo dục dưới góc nhìn quan hệ quốc tế Những nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến việc thiết lập quan hệ giáo dục Trên nên tảng đó, từ những năm 80 của thế kỉ XX, các cá nhân cấp tiến của Hoa Kỳ và Việt Nam đã có cơ hội trao đổi, hợp tác giáo dục trước khi quan hệ Hoa Kỳ- Việt Nam được bình thường hóa Đây là một giai đoạn có tính chất thăm dò và tạo tiền đề cho quan hệ giáo dục chính thức được thiết lập vào đầu thế kỉ XXI

Chương 3 : Quan hệ giáo dục Đại học Hoa Kỳ- Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI Đây là chương trọng tâm của luận văn Luận văn tập trung miêu tả đầy đủ về quá

trình thiết lập quan hệ giáo dục đại học Hoa Kỳ- Việt Nam từ năm 2000 đến nay Bao gồm các hoạt động ngoại giao, các hoạt động giáo dục của Hoa Kỳ ở Việt Nam và đưa

ra các nhận định, đánh giá về thực trạng và triển vọng của mối quan hệ này trong quan

hệ song phương của hai quốc gia

Trang 24

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HOA KỲ,VIỆT NAM VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA HAI QUỐC GIA 1.1 Nét độc đáo của giáo dục đại học Hoa Kỳ

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Đại học Hoa Kỳ

Hiện nay ở Hoa Kỳ có tất cả 4.386 đại học và cao đẳng các loại, trong đó có khoảng 284 trường đại học với nhiều ngành, có chương trình cử nhân lẫn cao học và chú trọng nghiên cứu[63;59] Hệ thống các trường đại học đầu tiên của Hoa Kỳ bắt đầu là các trường của Anh, vốn dĩ Hoa Kỳ là thuộc địa của Anh Thời kỳ đầu, Hoa Kỳ

có 3 trường đại học lớn như : Harvard, William, Yale và trường Mary, hầu hết các trường đại học thời kỳ này đều được xem là cơ sở phụ của nhà thờ, mà nhà thờ lại phụ thuộc vào chính quyền liên bang

Nguồn gốc của sự hình thành các trường đại học bắt đầu vào thời Trung Cổ, giáo dục chủ yếu xuất phát từ nhà thờ Nhà thờ đưa ra nội dung, chương trình giảng dạy chủ yếu là để đào tạo mục sư, phục vụ cho giáo hội và nhà nước

Cuộc cải cách giáo dục đầu tiên bắt đầu từ những năm 1636-1740 ở các trường đại học như Harvard, William, Mary và Yale Mục đích là muốn giảm bớt quyền lực của Giáo đoàn, tăng thêm quyền lực từ bên ngoài, tức quyền lực dân sự và chính quyền liên bang để được hổ trợ tài chính và luật pháp Thời kỳ này thường xuyên diễn

ra các cuộc mẫu thuẫn của ba mối quan hệ trên Sự xuất hiện của một hiệu trưởng đại học có khá nhiều quyền hạn là sự bổ sung tự nhiên cho quyền lực phi giáo hội Chương trình giảng của các trường đại học trong thời kỳ có mục đích cung cấp cho sinh viên một nền giáo dục tự do Nhưng mục đích đào tạo của các trường đại học thời

kỳ vẫn chưa phải đào tạo nghề nghiệp chủ yếu vẫn là đào tạo mục sư Phần lớn “các sinh viên tốt nghiệp Harvard vào thế kỉ XVII đều trở thành mục sư” [77,54] Mối liên

hệ giữa trường đại học và đoàn mục sư dần dần trở nên mờ nhạt vào nữa sau thế kỉ XVIII Các trường đại học thời kỳ thuộc địa (1745-1775) Các trường đại học thời kỳ

này tiến hành cải cách để giảm bớt sự can thiệp của Giáo đoàn bằng việc “ năm 1746 với một hội đồng quản trị gồm 12 mục sư với 10 thường dân và viên thống đốc của

thuộc địa được mặc nhiên xem là một chủ tịch hội đồng” Tiêu biểu là trường New Jersey

Trang 25

Vào thời tiền cách mạng Hoa Kỳ, các trường đại học thuộc địa tuyển nhiều sinh viên hơn và nội dung giảng dạy theo kiểu ngày càng thế tục hơn Chương trình giảng dạy là một hỗn hợp rời rạc bao gồm các công trình nghiên cứu dựa trên cả thế giới quan cổ xưa lấy thần học làm trung tâm và các quan điểm mới mẻ được khai sáng Tinh thần khai sáng cũng bao gồm một phương pháp giảng dạy toàn diện hơn : như Tiếng La tinh và tiếng Hi Lạp vẫn là trọng tâm của chương trình giáo dục, nhưng tiếng

La tinh không còn là ngôn ngữ dùng để giảng dạy nữa Trong thập niên này, sinh viên cũng được tiếp nhận thu trình độ giảng dạy cao hơn vì việc giảng dạy ở bậc đại học trở thành một nghề nghiệp xác định, thu hút học giả lỗi thời

Cuộc cách mạng chống lại nước Anh (1775- 1783) là một tia lửa châm ngòi cho

tư tưởng chính trị ở các trường đại học Tư tưởng GDĐH trong thời kỳ này là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố tách biệt Thời kỳ này, GDDH được gọi là giáo dục thời cộng hòa- tuyên truyền tính vị tha, lòng yêu nước và đạo đức của các công dân và các nhà lãnh đạo của một nền cộng hòa mới Phương pháp khai sáng tiếp tục được tiến hành Sau khi giành được độc lập, các bang mới có chủ quyền tiến hành cung cấp nền giáo dục đại học cho công dân của họ Các bang không có trường đại học cho thành lập các trường đại học, nhưng vẫn còn khép kín Thời điểm này các trường đại học chủ yếu được các giáo phái tài trợ, chỉ có ít sinh viên và ít có ảnh hưởng Do cơ sở vật chất thời kỳ này còn nhiều hạn chế nên giáo dục đại học vẫn chưa thể phát triển Mặc dù số sinh viên theo học nhiều cùng với sự gia tăng của dân số, nhưng số trường đại học vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu Nguồn tài chính công dành cho các trường đại học bang

bị cắt dần, đẩy các trường đại học vào tình trạng vô cùng khó khăn Vào cuối thế kỉ XVII, không còn trường đại học nào hoạt động

Cuối thế kỉ XIX, GDĐH Hoa Kỳ bước vào thời kỳ thoái trào Nền giáo dục cộng hòa bị sụp đổ, tinh thần tôn giáo trổi dậy Nguyên nhân của nền giáo dục đại học cộng hòa thất bại là: thiếu giáo viên và nhu cầu học cao, tuyển sinh lỏng lẻo tạo điều kiện cho những sinh viên chưa đủ tuổi và thiếu trình độ vào học Sự pha trộn của không rõ ràng giữa chức năng công và sự kiểm soát tư nhân Những tranh cãi phát sinh

từ tình huống này, gây nhiều tranh cãi cho các trường đại học thời kỳ cách mạng Tiêu biểu là trường Dartmouth (1819) đã kiện lên tòa án và vụ việc này tạo điều kiện cho xu thế trường tư thắng thế về quyền sở hữu Đến giữa thế kỉ XIX, mô hình trường đại học

Trang 26

tư nhân thuộc giáo phái đã ra đời với tư cách là trường đại học đặc trưng của nền giáo dục Hoa Kỳ Thành công này đã mang lai sự hứng khởi mới cho giáo dục đại học Số lượng trường đại học và số sinh viên theo học tăng lên đáng kể

Sau cuộc nội chiến (1861- 1865), GDĐH được mở rộng thu hút các đối tượng khác ngoài nam sinh viên da trắng Hơn 40 trường đại học dành cho phụ nữ được cho phép cấp bằng đại học trước khi Matthew Vassar bạo dạn thành lập cho phụ nữ một

trường đại học theo đúng nghĩa.“ Học viện Ashmun (1854, đại học Lincoln) ở Pennsylvania và Viện đại học Wilberforce (1856) ở Ohio đã cung cấp nền giáo dục đại học cho những người Mỹ gốc Phi tự do” [77;59].Thời kỳ này, Đạo luật cấp đất

Morrill, tức các bang được cấp đất để xây dựng các trường đại học xác định rộng rãi tính chất của một nền giáo dục thực dụng mới Đạo luật này mang lại cho các trường đại học này nguồn quỹ trợ cấp trực tiếp hàng năm của liên bang, một hoàn cảnh thuận lợi có tính quyết định ở thời điểm mà các trường đại học đang đi vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất

Đầu thế kỉ XX, GDĐH có nhiều thay đổi, việc phụ nữ được phép đến trường ngày càng tăng, nhưng nạn phân biệt giữa trường dành cho phụ nữ và nam giới bị cho

là thấp kém hơn Tình hình này được thay đổi cùng với sự ra đời của chương trình giảng dạy chọn lọc và sự mở rộng các trường đại học làm cho hố sâu ngăn cách trình

độ giữa nam và nữ thu hẹp hơn rất nhiều Đến năm 1908, GDĐH Hoa Kỳ đã xác định được mô hình một viện đại học chuẩn kiểu Mỹ như có thêm một danh mục phong phú

về các lựa chọn mong muốn : các lớp mở rộng, khóa hàm thụ, nhà xuất bản trực thuộc

và các tạp chí nghiên cứu Các viện đại học lại trở thanh một lực tác động mạnh mẽ nhất để hình thành nên các tiêu chuẩn cho phần còn lại của nền GDĐH, chủ yếu là bằng cách xác định rõ kiến thức đại học và nghề giảng dạy đại học Năm 1905, quỹ Carnegie vì Sự tiến bộ của giảng dạy đã được thành lập và Hội đổng GDĐH đại cương

đã định hướng lại các hoạt động của nó” nhằm phát triển một hệ thống giáo dục đại học toàn diện ở Mỹ” [77;59] theo mô hình của Hiệp Hội các trường Đại học được cấp

đất (Land- Grant College Association) Các hiệp hội đã liên tiếp được thành lập trong thời kỳ này cũng thúc đẩy việc chuẩn hóa Hiệp hội Quốc gia các viện đại học Bang đã

xác định ý nghĩa của “ viện đại học chuẩn kiểu Mỹ”

Trang 27

Giữa hai cuộc chiến tranh thế giới I(1914-1918) và II (1939-1945), GDĐH Hoa

Kỳ có sự chuyển biến thay đổi về chất: đó là các mô hình giáo dục đại học tinh hoa sang giáo dục đại chúng Mô hình giáo dục tinh hoa được đặc trưng bởi các sinh viên học tập kiểu kiến thức vị kiến thức và định hướng đến là những ngành nghề có địa vị cao Ngược lại, các hình thức giáo dục đại học đại chúng lại phục vụ các sinh viên theo học bán thời gian và không nội trú, nó truyền thụ cho sinh viên những kiến thức ứng dụng và chuẩn bị cho sinh viên tìm những việc làm liên quan đến kỹ thuật hoặc mang tính bán chuyên nghiệp Sự tăng trưởng của khu vực đại chúng trong giáo dục đại học Hoa Kỳ thề hiện rõ nét ở các trường cao đẳng mới được thành lập, các trường đại học đào tạo giáo viên, và các viện đại học theo định hướng dịch vụ Việc này xuất phát từ mong muốn xác lập được một nền giáo dục tự do thực sự

Sau chiến tranh thế giới thứ II (sau 1945), GDĐH Hoa Kỳ có sự thay đổi bắt nguồn từ sự biến động của tình hình thế giới GDĐH phát triển đa dạng: mở rộng quy

mô đào tạo với sự chuẩn hóa về học thuật Mô hình tăng trưởng các trường đại học cũng hổ trợ cho xu hướng nhằm vào các môn khoa học xã hội và nhân văn và khoa học kỹ thuật Xu hướng này phát triển nhanh chóng chủ yếu nhờ vào sự hổ trợ của liên bang Tài trợ cho nghiên cứu của liên bang tăng mạnh Sự hào hiệp của của liên bang, cùng với sĩ số sinh viên nhập học phát triển nhanh và nguồn tài trợ của nhà nước, đã tạo nên thời hoàng kim ngắn ngũi của nền GDĐH Hoa Kỳ

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc (1989), mối quan hệ giữa giáo dục đại học với chính phủ liên bang đã thay đổi, chủ yếu là đầu tư cho nghiên cứu khoa học chứ không tài trợ cho việc xây dựng cơ sở vật chất Trong thập niên cuối cùng của thề kỉ XX, Giáo dục đại học Hoa Kỳ phải chịu những cơn lốc phê bình khác của công chúng do áp lực

về tài chính trong những năm 1990 Để giải quyết tình trạng khoá khăn về tài chính năm 1993, Tổng thống Bill Clinton cho phục hồi quỹ Pell, quỹ này nhận ngân sách từ chính phủ và các mạnh thường quân, với mục tiêu tài trợ cho sinh viên khó khăn, và đưa ra chương trình Học bổng hy vọng

1.1.2 Đặc điểm nổi bật của giáo dục đại học Hoa Kỳ

GDĐH của Hoa Kỳ thuộc quyền kiểm soát của 50 bang chứ không phải của chính phủ quốc gia Mặc dù Hoa Kỳ cũng có một cơ quan quản lý cấp liên bang được gọi là Department of Education đứng đầu là một quan chức cao cấp là bộ trưởng Hệ

Trang 28

thống đại học ở Hoa ký có ba loại : trường công lập, trường tư thục phi lợi nhuận và trường tư thục vì lợi nhuận Đa số các trường đại học công lập và tư thục đều là trường phi lợi nhuận Hệ thống các trường đại học tư thục phi lợi nhuận của Hoa Kỳ với khoảng 20-25 trường đại học lớn, trong đó có những trường danh tiếng như Harvard, Standford, Princeton, MIT, Yale, Cornell… [63;59] Các trường công lập ở Hoa Kỳ đều phụ thuộc bang quản lý, chứ không phụ thuộc chính phủ liên bang Cách quản lý của các bang nói chung không hoàn toàn giống nhau về mặt hình thức, nhưng nội dung

cơ bản là như nhau

Mỗi bang có một ban giáo dục làm tư vấn cho thống đốc bang Họ có vai trò tổ chức điều phối nhiều hơn quản lý Họ đưa ra chính sách các chính sách chung, các gợi

ý, các chương trình khuyến khích và phân phối ngân sách giáo dục cho các trường, nhưng không can thiệp vào các vấn đề nội bộ Khoảng 30- 40 % ngân sách của trường công lập do bang cấp, phần còn lại do thu học phí của sinh viên và từ các khoản khác như đầu tư tài chính, kinh doanh, các khoản thu từ bán các công trình nghiên cứu khoa học từ các trung tâm nghiên cứu của trường Các trường tư thục phi lợi nhuận nói chung không được bang cấp tiền trực tiếp, nhưng họ vẫn nhận được sự tài trợ của bang và của chính phủ liên bang thông qua việc cấp học bổng và các khoản tín dụng cho sinh viên, thông qua các quỹ nghiên cứu và giáo dục Ngân sách của trường tư thục chủ yếu là từ học phí và từ việc đóng góp từ thiện của các cựu sinh viên của trường và các nhà hảo tâm

Trường công được xem là một tổ chức chính phủ nên các luật lệ liên quan đền các tổ chức chính phủ được áp dụng cho trường công.Chẳng hạn như các luật về công khai giấy tờ, theo mọi công dân đều có quyền yêu cầu trường cung cấp tất cả các giấy

tờ thuộc về quản lý công.Trường công lập thường thu học phí của sinh viên ở bang mình ít hơn so với sinh viên ngoài bang Còn trường tư thục thì thu học phí của tất cả sinh viên như nhau Vì không được chính quyền bang trợ trực tiếp nên các trường tư thục phải bù vào chỗ thiếu bằng cách thu học phí của sinh viên cao hơn Thông thường, học phí của trường tư thục cao gấp hai hoặc gấp 3 lần so với trường công lập Các trường công lập ở Hoa Kỳ không được tự do cấp học bổng cho sinh viên nước ngoài như các trường tư thục vì họ sử dụng tiến thuế của dân

Trang 29

Mặc dù các trường tư thục với học phí tương đối cao, nhưng chính sách dành cho nhiều đối tượng khác nhau Đại học Harvard hiện giảng dạy miễn phí cho nhưng sinh viên mà thu nhập gia đình ít hơn 40.000 USD/năm, và giảm học phí đánh kể cho các sinh viên đến từ các gia đình có thu nhập vào khoảng 40 đến 60 ngàn USD/năm Các trường đại học hàng đầu khác cũng có chính sách ưu tiên cho các vận động viên, những ngừời nộp đơn sớm và con cái của các cựu sinh viên của trường

Mô hình giáo dục Đại học Hoa Kỳ có nhiều thế mạnh Một trong những thế mạnh đó

là :

1 Nghiên cứu cơ bản và thực hiện đào tạo gắn với nhu cầu xã hội

2 Đây là quốc gia có nhiều chủng tộc người đến từ nhiều vùng khác nhau, đó vừa

là thách thức lại vừa là ưu điểm của của giáo dục Đại học ở Hoa Kỳ Văn hóa đa chủng tộc khi tồn tại ở nơi xa lạ, hoàn toàn mới mẻ tạo nên môi trường mà sau này các trường đại học nghiên cứu có thể tiếp nhận tư duy mới, tư tưởng mới, có kinh nghiệm trong việc hòa hợp các dân tộc khác nhau vào sự phát triển của quốc gia để phát triển nội lực quốc gia mình

Nét độc đáo này chính là nguyên nhân làm cho GDĐH Hoa Kỳ có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục Một trong những nhân tố tạo nên

đòn bẩy và tạo ra “ giá trị giáo dục” Đại học Hoa Kỳ chính là “tính tự trị” trong việc

quản lý giáo dục của các bang Chính phủ liên bang chỉ quyết định nội dung chương trình và “ thả “ quyền tự chủ cho các bang và các trường

Suốt quá trình hình thành và xây dựng hệ thống giáo dục đại học Hoa Kỳ từ thời kỳ thuộc địa cho đến bây giờ, chính là quá trình vận động, thay đổi về triết lý giáo dục và cuộc đổi mới từ giáo dục mang nặng tư tưởng “ nhà thờ” đến “ khoa học” Đó

là một cuộc đấu tranh dài và trải qua nhiều cuộc khủng hoảng sâu sắc để tạo nên có mình những đặc trưng riêng, góp phần phát triển đất nước và mang đến xu thế mới cho nền giáo dục đại học các nước đang phát triển học hỏi Những đặc điểm đó là :

-Tính đa dạng : có nhiều loại trường đại học với nhưng mục tiêu khác nhau,

tuyển sinh viên có những mối quan tâm và năng lực học thuật khác xa nhau, phục vụ những mục tiêu khác nhau của xã hội

Trang 30

- Tuyển sinh mở : bất kỳ người nào muốn theo học một trường sau trung học

đều có thể được chấp nhân Một số trường mang tính chọn lọc cao, nhưng tất cả mọi người có bằng tốt nghiệp phổ thông đều có thể nhận vào họcở một trường nào đó

- Quyền tự do học thuật : giáo chức và sinh viên đều có quyền tự do về học

thuật, để theo đuổi những nghiên cứu , nêu lên những vấn đề học thuật và về xã hội

- Nền giáo dục hướng vào sinh viên: hầu hết các trường đại học ở Hoa Kỳ đều

tập trung vào sinh viên Họ quan tâm, nhấn mạnh đến giảng dạy nhiều hơn là nghiên cứu Chỉ có một tỷ lệ nhỏ các trường đại học có uy tín nhất là hoàn toàn theo định hướng nghiên cứu

Tất cả những điều trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục đại học Hoa Kỳ phát triển Điều này cũng tạo nên nét riêng, độc đáo của giáo dục đại học Hoa Kỳ, cái

được gọi là “giá trị Mỹ”

1.2 Giáo dục Đại học Việt Nam

Giáo dục Đại học Việt Nam hình thành khá sớm, bắt đầu từ thế kỉ XI, giáo dục đại học Việt Nam đã từng trải những bước thăng trầm, những đổi thay gắn liền với những bước chuyển trong các giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc

1.2.1 Thời kỳ phong kiến (1076 - 1885)

GDĐH Việt Nam trong thời kỳ phong kiến chủ yếu là nền giáo dục Nho học

Bên cạnh giáo dục Nho học có sự tồn tại các loại hình giáo dục của Phật giáo và Đạo giáo Tuy có sự khác biệt song các loại hình giáo dục trên không có sự bài trừ lẫn nhau Đặc biệt, Tam giáo thịnh vượng nhất là dưới thời Lý – Trần, triều đình nhiều lần đứng ra tổ chức kỳ thi Tam giáo bao gồm cả 3 nội dung Nho – Phật - Đạo Tuy nhiên, các triều đại phong kiến nối tiếp nhau luôn lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống Nền giáo dục Nho học nhờ đó được bảo vệ, duy trì và củng cố, dần trở thành hệ thống giáo dục chính thống và bao trùm trong suốt thời kỳ phong kiến

Năm 1076, được coi là điểm mốc đánh dấu sự ra đời của hệ thống giáo dục Nho học, với việc nhà Lý khởi lập Quốc Tử Giám- trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Ban đầu, Quốc Tử Giám tổ chức giảng dạy cho con em trong Hoàng tộc Đến năm

1253, đổi thành Quốc Tử Viện, giảng dạy cho cả con em thường dân học giỏi ở các

Trang 31

tỉnh, huyện Hệ thống giáo dục Nho giáo bắt đầu mở rộng ra ở các địa phương với đối tượng rộng rãi hơn trong các tầng lớp nhân dân

Hệ thống giáo dục Nho học, trên cơ sở lấy kinh điển Nho giáo làm nội dung giảng dạy Thực chất, khoa cử chỉ là một trong những loại hình đánh giá, gắn liền với việc phân biệt thứ hạng cao thấp thông qua hệ thống văn bằng, cấp bậc Trong hệ thống khoa cử Nho học tương đương với 3 cấp thi hương, thi hội, thi đình thì có 3 loại bằng cấp Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài Tuy nhiên, trong mỗi cấp lại phân ra thành các bậc cao thấp, đỗ cao nhất trong Thi Tiến sĩ thì gọi là Trạng nguyên, thứ đến là Bảng nhãn, Thám hoa v.v…

Giáo dục phong kiến đặc biệt đề cao khoa cử vì đây là biện pháp quan trọng bậc nhất để phát hiện và tuyển chọn hiền tài ra làm quan cai trị giúp vua giúp nước

Thế kỷ XIX, triều Nguyễn rất mực chú tâm phát triển giáo dục - khoa cử Năm

1822, sau khi lên nối ngôi, vua Minh Mệnh có lời dụ về việc khoa cử như sau: “Khoa thi Hội này là khoa thi đầu tiên, là điển lễ quan trọng, các ngươi nên nhất mực công bằng, đừng phụ lời khuyên của trẫm” [22;173]

Tuy nhiên, thái độ đề cao khoa cử qúa mức đã làm cho nền giáo dục phong kiến bộc lộ nhiều hạn chế Những hoạt động đóng góp về tư tưởng – học thuật không được

chú ý tới, thay vào đó là “thói háo danh, hữu danh vô thực.” Khoa cử trở thành những

nấc thang tiến thân của giới trí thức với nhiều tệ nạn sách vở, hư danh, xa rời thực tiễn giáo dục Có thể coi đây là một trong những hạn chế có tính cố hữu của hệ thống giáo dục Nho học tồn tại dai dẳng ở nước ta trong suốt thời kỳ Phong Kiến

1.2.2 Thời kỳ thuộc Pháp (1885 – 1945)

Nếu như Quốc Tử Giám thành lập từ 1076 dưới thời Vua Lý Thánh Tông được coi là trường đại học đầu tiên của Việt nam ở thời kỳ phong kiến trên nền tảng của nền giáo dục Nho học gắn với quá trình tồn tại hàng ngàn năm của nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở Việt Nam thì việc ra đời Đại học Đông Dương theo Nghị định của Toàn quyền Pôn Bô ký ngày 16-5-1906 được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam (và của cả khu vực Đông dương) ở thời kỳ cận đại, trong giai đoạn nước ta nằm dưới ách thuộc địa của thực dân Pháp Đây là trường đại học đầu tiên của Việt Nam theo mô hình hiện đại của Pháp

Trang 32

Mô hình Châu Âu với nhiều chuyên ngành đào tạo về khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội-nhân văn, luật, y- dược Về mặt trình độ và mô hình phát triển, đây được xem là thời kỳ đầu của nền văn minh công nghiệp ở Việt Nam với quá trình xây dựng và phát triển các cơ sở khai thác thuộc địa và công nghiệp chế biến trong khuôn khổ chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam Tuy Trường Đại học Đông Dương được thành lập nhằm đào tạo một tầng lớp trí thức mới (Tây học) phục vụ mục tiêu thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp nhưng về mặt phát triển thì đây là một bước ngoặt trong quá trình phát triển của mô hình giáo dục đại học Việt Nam Sự kiện này đánh dấu sự cáo chung của nền giáo dục Nho học với việc bãi bỏ các kỳ thi Hội và thi Đình vào đầu năm 1919 khi Vua Khải định ký chỉ

dụ bãi bỏ tất cả các trường chữ Hán cùng với hệ thống quản lý từ Triều đình đến cơ sở

Sự kiện trên mở đường cho việc hoàn thiện hệ thống giáo dục Pháp-Việt nói chung và hình thành một mô hình giáo dục đại học mới tiếp cận được với các thành tựu khoa học và công nghệ của nền văn minh công nghiệp Phương Tây thời bây giờ Trong mô hình này, nội dung và phương pháp đào tạo đã được thay đổi căn bản Ngoài các chuyên ngành về Văn chương, Luật cũng còn có các chuyên ngành đào tạo theo các ngành khoa học-công nghệ hiện đại ở các trường cao đẳng khoa học, y học; công chính v.v

Nghị định về thành lập Trường Đại học Đông Dương, điều 1 ghi rõ: “Trường đại học Đông Dương bao gồm một số trường cao đẳng cho sinh viên thuộc địa và các

xứ lân cận Trường sẽ dùng Tiếng Pháp để phổ biến những kiến thức khoa học và

phương pháp nghiên cứu của người châu Âu” [165] Đây là vấn đề có ý nghĩa và giá

trị lịch sử rất quan trọng trong mô hình phát triển giáo dục đại học với việc chuyên từ

mô hình tổ chức hệ thống theo khoa cử, không có quy trình đào tạo chặt chẽ với phương pháp chủ yếu là thuyết giảng, nặng về văn sách sang mô hình tổ chức giáo dục đại học hiện đại (mô hình châu Âu ) có mục tiêu, tổ chức và quy trình đào tạo chặt chẽ

với các lĩnh vực văn chương, khoa học và kỹ thuật.v.v và lấy “phổ biến kiến thức

khoa học kết hợp chặt chẽ với phương pháp nghiên cưú ” Tuy nhiên, do không được

chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về tổ chức quản lý, cơ sở vật chất, giáo viên, nội dung, chương trình giảng dạy đặc biệt là trình độ học sinh quá thấp và nguồn tuyển chọn

Trang 33

khan hiếm do hệ thống giáo dục trung học chưa phát triển nên chỉ sau một năm trường

đại học Đông Dương phải ngừng hoạt động

Phải đến khi Toàn quyền Arbert Pierre Sarraut ký Nghị định ban hành Bộ “Học chính tổng quy” vào ngày 21-12-1917 thì hệ thống giáo dục ở Việt nam theo mô hình Pháp mới được thành hình đầy đủ ở tất cả các bậc học của hệ thống giáo dục Mô hình giáo dục đại học được củng cố tiếp tục phát triển từng bước với việc ra đời của Viện Đại học Đông dương trên cơ sở cải tổ lại các trường hiện có và thành lập thêm một số trường mới như cao đẳng Luật và Pháp chính, Sư phạm, Công chính, Thương mại; Nông nghiệp… Tuy về hình thức là đào tạo ở bậc cao đẳng nhưng do hạn chế về trình

độ sinh viên, thời gian học ngắn, chương trình đào tạo chưa hoàn chỉnh v.v nên tuy sinh viên tốt nghiệp cao đẳng nhưng trình độ thực chất chỉ là trung cấp

Giáo dục cao đẳng, đại học ở Việt Nam chỉ có bước phát triển mới về trình độ đào tạo và loại hình từ năm 1941 khi Nhà cầm quyền Pháp tái lập trường cao đẳng Thú y; thành lập trường cao đẳng khoa học để đào tạo sinh viên lấy các chứng chỉ cử nhân khoa học như trường Đại học khoa học ở Pháp và nâng cấp các trường cao đẳng thành các trường đại học Y dược, đại học Luật khoa Đông Dương v.v So sánh dân số nước

ta năm 1942, cứ 1 triệu người thì có 38 người theo học bậc đại học và cao đẳng là một

tỷ lệ học vấn thấp

Có thể nói sau gần 40 năm phát triển (1906-1945) nền giáo dục đại học Việt nam dưới thời Pháp thuộc tuy quy mô còn nhỏ bé do chính sách thực dân chủ trương ” Phát triển giáo dục theo chiều ngang” nhưng đã định hình khá đồng bộ các loại hình đào tạo chuyên gia ở bậc Đại học (chủ yếu là cao đẳng) trong khuôn khổ của mô hình đại học đa ngành là Trường Đại học Đông Dương hay Viện đại học Đông Dương Mô hình trường Đại học Đông dương đã có sự liên kết bước đầu trong tổ chức giáo dục đại học tuy còn lỏng lẻo và có sự khác biệt lớn của các trường chuyên ngành Mặc dầu có những hạn chế về mục đích, nội dung đào tạo nhưng mô hình Đại học Đông dương đã tạo ra được một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển của giáo dục đại học Việt nam Nhiền sinh viên của đại học Đông Dương đó trở thành những người tri thức dân tộc, yêu nước góp phần tích cực và sự nghiệp kháng chiến-kiến quốc và xây dựng nền giáo dục Đại học của nước Việt Nam mới sau cách mạng tháng 8 năm 1945

Trang 34

1.2.3 Thời kỳ 1945 -1975

1.2.3.1.Giai đoạn (1945 – 1954)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc Cách mạng Tháng 8 – 1945 thành công, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Ngay sau khi lên nắm chính quyền, Nhà nước các mạng phải tiếp quản di sản nền giáo dục đô hộ sau hơn 80 năm thuộc Pháp với nhiều khó khăn chống chất: Ngân khố trống rỗng, sự khác biệt trong chế độ giáo dục, hệ thống giáo dục giữa các vùng miền; đại bộ phận dân chúng thất học với hơn 95% dân số mù chữ…

Để khắc phục hậu quả nêu trên, trong sắc lệnh số 146/SL ngày 10-8-1946, Chủ tịch Hồ Chớ Minh khẳng định: xây dựng nền giáo dục mới, nền giáo dục cách mạng với 3 nguyên tắc căn bản đó là: Đại chúng – Dân tộc - Khoa học Đồng thời, hệ thống giáo dục mới được cơ cấu lại gồm 3 cấp học: bậc học cơ bản; bậc học tổng quát và chuyên nghiệp và bậc đại học

Cách mạng tháng 8-1945 thành công mở ra một trang sử mới trong qúa trình phát triển của nền giáo dục cách mạng Việt nam thời hiện đại Ngay từ khi nước Việt

Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời, ngày 22-9-1945 với tư tưởng “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu “ và kế thừa những giá trị tiến bộ chung của nhân loại, Hồ Chủ Tịch

đã đề nghị với Hội đồng Chính phủ cho mở cửa lại các trường đại học hiện có (không xoá bỏ để xây mới hoàn toàn) Lễ khai giảng vào ngày 15-11-1945 tại Hội trường 19

Lê thánh Tông của Trường Đại học Quốc gia Việt nam – Trường đại học đầu tiên của nền giáo dục đại học cách mạng Việt nam đã đánh dấu sự mở đầu của một kỷ nguyên giáo dục đại học dân tộc, hiện đại của nước Việt nam độc lập Khoá đào tạo đầu tiên của Trường Đại học Quốc gia Việt nam bao gồm 5 ban: Y khoa, Khoa học, Mỹ thuật, Văn khoa và Chính trị xã hội trong đó các Ban Y khoa, Khoa học, Mỹ thuật về cơ bản

kế thừa mô hình đào tạo đa lĩnh vực của trường Đại học Đông dương với những cải tổ lại cho phù hợp với sự phát triển của các lĩnh vực khoa học và công nghệ thế giới Các Ban Chính trị xã hội và Ban Văn khoa được thành lập mới nhằm đào tạo đội ngũ tri thức phục vụ sự nghiệp phát triển của chế độ mới có khả năng giảng dạy và nghiên cứu một số chuyên ngành như Pháp luật, Chính trị, Hành chính, Triết học, Văn học, Lịch sử v.v Đặc biệt tham gia giảng dạy tại Trường đại học Quốc gia Việt nam có một số giáo sư, nhân sĩ, trí thức nổi tiếng của Đại học Đông Dương và một số cơ sở

Trang 35

đào tạo, khoa học cũ như Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, GS Nguỵ Như Kontum; Luật

sư Vũ Đình Hòe; các học giả Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, GS.Tôn Thất Tùng.v.v Tham gia giảng dạy còn có các nhà cách mạng, trí thức tên tuổi như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng v.v Thành phần giáo chức của Trường Đại học Quốc gia Việt nam thể hiện rực rỡ chính sách đại đoàn kết dân tộc, trọng dụng trí thức và người hiền tài không phân biệt nguồn gốc và thành phần xuất thân của Đảng và Nhà nước Việt nam Dân chủ Công hoà còn non trẻ do Hồ Chủ Tịch đứng đầu để cùng nhau xây dựng nền giáo dục đại học Việt Nam tiến bộ và hiện đại

Ngày 19-12-1946 cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, đặt ra cho giáo dục nước ta những nhiệm vụ mới: trong đó vừa phục vụ kháng chiến vừa góp phần vào công cuộc kiến quốc Kháng chiến toàn quốc bùng nổ đó làm gián đoạn sự phát triển của mô hình đào tạo đa lĩnh vực của Đại học quốc gia Việt nam trong quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp Các cơ sở đào tạo theo các lĩnh vực Y khoa, Khoa học,

Mỹ thuật v v được sơ tán chuyển về các vùng tự do, khu căn cứ địa cách mạng để tiếp tục đào tạo đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học có trình độ cao phục vụ sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp Các cơ sở đào tạo Đại học, Cao đẳng thời kháng chiến đó thực sự trở thành những cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật phục vụ công cuộc kháng chiến và các nhà khoa học, tri thức lớn cho các trường đại học sau này như đại học Sư phạm, đại học Y-Dược, đại học Bách khoa Hà nội v.v Trong thời kỳ đầu (1946-1950), ngoài các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng đó có như trường ĐH Y; các trường Nông lâm, Công chính, Mỹ Thuật, Thú y v.v đã mở thêm 2 trường sư phạm cao cấp Văn, Sử, Địa và lớp dự bị đại học ở Thanh hóa; trường Khoa học cơ bản và Sư phạm cao cấp ở Khu học xá Nam Ninh-Trung quốc Từ 1953

đã hoàn toàn dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ ở bậc đại học

Song song với việc tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, nhận thấy nhu cầu cần phải chuyển đổi cơ cấu hệ thống giáo dục để phù hợp hoàn cảnh kháng chiến, tháng 5 năm 1950, Trung Ương Đảng và Chính phủ đã quyết định thông qua đề án tiến hành cải cách giáo dục lần thứ nhất Mục tiêu của cuộc cải cách giáo dục năm 1950 là nhằm chuyển đổi cơ cấu hệ thống giáo dục, để phù hợp với điều kiện của cuộc kháng chiến

Trang 36

1.2.3.2 Giai đoạn (1954 – 1975)

Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, đứng trước nhu cầu thống nhất hệ thống giáo dục, tháng 3-1956, Đại hội giáo dục phổ thông toàn miền Bắc đã họp và thông qua đề án lập hệ thống giáo dục phổ thông mới 10 năm Ngày 27-8-1956, Nghị định về hệ thống giáo dục mới hệ 10 năm đã được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Trong bậc đại học hình thành hệ thống các trường đại học và cao đẳng theo mô hình Liên Xô (cũ) bao gồm các trường đại học Tổng hợp, các trường đại học chuyên ngành như Bách khoa, Y-Dược, Sư phạm, Nông-Lâm v.v

Ở Miền Nam hình thành hệ thống giáo dục đại học theo mô hình Mỹ với Viện đại học Sài gòn (1955); Viện đại học Huế (1957); Viện Đại học Cần thơ (1966) bao gồm nhiều cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng và một số Viện đại học cộng đồng ở Nha Trang, Mỹ Tho, Đà Nẵng v.v

1.2.3.3 Giai đoạn 1975 – 1986

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tháng 11-1-1979, Bộ chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thông qua Nghị quyết 14 về vấn đề cải cách giáo dục, xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân mới thống nhất trong cả nước Cuộc cải cách giáo dục năm 1979, đã hoàn chỉnh hệ thống giáo dục bao gồm đầy đủ các bậc học: tiền học đường, tiểu học, trung học, đại học và sau đại học

Như vậy, trong khoảng thời gian 10 năm, vừa phải tiến hành hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa triển khai xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, nhưng Đảng và Nhà nước vẫn có những chỉ đạo kịp thời, tiến hành những điều chỉnh, cải cách cần thiết để dần hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân

1.2.3.4 Từ 1986 đến nay

Sau 10 năm đất nước hoàn toàn thống nhất, vấn đề xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội đất nước trở thành một trong những mục tiêu hàng đầu Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đất nước cũng gặp nhiều khó khăn, khủng hoảng kinh tế do cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp cũ không phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước Công cuộc đổi mới năm 1986 do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đưa nền kinh

tế -xã hội nước ta nói chung và nền giáo dục cách mạng nói riêng bước sang giai đoạn phát triển mới Năm 1986, Đảng ta có chỉ đạo đối với ngành giáo dục và đào tạo thực

hiện những bước đổi mới quan trọng trong hệ thống giáo dục

Trang 37

Từ sau công cuộc đối mới năm 1986, hệ thống giáo dục quốc dân nói chung

và hệ thống giáo dục đại học nói riêng đã có những thay đổi đáng kể về cơ cấu bậc học

và các loại hình đào tạo Hệ thống giáo dục quốc dân đã từng bước được hoàn thiện và thống nhất trên phạm vi toàn quốc Sự phát triển của hệ thống giáo dục đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta tiến hành hợp tác quốc tế để phát triển giáo dục nước nhà

Công cuộc Đổi mới, đem lại một diện mạo mới cho hệ thống giáo dục theo hướng hiện

đại hoá, chuẩn hoá, dân chủ hoá và đa dạng hoá Cùng với quá trình đổi mới đất nước

kể từ 1986, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam hiện nay đã có bước phát triển mạnh

mẽ với khoảng 520.000 giảng viên, 1.457.000 sinh viên đang giảng dạy và học tập ở trên 350 trường cao đẳng, đại học

Tuy nhiên, sang thế kỉ XXI, giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn chậm đổi mới

và đang ở tình trạng yếu kém Các hội nghi giáo dục đại học trong thời gian gần đây và một số báo cáo khảo sát chương trình đào tạo đã đưa ra các nghiên cứu, đánh giá về hạn chế của giáo dục đại học của nước ta như : chất lượng đào tạo thấp, kĩ năng thực hành nghề nghiệp, khả năng tự nghiên cứu, trình độ ngoại ngữ và tin học chưa tốt, thiếu kĩ năng làm việc theo nhóm Điều này đã được phản ánh qua Nghị quyết

14/2005/NQ-CP của chính phủ đã chỉ rõ “ những thành tựu của giáo đại học chưa vững vàng, chưa mang tính hệ thống và cơ bản, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu học tập của nhân dân và yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới…Những yếu kém bất cập về cơ chế quản

lý, quy trình đào tạo, phương pháp dạy học, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo

dục, hiệu quả sử dụng nguồn lực… cần sớm được khắc phục [4; 2]

1.3 Tổng quan về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam

1.3.1 Những cơ hội bị bỏ lỡ trước 1954

Thế kỉ XIX, Hoa Kỳ và Việt Nam đã có nhiều cơ hội để thiết lập mối quan hệ hữu nghị, hợp tác, song tất cả đều không thành công Sang thế kỉ XX, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ dường như chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh tế, mà chủ yếu là quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ với chính Phủ Đông Dương Từ những năm 1925- 1929 hàng nhập khẩu của Đông Dương chỉ chiếm 2,6 % tổng số hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ, từ năm 1935 đến 1939 cũng chỉ tăng lên 6,6 % Một sự kiện quan trọng trong quan hệ

Trang 38

buôn bán giữa Hoa Kỳ với Đông Dương thuộc Pháp là việc khánh thành đường hàng hải trực tiếp Sài Gòn- San Francisco vào cuối những năm 20

Về phía Việt Nam, quan hệ với Hoa Kỳ chỉ thông qua cảm tình của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Hoa Kỳ Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã đến Hoa

Kỳ, sống, học tập và làm việc; rồi sau đó trở lại Hoa Kỳ vào năm 1915 Trong thời gian này, Người đã hiểu biết bước đầu về lịch sử nước Hoa Kỳ Đó là một nước vĩ đại với bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng 1776 và những con người vĩ đại như Washington, Jefferson và Lincoln mà Người rất ngưỡng mộ Chính trong quá trình đó, Nguyễn Ái Quốc đã có sự phân biệt rõ rệt giữa một nước Hoa Kỳ cách mạng với nhân dân lao động tiến bộ với nước Hoa Kỳ là một đế quốc Cảm tình này, đã làm giúp cho Người có cái nhìn thiện chí hơn về nước Hoa Kỳ

Trong suốt cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 (1939- 1945), quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ có những cơ hội cho việc thiết lập mối quan hệ tốt đẹp thông qua đại diện của Việt Nam là chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp đỡ quân đồng minh Hoa Kỳ trong cuộc đấu tranh chông kẻ thù chung : Phát xít Nhật Trong hai năm 1944-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm cách đặt quan hệ với lực lượng Hoa Kỳ tại Trung Quốc, tìm kiếm sự ủng

hộ của Hoa Kỳ trong công cuộc kháng Nhật, giải phóng dân tộc Đến khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), một số quan chức tình báo Hoa Kỳ ở Trung Quốc mới được lệnh bắt liên lạc với Việt Minh [29;11]

“ Ngày 16-7-1945, toàn tình báo chiến lược OSS (Office of Strategic Services) Hoa Kỳ mang tên con Nai (The Deer Team) do thiếu tá Allison K Thomas chỉ huy đã nhảy dù xuống vùng căn cứ của Việt Minh để tiến hành hợp tác chống Nhật giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.” [102;15]

Việt Nam đã cung cấp cho Hoa Kỳ rất nhiều tin tức tình báo có giá trị ; còn phía Hoa

Kỳ đã giúp Việt Nam một số vũ khí, thuốc men, điện đài, nhân viên kỹ thuật giúp huấn luyện sử dụng thiết bị thông tin liên lạc.vv Trong đó, đáng chú ý nhất là việc hình

thành “Bộ đội Việt – Mỹ “ với quân số khoảng 200 người Tuy thời gian tồn tại rất

ngắn khoảng 30 ngày, nhưng cho thấy khả năng hợp tác và cơ hội cho việc thiết lập quan hệ đã nhen nhóm

Trang 39

Cách mạng tháng Tám thành công(8-1945), sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với bản tuyên ngôn độc lập ngày 2-9- 1945 tại quãng trường Ba Đình Trong bản tuyên ngôn độc lập đó, điểm đáng chú ý đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã trích dẫn Tuyên Ngôn độc lập Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Pháp (1789) Việc làm này cho thấy cảm tình mà chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Hoa Kỳ về tư tưởng “tự do” và “ bình đẳng ” mà Người mong muốn được xây dựng ở đất nước mình

Sau chiến tranh thế giới 2, cục diện thế giới thay đổi, thế giới bị phân chia thành hai cực Hoa Kỳ - Liên Xô Trong đó, Hoa Kỳ nổi lên là một nước có vai trò chi phối các nước tư bản Nhận thấy điều đó, Đảng và chính phủ Việt Nam đã triệt để tranh thủ

sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với các nước tư bản khác trong việc công nhận ngoại giao với Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã liên tiếp 8 lần gửi thông điệp, thư, điện cho Tổng Thống, ngoại trưởng và chính phủ Hoa Kỳ tha thiết đề nghị Hoa Kỳ công nhận nền độc lập của Việt Nam và ngăn chặn cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở

Đông Dương Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng nhân dân Việt Nam “ quan tâm sâu sắc đến các vấn đề của nước Mỹ và tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ” [36;80] và “ mục tiêu chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ” [36;117] Đây là cơ hội đặc biệt để mở ra quan hệ của hai nước

nhưng không được chấp thuận từ phía Hoa Kỳ

1.3.2 Đối đầu căng thẳng ( 1954- 1975)

Thế giới phân chia thành hai cực kể từ sau hội nghị Yanlta (1945) cùng với cuộc chiến tranh lạnh (1947- 1989) đã tác động sâu sắc tình hình chính trị thế giới với hai hệ tư tưởng chính trị đối lập nhau : hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa và Tư bản Chủ Nghĩa Vì thế mà chính quyền Hoa Kỳ mà đứng đầu là tổng thống Harry S Truman (1945-1953) có thái độ khác hẳn với chính quyền của Rooservelt trong quan hệ Việt Nam Ông đã không quan tâm đền những đề nghị của Việt Nam mà nghiêm trọng hơn

là chuyển sang ủng hộ Pháp tái xâm lược Việt Nam

Sau khi Pháp rút quân khỏi Việt Nam, Hoa Kỳ đã “ tạo ra” một cuộc chiến tranh mới ở Việt Nam và Đông Dương với quy mô lớn và mức độ ác liệt hơn Đó là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Hoa Kỳ, do chính Hoa Kỳ phát động chống Việt Nam Cuộc chiến tranh kéo dài 21 năm (1954- 1975), quan hệ Hoa Kỳ Việt

Trang 40

Nam trong thời kỳ này là đối đầu giữa những người đi xâm lược và chống lại kẻ xâm lược

1.3.3 Những chuyển biến trong quan hệ của hai nước (1975- 1991)

Ngày 30-4- 1975, đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, độc lập và đi lên xây dựng đất nước Tuy nhiên quan hệ Hoa Kỳ- Việt Nam trở nên căng thẳng và đánh mất cơ hội hợp tác với nhau bằng việc: Hoa Kỳ đẩy mạnh các hoạt động bao vây, cô lập Việt Nam với chính sách cấm vận Chính sách này thể hiện rõ qua các chính sách của các tổng thống như Gerald Ford (1974-1977) Trong thời gian tại chức của mình, ông đã ba lần dùng quyền phủ quyết để ngăn không cho Việt Nam gia nhập vào Liên Hiệp Quốc

Đến khi tổng thống Jimmy Carter lên cầm quyền (1977- 1981), Hoa Kỳ có để ngỏ khả năng cải thiện quan hệ với Việt Nam, với tư cách là tổng thống đầu tiên sau chiến tranh Việt Nam Ông đã thông qua trung gian là Liên Xô gửi đến chính phủ Việt Nam bản lộ trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Từ đây quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ có những bước chuyển biến đáng kể, song vẫn còn rất nhiều những thách thức Tháng 3- 1977, Hoa Kỳ đã cử một phái đoàn quan trọng do Thượng sĩ Leonard Woodcock lần đầu sang thăm Việt Nam trong năm 1977 hai bên đã tiến hành 3 vòng đàm phán tại Paris và một vòng đàm phán tại New York để bình thường hóa quan hệ

Để tỏ rõ thiện chí, tổng thống Jimmy Carter đã ủng hộ Việt Nam gia nhập và Liên Hợp Quốc Trên cơ sở này, Hoa Kỳ đã đề nghị nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Về phía Việt Nam, yêu cầu phía Hoa Kỳ phải giữ lời hứa, cung cấp viện trợ để tái thiết Việt Nam Đây là điều đã đặt ra từ Hiệp định Paris (1973) Sau đó, Việt Nam mới có thể đáp ứng trong việc hợp tác tìm kiếm ngừời Mỹ mất tích và tiến đến bình thường hóa quan hệ hai nước [102;26] Điều này đã gây trở ngại trong tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước Về phía mình, quốc hội Hoa

Kỳ nhanh chóng sửa đạo luật về viện trợ nước ngoài do các nghị sĩ Cộng Hòa bảo trợ

đã được Quốc Hội thông qua về việc ngăn cản việc bồi thường, viện trợ cho Việt Nam Tháng 6- 1977, Hạ viện Hoa Kỳ lại thông qua với một sửa đổi khác với đạo luật viện trợ nước ngoài, chính thức bác bỏ lời hứa của Nixon viện trợ 3,25 tỷ USD cho Việt Nam [102;27]

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
131. Tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ , Châu Mỹ ngày nay, số 07-2013 132. Văn Việt (1996),“ Một năm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ: Nhìn lui và nhìn tới”, Tuần báo quốc tế, số 28 ( 10-16/7/1996).II.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một năm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ: Nhìn lui và nhìn tới
Tác giả: Văn Việt
Nhà XB: Tuần báo quốc tế
Năm: 1996
133. Eugene R. Wittkopf, Christopher M. Jones, CharlesW. Kegley, Jr (2008): American Foreign Policy: Patter and Process, Thomson Higher Eduction, Belmont, Californa Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Foreign Policy: Pattern and Process
Tác giả: Eugene R. Wittkopf, Christopher M. Jones, Charles W. Kegley, Jr
Nhà XB: Thomson Higher Education
Năm: 2008
134. Elizabeth M. Robbins, B.A.(2013), " Prom Enemies to Friends : The Improvemnet of U.S - Vietnam Realations Thruogh Educational Exchanges, 1992-2013, Georgetown University, Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prom Enemies to Friends : The Improvemnet of U.S - Vietnam Realations Thruogh Educational Exchanges, 1992-2013
Tác giả: Elizabeth M. Robbins, B.A
Nhà XB: Georgetown University
Năm: 2013
137. Fraser Cameron (2005), U. S Foreign Policy after the Cold War, Global Hegemon or Reluctant Sherift? Routledge Taylor& Francis Group, New York, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: U. S Foreign Policy after the Cold War, Global Hegemon or Reluctant Sherift
Tác giả: Fraser Cameron
Nhà XB: Routledge Taylor & Francis Group
Năm: 2005
138. Federico Mayor (1999), Higher Education in the Twenty- fisrt Century- Vision and Action, Final Report UNESCO Paris, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Higher Education in the Twenty- fisrt Century- Vision and Action
Tác giả: Federico Mayor
Nhà XB: UNESCO
Năm: 1999
139. Tsai, Jenny (2005) “One First Trip to U.S., Vietnam Prime Minsiter Visits Harvard.” The Harvard Crimson, June 27, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: One First Trip to U.S., Vietnam Prime Minsiter Visits Harvard
Tác giả: Jenny Tsai
Nhà XB: The Harvard Crimson
Năm: 2005
141. Hans N.Tuch (1990): Communicating with the world, St Martin’s Press, Newyork Sách, tạp chí
Tiêu đề: Communicating with the world
Tác giả: Hans N. Tuch
Nhà XB: St Martin’s Press
Năm: 1990
142. Mark E. Manyin (2013), "US-VN Relations in 2013 Current Isses And Implication for US. Policy 2013", Congressial Research Service Sách, tạp chí
Tiêu đề: US-VN Relations in 2013 Current Issues And Implication for US. Policy 2013
Tác giả: Mark E. Manyin
Nhà XB: Congressional Research Service
Năm: 2013
143. Milton C. Cumming(2003): Cutural Diplomacy and the United States Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cutural Diplomacy and the United States
Tác giả: Milton C. Cumming
Năm: 2003
144. Michael C. Williams (1992), Vietnam at the Crossroaads, Printer Publishers for the RIIA, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam at the Crossroaads
Tác giả: Michael C. Williams
Nhà XB: Printer Publishers for the RIIA
Năm: 1992
146. Kate HougLand, US And Viet Nam presidents Praise Ash Center’s Efforts in VietNam, Havard Kennedy Shool (7-8-2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: US And Viet Nam presidents Praise Ash Center’s Efforts in VietNam
Tác giả: Kate HougLand
Nhà XB: Havard Kennedy Shool
Năm: 2013
151. US Commercial Service (2013), "Viet Nam Vietnam Market for Education and Trainin"g, By June 2013.(eg_vn063193) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viet Nam Vietnam Market for Education and Trainin
Tác giả: US Commercial Service
Năm: 2013
155. Scott Jaschik, The Deceptive data on Asians ( insidehighered.com (7-6- 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Deceptive data on Asians
Tác giả: Scott Jaschik
Nhà XB: insidehighered.com
Năm: 2003
161. Frederick Z. Brown (1997), U.S- Việt Nam Normalization- Past, Present, Future. James W. Morley- Maassashi Nishihra, Vietnam Join the World, Armonk, N.Y, M.E. Sharpe Sách, tạp chí
Tiêu đề: U.S- Việt Nam Normalization- Past, Present, Future
Tác giả: Frederick Z. Brown
Nhà XB: M.E. Sharpe
Năm: 1997
162. Walter R. Robert( 2006): The Evolution of Diplomacy, MediterraneanQuarterly, Summer 2006, Duke University Press.http://www.publicdiplomacy.org/70.htm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Evolution of Diplomacy
Tác giả: Walter R. Robert
Nhà XB: Duke University Press
Năm: 2006
163. The Embassy of the United States, Hanoi (2013) “American Support for Education in Vietnam: A Brainstorming Conference for American Stakeholders, Conference Report.”(http://photos.state.gov/libraries/vietnam/8621/pdf-forms/EduConfReport-Jan08.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Support forEducation in Vietnam: A Brainstorming Conference for American Stakeholders,Conference Report
136. Institute if International Education (2011) : What international students think about U. S higher education attitudes and perceptions of prospective tudents in Africa, Asia, Europe and Latin America Khác
145. Mutual Educational and Cultural Exchange Act of 1961, Public Law 87- 256, p527-538, in the United States at Large, vol 75, p527-538, Government Printing Office, Washington D.C Khác
147. Eduction in Vietnam, Development History, changenges and Solutions, pdf Khác
152. Vietnamese Population in US: 2010 (us.census.2010. the Vietnamese population- july.2011) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w