1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành ngữ trong tác phẩm của nhà văn nguyễn nhật ánh

179 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tác phẩm của ông đã đạt được những thành công nhất định, với một giọng văn dí dỏm, với việc sử dụng ngôn từ độc đáo, xây dựng nhân vật, tình huống, cốt truyện giản dị mà ấn tượng…

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ NGỌC LAN THẢO

THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC

Mã số: 60.22.01.13

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ NGỌC LAN THẢO

THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC

Mã số: 60.22.01.13

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ MAI NHÂN

Thành phố Hồ Chí Minh 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nghiên cứu trong luận văn này là của riêng tôi chưa công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2015 Người cam đoan

Vũ Ngọc Lan Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc và chân thành đến TS Trần Thị Mai Nhân – người

đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Việt Nam học đã giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tài liệu và thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời tri ân đến cha mẹ – những người luôn ở bên ủng hộ tôi

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến anh chị, bạn bè đã luôn động viên tôi

Trang 5

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Kết cấu luận văn 12

CHƯƠNG 1: THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14

1.1 Khái niệm thành ngữ 14 1.2 Đặc trưng của thành ngữ 16

1.2.1 Tính cố định 16 1.2.2 Tính hoàn chỉnh về nghĩa 18

Trang 6

1.4 Phân loại thành ngữ 28 1.4.1 Căn cứ vào nguồn gốc 28 1.4.1.1 Thành ngữ thuần Việt 28

1.4.1.2 Thành ngữ Hán Việt 28 1.4.2 Căn cứ vào phương thức tạo nghĩa 29

1.4.3.1 Thành ngữ đối xứng 32 1.4.3.2 Thành ngữ phi đối xứng 34

CHƯƠNG 2: NGUYỄN NHẬT ÁNH – NHÀ VĂN VẬN DỤNG TRIỆT ĐỂ

THÀNH NGỮ TRONG SÁNG TÁC VĂN HỌC 36

2.1.1 Vài nét về cuộc đời 36

2.1.3 Quan niệm sáng tác - Phong cách nghệ thuật 45

2.2 Quy mô sử dụng thành ngữ trong sáng tác văn học của Nguyễn Nhật Ánh 54

2.2.1 Số lượng thành ngữ 55 2.2.2 Tần số sử dụng thành ngữ 59

Trang 7

CHƯƠNG 3: NGUYỄN NHẬT ÁNH - NHÀ VĂN TÀI HOA TRONG VIỆC SỬ

3.1 Sự đa dạng trong nghệ thuật sử dụng thành ngữ của Nguyễn Nhật Ánh 68

3.1.1 Sử dụng thành ngữ nguyên dạng 69

3.1.2 Sử dụng thành ngữ cải biến 83

3.1.3 Sử dụng thành ngữ theo chức năng ngữ pháp trong câu 98

3.2 Sự sáng tạo trong nghệ thuật sử dụng thành ngữ của Nguyễn Nhật Ánh 108

3.3 Hiệu quả thẩm mĩ của việc sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Nhật

3.3.1 Khắc họa hình tượng nhân vật 115

3.3.2 Tăng giá trị diễn đạt, sắc thái biểu cảm và tính hình tượng cho lời văn 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

PHỤ LỤC 139

Trang 8

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1 Bàn có 5 chỗ ngồi (BCNCN)

2 Bồ câu không đưa thư (BCKĐT)

3 Buổi chiều Windows (BCW)

4 Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (CTXMVĐTT)

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học Việt Nam trải qua quá trình phát triển lâu dài và đạt được những thành tựu nhất định Đặc biệt, từ năm 1986 trở về sau, diện mạo văn học nước ta thay đổi theo chiều hướng mới, đến gần hơn với đời sống con người Việt Nam Trong đó, lực lượng sáng tác trẻ đã đem đến những thay đổi tích cực, đưa văn học đến với giới trẻ nhiều hơn Và nói đến sự phát triển văn học nước nhà, chúng ta không thể không nói đến mảng văn học viết cho thiếu nhi và thanh thiếu niên Từ những bước phát triển ban đầu vào những năm 40 của thế kỉ XX, văn học viết cho thiếu nhi, thanh thiếu niên đã phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần làm phong phú thêm cho văn học dân tộc Nhiều cuốn sách nổi tiếng đã trở thành người bạn đồng hành với các thế

hệ thiếu niên Việt Nam Trong những thập niên cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, văn học viết cho thiếu niên đã trải qua những bước thăng trầm, với sự trăn trở và nỗ lực hết mình của lực lượng sáng tác để có được những tác phẩm mới, theo kịp đời sống của giới trẻ hiện nay

Nếu nhìn lại những thành tựu văn xuôi trong nước dành cho thiếu nhi và thanh thiếu niên, chúng ta dễ dàng nhận thấy thể loại truyện vừa thành công hơn truyện dài Dưới ngòi bút tự sự, với giọng văn hài hước dí dỏm, với những hình tượng sống động

và gần gũi, mang tính tưởng tượng và hư cấu, lồng vào đó là những tâm tư tình cảm của các tác giả…, các tác phẩm văn học “trẻ” này dễ dàng đến gần hơn với tâm hồn bạn đọc Có thể kể đến một số nhà văn tiêu biểu cho mảng văn học này như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Võ Quảng, Trần Hoài Dương, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Nhật Ánh, Lý Lan, Phan Hồn Nhiên, Dương Thụy, Bùi Chí Vinh, Nguyên Hương…

Trang 11

Trong những tác giả kể tên trên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến nhà văn Nguyễn Nhật Ánh - một trong những cây bút tài hoa của dòng văn học viết cho thiếu nhi và thanh thiếu niên Những tác phẩm của ông đã đạt được những thành công nhất định, với một giọng văn dí dỏm, với việc sử dụng ngôn từ độc đáo, xây dựng nhân vật, tình huống, cốt truyện giản dị mà ấn tượng… Trong đó, Nguyễn Nhật Ánh đã dùng lối viết gần gũi với lời ăn tiếng nói của lớp trẻ, đặc biệt là sử dụng thành ngữ một cách khá nhuần nhuyễn, đặc sắc, tạo nên một phong cách hành văn riêng Qua khảo sát bước đầu, chúng tôi nhận thấy ông đã có những đóng góp đáng kể cho mảng văn học tuổi hoa, đồng thời những tác phẩm của ông cũng có đóng góp nhất định trong việc phát triển vốn ngôn ngữ dân tộc thông qua việc vận dụng thành ngữ trong sáng tác văn học

Vận dụng thành ngữ trong sáng tác văn học, Nguyễn Nhật Ánh như thổi hồn cho câu văn, mang đến cho lời văn màu sắc dân gian bình dị gần gũi, đậm nét văn hóa Việt Đây cũng là vấn đề làm nên nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật vận dụng thành ngữ trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Đó là lý

do chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Thành ngữ trong tác phẩm của nhà văn

Nguyễn Nhật Ánh”

Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu một cách có hệ thống, có chọn lọc về các phương thức vận dụng thành ngữ trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cố gắng tìm hiểu thêm về bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa của thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm, nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về nghệ thuật diễn đạt lời văn thông qua thành ngữ, đồng thời cho thấy những phương thức biểu đạt mang đậm chất dân tộc trong văn học hiện đại của nhà văn Đặc biệt, chúng tôi tiến hành khảo sát sự xuất hiện của thành ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, qua đó thấy được nghệ thuật vận dụng thành ngữ điêu luyện,

Trang 12

linh hoạt trong hệ thống ngôn từ tiếng Việt phong phú, đa dạng, tạo nên giá trị biểu cảm và những hiệu quả nghệ thuật đặc sắc của nhà văn

Cuối cùng, thông qua việc tìm hiểu, thu thập một cách có chọn lọc và phân tích các thông tin, dữ liệu liên quan đến thành ngữ - sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh nói riêng và kiến thức về thành ngữ nói chung, chúng tôi hi vọng luận văn sẽ góp phần bổ sung kiến thức cho người đọc về giá trị sử dụng, ý nghĩa, cách thức sử dụng và nghệ thuật diễn đạt của hệ thống thành ngữ trong đời sống người Việt Nam nói chung và trong văn học nói riêng

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tính đến nay, số lượng công trình, bài viết nghiên cứu về thành ngữ là rất lớn, chia làm nhiều mảng khác nhau Hầu hết, các công trình nghiên cứu trước đó đều đưa ra những phân tích, nhận xét xung quanh các vấn đề về thành ngữ trên các phương diện: cấu trúc, ngữ nghĩa, thi pháp, tri nhận Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi quan tâm tìm hiểu đóng góp của những công trình nghiên cứu về thành ngữ, cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm văn học và trong các sáng tác của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Trước hết, chúng tôi muốn đề cập đến công trình của Nguyễn Văn Tu, Từ vựng

học tiếng Việt hiện đại (1968) Trong công trình này, ông cho rằng: “Những thành ngữ là

từ tố cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa nguyên do như từ nguyên học” [95, tr.147] Mặt khác, ông cũng cho thấy thành ngữ trong

tiếng Việt phần lớn là những câu rút gọn Thành ngữ có thể trùng với tục ngữ hoặc chỉ là một bộ phận của tục ngữ [95, tr.151-152] Dù không chủ yếu xoáy vào thành ngữ nhưng công trình cũng có giá trị cung cấp tư liệu cho giới nghiên cứu và phát triển thành ngữ sau này

Trang 13

Thứ hai là cuốn sách của tác giả Đái Xuân Ninh (1978): Hoạt động của từ tiếng

Việt Trong cuốn sách này, ông đã đi sâu nghiên cứu những điểm nổi bật của thành ngữ

Về hình thức, ông chia ra hai nhóm thành ngữ theo quan hệ cú pháp: quan hệ đối xứng và phi đối xứng

Một công trình nghiên cứu khác về thành ngữ rất có ý nghĩa là Thành ngữ tiếng

Việt do hai tác giả Nguyễn Lực – Lương Văn Đang viết vào năm 1993 Trong công trình,

nhóm tác giả đã phân biệt tục ngữ và thành ngữ, bên cạnh đó còn chỉ ra mối liên hệ giữa hai loại hình này chủ yếu là về mặt nghĩa, mặt nhận thức của con người Điểm đặc biệt của quyển sách này là phần sưu tầm và giải nghĩa thành ngữ tiếng Việt tương đối đầy đủ

và chính xác Nó tương tự như một cuốn từ điển thành ngữ, giúp người nghiên cứu có thể dùng trong việc tra cứu ý nghĩa thành ngữ

Gần đây nhất là ba cuốn sách đi sâu vào phân tích hệ thống thành ngữ tiếng Việt của Hoàng Văn Hành Ông là người đã có những đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu

thành ngữ ở nước ta Trong cuốn Kể chuyện thành ngữ tục ngữ (xuất bản năm 2002),

ông chủ yếu giải nghĩa và nêu ra nguồn gốc của một số thành ngữ thuần Việt - Hán Việt

Bên cạnh đó, tác giả còn dành hẳn một chuyên mục luận bàn về đặc điểm cấu tạo-ngữ

nghĩa của thành ngữ

Trong cuốn chuyên khảo Thành ngữ học tiếng Việt (2008), tác giả đã chỉ ra hai

đặc trưng lớn nhất của thành ngữ tiếng Việt: “Tính ổn định, cố định về thành phần từ

vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là do thói quen sử dụng của người bản ngữ”

[39, tr.32] Bên cạnh đó, tác giả còn đi sâu phân tích cấu trúc của ba loại hình thành ngữ tiếng Việt: thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng và thành ngữ

so sánh Đây là một công trình phân tích cấu trúc thành ngữ tương đối hoàn chỉnh, có giá trị và ảnh hưởng sâu sắc đối với các công trình nghiên cứu về thành ngữ sau này Đặc biệt, trong luận văn này, chúng tôi có sự kế thừa những thành quả nghiên cứu của tác giả vào việc phân tích đặc trưng, cấu trúc, phân loại của thành ngữ

Trang 14

Trong cuốn Tuyển tập ngôn ngữ học (2010), tác giả Hoàng Văn Hành đề cập đến

vấn đề cấu tạo thành ngữ, ông chia thành ngữ làm hai loại: thành ngữ so sánh và thành

ngữ ẩn dụ hoá Ông còn đưa ra những nhận định xác đáng về thành ngữ: “Một là nếu thừa

nhận rằng đặc trưng bản chất của thành ngữ là những tổ hợp từ bền vững, có nghĩa bóng bẩy, thì sự phân loại và miêu tả thành ngữ dựa vào phương thức chuyển nghĩa của chúng

là sự phân loại và miêu tả hợp lí Hai là, mọi sự khó khăn và phức tạp trong sự nhận diện các đơn vị được gọi là thành ngữ, có thể có là do tính chất trung gian hay tính chất chuyển tiếp của chúng.” [41, tr.440] Nhìn chung, đây cũng là một trong những công

trình nghiên cứu có giá trị về thành ngữ nói riêng và ngôn ngữ nói chung

Ngoài những công trình nghiên cứu, còn có nhiều bài báo viết về thành ngữ, trong

đó có nhiều bài nghiên cứu mối quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ: “Về ranh giới giữa

thành ngữ và tục ngữ” (Nguyễn Văn Mệnh - Tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 1972), “Góp ý kiến về việc phân biệt thành ngữ với tục ngữ” (Cù Đình Tú- Tạp chí Ngôn ngữ, số 1

năm 1976) Bên cạnh đó, có thể nhắc đến một số bài viết nghiên cứu về vấn đề vận dụng

thành ngữ trong tác phẩm văn học: “Thành ngữ và tục ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân

Hương” (Đặng Thanh Hoà - Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, số 4/2001); “Thành ngữ, tục ngữ cải biên trong tác phẩm Sơn Nam”(Nguyễn Văn Nở - Dương Thị Thu Hằng -

Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 11/2010); “Thành ngữ, tục ngữ trong truyện ngắn

Nguyễn Quang Sáng” (Lâm Thị Thiên Lan - Tạp chí Đại học Sài Gòn, năm 2011);

“Khảo sát các đơn vị thành ngữ trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh” (Phan

Quan Thông - Tạp chí Ngôn ngữ, số 9/2011), Nhìn chung, những bài báo này đi sâu

vào nghiên cứu giá trị sử dụng của thành ngữ trong tác phẩm của một nhà văn nhất định

Do giới hạn của bài báo nên những bài viết này chưa thực sự nghiên cứu đầy đủ giá trị sử dụng của thành ngữ trong tác phẩm văn học Song, mỗi bài viết đều đem đến cho người đọc những kiến thức về hiệu quả vận dụng thành ngữ cũng như phong cách hành văn của các tác giả

Trang 15

Bên cạnh những đề tài nghiên cứu về thành ngữ, chúng tôi muốn nhắc đến một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Đó

là luận văn Cao học chuyên ngành Lí luận Văn học của Bùi Thị Thu Thủy – Trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, năm 2007: “Đặc điểm truyện Nguyễn Nhật

Ánh” Luận văn đã khảo sát 4 tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh là: Kính vạn hoa, Chuyện xứ Lang Biang, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Tôi là Bêtô và đưa ra các nhận

xét về đặc điểm nội dung cũng như nghệ thuật truyện Nguyễn Nhật Ánh Theo tác giả, truyện Nguyễn Nhật Ánh như là một bộ “tiểu bách khoa về thiếu nhi”, đem đến những bài học quý trong cuộc sống cho thiếu nhi và cho cả người lớn Bên cạnh đó, tác giả cũng tập trung phân tích nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và phong cách hành văn giản dị của Nguyễn Nhật Ánh

Hai tác giả Trương Thị Diễm và Nguyễn Thị Dạ Hiếu trong bài viết: “Kết hợp từ

ngữ bất thường trong tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh”

đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng số 6 (47) năm 2011 đã có những nhận xét về tần số kết hợp những từ ngữ bất thường trong các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh Trong bài viết, các tác giả tập trung khảo sát, phân tích những kết hợp

bất thường về nghĩa trong truyện “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” ở 3 cấp độ: cụm từ bất

thường về nghĩa, phát ngôn bất thường về nghĩa và nhóm phát ngôn bất thường về nghĩa Nhóm tác giả này đã cho thấy được sự sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ văn chương của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Ngoài ra, luận văn Cao học chuyên ngành Ngữ văn của Nguyễn Thị Thúy Hằng

trường Đại học Quy Nhơn năm 2012: “Ngôn ngữ đối thoại trong truyện Nguyễn Nhật

Ánh” đã đưa ra những phân tích, nhận xét về ngôn ngữ hội thoại trong các truyện của

Nguyễn Nhật Ánh Theo tác giả, nguyên nhân việc nhà văn sử dụng thường xuyên các mẩu đối thoại ngắn là để thu hút các bạn đọc nhí Trong luận văn, tác giả cũng đưa ra những nhận xét về việc sử dụng thành ngữ để tăng khả năng diễn đạt cho lời văn

Trang 16

Với tình cảm chân thành, nồng hậu dành cho nhà văn đồng hương xứ Quảng

Nguyễn Nhật Ánh, năm 2012 nhà thơ Lê Minh Quốc đã biên soạn Nguyễn Nhật Ánh -

Hoàng tử bé trong thế giới tuổi thơ (cuốn sách thuộc Tủ sách Nhà văn của em của Nhà

xuất bản Kim Đồng) Tác phẩm là một công trình công phu nghiên cứu về Nguyễn Nhật Ánh Nó tựa như một “bức chân dung” miêu tả tương đối hoàn chỉnh về cuộc đời, con người và tài năng của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, đồng thời cũng giải mã những bí quyết tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ với các bạn trẻ tuổi hoa niên trong từng tác phẩm của

“Hoàng tử bé” Nguyễn Nhật Ánh

Trong bài trả lời phỏng vấn nhà báo Thanh Kiều:“Nhà thơ Nguyễn Nhật Ánh:

Một người tài năng và đáng yêu” (Báo Thể thao và Văn hóa Online ngày 6 tháng 9 năm

2012), nhà thơ Lê Minh Quốc đã nhận xét:“Với dòng văn học dành cho thiếu nhi và tuổi

mới lớn, hiện nay anh đang giữ một vị trí đặc biệt Khó có người thay thế Khi liệt kê tên tuổi và tác phẩm của một thế hệ nhà văn, hội đồng làm văn học sử có thể nhớ đến người này và quên béng người kia Có thể chọn người này và bỏ sót người kia Nhưng với Nguyễn Nhật Ánh, người ta không thể, dù cố tình hoặc vô tâm” [ 59 ] Có thể nói, đây là

một bài viết có giá trị tham khảo cao, cung cấp cho chúng tôi nhiều thông tin trong quá trình nghiên cứu về con người và quan điểm sáng tác của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Gần đây nhất là những đánh giá của tác giả Thái Phan Vàng Anh trong bài báo:

“Nguyễn Nhật Ánh, người kể chuyện của thiếu nhi”, in trong Tạp chí Non nước, Đà

Nẵng (số 187 tháng 6 năm 2013) Người viết đã có những nhận định tương đối khách quan về phong cách - quan điểm nghệ thuật trong sáng tác văn học dành cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Thái Phan Vàng Anh đưa ra những cái nhìn chứng tỏ sức thu hút trong tác phẩm của ông đến từ cấu trúc tự sự, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ

giàu biểu cảm và giọng điệu trẻ thơ hồn nhiên: “Nguyễn Nhật Ánh không chỉ kể chuyện

cho thiếu nhi, kể chuyện về thiếu nhi mà anh còn là người - kể - chuyện - của - thiếu - nhi”, “Tác giả như đã hóa thân vào thế giới trẻ thơ, nhìn vạn vật bằng cái nhìn của trẻ

Trang 17

thơ, thậm chí như sống cùng với các em nhỏ để rồi kể chuyện về thiếu nhi cho chính thiếu nhi Nguyễn Nhật Ánh được coi như là người kể chuyện mang điểm nhìn trẻ thơ, và trở thành người kể chuyện của thiếu nhi chính bởi sự hóa thân, nhập vai khéo léo này” [ 5 ]

Tuy nhiên, bài viết chỉ đánh giá về phong cách sáng tác phù hợp với thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh mà chưa đi sâu phân tích dưới góc độ thi pháp học

Như vậy, cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt nói chung cũng như nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và tác phẩm của ông nói riêng, với nội dung đa dạng, với quy mô và mức độ khác nhau Và những tác giả chúng tôi vừa nêu trên đã đi vào tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu rất nhiều mảng liên quan đến những đề tài này Những tư liệu trên rất quí giá, giúp chúng tôi có những định hướng ban đầu khi nghiên cứu, đánh giá về việc sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Bên cạnh đó, chúng tôi cũng kế thừa những thành quả từ các công trình nghiên cứu đi trước về thành ngữ trong quá trình thực hiện luận văn này Từ sự kế thừa thành quả lao động khoa học của những bậc đi trước, chúng tôi mong muốn góp phần làm phong phú cho những công trình nghiên cứu về việc sử dụng thành ngữ trong văn học Việt Nam hiện nay

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Thực hiện luận văn này, trước hết, chúng tôi mong muốn làm đa dạng thêm cho các công trình nghiên cứu về đề tài thành ngữ tiếng Việt nói riêng và thành ngữ học nói chung hiện nay

Thứ hai, chúng tôi mong rằng luận văn sẽ góp phần làm phong phú, đa dạng hơn những công trình khảo sát việc sử dụng thành ngữ làm phương tiện diễn đạt trong tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại, cụ thể là nghiên cứu giá trị sử dụng của thành ngữ và nghệ thuật vận dụng thành ngữ trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có thống kê số lượng và đi sâu phân tích

Trang 18

nghệ thuật sử dụng thành ngữ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Việc thống kê - phân tích

đó giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về việc vận dụng thành ngữ trong tác phẩm văn học cả trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa

Đồng thời, luận văn cũng giúp người đọc hiểu sâu hơn về khái niệm thành ngữ, cấu trúc, phân loại, ý nghĩa, các trường hợp áp dụng thành ngữ nói chung và cụ thể là

hệ thống những thành ngữ đang được vận dụng trong dòng văn học dành cho tuổi hoa niên hiện nay

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn giúp người đọc hiểu thêm về cấu trúc, cách sử dụng thành ngữ và ý nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, qua đó người đọc có thể vận dụng thành ngữ một cách chính xác vào cuộc sống, vào sáng tác văn học Đặc biệt, chúng tôi hi vọng đề tài sẽ góp phần khơi gợi niềm yêu thích thành ngữ dân gian của các bạn trẻ Chúng tôi cũng mong muốn luận văn sẽ góp phần tôn vinh nhà văn Nguyễn Nhật Ánh - một cây bút tài hoa, sáng tác không mệt mỏi, có những đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích, phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu về thành ngữ trong nhà trường

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là thành ngữ tiếng Việt được sử

dụng trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thành ngữ được sử dụng trong các tác

phẩm truyện dài của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, được sáng tác trong giai đoạn từ năm

1987 đến năm 2010 Nguyễn Nhật Ánh cho ra đời quyển truyện dài đầu tiên vào năm

1985, nhưng thực sự đến 1987 ông mới chính thức bước vào con đường văn học dành cho lứa tuổi hoa niên Và kể từ 1987 cho đến nay, các “đứa con tinh thần” của ông lần lượt ra đời một cách đều đặn, không ngừng nghỉ Hành trình sáng tác kéo dài hơn hai

Trang 19

mươi năm của Nguyễn Nhật Ánh với các tác phẩm làm say lòng độc giả “nhí”, càng ngày càng thăng hoa và đến với thế giới Đỉnh cao sự nghiệp của ông được đánh dấu

bằng giải thưởng văn học ASEAN vào năm 2010 với tác phẩm Cho tôi xin một vé đi

tuổi thơ Như vậy, giai đoạn 1987 - 2010, là khoảng thời gian quan trọng trong cuộc

đời cầm bút của ông Chính vì thế, chúng tôi sử dụng có chọn lọc các tập truyện được xuất bản trong giai đoạn này làm cứ liệu nghiên cứu Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát, chúng tôi cũng liên hệ so sánh với việc sử dụng thành ngữ trong một số tác phẩm được tác giả sáng tác từ năm 2010 trở về sau

Dưới đây là những tác phẩm được khảo sát trong luận văn:

- Bộ truyện nhiều tập Kính Vạn Hoa 54 tập (1995 – 2010) Trong luận văn,

chúng tôi không khảo sát toàn bộ 54 tập truyện mà chỉ tiến hành khảo sát 30 tập nhỏ nằm trong bộ truyện, gồm: 20 tập đầu (từ tập 1 đến tập 20), 5 tập giữa (từ tập 35 đến tập 39) và 5 tập cuối (từ tập 50 đến tập 54) Chúng tôi chọn những tập trên để khảo sát bởi vì đây là các tập truyện có sử dụng thành ngữ nhiều hơn và đặc sắc hơn so với các tập còn lại Việc khảo sát này giúp chúng tôi so sánh được mật độ sử dụng thành ngữ của tác giả từ tập truyện đầu tiên đến tập cuối (sử dụng thành ngữ có đều hay không )

- Các tập truyện dài:

1 Bàn có 5 chỗ ngồi (2011), tái bản lần 30, Nxb Trẻ

2 Bồ câu không đưa thư (2012), tái bản lần 24, Nxb Trẻ

3 Buổi chiều Windows (1997), tái bản lần 3, Nxb Trẻ

4 Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (2008), Nxb Trẻ

5 Chú bé rắc rối (2011), tái bản lần 28, Nxb Trẻ

6 Còn chút gì để nhớ (2012), tái bản lần 26, Nxb Trẻ

7 Cô gái đến từ hôm qua (2011), tái bản lần 31, Nxb Trẻ

Trang 20

8 Hạ đỏ (1997), tái bản lần 5, Nxb Trẻ

9 Hoa hồng xứ khác (2008), tái bản lần 16, Nxb Trẻ

10 Ngôi trường mọi khi (2009), tái bản lần 15, Nxb Trẻ

11 Những chàng trai xấu tính (2011), tái bản lần 26, Nxb Trẻ

12 Những cô em gái (2011), tái bản lần 18, Nxb Trẻ

13 Nữ sinh (2011), tái bản lần 28, Nxb Trẻ

14 Phòng trọ ba người (2011), tái bản lần 22, Nxb Trẻ

15 Quán Gò đi lên (2011), tái bản lần 16, Nxb Trẻ

16 Thằng quỷ nhỏ (2011), tái bản lần 24, Nxb Trẻ

17 Thiên thần nhỏ của tôi (2011), tái bản lần 28, Nxb Trẻ

18 Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2010), Nxb Trẻ

19 Trại hoa vàng (2011), tái bản lần 19, Nxb Trẻ

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu vận dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học sau:

5.1 Phương pháp thống kê:

Sau khi tiến hành việc sưu tầm các tác phẩm của tác giả Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi sẽ thực hiện việc thống kê, định lượng thành ngữ trong các tác phẩm, từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá về toàn bộ giá trị sử dụng thành ngữ trong những tác phẩm đó

Trang 21

5.2 Phương pháp so sánh:

Sự sáng tạo trong quá trình ứng dụng thành ngữ vào nghệ thuật diễn đạt của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, cũng như những nét tương đồng và dị biệt của ông với các tác giả khác sẽ được làm rõ thông qua phương pháp này Chúng tôi sẽ thực hiện việc đối chiếu, so sánh nghệ thuật sử dụng thành ngữ của ông với các tác giả khác

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu thành ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi đã vận dụng các thao tác phân tích, miêu tả Chúng tôi tiến hành phân tích sự vận dụng thành ngữ trong sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh trên hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp Sau đó, thông qua những phân tích đó để miêu tả nội dung,

ý nghĩa của thành ngữ; mục đích sử dụng thành ngữ; cũng như những nét đặc sắc trong nghệ thuật vận dụng thành ngữ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Dẫn nhập (13 trang), trình bày những vấn đề chung như: Lý do chọn

đề tài, Lịch sử nghiên cứu vấn đề, Mục đích nghiên cứu, Đối tượng - phạm vi nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu; Phần Kết luận (3 trang); Phần Tài liệu tham khảo (10

trang) và phần Phụ lục (32 trang), Nội dung chính của luận văn gồm có 112 trang, phân

bố thành 3 chương như sau:

Chương 1: Thành ngữ tiếng Việt - Những vấn đề chung (22 trang)

Chương này giải quyết hai vấn đề: thứ nhất là giới thiệu khái niệm về thành ngữ Thứ hai sẽ trình bày một số yếu tố liên quan đến thành ngữ (đặc trưng, phương thức cấu tạo, phân loại, chức năng) và những thành tố này sẽ làm cơ sở cho việc phân tích

sử dụng thành ngữ trong các truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh trên cả hai bình diện ngữ pháp - ngữ nghĩa trong hai chương kế tiếp

Trang 22

Chương 2: Nguyễn Nhật Ánh - Nhà văn vận dụng triệt để thành ngữ trong sáng tác văn học (32 trang)

Chương này nhằm giới thiệu cuộc đời của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đặt trong bối cảnh chung của đời sống xã hội hiện nay, cũng như không gian văn học - nghệ thuật trong giai đoạn 1986 đến nay

Mục thứ hai của chương là kết quả thống kê và phân tích về quy mô, số lượng, tần số sử dụng thành ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh Từ đó chúng tôi

có những đánh giá, nhận định bước đầu về bút pháp vận dụng triệt để thành ngữ trong quá trình sáng tác của ông

Chương 3: Nguyễn Nhật Ánh - Nhà văn tài hoa trong việc sử dụng thành ngữ

Trang 23

CHƯƠNG 1 THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái niệm thành ngữ

Thành ngữ là một bộ phận giữ vai trò quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ của mỗi dân tộc trên thế giới nói chung và của người Việt Nam nói riêng Do mục đích sử dụng, thành ngữ đã trở thành một công cụ giao tiếp đắc lực cũng như một phương thức diễn đạt hữu hiệu trong sáng tác văn học Đồng thời do những đặc trưng riêng mà thành ngữ đã góp phần làm phong phú thêm vốn từ của dân tộc, tăng sắc thái biểu cảm, làm cho lời nói, câu văn vừa mang tính dân tộc vừa giàu tính chất nghệ thuật Trong những công trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt từ 1975 đến nay, mỗi công trình đều tiến hành gọi tên khái niệm thành ngữ và đặt nó trong thế so sánh với các đơn vị ngôn ngữ

có cùng tính chất (như tục ngữ, quán ngữ ) để làm rõ hơn về thành ngữ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Tu trong Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại đã định

nghĩa thành ngữ như sau: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất

tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học.”

[96, tr.187]

Một khái niệm khác về thành ngữ được tác giả Hoàng Phê đưa ra trong Từ điển

tiếng Việt: “Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể

giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.” [79, tr.899]

Hay trong Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học, nhóm tác giả đã giải

Trang 24

thích khái niệm thành ngữ như sau: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính

nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung, khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như là một từ riêng biệt ở trong câu” [106, tr.271]

Trong Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt, nhóm tác giả cũng đưa ra một khái

niệm khác: “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa Nghĩa

của chúng có tính hình tượng hoặc gợi cảm.” [13, tr.157]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp trong Từ và nhận diện từ tiếng Việt, cho

rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa vừa có giá

trị gợi tả Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể Tính hình tượng của thành ngữ được xây dựng trên cơ sở của hiện tượng so sánh và ẩn dụ.” [29, tr.181]

Trong Giáo trình Ngôn ngữ học, ông cũng đưa ra một cách giải thích khác về thành

ngữ: “Thành ngữ (idiom) là những cụm từ mà trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của

chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên

nó Ngay cả khi biết nghĩa của tất cả các từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cả cụm từ đó Thành ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa nhưng lại có tính chất tách biệt của các thành tố trong kết cấu, do đó nó hoạt động trong câu với tư cách tương đương với một từ cá biệt.” [32, tr.209-210]

Theo nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành, “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố

định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thường ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ.” [37, tr.25]

Để hiểu được chính xác các khái niệm trên, chúng ta cần hiểu rõ cụm từ cố định hay ngữ cố định và mối quan hệ của nó với thành ngữ: “Cụm từ cố định là đơn vị do

một số từ hợp lại, tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và

Trang 25

ngữ nghĩa cũng ổn định như từ.” [13, tr.153] Cụm từ cố định còn gọi là ngữ cố định,

một đơn vị thuộc hệ thống từ vựng tiếng Việt tương đương với từ, nó tồn tại hiển nhiên,

có chức năng định danh (chức năng gọi tên các sự vật, hiện tượng, quan hệ, tính chất, hành động, khái niệm ) và chức năng tham gia tạo câu Đặc điểm cơ bản của cụm từ

cố định là một chỉnh thể có hình thức - cấu trúc bền vững chặt chẽ, đơn vị có sẵn trong

hệ thống ngôn từ và có tính thành ngữ cao.1

Mỗi nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều xuất phát từ những tiêu chí, những bình diện khác nhau để đưa ra khái niệm về thành ngữ Những khái niệm trên cũng có điểm chung và điểm khác biệt, chúng bổ sung cho nhau và giúp người đọc có thể hiểu thành ngữ theo cách của mình Từ những quan điểm của các bậc “cây đa cây đề” trong giới nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt, chúng tôi đã rút ra một số điều cơ bản về thành ngữ:

Thành ngữ là một tổ hợp các từ mang tính cố định, do đó cấu trúc ngữ pháp và hình thức của thành ngữ tương đối vững chắc, không thể tự do thay đổi; Thành ngữ có chức năng định danh nên nghĩa của thành ngữ là nghĩa được suy diễn thông qua các biện pháp tượng trưng, ẩn dụ, hoán dụ Và các thành ngữ thường mang sắc thái biểu cảm cao, đặc trưng trong lớp ngôn ngữ dân tộc

1.2 Đặc trưng của thành ngữ

1.2.1 Tính cố định

Có thể nói, tính cố định là tính chất đặc trưng cơ bản nhất của thành ngữ Muốn xác định một cụm từ có phải là một thành ngữ hay không, trước tiên chúng ta phải xác định tính chất cố định của tổ hợp từ đó Tính cố định của thành ngữ thể hiện qua hai

bình diện: hình thái - cấu trúc và ý nghĩa diễn đạt

1 Theo cách hiểu đơn giản nhất, một cụm từ có tính thành ngữ nghĩa là ý nghĩa của nó là một nghĩa mới hoàn toàn (nghĩa bóng), chứ không chỉ là sự tổng hợp nghĩa của từng yếu tố trong tổ hợp tạo thành Lớp nghĩa thứ hai của cụm từ này chỉ được tạo ra khi các yếu tố đi với nhau theo một cấu trúc nhất định

Trang 26

Hình thái - cấu trúc của thành ngữ luôn cố định Về hình thái, các thành tố từ

vựng cấu tạo nên thành ngữ trong trạng thái tĩnh (đứng một mình) hay trong hành chức (đứng trong câu) luôn theo một trật tự nhất định Chúng giữ nguyên vị trí ban đầu của mình một cách bền vững Chính trật tự đó đã đem lại ý nghĩa cho thành ngữ Theo Nguyễn Lực - Lương Văn Đang: Nếu thay đổi vị trí các thành tố từ vựng, thành ngữ sẽ rất dễ bị biến dạng về ngữ nghĩa, thậm chí mất đi giá trị Đôi khi sự chặt chẽ trong hình thái này đã loại bỏ khả năng thay thế từ đồng nghĩa Theo Hoàng Văn Hành, thành ngữ

nói toạc móng heo không thể thay thế thành nói toạc móng lợn [39, tr.12] Bên cạnh sự

bền vững về hình thái, thành tố cấu tạo thành ngữ còn có sự ổn định về số lượng, nếu thêm hoặc bớt đi thành tố chắc chắn kết cấu ban đầu của thành ngữ sẽ mất đi Một khi tính ổn định trong kết cấu không còn, thành ngữ sẽ thay đổi ý nghĩa, thậm chí mất đi tư

cách làm thành ngữ Chẳng hạn, câu thành ngữ mẹ tròn con vuông mang nghĩa việc sinh nở thuận lợi, mẹ con bình an Nếu ta thay mẹ thì tròn con thì vuông thì cụm từ này

không còn là thành ngữ nữa

Về cấu trúc thành ngữ, theo nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành mỗi thành tố tạo nên thành ngữ đều có một vị trí riêng nhất định, đặc biệt là trong những thành ngữ có tính đối xứng Các thành tố tạo thành hai vế đối xứng nhau, từ trật tự đối xứng này làm cho ta hiểu được nghĩa biểu đạt của thành ngữ Sự thay đổi vị trí từ, đảo vế trong thành

ngữ đều làm cho nó mất đi giá trị thành ngữ Ví dụ, người ta thường nói câu ăn nên làm

ra chứ không thể nói ăn ra làm nên hay làm ra ăn nên Chỉ trừ một số trường hợp đảo

trật tự thành tố nhưng vẫn không làm thay đổi nghĩa cơ bản của thành ngữ và cả hai phiên bản thuận nghịch này đều được công nhận sử dụng rộng rãi thì chúng được coi là

thành ngữ với biến thể khác Chẳng hạn như trường hợp mò kim đáy bể hay đáy bể mò

kim đều là thành ngữ có ý nghĩa như nhau Tuy nhiên, những trường hợp biến thể tự

nhiên này cũng có hạn, chúng phải đảm bảo được những tiêu chí cơ bản mới được công nhận là thành ngữ

Trang 27

Ngôn ngữ nói chung và thành ngữ nói riêng là những phương tiện giao tiếp, diễn đạt do con người sáng tạo ra nên có tính linh hoạt, tính sáng tạo Sự linh hoạt, uyển chuyển, sáng tạo của thành ngữ có thể thay đổi tùy theo mục đích, ý chí, phương thức

sử dụng của con người (chẳng hạn như biến đổi trong sáng tác nghệ thuật, biến đổi thích ứng với phương ngôn văn hóa từng vùng miền ) Theo thời gian và nhu cầu sáng tạo của con người, thành ngữ cũng được biến đổi cho phù hợp, nếu không có sự thích ứng với thời đại, không biến đổi linh hoạt thì nó sẽ cản trở khả năng sáng tạo của cá nhân, đồng thời bị đào thải dần Do đó, thành ngữ vừa bền vững, cố định lại vừa linh hoạt, uyển chuyển Nhưng những sự biến đổi này vẫn phải tuân theo những quy luật nhất định, phải đảm bảo những đặc trưng cơ bản của thành ngữ, đảm bảo ý nghĩa của thành ngữ không bị thay đổi

Theo hai nhà nghiên cứu Nguyễn Lực và Lương Văn Đang trong cuốn Thành

ngữ tiếng Việt (1993), một số thành ngữ có kết cấu hình thái cố định và ngữ nghĩa ổn

định (phản ánh chính xác bản chất sự vật và kết cấu cô đọng súc tích) thì không thể thay đổi, cũng có một bộ phận có khả năng biến đổi Với điều kiện bộ phận thay thế phải tương đồng tính chất với phần được thay đổi, phần thay thế tương đồng không nhiều hơn phần cố định, thay đổi nhưng mẫu của kết cấu vẫn phải giữ được hình thái

và nghĩa cơ bản, ý nghĩa ngữ pháp vẫn tương tự

1.2.2 Tính hoàn chỉnh về nghĩa

Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp (Từ vựng học tiếng Việt): “Một đơn vị được

coi là có tính hoàn chỉnh về nghĩa khi nó biểu thị một khái niệm về đối tượng tồn tại bên ngoài chuỗi lời nói” [30, tr.77] Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ có tính hoàn chỉnh

về nghĩa Đặc trưng này được thể hiện thông qua hai điểm sau:

Thứ nhất, thành ngữ là đơn vị hoàn chỉnh về nghĩa, mỗi thành ngữ đều biểu thị một khái niệm duy nhất, không phải là sự tổ hợp các khái niệm của những thành tố cấu tạo, chúng biểu thị các thuộc tính, quá trình hay sự vật Nghĩa của thành ngữ là nghĩa

Trang 28

duy nhất - nghĩa bóng Theo Hoàng Văn Hành (Thành ngữ học tiếng Việt): “Nội dung

của thành ngữ không hướng đến điều được nhắc đến trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ mà ngụ ý điều gì đó suy ra từ chúng” [39, tr.33-34]

Thứ hai, khái niệm mà thành ngữ biểu thị mang tính độc lập, có thể hiểu được khái niệm biểu trưng của thành ngữ ngay khi nó đứng đơn độc, hay nói cách khác, chúng ta có thể hiểu được nghĩa của thành ngữ mà không cần đặt nó trong cấu trúc câu, trong văn bản hay trong lời nói

Theo Hoàng Văn Hành thì tính hoàn chỉnh về nghĩa làm cho thành ngữ có chức năng định danh, nó là một đơn vị định danh của hệ thống ngôn ngữ, biểu thị những sự vật, hiện tượng, quan hệ, tính chất, hành động, khái niệm, thuộc tính, quá trình Song, khác với các đơn vị từ vựng bình thường, thành ngữ là loại đơn vị định danh bậc hai

“Ở thành ngữ tồn tại song song hai loại nghĩa: nghĩa đen hay nghĩa từ vựng là cơ sở;

nghĩa bóng hay nghĩa phái sinh là nghĩa được sử dụng trong hành chức, nghĩa thứ hai được hình thành qua quá trình biểu trưng hóa” [39, tr.13] Đặc trưng này cho ta thấy

sự hoàn chỉnh về nghĩa của thành ngữ còn thể hiện ở sự gắn bó chặt chẽ với nhau, bổ trợ cho nhau của cả hai loại nghĩa của thành ngữ

1.2.3 Tính hình tượng - cụ thể

Như đã trình bày trong đặc trưng hoàn chỉnh về nghĩa, thành ngữ là một đơn vị định danh bậc hai, cùng một lúc ở thành ngữ tồn tại hai lớp nghĩa, chúng gắn bó với nhau chặt chẽ tạo thành sự hoàn chỉnh nghĩa ở thành ngữ Trong đó, nghĩa bóng là nghĩa quan trọng nhất của thành ngữ Nó có tính khái quát tượng trưng cho toàn bộ tổ hợp Chính vì thế, nghĩa của thành ngữ được hình thành từ quá trình biểu trưng hóa2 Nói cách khác, tính hình tượng – cụ thể của thành ngữ thể hiện thông qua những hình ảnh, sự vật, sự việc cụ thể được miêu tả Có thể nói, tính hoàn chỉnh về nghĩa đã tạo

2 Theo Đỗ Hữu Châu: “Biểu trưng là lấy những vật thực, việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất,

Trang 29

nên tính chất hình tượng của thành ngữ Tính hình tượng – cụ thể trở thành một đặc trưng bản chất và góp phần quyết định giá trị của một thành ngữ

Ví dụ: thành ngữ có da có thịt biểu thị cho sự khỏe mạnh, béo tốt Hay thành ngữ hào hoa phong nhã biểu thị cho sự lịch thiệp, tế nhị, rộng rãi Thành ngữ tối mày

tối mặt biểu thị cho sự bận rộn, không lúc nào rảnh rang

Thành ngữ còn mang tính hình tượng Sự đối lập giữa hai bình diện nghĩa đen

và nghĩa bóng tạo ra tính hình tượng Khi sử dụng thành ngữ người ta tri giác cả hai bình diện nghĩa đen và nghĩa bóng Thành ngữ được hình thành trên cơ sở tổng hợp các yếu tố từ vựng, mỗi từ đại diện cho một sự vật, hiện tượng, đặc tính trong thực tế cuộc sống Tổ hợp này tạo nên một chỉnh thể mang tính hình tượng, ước lệ tượng trưng

để biểu trưng cho một khái niệm hiện thực Theo phân tích của nhà nghiên cứu Nguyễn

Thiện Giáp (Từ và nhận diện từ tiếng Việt), ở thành ngữ có sự tái hiện một cách hình

tượng những hình ảnh tồn tại trong thực tế Những hình ảnh này tồn tại độc lập, song song với ý nghĩa của thành ngữ Tính hình tượng làm cho thành ngữ có giá trị gợi tả, khiến cho chúng ta cảm nhận được ngay ý nghĩa của nó, ngay cả khi có yếu tố tạo nghĩa bị quên lãng Chính nhờ giá trị gợi tả mà hình tượng của thành ngữ vẫn được duy trì [29, tr.183]

Chẳng hạn, trong thành ngữ chân đăm đá chân chiêu, đăm và chiêu là hai từ cổ,

ý nghĩa của chúng tương đương với phải và trái Ngay cả khi không hiểu được hai từ

đăm và chiêu có nghĩa gì, song qua hình tượng chân và hành động đá, chúng ta vẫn có

thể đoán được Câu thành ngữ này gợi cho ta hình ảnh hai chân đá vào nhau, và nó biểu trưng cho việc đi dứng xiêu vẹo, lảo đảo, không vững

Theo Nguyễn Thiện Giáp, “Do tính hình tượng nên ý nghĩa của thành ngữ luôn

có tính cụ thể Nghĩa là nó không có khả năng diễn đạt đồng thời quan hệ chủng và loại, không có diện chung và diện riêng của ý nghĩa” [29, tr.183] Thành ngữ cũng có

chức năng định danh như từ, song do tính cụ thể nên thành ngữ không thể biểu thị khái

Trang 30

niệm chung mà chỉ có thể diễn đạt một mặt riêng biệt, với những tính chất biểu trưng

của khái niệm đó Chẳng hạn, câu thành ngữ đứng như trời trồng không biểu thị khái

niệm “đứng” nói chung mà biểu thị trạng thái đứng ngây ra, không nhúc nhích, động đậy

1.2.4 Tính biểu thái

Theo Đỗ Hữu Châu, “Tính biểu thái là sự kèm theo sắc thái, cảm xúc, sự đánh

giá có thể nói lên hoặc lòng kính trọng, hoặc sự ái ngại, hoặc sự xót thương, hoặc sự không tán thành, lòng khinh bỉ, thái độ chê bai, sự phủ định, của chúng ta đối với người, vật hay việc được nói đó.” [9, tr.73] Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Bên cạnh ý nghĩa biểu trưng cho nội dung cần diễn đạt, thành ngữ luôn kèm theo những sắc thái biểu cảm rõ rệt, các sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, chẳng hạn như: kính trọng, tán thành, chê bai, khinh rẻ, ái ngại hoặc xót thương.” [29, tr.183-184]

Thành ngữ do con người tạo ra với mục đích thay cho cách diễn đạt thông thường một số nội dung trong giao tiếp, trong sáng tác, nhằm làm tăng sức diễn đạt, tăng giá trị biểu cảm, thêm màu sắc văn hoa cho lời nói, cho phong cách hành văn Bản thân thành ngữ khi đứng một mình mang những sắc thái biểu cảm mang tính khái quát, tính chung Nhưng khi được sử dụng trong câu, tùy theo từng hoàn cảnh mà thành ngữ đưa ra những khái niệm thay thế kèm theo những cảm xúc, đánh giá, thái độ của người

sử dụng Tùy theo tình huống, mục đích, trạng thái tình cảm mà chúng ta lựa chọn thành ngữ để diễn đạt Có thể nói, thành ngữ chứa đựng yếu tố cảm xúc của con người đối với đối tượng mà họ hướng tới

Tính biểu thái của thành ngữ thể hiện ở sắc thái biểu cảm ngay trong bản thân

thành ngữ, đồng thời sức biểu cảm còn phụ thuộc vào người sử dụng và hoàn cảnh ứng

dụng thành ngữ Chẳng hạn, thành ngữ khẩu phật tâm xà vừa biểu thị khái niệm “lòng

dạ độc ác” vừa kèm theo thái độ đánh giá thấp Khi sử dụng trong câu: “Bà ta là người

khẩu phật tâm xà!”, ta thấy cả câu nói toát lên thái độ chê bai, thậm chí căm ghét đối

Trang 31

tượng được nhắc đến Hay thành ngữ nát ruột nát gan biểu thị khái niệm lo lắng, giày

vò trong lòng với một cảm xúc xót xa Khi được áp dụng trong câu: “Con vào tù bà cứ

nát ruột nát gan, mong nó sớm ngày được trở về”, thành ngữ đã làm cả câu văn bộc lộ

vẻ đau lòng của người mẹ

1.2.5 Tính dân tộc

Tính hình tượng của thành ngữ gắn liền với tính dân tộc, tính cộng đồng Mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng đều có cách biểu trưng hóa các đặc điểm cụ thể của những khái

niệm trong đời sống khác nhau Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Thành ngữ chỉ hình

thành ở những phạm vi mà sự phản ánh đòi hỏi cần có sự bình giá và biểu cảm Phạm

vi phản ánh như vậy là tùy thuộc vào hoàn cảnh sống, vào kinh nghiệm và cách nhìn nhận của từng dân tộc” [29, tr.184] Thành ngữ tiếng Việt do người Việt Nam tạo ra,

nó phản ánh đầy đủ những bản sắc trong văn hóa, lối sinh hoạt, nhân cách, cách đối nhân xử thế, của con người Việt Nam Tuy trong thành ngữ có một bộ phận thành ngữ vay mượn song nó đã được tổ tiên chúng ta Việt hóa, biến thành một phần trong

ngôn ngữ dân tộc Theo Nguyễn Thiện Giáp (Từ và nhận diện từ tiếng Việt), tính dân

tộc trong thành ngữ thể hiện ở một số chi tiết sau:

Trước hết, thành ngữ thể hiện những cách nói dân gian của người Việt: so sánh,

ẩn dụ,… Chẳng hạn như: ăn cháo đá bát, cả vú lấp miệng em (ẩn dụ), chân lấm tay

bùn, một nắng hai sương (hoán dụ), chắc như đinh đóng cột, đẹp như tiên (ví von,

so sánh) Chính đặc điểm này đã làm cho thành ngữ giàu hình ảnh, bóng bẩy, có giá trị biểu trưng cao, cô đọng hàm súc, đầy ý nhị khi sử dụng, góp phần làm tăng thêm màu sắc văn hóa dân tộc, bản sắc địa phương khi thể hiện nội dung, hay tạo nên phong cách ngôn ngữ độc đáo trong khi nói hay khi viết

Thứ hai, nước ta là nước có nền văn minh nông nghiệp lâu đời Vì vậy, trong hệ thống thành ngữ có một bộ phận thành ngữ gắn với những hình ảnh đại diện cho nền kinh tế, sản xuất nông nghiệp và những hình ảnh dân dã, bình dị, gần gũi với con người

Trang 32

Việt Nam Chẳng hạn như: cày sâu cuốc bẫm, dầm mưa dãi nắng, ăn ốc nói mò, lo bò

trắng răng, ông nói gà bà nói vịt

Thứ ba, trong thành ngữ, chúng ta cũng bắt gặp bóng dáng của những câu chuyện lịch sử, truyện cổ tích, những truyện thần thoại truyền thừa từ bao đời trong dân

gian: Con Rồng cháu Tiên, nợ như chúa Chổm, vắng như chùa bà Đanh,

Bên cạnh đó, thành ngữ còn phản ánh những suy nghĩ, lối sống, phong tục, tập quán gắn với dân tộc, gắn với từng địa phương trên đất nước ta Chẳng hạn, thành

ngữ giống như đúc, giống như in biểu thị sự giống nhau, hay thành ngữ vạch áo cho

người xem lưng biểu thị ý tự bêu xấu nhau… [29, tr.185]

Thành ngữ tiếng Việt là một đơn vị ngôn ngữ có tính linh hoạt và uyển chuyển trong sử dụng, đặc biệt là trong sáng tạo văn chương nghệ thuật, nhằm tạo ra giá trị biểu cảm cao Trong hành chức, không phải bao giờ thành ngữ cũng có thể diễn đạt ngắn gọn hơn từ thông thường, nhưng nếu dùng từ bình thường diễn đạt chúng ta lại không thể cảm nhận được cái ý nhị, sự tinh hoa trong ngôn ngữ Chính vì lí do này mà không ít văn sĩ luôn vận dụng thành ngữ làm phương tiện diễn đạt và từ đó xây dựng cho mình phong cách riêng độc đáo Có thể khẳng định, thành ngữ với những đặc trưng,

ưu điểm của riêng mình đã góp phần làm phong phú và đa dạng cho vốn ngôn ngữ dân tộc Việt Nam

1.3 Phương thức cấu tạo thành ngữ

1.3.1 Phương thức so sánh

Trong hệ thống thành ngữ tồn tại một bộ phận thành ngữ được tạo nên từ biện

pháp so sánh, được gọi là thành ngữ so sánh Tuy số lượng thành ngữ so sánh không

nhiều nhưng chúng cũng là một phần không thể thiếu trong hệ thống thành ngữ và thường xuyên được con người sử dụng trong hoạt động giao tiếp, trong sáng tác văn học Phép so sánh được sử dụng để tạo thành ngữ là phương thức so sánh tu từ, khác

Trang 33

với phép so sánh luận lí So sánh tu từ là phương thức đối chiếu công khai hai hay nhiều

đối tượng có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong

để gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc,

người nghe So sánh luận lí là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại, cho ta thấy sự

ngang bằng hay hơn kém giữa các đối tượng Ví dụ:

Ông ấy hiền như Bụt (so sánh tu từ) Đến Tết này, An có thể cao bằng mẹ (so sánh luận lí)

Theo Hoàng Văn Hành trong Thành ngữ học tiếng Việt (2008): Cấu trúc cơ bản

của câu sử dụng phép so sánh gồm hai vế: vế so sánh (cái so sánh), vế được so sánh (cái được so sánh) và giữa hai vế là từ so sánh (như, như là, bằng, tựa như, giống như ) Trong phần này, chúng tôi chỉ đề cập đến vài vấn đề cơ bản liên quan đến thành ngữ so sánh như: mô hình cấu trúc tổng quát cùng với các thành tố trong thành ngữ so sánh Tương tự như một câu có sử dụng phép so sánh thông thường, thành ngữ so sánh cũng

gồm hai vế, được nối kết với nhau bằng từ có nghĩa tương đồng hay đồng nhất (như) Ở

cấu trúc bề mặt, các thành phần trong thành ngữ so sánh biểu thị quan hệ so sánh, cái so sánh là bộ phận bắt buộc và ổn định, nếu như phá vỡ cấu trúc so sánh này thì cụm từ này không còn là thành ngữ so sánh nữa Về mặt nghĩa, các yếu tố đưa ra so sánh trong thành ngữ cho thấy sự tương đồng giữa các đối tượng được đề cập, từ đó gợi lên lớp nghĩa bóng,

cách nói tượng trưng bóng bẩy Chẳng hạn các thành ngữ: ác như hùm (biểu thị ý rất hung dữ, độc ác), im như tờ (biểu thị ý im ắng không tiếng động), nhanh như cắt (biểu thị

Trang 34

Văn Hành: “Ở loại thành ngữ này không sử dụng phép so sánh, cũng không dùng luật

đối ứng để ghép nối các yếu tố, mà cố định hóa hay thành ngữ hóa một đoạn tác ngôn, vốn được cấu tạo trên cơ sở luật kết hợp bình thường trong tiếng Việt Chúng ta có thể gọi chúng là những thành ngữ thường hay là những thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng.”

[39, tr.51] Đây là một bộ phận thành ngữ có cấu trúc tự do, không theo một khuôn mẫu

cố định nào Có thể nói, chúng là những cụm từ tự do được cố định hóa Tuy nhiên, bản thân loại thành ngữ này vẫn có những cấu trúc nội tại của nó mà chúng ta có thể suy ra

từ hình thức, cấu trúc ngữ pháp Bên cạnh đó, các thành ngữ ghép thường có cấu trúc nội tại khá chặt chẽ, ổn định, ít biến hình khi đi vào các ngữ cảnh cụ thể trong quá trình hành chức

Có thể kể ra một số thành ngữ hình thành từ phương thức ghép trong tiếng Việt

như: cá nằm trên thớt (cấu trúc ghép gồm chủ ngữ S - vị ngữ V - bổ ngữ/ tân ngữ O), thành ngữ cúc cung tận tụy (cấu trúc ghép đẳng lập gồm hai tính từ), thành ngữ đem

con bỏ chợ (cấu trúc ghép chính phụ, là một cụm động từ), hay thành ngữ mắt cú vọ

(cấu trúc ghép chính phụ, cụm danh từ)

1.3.3 Phương thức đối

Theo nghiên cứu của nhóm tác giả trong Kể chuyện thành ngữ tục ngữ (2002),

thành ngữ đối là loại thành ngữ phổ biến nhất chiếm khoảng 56% tổng số thành ngữ có trong tiếng Việt Loại thành ngữ này có một số đặc điểm nổi bật trong cấu trúc và trong

ngữ nghĩa, ngữ pháp “Về cấu trúc, thành ngữ đối có tính chất đối ứng giữa các bộ

phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ” [37, tr.38-39]

Thành ngữ được tạo thành dựa trên cơ sở phép đối3, nghĩa là cấu trúc của thành ngữ chia làm hai vế đối nhau, đồng thời các yếu tố cấu tạo thành ngữ cũng chia thành

3 Phép đối là cách sử dụng các từ ngữ tương đồng hoặc tương phản về ý nghĩa, hay âm thanh, nhịp điệu để tạo ra những câu có sự cân xứng về cấu trúc, hài hòa về âm thanh và cộng hưởng về ý nghĩa Tạo hiệu quả diễn đạt: nhấn

Trang 35

những cặp tiểu đối Ví dụ: thành ngữ khẩu phật / tâm xà, vế khẩu phật đối vế tâm xà, trong đó khẩu đối tâm, phật đối xà Hay thành ngữ đầu cua / tai nheo có hai vế đầu cua đối tai nheo, hai cặp tiểu đối đầu-tai, cua-nheo

Theo nhóm tác giả trong Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, “…phần lớn thành ngữ

loại này đều có số lượng thành tố chẵn, do bốn, sáu hay tám yếu tố hợp thành hai vế đối lập nhau Chính sự tương đồng về ngữ nghĩa, ngữ pháp giữa các yếu tố trong mỗi

vế đã tạo nên quan hệ đối ứng cho hai vế đối chính của thành ngữ Phép đối ứng ở đây chia làm hai bậc: đối ý và đối lời” [37, tr.39-40]

Sự đối ứng về ý nghĩa giữa hai vế trong thành ngữ tạo thành bậc đối ý Nhờ sự

đối ý này mà nghĩa của thành ngữ được tạo lập Đồng thời muốn hiểu nội dung và hình thức của một thành ngữ trước hết phải nhận thấy được sự đối ý giữa hai vế trong thành

ngữ Chẳng hạn, thành ngữ học tài thi phận có quan hệ đối ý rõ rệt giữa hai vế học

tài-thi phận, trong quá trình học tập thì học rất giỏi song đến lúc thi cử thì nhờ vào vận

hên xui may rủi

Quan hệ đối ý giữa hai vế của thành ngữ được xác lập nhờ thuộc tính tương đồng về ngữ pháp – ngữ nghĩa giữa các yếu tố trong hai vế Chẳng hạn, trong thành

ngữ vào luồn ra cúi, vào-ra đều là động từ chỉ hoạt động và có quan hệ trái nghĩa,

luồn-cúi cũng là cặp động từ cùng thuộc tính chỉ hành động hạ thấp trọng tâm cơ thể

Bậc đối ứng thứ hai trong thành ngữ đối là quan hệ đối lời Theo Hoàng Văn

Hành thì quan hệ đối lời là sự đối ứng giữa các yếu tố nhỏ hơn nằm trong hai vế của thành ngữ Chính nhờ quan hệ đối lời, nói cách khác là nhờ các cặp tiểu đối mà quan hệ đối ý hay hai vế đối chính tồn tại và thể hiện được ý nghĩa của chúng Trong thành ngữ

đầu voi đuôi chuột, nhờ các cặp tiểu đối đầu-đuôi, voi-chuột, ta nhận thấy được quan

hệ đối ý ban đầu rất to tát nhưng đến kết cục thì bé nhỏ không đáng kể Từ sự đối ý, chúng ta suy ra được câu thành ngữ này muốn nói đến việc làm không cân đối dẫn đến kết quả không như ý

Trang 36

1.3.4 Phương thức điệp

Thành ngữ được tạo thành từ phương thức điệp từ4 này là trường hợp đặc biệt của thành ngữ đối Nghĩa là thành ngữ điệp cũng có sự đối ứng trong hai vế, đối ứng trong từ tố Song, điểm đặc biệt ở thành ngữ này so với thành ngữ đối, thay vì phải có ít nhất hai cặp từ đối trong một thành ngữ bốn chữ thì nó chỉ có một cặp từ đối, từ đối ứng còn lại ở vế đầu và vế sau thì trùng nhau, nghĩa là một từ được lặp lại hai lần trong hai vế

Theo nghiên cứu của nhóm tác giả trong Kể chuyện thành ngữ tục ngữ (2002),

thành ngữ loại này chủ yếu có quan hệ đối ứng đồng nghĩa, yếu tố được lặp lại thường

là động từ hoặc số từ Chẳng hạn: một mất một còn, một trời một vực, ba cọc ba đồng,

năm ăn năm thua, chạy ngược chạy xuôi, thề sống thề chết, ăn bớt ăn xén, chén tạc chén thù, chết bờ chết bụi, đa sầu đa cảm, tấc đất tấc vàng

Theo nhóm tác giả trong Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, thành ngữ được tạo

thành từ phương thức đối - điệp này có thể đưa về hai cấu trúc tổng quát: Ax + Ay (thành ngữ điệp) và Ax + By (thành ngữ đối) Tính nhịp điệu, có tiết tấu làm cho thành ngữ đối-điệp khác với những thành ngữ so sánh hay thành ngữ ghép (thành ngữ miêu tả

ẩn dụ), khiến những thành ngữ loại này nghe hay hơn, dễ nhớ hơn vì nó có vần nhịp Thuộc tính này có được là nhờ việc ghép các yếu tố cấu tạo theo luật hài âm, gồm: Lặp

âm (chân ướt chân ráo, cố sống cố chết ); Hợp thanh (mẹ tròn con vuông, ăn chực

nằm chờ ); Hiệp vần (ăn chưa no lo chưa tới, ăn xó mó niêu, mèo mả gà đồng ); Xây

nhịp đôi (lưng dài // vai rộng, mang nặng // đẻ đau, môn đăng // hộ đối, ác giả // ác

báo ); Thiết lập quan hệ đối xứng (trên đe dưới búa, thay da đổi thịt, con ông cháu cha…) [37, tr.41-43] Ví dụ:

4 Phép điệp từ là biện pháp tu từ lặp lại một trong các yếu tố diễn đạt (ngữ âm, vần, nhịp, từ, cụm từ, câu) để nhấn mạnh, biểu đạt ý nghĩa và cảm xúc, nâng cao khả năng biểu cảm, gợi hình tượng nghệ thuật cho lời

Trang 37

Trên đe dưới búa

A x B y

Trong đó, trên (A) – dưới (B) và đe (x) – búa (y) là cặp đối ứng cùng loại từ

Tính đối xứng làm cho thành ngữ thêm đồng nhất, hài hòa, nhịp nhàng, dễ đọc dễ nhớ

như: già kén kẹn hom, dây mơ rễ má, chân lấm tay bùn, mặt lưỡi cày, ngang như cua,

rách như tổ đĩa

1.4.1.2 Thành ngữ Hán Việt

Theo nghiên cứu của Lê Đình Khẩn trong Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt

(2002), trong tất cả những thành ngữ vay mượn thì thành ngữ gốc Hán chiếm khoảng chín mươi phần trăm, bộ phận còn lại là một số thành ngữ gốc Ấn Âu hay thành ngữ gốc khu vực Đông Nam Á Một số lượng lớn thành ngữ tiếng Việt là kết quả của quá trình giao lưu tiếp biến với văn hóa của người Hán Sự Việt hóa các thành ngữ Hán tạo nên thành ngữ gốc Hán Căn cứ vào một số bình diện (ngữ âm, ngữ nghĩa, cấu trúc và

Trang 38

ngữ pháp), chúng ta có thể phân loại thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt Chẳng hạn, dựa vào ngữ âm chúng ta có thể chia thành ngữ gốc Hán gồm: thành ngữ Hán Việt, thành ngữ cải biên và thành ngữ sao phỏng:

Ví dụ: an cư lạc nghiệp, đồi phong bại tục, phàm phu tục tử (thành ngữ Hán Việt); Bán nước cầu vinh, Thề non hẹn biển… (thành ngữ cải biên); Trầm ngư lạc nhạn

→ Chim sa cá lặn, Hắc bạch điên đảo → Đổi trắng thay đen,…(thành ngữ sao

tr.227-231]

1.4.2 Căn cứ vào phương thức tạo nghĩa

Căn cứ vào các phương thức tạo nghĩa, ta có thể phân loại thành ngữ thành hai

loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ hóa

1.4.2.1 Thành ngữ so sánh

Về cơ bản, phép so sánh thông thường thực hiện việc so sánh hai đối tượng A và

B căn cứ trên những thuộc tính tương đồng của A và B Phép so sánh sử dụng trong thành ngữ cũng dựa theo nguyên tắc cơ bản đó, nhưng các thuộc tính dùng để so sánh giữa các sự vật hiện tượng chỉ có tính chất tương đối và lâm thời Nghĩa là phép so sánh này có tính chất nghệ thuật, hình ảnh so sánh mang tính ước lệ tượng trưng và tạo nên tính biểu trưng, tính hình tượng cho thành ngữ

Chúng ta có thể căn cứ vào mẫu cấu trúc của phép so sánh thông thường để suy

Trang 39

ra cấu trúc của phép so sánh trong thành ngữ Hoàng Văn Hành phân thành ngữ so sánh thành hai dạng [39, tr.115]

THÀNH NGỮ SO SÁNH

- B là cái để so sánh, t là thuộc tính của B - B là cái dùng để so sánh

- Như B biểu thị mức độ của t - Như B biểu thị thuộc tính

Ví dụ: đen như than, im như thóc, chậm như rùa Ví dụ: như cá nằm trên thớt,

- Như B biểu thị thể cách của t như chim sổ lồng,

Ví dụ: rụng như sung, đuổi như đuổi tà như mèo thấy mỡ

Trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (1997), nhóm tác giả đã phân tích về

cấu trúc thành ngữ so sánh t như B: vế (t) trên hình thức không phải bao giờ cũng hiện

diện nhưng luôn được hiểu ngầm trong nội dung ngữ nghĩa Vế (B) luôn hiện diện cả trên hình thức lẫn trong ngữ nghĩa, nó có chức năng thuyết minh làm rõ cho (t) Vế (B) thường là các sự vật, hiện tượng, trạng thái, nói cách khác nó là thành tố biểu thị thể cách của hành động, trạng thái [13, tr.157-159]

Ví dụ: nhanh như chớp, lớn như thổi, tiêu tiền như nước, rẻ như bèo, đen như

than, đẹp như tiên, chắc như đinh đóng cột, đầu như tổ quạ

Theo Hoàng Văn Hành, vế (B) trong cấu trúc thành ngữ so sánh dạng: như B

luôn có tầng nghĩa đôi Bên cạnh nghĩa từ vựng để định danh sự vật, hiện tượng, nó còn bao hàm nghĩa biểu trưng cho một thuộc tính nào đó, phân biệt với các cấu trúc tương

tự Ở đây không thể tách bạch hai tầng nghĩa của (B) thành nghĩa đen và nghĩa bóng Chúng tương hỗ nhau nên có thể gọi nghĩa của cấu trúc so sánh là nghĩa biểu trưng Nghĩa của cấu trúc so sánh vừa biểu thị mức độ cao của thuộc tính vừa biểu trưng cho

Trang 40

thuộc tính khác biệt Hình ảnh so sánh trong thành ngữ còn bộc lộ cách nhìn, thái độ của người nói, đồng thời cũng gây cho người nghe những cảm xúc tương tự [39, tr.110-111]

Ví dụ: như đỉa phải vôi, như chó với mèo, như ong vỡ tổ, như hai giọt nước, như

ếch ngồi đáy giếng, như ngồi trên đống lửa, như nở từng khúc ruột, như bóng với hình, như hai giọt nước, như mèo thấy mỡ

1.4.2.2 Thành ngữ ẩn dụ hóa

Thành ngữ ẩn dụ hóa có thể gọi là thành ngữ miêu tả ẩn dụ5 “Đây là những

thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ.” [13, tr.159] Phương thức tạo nghĩa của loại

thành ngữ là ẩn dụ, đây cũng là một dạng so sánh, so sánh ngầm Nghĩa là cấu trúc bề mặt, hình thức của thành ngữ không phản ánh ý nghĩa thực của chúng, nó chỉ có tác dụng cung cấp cho người nghe người đọc lớp nghĩa từ vựng làm nền tảng để nhận biết

và hiểu nghĩa đích thực, lớp nghĩa ngầm ẩn bên dưới

Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến trong Cơ

sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (1997), đã phân chia thành ngữ ẩn dụ hóa thành ba tiểu

dạng căn cứ vào nội dung ngữ nghĩa:

- Thành ngữ ẩn dụ hóa miêu tả một sự kiện: trong thành ngữ này chỉ có một sự

việc, hiện tượng được miêu tả, do đó cũng chỉ có thể phản ánh một hình ảnh duy nhất

Ví dụ: ngã vào võng đào, nước đổ đầu vịt, chó ngáp phải ruồi

- Thành ngữ ẩn dụ hóa miêu tả hai sự kiện tương đồng: trong mỗi thành ngữ có

hai sự vật, sự việc hay hai hiện tượng được phản ánh Hai sự vật, sự việc, hiện tượng

5 “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau Có thể chia ẩn dụ thành các kiểu: giống nhau về hình thức, màu sắc, chức năng, giống nhau về thuộc tính tính chất,

giống nhau về đặc điểm vẻ ngoài, ” Theo Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình Ngôn ngữ học, Nxb Đại học

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w