1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoành phi, liễn đối trong các di tích tín ngưỡng của người hoa tại thành phố hồ chí minh (các di tích xếp hạng cấp quốc gia)

152 59 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoành phi, liễn đối trong các di tích tín ngưỡng của người hoa tại thành phố hồ chí minh (các di tích xếp hạng cấp quốc gia)
Tác giả Nguyễn Phúc Ánh
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Hồng Liên
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 17,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (4)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (0)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (11)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
  • 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (13)
  • 6. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 7. Bố cục của luận văn (14)
  • CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (15)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (15)
      • 1.1.1 Khái niệm di tích, tín ngưỡng và di tích tín ngưỡng (15)
      • 1.1.2 Khái niệm hoành phi, liễn đối và phân biệt với các thể loại khác (20)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (23)
      • 1.2.1 Khái quát về người Hoa ở TPHCM (0)
      • 1.2.2. Các cơ sở di tích được khảo sát (0)
        • 1.2.2.1 Miếu Nhị Phủ (0)
        • 1.2.2.2 Miếu Ôn Lăng (0)
        • 1.2.2.3 Miếu Thiên Hậu (0)
        • 1.2.2.4 Đình Minh Hương Gia Thạnh (36)
        • 1.2.2.5 Miếu Hà Chương (37)
        • 1.2.2.6 Miếu Bà Hải Nam (37)
        • 1.2.2.7 Đình Nghĩa Nhuận (0)
        • 1.2.2.8 Hội quán Lệ Châu (0)
  • CHƯƠNG 2 HOÀNH PHI, LIỄN ĐỐI TRONG CÁC DI TÍCH TÍN NGƯỠNG . 41 NHÌN TỪ THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN VĂN HÓA (41)
    • 2.1. Hoành phi, liễn đối nhìn từ thời gian (0)
      • 2.1.1 Nội dung, ý nghĩa (42)
        • 2.1.1.1 Miếu Nhị Phủ (42)
        • 2.1.1.2 Miếu Ôn Lăng (0)
        • 2.1.1.3 Miếu Thiên Hậu (46)
        • 2.1.1.4 Đình Minh Hương Gia Thạnh (0)
        • 2.1.1.5 Miếu Hà Chương (0)
        • 2.1.1.6 Miếu bà Hải Nam (50)
        • 2.1.1.7 Đình Nghĩa Nhuận (0)
        • 2.1.1.8 Hội quán Lệ Châu (53)
      • 2.1.2 Hình thức và cách bài trí (0)
        • 2.1.2.1 Hình thức (55)
        • 2.1.2.2 Cách xếp đặt (61)
    • 2.2. Hoành phi, liễn đối nhìn từ không gian (62)
      • 2.2.1 Nội dung, ý nghĩa (63)
        • 2.2.1.1 Miếu Nhị Phủ (63)
      • 2.2.2 Hình thức và cách bài trí (75)
        • 2.2.2.1. Hình thức (0)
        • 2.2.2.2. Cách bài trí (78)
  • CHƯƠNG 3 HOÀNH PHI, LIỄN ĐỐI (83)
    • 3.1 Về phương diện nghệ thuật (0)
    • 3.2 Về phương diện giáo dục (0)
    • 3.3 Về phương diện tín ngưỡng (96)
    • 3.4 Giao lưu văn hóa qua hoành phi, liễn đối (0)
      • 3.5.1 Giải pháp nghiên cứu (109)
      • 3.5.2 Giải pháp bảo tồn (113)
  • KẾT LUẬN (116)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (120)
    • 1. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT (0)
    • 2. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI (0)
    • 3. TÀI LIỆU INTERNET (126)
  • PHỤ LỤC (127)
    • 1. Nội dung biên bản gỡ băng phỏng vấn sâu (127)
    • 2. Các điển tích, điển cố liên quan đến đề tài (130)
    • 3. Hình ảnh minh họa (134)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu

Hoành phi và liễn đối là biểu tượng văn hóa quan trọng của cộng đồng người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam, đang được bảo tồn qua việc tôn tạo các di tích tín ngưỡng Việc tìm hiểu giá trị và ý nghĩa của hoành phi, liễn đối là cần thiết để hiểu rõ hơn về các di tích và cộng đồng người Hoa.

Nghiên cứu hoành phi, liễn đối tại các di tích tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh đã làm rõ những đặc trưng văn hóa tiềm ẩn của họ Qua đó, cộng đồng người Hoa nhận thấy rằng người Việt cũng đánh giá cao giá trị văn hóa trong các di tích tín ngưỡng của mình, từ đó thúc đẩy sự hòa nhập, giao lưu và đoàn kết giữa hai cộng đồng ngày càng tốt hơn.

Mục đích của đề tài là cung cấp cái nhìn hệ thống về giá trị của hoành phi và cặp liễn đối tại các di tích tín ngưỡng của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh Đề tài này không chỉ hỗ trợ các nhà nghiên cứu mà còn giúp học sinh, sinh viên và những người yêu thích văn hóa hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa tiềm ẩn trong những tác phẩm nghệ thuật này.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đề tài hoành phi, liễn đối không chỉ mang đậm giá trị văn hóa của cộng đồng người Hoa mà còn mở ra góc nhìn mới từ lĩnh vực Văn hóa học Luận văn này cung cấp thông tin quý giá mà các chuyên gia Hán Nôm chỉ có thể tiếp cận qua biên dịch và xác định bối cảnh ra đời của các tác phẩm này Nó cũng bổ sung nguồn tài liệu tham khảo thiết yếu cho sinh viên và các nghiên cứu liên quan đến hoành phi, liễn đối tại các di tích tín ngưỡng của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề của luận văn, các phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng:

Phương pháp điền dã bao gồm việc ghi chép tư liệu và thu thập thông tin tại các di tích tín ngưỡng của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh, những di tích này đã được xếp hạng cấp Quốc gia.

Phương pháp lịch sử: Có cái nhìn lịch đại về quá trình nhập cư của người

Hoa và sự tiếp biến văn hóa của họ trên vùng đất mới nơi họ đã đến định cư

Phương pháp hệ thống bao gồm thống kê tư liệu, xử lý tư liệu và tài liệu từ kết quả nghiên cứu các công trình liên quan, giúp xây dựng đề tài một cách có hệ thống và tạo kết cấu chặt chẽ giữa các chương.

Phương pháp so sánh giúp nhận diện sự tương đồng và khác biệt trong nội dung, hình thức và cách bài trí của các bức hoành phi và cặp liễn đối tại các di tích tín ngưỡng của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh so với các khu vực khác và Trung Quốc.

Phương pháp phỏng vấn: Khai thác được những thông tin từ các điển tích, điển cố, các giai thoại trong dân gian liên quan đến hoành phi, liễn đối

Phương pháp thống kê được áp dụng để xem xét và đánh giá các cơ sở di tích đã được khảo sát, đồng thời xác định tổng số hoành phi và liễn đối tại các di tích này.

Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn được bố cục theo 3 chương

Chương 1 trình bày các khái niệm cơ bản về di tích, tín ngưỡng và di tích tín ngưỡng, bao gồm đình, chùa, miếu, hội quán, cũng như khái niệm hoành phi, liễn đối và sự phân biệt giữa chúng với các thể loại khác Bên cạnh đó, chương cũng khái quát về cộng đồng người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhấn mạnh các làn sóng di dân của họ đến thành phố này.

Hồ Chí Minh không chỉ nổi bật với các hoạt động kinh tế mà còn là trung tâm văn hóa và xã hội đa dạng Thành phố này còn lưu giữ nhiều di tích tín ngưỡng của người Hoa, phản ánh sự giao thoa văn hóa phong phú trong cộng đồng.

Chương 2 khám phá nội dung, ý nghĩa, hình thức và cách bài trí của hoành phi, liễn đối trong các cơ sở di tích tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh, xem xét từ góc độ thời gian và không gian văn hóa Các yếu tố này không chỉ phản ánh bản sắc văn hóa đặc trưng mà còn thể hiện sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại trong đời sống tín ngưỡng của người Hoa tại địa phương.

Chương 3 khám phá hoành phi và liễn đối từ góc độ văn hóa, nhấn mạnh các khía cạnh như sinh hoạt nghệ thuật, định hướng giáo dục, đời sống tín ngưỡng và giao lưu văn hóa của cộng đồng người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm di tích, tín ngưỡng và di tích tín ngưỡng

Liên quan đến vấn đề di tích, có một số khái niệm được đưa ra như sau: Theo

Di tích, theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (2006), là những dấu vết của quá khứ còn tồn tại trong lòng đất hoặc trên bề mặt đất, mang ý nghĩa quan trọng về văn hóa và lịch sử.

Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003), di tích được hiểu là dấu vết của con người hoặc sự kiện từ thời xưa còn tồn tại đến ngày nay Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với khái niệm này về di tích.

Viện Ngôn ngữ học Việt Nam đã xác định rằng khái niệm di tích có nội hàm tương đối đầy đủ, giúp nhận diện rõ ràng mà không quá dài dòng.

Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003) khái niệm tín ngưỡng được định nghĩa: “Tín ngưỡng là lòng tin theo một tôn giáo nào đó”

Trần Ngọc Thêm cho rằng tín ngưỡng là một phần quan trọng trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, phản ánh những tập tục truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong bối cảnh xã hội Việt Nam cổ truyền, tín ngưỡng được hình thành từ sự tưởng tượng về thần thánh, thể hiện sự ngưỡng mộ và tin tưởng Mặc dù tín ngưỡng dân gian chưa phát triển thành tôn giáo theo nghĩa đen, nhưng đã có những dấu hiệu khởi đầu Sự xuất hiện của các tôn giáo lớn như Phật giáo, Đạo giáo và Kitô giáo đã tạo điều kiện cho các tôn giáo dân tộc như Cao Đài và Hòa Hảo phát triển sau này.

Tín ngưỡng được hiểu là quá trình thuần hóa một nhân vật hoặc hiện tượng mà con người đặt niềm tin vào, trong đó có thể bao gồm việc huyền thoại hóa và làm sống động hóa hình tượng của các nhân vật thờ phụng.

Di tích tín ngưỡng được định nghĩa là những cơ sở thờ phụng mang giá trị văn hóa và lịch sử, nơi con người thể hiện niềm tin vào các nhân vật hoặc huyền thoại được tôn thờ.

Di tích tín ngưỡng bao gồm các cơ sở thờ phụng như đình, chùa, miếu, nơi diễn ra các nghi lễ cúng bái và tôn kính thần linh Những địa điểm này không chỉ là nơi thực hành tín ngưỡng mà còn phản ánh văn hóa và truyền thống của cộng đồng.

Đình, theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003), là một công trình công cộng của làng, được xây dựng với mục đích thờ cúng thành hoàng và tổ chức các hoạt động cộng đồng.

Trong tác phẩm "Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh," Li Tana và Nguyễn Cẩm Thúy (1999) định nghĩa đình là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của làng xã Việt Nam xưa, đồng thời là nơi thờ thành hoàng, ghi nhận công lao của những người có công với làng, và niêm yết các giao kèo, khoán ước của cộng đồng.

Theo Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, đình được xem là nơi sinh hoạt công cộng của làng xã Việt Nam trong quá khứ, đồng thời là trụ sở làm việc của các chức dịch địa phương và là nơi thờ cúng thành hoàng của từng làng.

Chúng tôi đồng ý với khái niệm về ngôi đình được nêu trong Từ điển tiếng Việt, vì khái niệm này cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết để nhận diện ngôi đình.

Chùa được hiểu truyền thống là nơi thờ Phật và là điểm tập trung của các tăng đồ Phật giáo, một tôn giáo phổ biến tại các vùng nông thôn và đô thị Việt Nam, thể hiện rõ nét tính chất tôn giáo của nó.

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003) cho rằng: “Chùa là công trình kiến trúc làm nơi thờ Phật, thường có nhà sư ở”

Chùa là công trình kiến trúc tín ngưỡng chủ yếu ở Đông Á và Đông Nam Á, thường được xây dựng để thờ Phật Chùa có nhiều điểm tương đồng với chùa tháp Ấn Độ, nơi lưu giữ Xá-lị và chôn cất các đại sư Chùa biểu trưng cho Chân như, thường được thể hiện qua hình tượng Phật ở trung tâm Nhiều chùa được thiết kế theo hình thức Man-đa-la với các vị Phật bốn phương và có nhiều tầng, tượng trưng cho ba thế giới và thập địa của Bồ Tát Ngoài ra, chùa còn có cấu trúc tám mặt biểu thị cho Pháp luân hoặc Bát chánh đạo, là nơi sinh hoạt, tu hành và giảng dạy của các sư tăng Tất cả mọi người, dù là tín đồ hay không, đều có thể đến thăm, nghe giảng và tham gia các nghi lễ tôn giáo tại chùa.

Chùa là một công trình kiến trúc được xây dựng để thờ Phật, phục vụ cho các mục đích và niềm tin của tôn giáo Phật giáo.

Miếu, theo Toan Ánh trong "Tín ngưỡng Việt Nam" quyển thượng, là nơi thờ quỷ thần, nhỏ hơn đền và thường được xây dựng theo kiểu hình chữ nhật với hai phần tách biệt: nội điện và nhà tiền tế Miếu thường được đặt ở những vị trí yên tĩnh như gò cao, sườn núi, bờ sông hoặc đầu và cuối làng, nhằm tạo không gian thanh tịnh cho quỷ thần Bên trong miếu có tượng thần hoặc bài vị thần linh, được đặt trên ngai và bệ, thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần.

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát về người Hoa ở TPHCM

Quá trình di dân của người Hoa đến thành phố Hồ Chí Minh

Cộng đồng người Hoa đã có mặt tại thành phố Hồ Chí Minh từ rất sớm, với nhiều đợt di cư lớn diễn ra vào các thời điểm khác nhau trong lịch sử.

Vào thế kỷ XVII, cuộc di dân của Mạc Cửu và gia đình đến Hà Tiên vào năm 1671 đánh dấu sự bắt đầu của công cuộc khai phá miền Đông Nam Bộ Năm 1679, các tướng Trung Hoa như Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đã đổ bộ vào cửa biển Tư Dung (Đà Nẵng) với sự cho phép của Chúa Nguyễn để khai khẩn vùng đất phương Nam Trần Thượng Xuyên đã dẫn quân vào cửa biển Cần Giờ và đóng quân tại Bàn Lăng - Đồng Nai, trong khi Dương Ngạn Địch cùng binh lính tiến vào cửa Xoài Rạp và đóng quân ở Mỹ Tho - Tiền Giang.

Lịch sử di dân của người Hoa vào Việt Nam, đặc biệt là Nam Bộ, chịu ảnh hưởng lớn từ các chính quyền Trung Quốc, với chính quyền Mãn Thanh đã ngăn chặn các làn sóng di dân để kiểm soát sự nổi loạn Sự biến động này đã khiến số phận của người Hoa di cư vào Nam Bộ trở nên thê thảm, đặc biệt trong thời kỳ Tây Sơn khi họ phải đối mặt với nhiều thử thách khắc nghiệt Một biến cố điển hình là cuộc tàn sát hơn 10.000 người Hoa tại Chợ Lớn do họ ủng hộ Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn.

Cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ ngày càng phát triển và đông đảo, đặc biệt từ khi thực dân Pháp xâm lược và thu hút người Hoa nghèo đến phục vụ Thời kỳ Pháp thuộc, người Việt cũng di cư ồ ạt vào Sài Gòn - Gia Định, biến nơi đây thành trung tâm thương mại chính của cả người Việt và người Hoa, với khu vực Chợ Lớn là nơi định cư chủ yếu của cộng đồng người Hoa.

Dưới sự cai trị khắt khe của vua Minh Mạng, cộng đồng người Hoa trở nên thụ động và đố kỵ, họ ít tham gia vào hoạt động chính trị và chỉ mong muốn có cuộc sống yên ổn Tuy nhiên, miền Nam vẫn thu hút di dân người Hoa hơn miền Bắc, bởi họ nhận thấy sự phát đạt và yên bình từ những tập đoàn di dân trước đó.

Từ thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 20, người Trung Hoa di cư sang Việt Nam chủ yếu qua đường thủy và bộ Hai khu vực có đông đảo người Hoa sinh sống là xã Thanh Hà ở Biên Hòa và xã Minh Hương tại Chợ Lớn.

Sau một hành trình gian nan trên biển, cộng đồng người Hoa đã tìm thấy nơi dừng chân an bình cho cuộc sống mới tại thành phố Hồ Chí Minh Qua thời gian định cư, họ vẫn giữ gìn được nét văn hóa truyền thống, góp phần làm phong phú và đa dạng kho tàng văn hóa của thành phố và Việt Nam.

Thành phố Hồ Chí Minh, nằm ở vùng Đông Nam Bộ, là nơi sinh sống của nhiều tộc người, bao gồm cả người Việt và một cộng đồng lớn người Hoa Đây là trung tâm đô thị thu hút đông đảo người Hoa đến định cư Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Dân số Việt Nam năm 1999, cả nước có 862.371 người Hoa, trong đó thành phố Hồ Chí Minh có một tỷ lệ đáng kể.

Thành phố Hồ Chí Minh có 414.045 người Hoa, chiếm 50,30% tổng số người Hoa tại Việt Nam, theo số liệu từ Tổng điều tra dân số năm 2009 Trong giai đoạn 1999-2009, dân số người Hoa tại Việt Nam đã giảm Cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu sống tại các quận 5, 6, và 11, với các nhóm phương ngữ như Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ Họ không chỉ gắn bó với nhau qua nghề nghiệp và ngôn ngữ, mà còn thông qua quan hệ thân tộc, nhiều người trong số họ đã kết hôn với người Việt, tạo nên thế hệ công dân Việt Nam mới.

Cộng đồng người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện những đặc trưng riêng biệt trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và giáo dục Những giá trị này không chỉ làm phong phú thêm đời sống kinh tế mà còn góp phần quan trọng vào việc gìn giữ và phát huy văn hóa tinh thần của người Hoa trong thành phố.

Cộng đồng người Hoa di cư đến Nam Bộ vì nhiều lý do, bao gồm tị nạn chính trị và tìm kiếm cơ hội lập nghiệp Họ có quan niệm mạnh mẽ về sự nỗ lực không ngừng, từ việc bắt đầu với những công việc nhỏ đến việc trở thành những ông chủ lớn Đặc biệt, người Hoa nổi bật với khả năng nhạy bén trong việc nắm bắt đặc điểm của cư dân bản xứ và thị trường, từ đó phát triển các kế hoạch kinh doanh phù hợp với từng vùng.

Sách Gia Định thành thông chí ghi nhận sự khai phá của người Hoa tại vùng đất mới, không chỉ trong nông lâm ngư nghiệp mà còn trong việc xây dựng đô thị Dần dần, họ chuyển từ nông nghiệp sang thương mại, hình thành những khu phố lớn với các cửa hiệu san sát Người Hoa mang đến kiểu nhà ống đặc trưng từ Nam Trung Hoa vào thế kỷ XVIII, được gọi là shophouse, với chiều ngang 3-4 mét và chiều dài gấp 4-5 lần Điểm nhấn của người Hoa là các chợ bán sỉ và phố chuyên doanh, thể hiện quan niệm “buôn có bạn, bán có phường” Quận 5 có hơn 40 trong số 70 con đường được xem là phố chuyên doanh, như phố thuốc bắc Hải Thượng Lãn Ông và phố cẩm thạch mã não Hàm Tử - An Bình Du khách đến "China Town" ở quận 5 có thể trải nghiệm đời sống văn hóa phong phú của người Hoa tại Sài Gòn.

Người Hoa đã nhanh chóng thích nghi và phát triển kinh tế tại vùng đất mới, với nhiều hình thức kinh doanh khác nhau tùy thuộc vào vốn liếng và sức lực Các ngành nghề như xay xát lúa gạo, xuất nhập khẩu, may mặc, và sản xuất đồ da đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế Nam Bộ Vào những năm 30-40 của thế kỷ XX, Sài Gòn - Chợ Lớn đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của nhiều cơ sở sản xuất, trong đó có hãng giày Bata Theo Đào Trinh Nhất, Chợ Lớn, mặc dù không đẹp như Sài Gòn hay Hà Nội, nhưng lại là trung tâm hoạt động công nghiệp và buôn bán hàng đầu của Việt Nam vào thời điểm đó.

Người Hoa nổi bật trong lĩnh vực thương mại nhờ vào tính năng động và nhạy bén trong việc nắm bắt tâm lý mua bán của cư dân bản xứ Họ có sự am hiểu sâu sắc về thị trường, cùng với tính đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau Đặc biệt, "chữ tín" trong giao thương được người Hoa giữ gìn và coi trọng, tạo nên mối quan hệ kinh tế vững chắc Giá trị của chữ tín trong kinh doanh không chỉ là nét độc đáo mà còn là sức mạnh văn hóa giúp người Hoa liên kết và hợp tác phát triển kinh tế.

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ văn hóa của cộng đồng người Hoa, giúp họ duy trì nét văn hóa truyền thống và ngôn ngữ khi định cư tại vùng đất mới.

(9) http://vanhoanghean.com.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/2792-the-luc-khach-tru-va-van- de-di-dan-vao-nam-ky-ky-1.html

HOÀNH PHI, LIỄN ĐỐI TRONG CÁC DI TÍCH TÍN NGƯỠNG 41 NHÌN TỪ THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN VĂN HÓA

HOÀNH PHI, LIỄN ĐỐI

Ngày đăng: 27/04/2021, 23:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Lê Anh Dũng, Lê Anh Minh 1995: Quan Thánh xưa và nay, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan Thánh xưa và nay
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
17. Lê Đức Lợi 2008: Đối liễn Hán Nôm, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối liễn Hán Nôm
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
18. Lê Hồng Lý 1999: Hội đền Thiên Hậu, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đền Thiên Hậu
19. Lê Quang Ninh 2004: Sài Gòn - Ba thế kỷ phát triển và xây dựng, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sài Gòn - Ba thế kỷ phát triển và xây dựng
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
20. Lê Quý Ngưu 2000: Lịch và Lịch vạn niên: âm lịch - dương lịch đối chiếu, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch và Lịch vạn niên: âm lịch - dương lịch đối chiếu
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
21. Lê Văn Cảnh (chủ biên) 2000: Miếu Thiên Hậu - Tuệ Thành hội quán, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miếu Thiên Hậu - Tuệ Thành hội quán
Nhà XB: NXB Trẻ
22. Lê Văn Lưu 1931: Pagodes chinoises et Annamites de Cholon. Imprimerie Tonkinoises, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pagodes chinoises et Annamites de Cholon
23. Lê Văn Nhàn 1957: Tam ngươn đại lược, NXB Tín Đức Thư Xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam ngươn đại lược
Nhà XB: NXB Tín Đức Thư Xã
24. Lê Văn Nhàn 1958: Tam ngươn tiểu lược, NXB Tín Đức Thư Xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam ngươn tiểu lược
Nhà XB: NXB Tín Đức Thư Xã
25. Li TaNa và Nguyễn Cẩm Thúy 1999: Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
26. Lưu Đạo Sưu, Chu Vĩnh Ích 2004: Trạch cát thần bí - đại điển tích văn hóa Trung Hoa, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trạch cát thần bí - đại điển tích văn hóa Trung Hoa
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
27. Lý Lan 1999: Sài Gòn Chợ Lớn rong choi. – Tp.HCM: NXB Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sài Gòn Chợ Lớn rong choi
Nhà XB: NXB Văn nghệ
28. Mạc Đường 1994: Xã hội người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 tiềm năng và phát triển. –HN: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
29. Nam Anh 2010: 202 câu đối, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 202 câu đối
Nhà XB: NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
30. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) 2001: Tín ngưỡng và Văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, - Hà Nội, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng và Văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
31. Nguyễn Bích Hằng 2011: Hoành phi câu đối Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoành phi câu đối Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
32. Nguy ễn Cẩm Thúy 2000: Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
33. Nguy ễn Duy Bính 2005: Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở Nam Bộ, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở Nam Bộ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
34. Nguy ễn Đình Đầu 1987: Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
35. Nguyễn Minh San 1999: Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w