Nghiên cứu Cao Đài Tiên Thiên nói chung, văn hóa tổ chức đời sống của hơn 76.000 tín đồ phân bố trên 16 tỉnh thành của Cao Đài Tiên Thiên ở vùng Tậy Nam Bộ là một nhu cầu cần thiết để gó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
CÙ CÔNG TẠO
VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỦA TÍN ĐỒ CAO ĐÀI TIÊN THIÊN Ở NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MSN: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN HIỆU
Tp Hồ Chí Minh - tháng 10 năm 2012
Trang 2MỤC LỤC
DẪN NHẬP 4
1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 4
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
4 Quan điểm tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 10
6 Bố cục luận văn 10
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.2 Khái quát về Cao Đài Tiên Thiên 15
1.2.1 Một số cơ sở hình thành 15
1.2.2 Quá trình phát triển qua các thời kỳ 19
1.3 Tiểu kết Chương 1 36
CHƯƠNG 2 VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ CỦA TÍN ĐỒ CAO ĐÀI TIÊN THIÊN 37
2.1 Tổ chức Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên 37
2.1.1 Tam đài phân lập 37
2.1.2 Lưỡng phái bình đẳng 41
2.1.3 Dân chủ tập trung 42
2.1.4 Thống nhất hành đạo 45
2.2 Đặc điểm nổi bật trong tổ chức đời sống tập thể Cao Đài Tiên Thiên 47
2.2.1 Sự quân bình về tổ chức lưỡng phái 47
2.2.2 Sự bình đẳng nam nữ trong tổ chức 52
2.2.3 Sự hài hòa trong đường lối hành đạo 55
2.2.4 Tổ chức hoạt động cầu nguyện hòa bình 60
2.2.5 Tổ chức hệ thống các ngôi thờ tự 64
2.3 Tiểu kết Chương 2 68
CHƯƠNG 3 VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN CỦA TÍN ĐỒ CAO ĐÀI TIÊN THIÊN 70
3.1 Các bình diện của văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Cao Đài Tiên Thiên 70
Trang 33.1.1 Đức tin của tín đồ 70
3.1.2 Nghi thức thờ phụng 77
3.1.3 Phong tục và lễ hội 80
3.1.4 Văn hóa nghệ thuật 88
3.2 Đặc trưng của văn hóa tổ chức đời sống cá nhân của Cao Đài Tiên Thiên 94
3.2.1 Tính dung hợp 95
3.2.2 Tính mở 101
3.3 Tiểu kết Chương 3 106
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 116
Phụ lục I Thánh tịnh Cao Đài Tiên Thiên 116
Phụ lục II Tiểu sử các vị tiền bối khai đạo 130
Phụ lục III Hình ảnh về Cao Đài Tiên Thiên 149
Trang 4DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Cao Đài Tiên Thiên là một hệ phái của Đạo Cao Đài có tiền đề xuất hiện từ những năm 1920 ở miền sông nước Tây Nam Bộ Đây là hệ phái Cao Đài duy nhất được nhà nước công nhận có ba đời Giáo tông yêu nước và điều đó phần nào cho thấy Cao Đài Tiên Thiên đã có quá trình gắn với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Với lịch sử và truyền thống đó, Cao Đài Tiên Thiên là Hội Thánh đầu tiên được nhà nước công nhận tư cách pháp nhân hoạt động năm 1995, sớm nhất so với tất cả các hệ phái Cao Đài khác và bắt đầu đi vào thời kỳ hành đạo có Hiến chương với tinh thần “nước vinh đạo sáng”
Nghiên cứu Cao Đài Tiên Thiên nói chung, văn hóa tổ chức đời sống của hơn 76.000 tín đồ phân bố trên 16 tỉnh thành của Cao Đài Tiên Thiên ở vùng Tậy Nam
Bộ là một nhu cầu cần thiết để góp phần khám phá thêm những đặc điểm văn hóa của một nền tôn giáo nội sinh mang nhiều đặc trưng văn hóa dân tộc Việt
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu thêm những giá trị văn hóa trong đời sống tôn giáo của cộng đồng tín đồ Cao Đài Tiên Thiên, góp thêm một cái nhìn khoa học về một tôn giáo bản địa thời hiện đại Đồng thời, qua đó góp phần tìm hiểu văn hóa Nam Bộ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về Văn hóa tổ chức đời sống của tín đồ Cao Đài Tiên Thiên trong phạm vi 16 tỉnh, 2 thành phố khu vực Nam Bộ, tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ, chủ yếu từ đầu thế kỷ XIX khi bắt đầu có những dấu hiệu xuất hiện tôn giáo mới là đạo Cao Đài cho đến ngày nay Đây là nội dung bao trùm, xuyên suốt các chương, mục của luận văn
Trang 53 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ra đời chính thức vào năm 1926, đạo Cao Đài sau đó nhanh chóng phát triển thành một tôn giáo có số lượng tín đồ khá đông ở Nam Bộ Từ quá trình hình thành, phát triển, tồn tại, phân hóa Đạo Cao Đài luôn chịu sự ảnh hưởng bởi các yếu tố địa lý, chính trị, văn hóa, xã hội và các tư tưởng thời cuộc tại khu vực Nam
Bộ Vì vậy, từ lâu Đạo Cao Đài đã trở thành một đối tượng nghiên cứu thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, trong đó có cả những người trong Đạo
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Đạo Cao Đài từ nhiều góc độ khác nhau như lịch sử, triết học, xã hội học, tôn giáo, văn hóa, chính trị có giá trị
đã được công bố Tuy nhiên, vì mục đích và cách tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nên kết quả nghiên cứu, cách đánh giá và giải thích về sự ra đời, nguyên nhân tồn tại, sinh hoạt tôn giáo của tín đồ Đạo Cao Đài ở khu vực Nam Bộ nói riêng và trong cả nước nói chung trong các công trình cũng khác nhau Căn cứ và kết quả được nghiên cứu, có thể phân chia thành các nhóm công trình như sau:
Những công trình về lịch sử Đạo Cao Đài
Các công trình nghiên cứu về lịch sử Đạo Cao Đài có thể kể đến là “Cái án Cao Đài” của Đào Trinh Nhất viết năm 1929, NXB Saigon Imprimerie
Commerciale, Sài gòn, đề cập xung quanh vấn đề cầu cơ giáng bút của các vị đệ tử đầu tiên của Đạo Cao Đài, theo ông Đào Trinh Nhất thì Cao Đài là một tà giáo, không có chính kiến rõ ràng, luôn thể hiện sự hỗn tạp trong giáo lý, cách hành đạo cũng như cơ cấu tổ chức
Sau “Cái Án Cao Đài”, năm 1930, Băng Thanh đã viết “Cải Án Cao Đài”
nhằm phản biện lại quan điểm của ông Đào Trinh Nhất Ông cho rằng sự tổng hợp giáo lý mà Cao Đài thể hiện là một khía cạnh đạo đức, một ý nghĩa sâu xa của đạo Cao Đài
Trang 6Năm 1948, một nhà văn người Pháp tên Gabriel Gobron đã cho ra đời công
trình liên quan đến lịch sử Cao Đài là “Lịch sử đạo Cao Đài” (Histoire du Caodaisme) và “Lịch sử và Triết học Cao Đài” (Histoire et Philosophie du
Caodaisme), ông đã phân tích khá rõ về vai trò của Thông linh học trong việc hình thành và phát triển của Đạo Cao Đài Ngoài ra ông còn giới thiệu về giáo lý, luật
lệ, lễ nghi và tổ chức giáo hội của Cao Đài
Năm 1963, Huệ Lương (Trần Văn Quế) xuất bản cuốn “Đại đạo Tam kỳ Phổ
độ - Sơ giản” trình bày một cách chi tiết và hệ thống về lịch sử hình thành và phát
triển của Đạo Cao Đài Công trình này cũng giới thiệu về hệ thống giáo lý, nghi lễ,
tổ chức của Cao Đài
Năm 1965, Nguyễn Lương Hưng viết “Cao Đài giáo như một tôn giáo tổng hợp” trên Tạp chí Hòa Đồng, các số từ 29 đến 52, tác giả cho rằng Đạo Cao Đài
xuất phát từ hiện tượng Thông linh học ở Việt Nam mà không nói gì về điều kiện lịch sử, địa lý, chính trị dẫn đến sự ra đời của tôn giáo mới này
Năm 1973, Phạm Kỳ Chưởng viết công trình “Đạo Cao Đài và chính trị”
chủ yếu đề cập đến sự hình thành quân đội đạo Cao Đài từ 1930 – 1945 và những giai đoạn phát triển của đạo Cao Đài qua các thời kỳ
Năm 1975, Trần Văn Giàu công bố công trình “Sự phát triển của tư tưởng
ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, tập 2” nói về nguyên nhân
dẫn đến ra đời của Đạo Cao Đài
Năm 1995, Đặng Nghiêm Vạn chủ biên công trình có tên “Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài” Công trình này giới thiệu quá trình hình thành và phát triển
của đạo Cao Đài ở Việt Nam thiên về hướng nghiên cứu lịch sử
Năm 1996, Lê Anh Dũng đã viết quyển “Lịch sử đạo Cao Đài - Thời kỳ tiềm ẩn (1920 - 1926)” Giới thiệu tiền đề hình thành đạo Cao Đài, lịch sử và vai
trò hình thành đạo thời kỳ đầu ở Nam Bộ
Trang 7Năm 2007, Trần Văn Rạng có công trình “Đạo Cao Đài với phong trào Minh Tân và Đông Du”, tác giả làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đạo Cao Đài với
những phong trào yêu nước trong thời kỳ tiềm ẩn của nó qua hoạt động của các nhà lãnh đạo tiền khai của tôn giáo này
Năm 2007, Lê Anh Dũng lại cho ra đời công trình “Lịch sử thánh thất Cao Đài Hà Nội”, đưa ra cái nhìn khái lược về lịch sử trải dài gần 70 năm, từ năm
1939 đến nay của một thánh thất Cao Đài ở Hà Nội, gắn liền với những bước thăng trầm của lịch sử đất nước Công trình này góp phần bổ sung thêm những tư liệu quan trọng cho lịch sử phát triển của tôn giáo này
Năm 2008, Ngô Chơn Tuệ viết công trình Luận văn Thạc sĩ Sử học Trường
ĐH KHXH & NV Tp.HCM có tựa đề “Góp phần tìm hiểu sự ra đời của Đạo Cao Đài”, tác giả đã nêu lên các yếu tố địa lý tự nhiên, kinh tế chính trị, xã hội …ảnh
hưởng đến sự ra đời của Đạo Cao Đài
Năm 2009, Huỳnh Ngọc Thu đã viết Luận án Tiến sĩ Sử học Trường ĐH
KHXH & NV Tp.HCM có tên “Đời sống tôn giáo của tín đồ Đạo Cao Đài trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ”, công trình đã khắc họa khá chi tiết về đời sống tôn
giáo của tín đồ Cao Đài từ đức tin, sự thờ phụng, nghi lễ, tổ chức của Đạo Cao Đài đồng thời cũng nêu lên những đóng góp của Đạo Cao Đài trong văn hóa Nam Bộ
Năm 1997, Lê Ngọc Hòa đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ trường Đại Học
Văn Hóa Hà Nội với đề tài “Lễ hội Cao Đài Tây Ninh” Giới thiệu toàn cảnh về lễ
hội và những hoạt động văn hóa trong ngày đại lễ diễn ra tại Tòa thánh Tây Ninh
Trang 8Năm 2005, Nguyễn Mạnh Tiến hoàn thành công trình Luận văn Thạc sĩ
trường ĐH KHXH & NV Tp.HCM có tựa đề “ Lễ hội Cao Đài từ góc nhìn văn hóa”, tác giả tiếp cận lễ hội Cao Đài từ góc nhìn văn hóa học
Năm 2008, Huỳnh Ngọc Thu viết “Đại lễ vía Đức Chí tôn của đạo Cao Đài
ở Tp Hồ Chí Minh”, tác giả tiến hành lý giải về hành vi và hiện tượng xã hội của
các tín đồ Cao Đài qua việc thực hiện nghi lễ tôn giáo
Năm 2007, Lê Anh Dũng viết công trình “Tìm hiểu ý nghĩa, nguồn gốc và cách dịch tên gọi chức sắc Cửu trùng đài”, khảo sát lại cách hiểu của ta về những
tên gọi chức sắc trong cơ quan Cửu Trùng Đài trong hệ thống tổ chức của đạo Cao Đài qua đó lý giải về nghĩa và ý nghĩa của chúng
Năm 2007, Phạm Bích Hợp đã xuất bản công trình “Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa (Bửu Sơn Kỳ Hương – Cao Đài – Hòa Hảo)”, tác giả khảo sát mối
quan hệ giữa đặc điểm tâm lý người Việt Nam Bộ với đạo Cao Đài nói riêng, và các tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật giáo Hòa Hảo nói chung, dựa trên một giả định rằng đạo Cao Đài hình thành trên cái nền đặc điểm tâm lý của người Việt Nam Bộ, tác giả cho thấy đạo Cao Đài trở thành một cấu phần của văn hóa dân tộc, và chất liệu của cấu phần ấy trở thành chất liệu tham gia hình thành nên đặc điểm nhân cách của một bộ phận người Việt ở Nam Bộ
Những công trình về Triết học
Năm 2008, Huỳnh Thị Phương Trang công bố Luận án Tiến sĩ Triết học
Trường ĐH KHXH & NV Tp.HCM với đề tài “Đạo Cao Đài hiện nay và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ” Công trình này tập trung nghiên cứu về tổ chức tôn giáo của Cao Đài Tây
Ninh và nêu lên những biến đổi trong tổ chức tôn giáo này trong giai đoạn hiện nay Đây là một công trình nghiên cứn công phu, với nội dung phong phú và có những nhận xét, đánh giá khoa học về Đạo Cao Đài
Trang 9Ngoài ra còn nhiều sách, báo, tạp chí, bài viết về lịch sử đạo Cao Đài, giới thiệu về giáo lý, tư tưởng, hành đạo của tín đồ đạo Cao Đài được đăng tải dưới dạng bản thảo, bài viết trên internet, kỷ yếu hội thảo của nhiều nhà báo, nhà nghiên cứu không chuyên và các học giả khác Nhìn chung, việc nghiên cứu về Đạo Cao Đài từ khi xuất hiện ở Nam Bộ đến nay đã có nhiều công trình được công
bố, tập trung phần nhiều về vấn đề lịch sử, tư tưởng chính trị, triết học, lễ hội mà
đa phần là Cao Đài nói chung và Cao Đài Tây Ninh nói riêng Nhưng chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về khối Cao Đài ngoài Tây Ninh mà đặc biệt là nghiên cứu về văn hóa tổ chức đời sống của các Hội thánh Cao Đài một cách riêng
biệt Vì vậy, đề tài về Văn hóa tổ chức đời sống tôn giáo của Cao Đài Tiên Thiên ở Nam Bộ sẽ là một đề tài đầu cho việc nghiên cứu các Hội thánh Cao Đài
như một đối tượng nghiên cứu độc lập
4 Quan điểm tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Quan điểm tiếp cận
Tiếp cận từ góc nhìn văn hóa: là chủ yếu và cần thiết để hiểu rõ hơn về văn hóa tổ chức đời sống của người Cao Đài Tiên Thiên trong bối cảnh văn hóa Nam
Bộ
Tiếp cận theo hệ thống – cấu trúc: Để phân tích những biểu hiện của tổ chức đời sống cá nhân và tập thể hệ phái Cao Đài Tiên Thiên ở vùng đất mới Nam
Bộ trong những thành tố văn hóa cụ thể
Tiếp cận dưới phương diện đồng đại và lịch đại
- Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử: Để khảo sát quá trình hình thành Cao Đài Tiên Thiên trong suốt chiều dài của lịch sử hình thành cộng đồng Cao Đài
Trang 10Phương pháp so sánh: So sánh với tổ chức Cao Đài khác trong cộng đồng Cao Đài để làm rõ đặc điểm tổ chức đời sống văn hóa và tinh thần như một nét đặc trưng, đặc thù Cao Đài Tiên Thiên
Phương pháp điền dã: Quan sát, phỏng vấn, ghi chép, ghi âm, ghi hình nhằm sưu tầm và tập hợp tư liệu thực tế
Nguồn tư liệu: Chủ yếu từ nguồn tư liệu thành văn và tư liệu điền dã về các
hoạt động của Cao Đài Tiên Thiên từ giai đoạn hình thành cho đến tận ngày nay
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về phương diện khoa học: Góp phần làm rõ về sự ra đời, tồn tại và phát
triển của một tôn giáo có quá trình hình thành mang những nét đặc thù trong cộng đồng Cao Đài; Góp phần làm rõ thêm về một tôn giáo mới, mang nhiều bản sắc của văn hóa Việt Nam, đồng thời cũng thấy được đặc điểm của tôn giáo này dưới góc độ văn hóa vùng; Làm rõ cơ cấu tổ chức tôn giáo, hệ thống hành chính đạo từ
cơ cấu trung ương đến địa phương, hệ thống thánh sở và tổ chức đời sống của tín
đồ Cao Đài Tiên Thiên trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ, qua đó thấy được được
những đóng góp của văn hóa Cao Đài trong văn hóa Nam Bộ
Về phương diện thực tiễn: Những nghiên cứu của luận văn cung cấp một
cái nhìn toàn diện về một tổ chức Cao Đài đầu tiên được nhà nước cấp pháp nhân trong cả hệ thống cộng động Cao Đài trong nước; Luận văn có thể làm cơ sở cho những công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn về văn hóa Cao Đài; Góp phần cho
cơ quan chức năng có thêm những gợi mở mới trong vấn đề hoạch định chính sách
liên quan đến hoạt động tôn giáo ở Nam Bộ
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, nội dung chính của luận văn sẽ được chúng tôi triển khai thành 3 chương
CHƯƠNG 1 – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trang 11Chương này triển khai trong 25 trang, trình bày những vấn đề về khái niệm
có liên quan văn hóa tổ chức đời sống, đồng thời khái quát về bối cảnh ra đời và quá trình hình thành, phát triển của hệ phái Cao Đài Tiên Thiên qua các thời kỳ ở Nam Bộ
CHƯƠNG 2 – VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ CỦA TÍN
ĐỒ CAO ĐÀI TIÊN THIÊN Ở NAM BỘ
Chương này được triển khai trong 32 trang, trình bày chi tiết về nguyên tắc
tổ chức của Cao Đài Tiên Thiên từ trung ương đến địa phương, các hoạt động và sinh hoạt của tín đồ trong cộng đồng từ Tòa thánh đến các thánh sở địa phương, qua đó làm rõ những điểm khác biệt nổi bật của tổ chức đời sống tập thể
CHƯƠNG 3 – VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN CỦA TÍN ĐỒ CAO ĐÀI TIÊN THIÊN Ở NAM BỘ
Chương này được triển khai trong 36 trang, trình bày chi tiết về đời sống cá nhân thể hiện ở các mặt như tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, giao tiếp, ngôn ngữ trong sinh hoạt cá nhân của tín đồ, qua đó nêu lên những nét đặc trưng của văn hóa tổ chức đời sống cá nhân của tín đồ Cao Đài Tiên Thiên trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Cơ sở lý luận
- Văn hóa và văn hóa tổ chức
Tôn giáo là một thành tố của văn hóa, tôn giáo là sản phẩm của con người,
do con người sáng tạo nên Vì vậy, để tiến hành việc nghiên cứu về Văn hóa tổ chức đời sống tôn giáo của tín đồ Cao Đài Tiên Thiên ở Nam Bộ, trước hết chúng
tôi sẽ trình bày một số khái niệm liên quan đến đề tài như: văn hóa, văn hóa tổ chức, tôn giáo, tổ chức tôn giáo, đời sống tôn giáo, tôn giáo bản địa nhằm định
hướng cho việc tiếp cận, nghiên cứu, giải quyết những vấn đề liên quan đến đề tài này
Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu đưa ra các định nghĩa khái niệm Văn hóa
như một thuật ngữ khoa học vào cuối thế kỷ XIX Tùy theo từng thời gian, không gian, hướng tiếp cận khác nhau, mà người ta có nhận thức khác nhau về khái niệm
này Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về Văn hóa Tuy có diễn đạt bằng nhiều
cách khác nhau, nhưng về cơ bản khái niệm này đều có những nét chung sau: Văn hóa là sáng tạo của con người, thuộc về con người, những gì không do con người làm nên không thuộc về văn hóa Văn hóa xuất hiện do sự thích nghi của con người với tự nhiên, môi trường xã hội nên văn hóa cũng là kết quả của sự thích nghi ấy; Văn hóa bao gồm cả những sản phẩm vật chất và tinh thần, chứ không chỉ riêng tinh thần
Trong luận văn, chúng tôi hiểu văn hóa theo nghĩa rộng kể trên Theo đó, văn hóa tổ chức là một thành tố, một bộ phận quan trọng của hệ thống văn hóa Trong luận văn này, chúng tôi dựa theo cách chia các thành tố của hệ thống văn
hóa của Trần Ngọc Thêm trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (2001) Trong
đó, tác giả Trần Ngọc Thêm chia văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng gồm văn hóa tổ chức đời sống tập thể và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân
- Tôn giáo
Trang 13Tôn giáo là một khái niệm phức tạp với nhiều cách định nghĩa khác nhau
Theo E.B Tylor thì cho rằng tôn giáo là “niềm tin vào các thực thể tinh thần”
[Bowie, Fiona 2000:22], đối với E Durkheim thì “Tôn giáo là một hệ thống có tính chất gắn bó của những niềm tin và những thực hành liên quan đến những điều thiêng liêng, nghĩa là sự tách biệt, cấm đoán những niềm tin và thực hành gắn bó tất cả những ai gia nhập vào một cộng đồng đạo đức, được gọi là giáo hội”[Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 2006:60]
Quan điểm của K Marx xem tôn giáo như sự cứu rỗi của những con người đang sống trong sự khủng hoảng, không mang nghĩa của sự phê phán tôn giáo:
“Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không
có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo
là thuốc phiện của nhân dân”[Nguyễn Đức Sự 1999:33]
Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn thì cho rằng tôn giáo ra đời để phản ánh một cách hư ảo về thế giới bên ngoài: “Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo) với con người, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được thể hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội/tôn giáo khác nhau”[Đặng Nghiêm Vạn 2001:167]
Từ một số định nghĩa trên cho thấy tôn giáo là sản phẩm của con người, chính con người sáng tạo ra tôn giáo rồi chịu sự chi phối của tôn giáo tác động lại trong cuộc sống Tôn giáo ra đời nhằm lý giải những hiện tượng “kỳ lạ” xảy ra xung quanh cuộc sống con người, phản ánh hiện tượng xã hội cũng là một nơi cứu rỗi của con người trong xã hội bằng một thế giới siêu thoát Khi ý niệm về một thế giới bên kia ra đời cũng là lúc tôn giáo được hình thành và để nghiên cứu về tôn
Trang 14giáo các nhà khoa học thường xét đến các yếu tố như niềm tin tôn giáo, tổ chức tôn giáo, nghi lễ tôn giáo, đời sống tôn giáo, loại hình tôn giáo…
- Tổ chức tôn giáo
Theo pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo của Quốc hội Việt Nam ban hành
2007 [Ban Tôn giáo Chính phủ 2007:8-9] thì: Tổ chức tôn giáo là tập hợp những
người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và có tổ chức theo một
cơ cấu nhất định được nhà nước công nhận
- Đời sống tôn giáo
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Đời sống có nghĩa là toàn bộ những hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của con người, của xã hội hay toàn bộ những điều kiện sinh hoạt của con người, của xã hội”[Viện Ngôn ngữ học
2001: 348] Vì vậy, đời sống tôn giáo có thể hiểu là những hoạt động liên quan đến tôn giáo của con người, của xã hội bao gồm: Hoạt động tôn giáo (việc truyền
bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo), hoạt động tín ngưỡng (thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có
công với nước, với cộng đồng, thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt
đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội), tổ chức tôn giáo (tập hợp những người
cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được nhà nước công nhận)
Theo Từ điển Bách khoa về tôn giáo (Encyclopedia of Religion): “Đời sống tôn giáo bao hàm toàn bộ các quan hệ nội bộ của tôn giáo và các quan hệ giữa tôn giáo với xã hội” Như vậy, có thể hiểu Đời sống tôn giáo bao gồm những hoạt
động cũng như các mối quan hệ trong tôn giáo của con người, của xã hội Cho nên
khi nghiên cứu về tổ chức đời sống tôn giáo của tín đồ Cao Đài Tiên Thiên ở Nam
Bộ chúng tôi chỉ xét đến các mặt liên quan đến hoạt động tôn giáo, các mối quan
hệ trong tôn giáo của tín đồ Cao Đài Tiên Thiên qua các vấn đề như tổ chức, đức tin, thờ phụng, nghi lễ
Trang 15- Tôn giáo bản địa
Là tôn giáo mang sắc thái địa phương, xuất hiện trong một bối cảnh môi
trường thiên nhiên môi trường xã hội tại chỗ, một thời điểm nhất định, của một dân tộc cụ thể và mang dấu ấn kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc đó
Tại Nam Bộ, tôn giáo bản địa chủ yếu là của người Việt, do một bộ phận người Việt sáng tạo ra và mang tính dung hợp do ảnh hưởng giáo lý cũng như sắc thái văn hóa, tâm lý của các tôn giáo khác và các dân tộc khác Từ nhiều nguồn tư liệu thư tịch, tôn giáo hiện nay được chia thành nhiều loại khác nhau, theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở Việt Nam và nước ngoài, Cao Đài Tiên Thiên ở Nam Bộ mà chúng tôi chọn để nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ thuộc loại hình Tôn giáo bản địa Sự dung hợp trong tôn giáo bản địa ở Nam Bộ như Cao Đài Tiên Thiên cũng có gốc rễ sâu xa và chịu sự chi phối, tác động trực tiếp từ những cơ sở hình thành về điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế chính trị và văn hóa xã hội
1.2 Khái quát về Cao Đài Tiên Thiên
1.2.1 Một số cơ sở hình thành
Cao Đài Tiên Thiên có nguồn gốc ban đầu khá đặc biệt so với các hệ phái Cao Đài khác trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Quá trình hình thành từ thời kỳ tiềm ẩn cho đến khi trở thành một hệ phái đầu tiên hoạt động có Hiến chương, Cao Đài Tiên Thiên đã thể hiện khá đủ những đặc điểm của một tôn giáo bản địa, yếu
tố lịch sử hình thành Cao Đài Tiên Thiên đã góp phần tạo nhiều nét đặc trưng riêng mang nhiều bản sắc văn hóa của cộng đồng cư dân tại vùng đất Nam Bộ Không khác so với lịch sử hình thành các tôn giáo vốn ra đời từ trước đến nay, sự
ra đời của Cao Đài Tiên Thiên cũng xuất phát những tiền đề nhất định như yếu tố địa lý - tự nhiên, chính trị - xã hội và nhu cầu tâm linh của một bộ phận cư dân Nam Bộ lúc bấy giờ
- Về điều kiện tự nhiên
Nói về mối liên hệ với điều kiện địa lý – tự nhiên, tác giả Đào Duy Anh đã viết: “Chính vì những điều kiện tự nhiên về địa lý khiến mỗi dân tộc sinh hoạt trên
Trang 16những cơ sở kinh tế khác nhau, cho nên cách sinh hoạt cũng hình thành khác nhau vậy Bởi thế muốn nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, trước hết phải xem dân tộc ấy sinh trưởng ở trong một điều kiện địa lý như thế nào” [Đào Duy Anh 2000:10]
Nam Bộ là vùng đất nằm trong khu vực hạ lưu của hai con sông Đồng Nai và sông Cửu Long, đây là một vùng đồng bằng châu thổ trù phú, là vựa lúa lớn nhất nước ta, ngoài giá trị cây lúa, nơi đây còn là một vựa trái cây lớn cung cấp cho các vùng lân cận và xuất khẩu với nhiều chủng loại Trong quá trình thích ứng với vùng đất mới và môi trường sinh sống mới, có sự đan xen giữa yếu tố văn hóa truyền thống và sự tiếp biến văn hóa của cư dân bản địa, qua đó quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa các tộc người đã tạo ra một hiện tượng tiếp biến văn hóa, hỗn dung văn hóa, dung hợp văn hóa Đây là một yếu tố ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành từ tính cách phóng khoáng, nhiệt tình, chất phác nhưng lại đầy nghĩa khí Nam bộ, lối sống yêu chuộng tự do, ghét áp bức bất công, sẵn sàng đứng lên chống lại cường quyền đến những phong tục, tín ngưỡng đến người dân Nam bộ sau này
- Về chính trị - xã hội
Sự xâm lược của thực dân Pháp đã biến Việt Nam trở thành một bộ phận trong hệ thống thuộc địa của Pháp, là thị trường cung cấp nguyên nhiên liệu, nhân công rẻ mạt, đồng thời cũng là một nơi tiêu thụ hàng hóa dư thừa của chính quốc
Với chính sách “chia để trị”, thực dân Pháp đã chia Việt Nam thành ba kỳ: Bắc
kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Điều này làm gia tăng thêm sự thay đổi về cơ cấu kinh
tế, chính trị và xã hội ở Việt Nam lúc bấy giờ Cùng với quá trình xâm lược của thực dân, còn kéo theo sự lấn át của dòng văn hóa phương Tây: chữ Hán, chữ
Nôm được thay thế bằng chữ La-tinh, một tầng lớp trí thức mới kiểu “Tây học”
cũng ra đời Tuy nhiên, dưới sự đẩy mạnh khai thác thuộc địa một cách triệt để, làm cho đời sống của đại bộ phận nhân dân bị lâm vào đường cùng, sống nghèo khổ vì bị áp bức bốc lột Đã có nhiều cuộc nổi dậy và các phong trào đấu tranh chống thực dân và phong kiến trong những thập niên cuối thế kỷ XIX đầu XX của
Trang 17các tầng lớp nông dân nhưng kết quả đều thất bại và bị đàn áp dã man Vào thời điểm này, thực dân Pháp ra sức hạn chế sự phát triển của Phật giáo vì Pháp thừa biết rằng đấy là chỗ dựa của các phong trào yêu nước và truyền thống chống ngoại xâm của người Việt Nam, nên một mặt thực dân Pháp đã không muốn cho Phật giáo phát triển bằng nhiều hình thức, mặt khác Pháp muốn thu hẹp ảnh hưởng của Phật giáo để tạo điều kiện cho sự phát triển của một tôn giáo khác có lợi hơn cho chính quyền thực dân, đó chính là Ki-tô giáo Vì vậy mà Ki-tô giáo đã bắt đầu có một chỗ đứng ổn định hơn trong xã hội thuộc địa lúc bấy giờ
Do không thể thiết lập được các hệ thống tổ chức và sinh hoạt như trước dưới
sự hạn chế phát triển của chính quyền thực dân nên Phật giáo đã dần đi vào suy thoái Sự suy thoái này càng diễn ra nhanh hơn khi vua Gia Long xây dựng chế độ chuyên chế trung ương tập quyền, tập trung tất cả quyền hành vào tay vua, mà hệ
tư tưởng Phật giáo thì không đáp ứng được nhu cầu của một nhà nước chuyên chế Đồng thời, vào năm 1862 chính quyền thực dân đã ra lệnh cấm sử dụng chữ Nho ở toàn cả Nam Kỳ, điều này đã gây nhiều trở ngại cho Phật giáo vì hầu hết các kinh sách Phật giáo trước đó đều viết bằng chữ Hán Vì vậy, việc phát triển Phật giáo càng khó khăn hơn và tình trạng suy thoái ngày một trầm trọng hơn: “Đạo Phật thì
đã suy thoái đến mức khiến nhiều người ta thán, đến nỗi một số phật tử phải nêu lên vấn đề chấn hưng” [Ngô Chơn Tuệ 2008:49]
Với Phật giáo là vậy, còn với Khổng giáo thì tình hình cũng không lấy gì khả quan hơn Ngay buổi ban đầu Khổng giáo được xem là một học thuyết có tính chính trị và đạo đức xã hội Nhưng về sau có thêm yếu tố tôn giáo và được chế độ phong kiến lợi dụng để bảo vệ quyền lợi và trật tự xã hội nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp thống trị Càng về cuối đời Nguyễn, Nho giáo càng suy tàn, nguyên nhân chính vẫn là chữ Hán không còn được dùng nữa Tại triều đình Huế, Vua Đồng Khánh đã chấp nhận làm tay sai cho Pháp, trở thành vị vua bù nhìn Trong triều nhiều quan lại phong kiến đã cấu kết với Pháp tiếp tay đàn áp các phong trào khởi
nghĩa Cần Vương Vì vậy, học thuyết “chính danh” của Nho giáo trở nên mâu
thuẫn và mất dần sức ảnh hưởng, đồng thời lại bị phê phán nghiêm trọng Từ đó
Trang 18khiến vai trò của Nho giáo ngày càng mờ nhạt trong xã hội Việt Nam trong đó có vùng đất mới Nam kỳ Trong khi đó, một tôn giáo đang được người Pháp tạo mọi điều kiện để phát triển là Ki-tô giáo thì vẫn chưa được chấp nhận, bởi trong nhận thức của một bộ phận lớn cư dân Nam kỳ nói riêng đều nhìn nhận Ki-tô giáo gắn liền với gót giày của kẻ xâm lược, lại thêm Ki-tô giáo trước đây không thờ cúng tổ tiên, cấm giáo dân và Linh mục tham dự các lễ nghi của những tôn giáo truyền thống người Việt, khi trở thành con chiên thì phải từ bỏ những tín ngưỡng truyền thống, tôn giáo truyền thống, không được dự lễ đưa tang, không dự tiệc cúng giỗ của người ngoại đạo Điều này đã làm cho xã hội truyền thống của người Việt Nam chưa chấp nhận Ki-tô giáo Trong tình hình như thế, hơn bao giờ hết người Nam kỳ rất cần một niềm tin tôn giáo làm chỗ dựa tinh thần vững chắc cho họ, nhu cầu tìm đến một tôn giáo mới mẻ, phù hợp với tinh thần dân tộc được đặt ra lúc đó hết sức cần thiết Phan Ngọc đã viết: “Tôn giáo có tác dụng bù đắp những hẫng hụt, xóa bỏ một phần nỗi cô đơn, dù cho sự bù đắp chỉ là ảo tưởng Nhưng điều đáng chú ý là sự hẫng hụt diễn ra ở miền Nam từ khi Pháp xâm lược, lại có một nội dung không liên quan gì đến cá nhân luận, mà liên quan đến cảnh mất nước của một nước xưa nay độc lập, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược” [Phạm Bích Hợp 2007:318]
- Về nhu cầu tâm linh
Trong hoàn cảnh một bộ phận cư dân Nam kỳ trong quá trình khẩn hoang đã gặp vô vàn những khó khăn với những loạn ly, giặc giã, thiên nhiên khắc nghiệt, bệnh tật, thú dữ, rủi ro nhiều, vận may ít nên họ thường khấn vái để mong có được
sự phù hộ từ thế giới tâm linh của Trời, Phật hay những người đã khuất như ông
bà, tổ tiên…Từ đó, yếu tố đa tín ngưỡng cũng là một nét quen thuộc của cư dân Nam kỳ, nhu cầu tôn giáo mới có sức tổng hợp cũng xuất phát từ mong muốn:
“Dựa vào sức mạnh thần bí siêu nhiên để hỗ trợ cho bản thân vượt lên trên những khó khăn trong cuộc đấu tranh để sinh tồn” [Đặng Nghiêm Vạn 2001:174]
Điều đáng chú ý là sự ra đời của một tôn giáo ngoài yếu tố nói lên sự bất lực của con người như trong thời kỳ xã hội nguyên thủy, thì ngày nay trong xã hội
Trang 19Nam kỳ, dưới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến đã cấu kết thỏa hiệp với nhau cướp ruộng đất của nông dân Từ đó, hiện tượng tôn giáo ra đời trong hoàn cảnh này là nhằm mục đích phản kháng lại xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến đã xô đẩy họ vào đường cùng Vì hệ tư tưởng Nho giáo không còn là chỗ dựa để chống ngoại xâm thể hiện qua sự thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp theo hệ tư tưởng phong kiến Phật giáo cũng đã không còn phù hợp với hoàn cảnh mới trong xã hội thuộc địa đầy áp bức bất công, mạnh được yếu thua, không còn tính nhân văn, nên từ yếu tố địa lý văn hóa đến yếu tố chính trị xã hội trong bối cảnh Nam kỳ lúc bấy giờ ta thấy có một khoảng trống về ý thức hệ trong cộng đồng cư dân tại đây, họ cần có một luồng sinh khí mới thổi vào cuộc sống tâm linh nhằm đem lại cho họ nguồn lực mới Vì vậy, nhân dân Nam kỳ cần
có cái phao cứu sinh, cái phao đó hiển nhiên là một tôn giáo mới, một hệ tư tưởng mới để giúp họ vượt qua những ngày nô lệ, thay đổi kiếp người, như Werner nhận xét: “Phật giáo và Khổng giáo suy thoái đã để lại một khoảng trống văn hóa, thuận lợi cho việc lập ra những giáo thuyết mới nhằm khôi phục nền văn hóa Việt Nam” [Werner, Jayne Susan 1981:56]
1.2.2 Quá trình phát triển qua các thời kỳ
- Giai đoạn 1920-1926
Trong khi ở miền Bắc, miền Trung các cuộc khởi nghĩa binh biến diễn ra liên tiếp thì ở miền Nam nhân dân lục tỉnh lại đấu tranh với một hình thức khác
Đó là phong trào đấu tranh vũ trang có tính chất quần chúng rộng rãi mang màu
sắc tôn giáo - Phong trào Hội kín Nam kỳ Phong trào này khởi đầu năm
1910-1911 và phát triển mạnh vào thời kỳ chiến tranh Thế giới thứ nhất, với mục đích đấu tranh chống bắt lính, chống chiến tranh, giải phóng dân tộc Phong trào này bao gồm nhiều tổ chức như: Thiên Địa Hội, Nghĩa Hòa Hội, Duy Tân Hội, Thái Bình Hội, Phục Hưng Hội, Ái quốc Hội…Những hội này mang sắc thái tôn giáo nhưng chủ yếu lại là hình thức liên kết lại với nhau chống đế quốc cướp nước và
tay sai bán nước, lấy khẩu hiệu chung là “phản Pháp phục Nam” Trong bối cảnh
Trang 20đó, tại Nam Kỳ thời kỳ này có nhiều nhà thâm nho, trí thức yêu nước đứng trước cảnh bế tắc chưa tìm ra lối thoát cho tương lai, còn tiền đồ của Phật, Lão, Nho cũng mất dần ảnh hưởng so với trước, các phong trào đấu tranh chống áp bức lại
bị đàn áp và bị dập tắt Vì vậy, một số người đã tìm đến các nhà đàn của tông phái Minh Sư1 để cầu cơ, tiếp xúc với cõi vô hình nhằm tiêu khiển, xin thuốc chữa bệnh và hỏi quốc sự Điều này đã đáp ứng nhu cầu khoảng trống tâm linh và an ủi được phần nào những nỗi ưu tư về thế cuộc Ở Nam kỳ những thập niên đầu thế kỷ
XX, hiện tượng sử dụng cơ bút, lập đàn cầu Tiên diễn ra khá phổ biến và không có
gì xa lạ:“Cầu cơ là một hình thức thỉnh thoảng được các tín đồ Minh Sư sử dụng
(…) Các nhà yêu nước đã thông qua các đàn Tiên, mượn lời Tiên Thánh, đặc biệt
là các anh hùng liệt sĩ tiền bối như Cử Đa, Thủ Khoa Huân…để cho thuốc, cho thơ rồi lồng vào nội dung giáo dục tinh thần yêu nước” [Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường 1998:8]
Chính việc tiếp xúc được với thế giới thần linh bằng bằng con đường sử dụng cơ bút, từ đó phân chia thành hai nhóm tư tưởng: Trí thức nho học, sĩ phu yêu nước tìm phương giải thoát dân tộc khỏi ách thống trị, nông dân lao động tìm đến gửi gấm tâm sự với thần linh qua cơ bút Từ đó, xuất hiện ngày càng nhiều các đàn cầu Tiên không chỉ giới hạn trong các chùa Minh Sư – Phật Đường mà còn lan rộng ra khắp các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long, hình thành nên các nhà đàn hoạt động sôi nổi với sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội Nội dung qua các đàn Tiên thường dạy cũng mang nhiều nét đặc biệt: Về đạo học siêu nhiên
thì dạy “tánh mạng song tu”, “luyện đạo hoàn đơn” để đạt pháp thân trở về Tiên Thiên nhứt khí Về tôn giáo thì dạy lễ nghi, tả kinh sách, tu bồi đạo đức, lý lẽ công
bình, từ bi, bác ái Về mặt xã hội thì kêu gọi đoàn kết thương yêu, tương thân tương ái, cây cội nước nguồn, quốc gia dân tộc
1
Minh Sư là một tông phái thờ Tam giáo có tính chất cứu thế, dạy con người học Phật, tu Tiên và sống ở đời phải trung hiếu theo đạo Nho, rất phù hợp với vùng đất mới đa tín ngưỡng như Nam kỳ Tông phái này được truyền vào Việt Nam thời Tự Đức, do Trưởng Lão Đông Sơ từ Trung Quốc đưa sang và lập Chiếu Minh Phật Đường đầu tiên tại Cầu Kho (Chợ Lớn), sau đó phát triển lan rộng xuống các tỉnh phía Tây như Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre ngày nay
Trang 21Cũng từ đây đã xuất hiện phong trào cứu thế diễn ra khắp nơi ở Nam kỳ,
được gọi là phong trào“Thiên vận hoằng khai Tiên Thiên Đại Đạo phổ độ toàn linh” Các nhà đàn cầu Tiên này được gọi là nhà đàn tu học Tiên Thiên Đại Đạo
hay các nhóm tu Tiên Thiên Đại Đạo2 Trong các chủ nhà đàn, nhà tịnh thì ông Phan Văn Tòng là một trí thức Nho học được biết đến với tư cách là người đứng đầu của các nhóm tu Tiên Thiên Đại Đạo vùng Tam giang lúc bấy giờ Năm 1920, ông lập nên nhà đàn Linh Châu Kim Đức, đêm mùng 8 tháng Giêng năm 1923,
trong buổi cầu Tiên có một vị Tiên Ông giáng đàn dạy về “Tiên Thiên Đại Đạo”
Đồng thời dạy ông liên hệ với các nhóm cơ bút khác ở Mỹ Tho, Cao Lãnh, Tân An
cùng tập trung về Thiên Thai Tịnh để mở Đạo Tại đây đã diễn ra ba kỳ đại hội quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của Cao Đài Tiên Thiên:
+ Đại hội Thiên Hoàng3: Ngày 9 tháng 1 (Âm lịch) năm 1924, mang ý
nghĩa “Thiên khai ư Tý” Cơ bút chính thức xưng danh: “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát giáo đạo Nam phương” và đã định danh nền đạo mới này là Tiên Thiên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại nước Việt Nam
+ Đại Hội Địa Hoàng: Ngày 15 tháng 10 (Âm lịch) năm 1925, mang ý
nghĩa “Địa tịch ư Sửu” Đàn cơ khai Hội Địa Hoàng tại Thiên Thai Tịnh lần này
lại khơi lên một tinh thần yêu nước, yêu dân tộc trước cảnh nước mất nhà tan
+ Đại Hội Nhơn Hoàng: Ngày 15 tháng 7 (Âm lịch) năm 1926, mang ý
nghĩa “Nhơn sinh ư Dần”, Cao Đài Tiên Ông dạy về yếu lý Tiên Thiên
Qua ba kỳ đại hội này đã đặt nền móng và quan điểm rõ rệt cho nền Đạo
Tiên Thiên thời kỳ sơ khai: từ việc lập định danh xưng “Tiên Thiên Đại Đạo Tam
Kỳ Phổ Độ” đến việc định hướng cho sự ra đời một nền tôn giáo mang đậm tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước, đồng thời cũng chỉ ra một con đường “thuần tu giải thoát, phản bổn hoàn nguyên” theo lý Tiên Thiên
Trang 22Chính những yếu tố này đã ảnh hưởng xuyên suốt đến quá trình hình thành, phương châm hoạt động, tư tưởng, lập trường hành đạo của các thế hệ lãnh đạo và tín đồ của Cao Đài Tiên Thiên sau này
- Giai đoạn 1927-1939
Tháng 8 năm 1927, trong đại hội “Chiêu Thánh Hồi Nguyên”4 đã phong
ông Phan Văn Tòng và một số vị khác vào hàng “Thất Thánh” và “Thất Hiền”5là
vị trí lãnh đạo cao nhất của Cao Đài Tiên Thiên lúc bấy giờ Từ đó, những vị này chia vùng lãnh đạo và thực hiện việc mở rộng nền đạo ngày một lớn mạnh Đồng thời chọn Thiên Thai Tịnh làm Tòa thánh Tiên Thiên đầu tiên với đầy đủ kiến trúc
Tam Đài Cũng trong giai đoạn này, các vị Thất Thánh được dạy đến Quan Âm
Phật Đường ở Tầm Vu, Long An gặp ông Lâm Quang Xương (Minh Sư) để thỉnh
kinh, lập thành Lễ Bổn dạy về các nghi thức cúng tế thống nhất, thiết lập tôn chỉ
mục đích, đường lối và quan điểm lập trường của nền đạo Tiên Thiên
Bước sang năm 1933, tiến hành cuộc Diễn Đông Đàn6 kéo dài 6 năm Sau cuộc Diễn Đông Đàn còn có cuộc vận động mở 12 kỳ Đại Hội Long Vân kéo dài
từ năm 1935 đến cuối năm 1939 Đây là hai cuộc vận động quy mô lớn của Cao Đài Tiên Thiên Về mặt hình thức tôn giáo thì đây là một giai đoạn phát triển mới của nền đạo, là thời kỳ hoàn thành việc xây dựng 72 Thánh tịnh từ cơ sở nhà đàn, nhà tịnh cầu Tiên, đồng thời cũng là giai đoạn hoàn thành Tòa Thánh Thiên Thai – Giáo quyền Trung ương sơ khai do Thất Thánh, Thất Hiền đứng đầu Bàn Chưởng
6
Phong trào chủ yếu tập trung vào các nội dung như: Tuyên bố sự xuất hiện Cao Đài cứu thế, tín ngưỡng thờ Trời là trung tâm, chỉ sợ thần quyền, không sợ nhân quyền, làm sống lại tinh thần thiêng liêng của dân tộc, yêu thương đoàn kết, nhớ cội nguồn tổ tiên, kêu gọi hòa bình nhân loại Biểu hiện qua việc tập trung đông người với đạo phục đặc thù, kèn trống, đồng nhi đọc kinh, cầu đàn, kéo thành đoàn người dài hàng chục cây số bằng đường bộ và đường thủy, đến nơi nào cơ bút chỉ định dừng lại thì sẽ lập Thánh tịnh Đây chính là phong trào hoàn thành giai đoạn lập giáo, thành lập 72 Thánh tịnh đầu tiên của Cao Đài Tiên Thiên Đồng thời, còn tổ chức các buổi đạo tràng để cổ vũ cho phong trào Cao Đài cứu thế, thiết lễ cầu nguyện hòa bình, tế Tổ quốc, tế chiến sĩ trận vong, khơi gợi ý thức dân tộc và thời cuộc
Trang 23Quản Tiên Thiên Về mặt xã hội thì đây là một cuộc vận động với mục đích đoàn kết các giai tầng xã hội chống chế độ cai trị áp bức bất công, đòi nhân quyền, đòi độc lập tự do dân chủ, kêu gọi ủng hộ Việt minh và hưởng ứng phong trào Cao Đài cứu thế ở Nam Bộ
- Giai đoạn 1940-1945
Trước sự phát triển lớn mạnh và sức thu hút nhiều tầng lớp nhân dân của phong trào cơ bút và các cuộc vận động cứu thế của Cao Đài Tiên Thiên, chính phủ Pháp ngay từ lúc đầu đã luôn xem cơ bút Tiên Thiên Đại Đạo là mối nguy cơ làm đảo lộn tình hình chính trị, nên kết tội những người tin theo cơ bút Tiên Thiên
là hành động gây hận thù chính quyền bảo hộ và kích động dân chúng vi phạm luật lệ nhà nước, làm lung lay nền cai trị của mẫu quốc đặt nơi nước thuộc địa Vì vậy, nhà cầm quyền Pháp cho rằng cần phải nhanh chóng ngăn ngừa và tảo thanh gắt gao các phong trào này: “Cơ bút Tiên Thiên Đại Đạo được đặt ra ngoài vòng pháp luật và bị truy lùng như tội phạm chính trị” [Đồng Tân 1972:396] Vì lẽ ấy nên vào đầu năm 1939, nhà cầm quyền Pháp đã ra lệnh bắt nhiều chức sắc Tiên Thiên và ra lệnh đóng cửa Tòa Thánh Thiên Thai, Bàn Chưởng Quản Tiên Thiên phải dời về Thánh Tịnh Cửu Khúc Tòa, thuộc xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
Ngày 15 tháng 12 năm Kỷ Mão 1939, ông Phan Văn Tòng được phong phẩm Giáo Tông của Cao Đài Tiên Thiên Sau khi làm lễ bái mạng thọ phong ngôi
vị Giáo tông - Phẩm vị cao nhất của Tiên Thiên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, ông Phan Văn Tòng chính thức trở thành người lãnh đạo cao nhất của Cao Đài Tiên Thiên Cũng từ thời điểm này, Thánh tịnh Cửu Khúc Tòa trở thành Tòa thánh Trung ương điều hành hoạt động của toàn đạo Vì vậy, nơi đây ngày nào cũng có đàn cơ, thu hút nhiều người của cả Tam giang cùng về dự, hoạt động có quy cũ và rầm rộ hơn trước với tầm vóc của một Hội thánh chặt chẽ, điều này càng làm gia tăng sự chú ý và lo ngại của chính quyền thực dân
Trang 24Đến năm 1940, khi cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa bùng nổ, nhiều người chức sắc và tín đồ của Cao Đài Tiên Thiên tích cực tham gia hưởng ứng bằng nhiều hình thức, nhà cầm quyền Pháp đã tiến hành cuộc đàn áp đối với Cao Đài Tiên Thiên: Giáo tông Phan Văn Tòng, Thất Thánh, Thất Hiền, hơn 36 chức sắc phẩm Phối sư cùng nhiều chức sắc Hiệp Thiên Đài bị bắt giam tại khám lớn Sài Gòn, sau
đó bị kết án là “chính trị phạm” của phong trào Hội Kín Nam kỳ, kêu án “5 năm khổ sai, 10 năm biệt xứ, tịch biên gia sản, lưu đày ra Côn Đảo” Đồng thời, ra
lệnh đóng cửa tất cả các Thánh tịnh của Cao Đài Tiên Thiên, cấm không cho người đạo đến Thánh tịnh cúng kính và hoạt động đạo sự nữa Trong hoàn cảnh này, Cao Đài Tiên Thiên gần như bị tan rã, tín đồ Tiên Thiên phần nhiều ẩn tu tại gia, số khác thì tiếp tục duy trì hoạt động dưới sự theo dõi và truy lùng gắt gao của nhà cầm quyền Dù vậy, người Tiên Thiên vẫn bí mật tổ chức hội họp, tham gia các tổ chức cách mạng và lập đàn cơ tại tư gia để được cơ bút chỉ dạy Văn phòng Hội thánh một lần nữa dời về Châu Minh Đàn thuộc tại ấp Chánh, xã Tiên Thủy, quận Sóc Sãi, tỉnh Kiến Hòa
Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, tù chính trị Côn Đảo được trả tự do
về đất liền Ngay khi về đến Sài Gòn tháng 7 năm 1945, Giáo tông Phan Văn Tòng lập tức kêu gọi: “Toàn đạo Cao Đài Tiên Thiên tham gia cách mạng Việt minh để
cứu nước cứu đạo” đồng thời tổ chức các phong trào “Thanh Niên Đạo Đức Đoàn” để hưởng ứng cách mạng tham gia cứu nước Ngày mùng 8 tháng 8 năm
1945, ông Phan Văn Tòng qua đời, lễ tang được tiến hành bằng nghi thức long trọng và kết thúc bằng một chuyến Diễn Đông Đàn với thông điệp: Giáo Tông đã quy tiên, toàn đạo mở cửa Thánh tịnh tiếp tục tu hành, cùng thực hiện lời di chúc của Giáo Tông: “Hãy bước tiếp con đường phụng đạo yêu nước theo di chúc của Anh đó, rồi sau này các em sẽ được vinh quang” Chính tinh thần này của ông nên
đã có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền đạo Tiên Thiên
- Giai đoạn 1946-1954
Từ năm 1946, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại xâm lược, Cao Đài Tiên Thiên tích cực tham gia với khẩu hiệu
Trang 25“Cứu nước là cứu đạo”, “Nước có vinh Đạo mới sáng” thông qua những hoạt
động cụ thể như tiếp tế, vận lương, nuôi chứa cán bộ Thanh niên đạo thì gia nhập các lực lượng vũ trang, nhiều chức sắc, tín đồ khác thì tham gia vào các tổ chức cách mạng như các đoàn thể, mặt trận và ủy ban kháng chiến hành chính các cấp
Ngoài ra, còn tham gia hưởng ứng “tuần lễ vàng đồng thau” và “tiêu thổ kháng chiến”7 một cách tích cực để ủng hộ kháng chiến Đặc biệt là tham gia vào lực
lượng vũ trang đánh Pháp như trận Giồng Bướm và bản doanh Thánh tịnh Hắc Long Môn ở Cà Mau tháng 3 năm 1946 do ông Cao Triều Phát và Nguyễn Phú Thứ lãnh đạo, đã dấy lên phong trào chống giặc cứu nước của người Cao Đài và làm cho quân Pháp phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề
Năm 1947, được sự giúp đỡ của Mặt trận Việt Minh Nam bộ, ông Cao Triều Phát thành lập Cao Đài Cứu Quốc tập hợp được 12 phái Cao Đài tổ chức
Đại Hội Nhơn Sanh 12 phái Cao Đài, hình thành nên “Cao Đài Cứu Quốc 12 phái thống nhất”8 là thành viên của tổ Mặt trận Việt Minh, tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp Cao Đài Tiên Thiên lúc bấy giờ là nồng cốt của Cao Đài cứu quốc với nhiều chức sắc cao cấp tham gia từ cấp trung ương đến cấp tỉnh, huyện, xã, hầu như nơi nào cũng có người Tiên Thiên tham gia Nổi bật nhất là các vị như: Nguyễn Bửu Tài, Đặng Văn Huẩn (Thành viên Cao Đài Cứu Quốc Trung Ương, Hội trưởng Cao Đài Cứu Quốc Cần Thơ, Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Cần Thơ), Phan Lương Báu, Nguyễn Văn Ngợi (Thành viên Cao Đài Cứu Quốc Trung Ương, Hội trưởng Cao Đài Cứu Quốc Vĩnh Long, Phó Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Vĩnh Long), Huỳnh Văn Ngài, Trịnh Văn Như, Trần Thừa Khưu, Bùi Thị Bông…Trong suốt thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp, người Cao Đài Tiên Thiên bằng nhiều hình thức đã tích cực đóng góp
Trang 26nhiều công sức, vật chất và cả hy sinh tính mạng cho cuộc kháng chiến cứu nước của toàn dân tộc
- Giai đoạn 1955-1963
Sau hiệp định Genève đình chiến năm 1954, Cao Đài cứu quốc giải tán, các chức sắc và tín đồ Tiên Thiên quay về địa phương để củng cố nền đạo để chuẩn bị
tái lập hội thánh Ngày 13 tháng 8 năm 1955, mở “Đại hội chuyển hóa Bình Linh”
mừng khánh thành ngôi Diêu Trì Bửu Điện Trong đại lễ lạc thành này, đã tái lập
cơ cấu tổ chức Hội thánh Tiên Thiên chính danh là “Tiên Thiên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ - Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên”, chọn Thánh tịnh Châu Minh Đàn tại ấp
Chánh, xã Tiên Thủy, quận Sóc Sãi, tỉnh Kiến Hòa (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre) làm Thánh địa, gọi là Tòa Thánh Châu Minh Đồng thời, tiến hành xây dựng ngôi Tổ Đình Tòa Thánh Châu Minh để làm cơ quan Giáo quyền Trung ương của Cao Đài Tiên Thiên
Tại thời điểm này, Cao Đài Tiên Thiên bắt đầu chuyển sang một giai đoạn lịch sử mới Hội thánh tiến hành nhiều hoạt động củng cố và kiện toàn hệ thống tổ chức hành chính từ cấp cơ sở đến Trung ương, điều chỉnh bổ khuyết lãnh đạo các cấp, mở rộng xây dựng và tái thiết các cơ sở hành chánh đạo tại nội ô Tòa thánh và các thánh tịnh các nơi, tăng cường tổ chức các khóa hạnh đường từ căn bản đến nâng cao đào tạo chức sắc, chức việc cho đạo Ngoài ra, còn tổ chức đại hội Liên Giao I9 năm 1954 với 5 phái Cao Đài khác như: Minh Chơn Đạo, Chiếu Minh Long Châu, Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý, Cao Thượng Bửu Tòa
Sang năm 1956, ông Nguyễn Bửu Tài – Phẩm Đạo Chưởng Pháp trước đó, được phân công lãnh nhiệm vụ Chưởng Quản Cửu Trùng Đài Ông Nguyễn Văn Nguyên – Phẩm Thượng Phẩm, lãnh nhiệm vụ Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài Đây
9
Đại hội thống nhất cùng thực hiện 8 mục tiêu sau: Gắn bó với dân tộc, thực hiện tôn chỉ của Cao Đài là cứu khổ nhơn sanh; Cầu nguyện hòa bình, bảo vệ hòa bình cho quốc thới dân an.; Đoàn kết giúp đỡ tu hành, làm lành lánh dữ, hết lòng phụng sự nhơn sanh; Tương trợ nhau về vật chất lẫn tinh thần trong lúc đồng đạo gặp khó khăn hoạn nạn; Ủng hộ người tu hành chân chính, bảo vệ tu sĩ; Bảo vệ tự do tín ngưỡng; Không xen vào công việc nội bộ của nhau; Đạo đời đoàn kết đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève, thống nhất đất nước
Trang 27là hai vị lãnh đạo cao nhất của Hội thánh lúc bấy giờ Sang tháng 1 năm 1958, toàn đạo Tiên Thiên của Tam giang cùng về tham dự Lễ khánh thành ngôi Tổ Đình Tòa Thánh Châu Minh, cùng ngày với Đại Hội Vạn Linh I – Lễ đăng điện Giáo Tông và Hộ Pháp hữu hình của Cao Đài Tiên Thiên Đại hội đã tiến hành đầy
đủ các nghi thức nghiêm trang và trọng thể để Giáo Tông Nguyễn Bửu Tài – Thánh danh Thiện Pháp và Hộ Pháp Nguyễn Văn Nguyên – Thánh danh Huệ Đức, đăng điện bái mạng thọ phong Thiên phẩm, đồng thời đọc tuyên ngôn trước vạn linh sanh chúng Từ đây, Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên có Giáo tông và Hộ Pháp hữu hình, thực hiện quyền pháp Hội thánh và đạo đức tôn giáo dân tộc Sau đại
hội, Hội thánh chiếu theo Pháp Chánh Truyền ban hành Lễ Bổn, tôn chỉ mục đích,
ban hành giáo lý hạnh đường, phổ biến Nội luật Lưỡng đài, mở rộng truyền thụ chơn đạo, thống nhất việc hành đạo trong toàn phái Đồng thời, chủ trương ra
“Tuyên Cáo” trước quốc dân đồng bào: “Cao Đài Tiên Thiên là một tôn giáo thuần
túy, không tham gia hoạt động quân sự, chính trị với phương châm phụng sự đạo đức chính nghĩa” (tuyên cáo này nhằm chống lại việc bắt thanh niên đạo đi lính chống lại nhân dân lúc bấy giờ) Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nền đạo Tiên Thiên, tín đồ lên đến hơn 1.000.000 người Cũng trong thời gian này, Giáo tông Nguyễn Bửu Tài tiến hành làm phép đại xá cho vạn linh sanh chúng khắp Tam giang gồm Tòa thánh Châu Minh ở Bến Tre, Thánh tịnh Minh Đức ở Tiền Giang và thánh tịnh Trung Thiên thuộc Cần Thơ Đến ngày 21 tháng 9 năm 1958, Giáo Tông Nguyễn Bửu Tài đăng tiên tại Thiên Lý Mật Truyền nơi Tòa Thánh Châu Minh
- Giai đoạn 1964-1994
Cùng với sự hoàn thiện về tổ chức hành chính đạo và phát triển mở rộng chơn truyền đạo pháp, Cao Đài Tiên Thiên vẫn tiếp tục tinh thần ủng hộ cách mạng, tham gia hưởng ứng các phong trào chống chính quyền tay sai của Mỹ, điển hình là tổ chức Đại hội Huyền Đơn tại Tòa Thánh Châu Minh năm 1959: Cấm khẩu 01 ngày, tuyệt thực 06 ngày, không đi bầu Tổng thống Ngô Đình Diệm, đấu tranh không di dời Thánh tịnh vào ấp chiến lược, biểu tình đòi thả 180 thanh niên
Trang 28đạo bị bắt lính, tổ chức lễ tang truy điệu 7 ngày đêm cho 3 thanh niên đạo bị sát hại do từ chối cầm súng cho địch tại Thánh tịnh Ngọc Sơn Quang
Năm 1960, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam ra đời,
Chức sắc và tín đồ Cao Đài Tiên Thiên với truyền thống “phụng đạo yêu nước” và tinh thần “cứu nước là cứu đạo”, đã tích cực tham gia vào tổ chức này10 Ở hầu hết các cấp xã, huyện đều có cơ cấu chức sắc trong Mặt Trận hành chính cấp đó, ngoài
ra người Tiên Thiên còn được bố trí vào nhiều vị trí khác trong các đoàn thể, các ban ngành, lực lượng an ninh, lực lượng vũ trang, dân quân, du kích…
Năm 1963, trong khoảng thời gian ông Đặng Văn Huẩn - Phẩm Đạo Chưởng Pháp đảm nhận nhiệm vụ Chưởng Quản Cửu Trùng Đài, thì dưới sự hậu thuẫn của ông Nguyễn Phát Đạt – Tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), ông Trần
Kim Triêu – Chức sắc Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài đã thành lập “Cao Đài Liên Hiệp Miền Tây” kéo về Tòa thánh Châu Minh đánh phá, chiếm Tòa thánh, thay
đổi cơ cấu tổ chức, lập thêm Tòa Khâm sứ, Khâm mạng, Khâm trấn… Đồng thời, tiến hành sa thải nhiều chức sắc lãnh đạo không đồng quan điểm với mình, lập thành Hội Thánh mới hoạt động tại thánh địa Châu Minh, gọi là Hội Thánh Trụ Ngưng Chính điều này đã làm phân hóa nền đạo Tiên Thiên vốn rất ổn định trước
10
Gồm nhiều chức sắc cao cấp như:
- Đầu sư Nguyễn Văn Ngợi được bầu vào Ủy viên Đoàn Chủ Tịch Ủy Ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
- Phối sư Nguyễn Tấn Nghi - Ủy Viên Ủy Ban Mặt trận dân tộc giải phóng Khu Trung Nam Bộ (Khu 8)
- Giám đạo Phan Hữu Phục - Ủy Viên Ủy Ban Mặt trận dân tộc giải phóng Khu Tây Nam Bộ (Khu 9)
- Phối sư Nguyễn Văn Lố - Ủy Viên Ủy Ban Mặt trận dân tộc giải phóng Tỉnh Vĩnh Long
- Giáo Hữu Trần Văn Hiểu – Phó Chủ Tịch Ủy Ban Mặt trận dân tộc giải phóng Tỉnh Trà Vinh
- Phối sư Đoàn Văn Trang - Ủy Viên Ủy Ban Mặt trận dân tộc giải phóng Tỉnh Bến Tre
- Phối sư Nguyễn Văn Sử - Chủ Tịch Ủy Ban Mặt trận dân tộc giải phóng Tỉnh Cần Thơ
- Phối sư Nguyễn Văn Nghiêm - Ủy Viên Ủy Ban Mặt trận dân tộc giải phóng Tỉnh Sóc Trăng
- Phối sư Nguyễn Văn Nhi - Ủy Viên Ủy Ban liên tỉnh Mặt trận dân tộc giải phóng Tỉnh Long An – Kiến Tường
- Phối sư Lê Minh Hiến - Ủy Viên Ủy Ban Mặt trận dân tộc giải phóng Tỉnh Định Tường
- Giáo sư Nguyễn Minh Cảnh - Ủy Viên Ủy Ban Mặt trận dân tộc giải phóng Tỉnh Đồng Tháp
Trang 29đó Theo chỉ đạo của người lãnh đạo cao nhất Hội Thánh lúc bấy giờ là Chưởng Quản Cửu Trùng Đài – Ông Đặng Văn Huẩn và sự ủng hộ của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền Nam mà đại diện trực tiếp chỉ đạo là Ngọc Đầu sư Nguyễn Văn Ngợi, một bộ phận chức sắc cao cấp của Hội thánh rút
về Thánh Tịnh Minh Đức tại Định Tường (Mỹ Tho) thành lập Giáo Hội Tiên Thiên Minh Đức, tiếp tục duy trì đường lối chủ trương của Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên trước đây Một bộ phận chức sắc cao cấp khác tập trung về Thánh Tịnh Ngọc Thanh Quang tại Vũng Liêm, Vĩnh Long hoạt động, lập thành Hội Thánh
Tiên Thiên lưu vong, thực hiện nhiệm vụ tôn giáo dân tộc với khẩu hiệu: “Sứ mạng tôn giáo bảo vệ hòa bình” Tháng 11 năm 1970, Hội Thánh Tiên Thiên tiến
hành dựng Đài Ngưỡng Thiên11 và mở Đại Hội Cầu Nguyện Hòa bình tại Thánh tịnh Ngọc Sơn Quang thuộc Mang Thít, Vĩnh Long Cuộc đại hội này thu hút hơn
2 vạn lượt người về tham dự với đầy đủ các thành phần như: Tín đồ toàn nền đạo Tiên Thiên, đại diện các Hội thánh Cao Đài khác trong cộng đồng Cao Đài, đại diện các tôn giáo bạn, các tổ chức đoàn hội, đồng bào lương giáo và nhiều tầng lớp nhân dân các nơi Đặc biệt còn có các hãng thông tấn, báo đài của Pháp, Nhật, Mỹ, Sài gòn đến trực tiếp đưa tin Trong đại hội, nhiều cá nhân, phái đoàn, tổ chức yêu chuộng hòa bình lần lượt lên diễn đàn phát biểu về ước vọng hòa bình, có bài phát biểu trực tiếp đòi Mỹ rút khỏi Việt Nam, yêu cầu chấm dứt ngay cuộc chiến tranh phi nghĩa, trả lại hòa bình độc lập thống nhất tổ quốc cho người Việt Nam Sau bài phát biểu còn thả chim bồ câu gửi đi ước nguyện hòa bình cho toàn nhân loại Có thể thấy, đây là một cuộc đại hội phản chiến gay gắt có sức ảnh hưởng và tiếng vang rất lớn của Cao Đài Tiên Thiên tại Việt Nam đối với chính quyền Mỹ Ngụy đương thời cũng như với dư luận quốc tế Và cũng từ đây, bắt đầu một chuỗi những hoạt động cầu nguyện hòa bình diễn ra tương tự với nhiều mức độ khác nhau12 liên tục ở khắp các Thánh tịnh Tiên Thiên nhiều năm sau đó
Trang 30Sang năm 1971, Hội thánh Tiên Thiên lưu vong phục hồi Hội Thánh trở về Tòa Thánh Châu Minh, củng cố lại hệ thống tổ chức và hoạt động bình thường, Hội thánh Trụ ngưng của ông Trần Kim Triêu bị giải tán trước đó Tháng 5 năm
1972, sau khi trở về Tòa Thánh Châu Minh một năm xây dựng và phát triển lại nền đạo, Quyền Giáo Tông Đặng Văn Huẩn đã qua đời tại đây Ông đã hoàn thành
sứ mạng lãnh đạo nền đạo Tiên Thiên vượt qua thời kỳ khó khăn, phức tạp trong cuộc đấu tranh vì đạo pháp và dân tộc, kế thừa truyền thống phụng đạo yêu nước, tốt đời đẹp đạo của người Cao Đài Tiên Thiên Tháng 11 năm 1972, Hội Thánh Tiên Thiên đã liên kết với các phái Cao Đài khác tiến hành Đại hội Liên Giao II tại Thánh thất Tây Thành với sự tham dự của 18 Hội thánh và Giáo hội Cao Đài, dựa trên nền tảng nội dung mục tiêu của Liên Giao I, thống nhất đi đến ban hành Bản thỏa ước13 của 18 Hội thánh Cao Đài
- Giai đoạn từ sau 1995
Trước tình hình mới, Cao Đài Tiên Thiên bước sang giai đoạn chuyển tiếp Hội thánh quyền pháp, bắt đầu thời kỳ thực hiện hành đạo không cơ bút như
“Thánh lịnh” dạy thời tái lập hội thánh 1955 Tuy nhiên, cũng vào thời gian này
một số chức sắc với quan điểm “Tiên Thiên giữ bền cơ bút”, đã sử dụng cơ bút vào mục đích để “thanh lọc” những người không đồng quan điểm với mình và xúc tiến việc “chỉnh tu định tịch” theo đường lối của Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa của Cao Đài
- Bảo vệ tu sĩ, không được bắt lính đưa đi cầm súng giết người
- Giúp đỡ lẫn nhau, chống bắt bớ chức sắc chức việc và tín đồ Cao Đài
- Không tham gia hoạt động chính trị, quân sự chống lại tổ quốc và dân tộc
- Vận động đồng bào phá thế kềm kẹp, cứu đạo, cứu mình
- Phát động phong trào đấu trành đòi hòa bình, cầu nguyện hòa bình, chấm dứt chiến tranh
- Không liên hiệp với những phái Cao Đài đi ngược lại với tôn chỉ mục đích cứu khổ, cứu nhơn sanh của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
Trang 31Tây Ninh, làm ảnh hưởng Cao Đài Tiên Thiên Điều này vi phạm Nghị quyết 297/CP của Thủ tướng Chính Phủ ban hành ngày 11/11/1977 quy định về hoạt động tôn giáo, đồng thời không phù hợp với Pháp Chánh Truyền và truyền thống Cao Đài Tiên Thiên Vì vậy, sau vụ án Cao Đài Tây Ninh năm 1979, Cao Đài Tiên Thiên giải thể hành chánh đạo Chỉ bầu lại một ban quản lí gồm 03 người từ cấp Tòa thánh đến cơ sở Thánh tịnh Tình trạng giản chính kéo dài đến cuối năm 1994 khi Ban tôn giáo Chính phủ công nhận thành phần Ban vận động “hoàn nguyên” hai khối Hội thánh Tiên Thiên Châu Minh và Giáo hội Tiên Thiên Minh Đức, đồng thời thông qua dự thảo Hiến Chương Cao Đài Tiên Thiên, xúc tiến các công tác chuẩn bị “hoàn nguyên” Ngày mùng 9 tháng Giêng năm 1995, Hội Thánh Cao
Đài Tiên Thiên cử hành Đại Hội Vạn Linh II tại Tổ Đình Tòa Thánh Châu Minh
để “hoàn nguyên Hội thánh” sau 32 năm phân hóa Đại hội được tiến hành long trọng có sự tham dự của đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ, đại diện chính quyền các cấp, đại diện các tôn giáo và hơn 12.000 người của nhiều tỉnh thành Ngày 29 tháng 7 năm 1995, Hội thánh Tiên Thiên chính thức tiếp nhận Quyết định số 51-QĐ/TGCP ngày 29/7/1995 của Ban Tôn giáo Chính phủ công nhận tư cách pháp nhân Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên, là Hội thánh Cao Đài đầu tiên hoạt động có Hiến chương hành đạo được thể chế hóa từ Tân Luật Pháp Chánh Truyền và bắt
đầu thực hiện quyền pháp thời “nước vinh, đạo sáng” cho đến tận ngày nay
Trải qua nhiều biến cố của lịch sử dân tộc, chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố địa lý, chính trị, xã hội cộng với sự chi phối từ sự phân hóa nội bộ, Cao Đài Tiên Thiên đã có những bước thăng trầm trong suốt quá trình phát triển của mình Tuy nhiên, với đức tin và tinh thần của một tôn giáo dân tộc, Cao Đài Tiên Thiên là Hội thánh được nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đầu tiên ngày 29 tháng 7 năm 1995, sớm nhất so với tất cả các Hội thánh khác trong cộng đồng Cao Đài tại Việt Nam Hiện nay Cao Đài Tiên Thiên có tổng cộng 76.752 tín đồ với 124 cơ sở thờ tự phân bố trên 16 tỉnh và thành phố, chỉ xếp thứ 3 sau Cao Đài Tây Ninh và Cao Đài Ban Chỉnh Đạo về số lượng cơ sở thờ tự và tín đồ Với tổng diện tích hơn
13 mẫu, Tòa Thánh Châu Minh đã trở thành Cơ quan giáo quyền Trung ương của
Trang 32Cao Đài Tiên Thiên với nhiều ngôi kiến trúc quy mô tại xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, Tỉnh Bến Tre
Trang 33MINH CHƠN ĐẠO
Trần Đạo Quang Cao Triều Phát – Bạc Liêu
BẠCH Y LIÊN ĐOÀN
Tô Bửu Tài
Trương Minh Tòng–Rạch Giá
CAO ĐÀI HỘI GIÁO
Võ Văn Thơm
Lê Công Thương – Cần Thơ
MINH CHƠN LÝ
Nguyễn Văn Ca Nguyễn Văn Phùng – Mỹ Tho
LIÊN HÒATỔNG HỘI
Nguyễn Phan Long Trần Văn Quế – Sài Gòn
TRUNG HÒA PHÁI
Nguyễn Văn Thanh
Lê Văn Bộ – Sài Gòn
Sơ đồ 1: Các hệ phái Cao Đài trước năm 1975
Chiếu Minh Tam Thanh Chiếu Minh Long Châu Đại Đồng Hiệp Nhất Thiên Đạo Hoàn Nguyên Lâm Huyền Châu
Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài Thống Nhất Cao Thượng Bửu Tòa Chung Tâm Hòa Phái
Giáo Hội Tiên Thiên Hội Thánh Nhị Giang
Cao Đài Việt Nam
Hội Thánh Tam Quan Phổ Thông Giáo Lý
Hội Thánh Tiền Giang Liên Chi Duy Nhất
Tiên Thiên Hư Vô Thiên Khai Đại Đạo Thiên Khai Huỳnh Đạo
Trang 34Sơ đồ 2: Các Hội thánh Cao Đài được công nhận pháp nhân hiện nay
2 Hội Thánh Chiếu Minh Long Châu (27/7/1996)
1 Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên (29/7/1995)
9 Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan (28/4/2000)
10 Hội thánh Cao Đài Việt Nam (17/7/2011)
Trang 35
Bảng 1: Số liệu thống kê các cơ sở thờ tự và tín đồ Cao Đài Tiên Thiên:
Tín đồ Họ
đạo
Ban Cai quản
Trang 36cơ sở kinh tế, xã hội và tồn tại xã hội chi phối, quyết định Cho nên, khi tìm hiểu
về nguồn gốc ra đời Cao Đài Tiên Thiên không chỉ tìm ở hình thái ý thức mà còn phải tìm hiểu về những tác động của hoàn cảnh lịch sử xã hội đã sinh ra nó Một tôn giáo xuất hiện khi và chỉ khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp, các phong trào tôn giáo bao giờ cũng là sự phản kháng lại sự khốn cùng của xã hội đã sinh ra nó với những áp bức, bất công, nghèo đói…là một ước mơ về một xã hội tương lai tốt đẹp, công bằng, mọi người được tự do và mưu cầu hạnh phúc, không còn áp bức bóc lột Sự ra đời của Cao Đài Tiên Thiên đã đáp ứng đúng được nhu cầu tâm linh của một bộ phận dân cư Nam Bộ nên được quần chúng, đa số là những người lao động nghèo tham gia khá đông Bởi thế, Cao Đài Tiên Thiên ra đời cũng mang tính chất là một phong trào quần chúng, thể hiện những mơ ước, nguyện vọng của quần chúng muốn hướng đến một tương lai tươi sáng hơn hiện tại mà họ đang sống Như vậy, Cao Đài Tiên Thiên ra đời ở Nam Bộ đầu thế kỷ
20, với tính chất là một tôn giáo, nên nó cũng mang các tính chất cơ bản của một tôn giáo bao gồm tính lịch sử, tính chính trị, tính quần chúng và thể hiện nhiều đặc trưng văn hóa của cư dân vùng này
Trang 37CHƯƠNG 2 VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ CỦA
TÍN ĐỒ CAO ĐÀI TIÊN THIÊN 2.1 Tổ chức Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên
Cao Đài Tiên Thiên có nguyên tắc tổ chức vừa giống với những nguyên tắc của Cao Đài nói chung, vừa có đặc điểm riêng Theo Hiến chương tu chỉnh Cao Đài Tiên Thiên năm 2010, có những nguyên tắc tổ chức cụ thể như sau:
2.1.1 Tam đài phân lập
Cơ cấu tổ chức của Cao Đài Tiên Thiên gồm ba cơ quan chính gọi là Tam Đài Ba cơ quan này tượng trưng cho ba yếu tố của con người: Bát Quái Đài đại diện phần vô vi, tượng trưng cho linh hồn; Cửu Trùng Đài đại diện phần đời, tượng trưng phần xác; Hiệp Thiên Đài là phần bán hữu hình thuộc về nửa đời nửa đạo, tượng trưng cho Chơn thần Tam Đài còn đại diện cho ba cơ quan có quyền hành cao nhất trong đạo đó là quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp Với ba quyền này thì tổ chức của Cao Đài Tiên Thiên có thể xem là một tổ chức mang mô hình của một nhà nước lập hiến
- Bát Quái Đài: Là cơ quan thiêng liêng của Đạo, là nơi thờ Ngọc Hoàng
Thượng Đế và các vị Phật, Tiên, Thánh, Thần Các vị này đại diện cầm quyền ở cõi vô hình mà tín đồ tin tưởng và hướng đến để chiêm bái, cầu nguyện Thế giới thiêng liêng trong đạo Cao Đài Tiên Thiên được chia thành nhiều thứ bậc, trong đó cao nhất là Ngọc Hoàng Thượng Đế cầm quyền chủ quản để siêu rỗi Các bậc còn lại gồm Tam Giáo Tổ Sư, Tam Trấn Oai Nghiêm và đại diện cho các chi Đạo như Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo Như vậy, cơ cấu tổ chức tại Bát Quái Đài gồm những thành phần thuộc về Thiêng Liêng, là các đấng siêu linh ở cõi vô hình, không có xác thân tại thế Đây là cơ quan cao nhất trong Đạo
- Cửu Trùng Đài là cơ quan hữu hình, được lãnh đạo bởi những người còn
đang tại thế, theo quan niệm của Cao Đài Tiên Thiên thì đây là cơ quan có trách nhiệm dìu dắt con người vào cửa đạo để được về với Thượng Đế Cửu Trùng Đài
Trang 38chia làm hai phái: Nam phái và nữ phái, chia làm 9 bậc gọi là Cửu phẩm Đứng đầu là Giáo tông, sau đến Chưởng pháp, Đầu Sư, Phối Sư, Giáo sư, Giáo hữu, Lễ sanh, chức việc và tín đồ Giữ quyền độ rỗi, mở rộng nền đạo Số lượng chức sắc Cửu Trùng Đài được quy định theo Pháp Chánh Truyền như sau: 1 Giáo tông, 3 Chưởng pháp, 3 Đầu sư, 36 Phối sư, 72 Giáo sư, 3000 Giáo hữu, riêng Lễ sanh, chức việc thì không quy định số lượng
Giáo tông là người giữ chức vụ cao nhất Cửu Trùng Đài, được gọi là Anh
cả cho toàn đạo Có quyền thay mặt Thượng Đế để dìu dắt tín đồ trong đường Đạo
và đường đời Là người có quyền thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Địa giới14 để cứu rỗi con người
Chưởng pháp là phẩm thấp hơn Giáo tông, gồm 3 vị đại diện cho ba nền tôn
giáo: Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo Tương ứng với 3 phái: Thái (Vàng), Thượng (Xanh), Ngọc (Đỏ) Chưởng pháp có quyền xem xét luật lệ trước khi thi hành, luật này có khi của Giáo tông truyền xuống hoặc của Đầu sư dâng lên Nếu hai bên không đồng ý thì phải đưa qua cho Hộ pháp để cầu Ngọc Hoàng Thượng
Đế sửa lại Chưởng pháp còn có quyền xem xét kinh điển trước khi ban hành Ba
vị này đều có con dấu riêng, văn kiện, kinh sách muốn được ban hành phải có đủ 3 con dấu ấy Ngoài ra, Chưởng pháp còn có nhiệm vụ can gián, sửa lỗi Giáo tông
và cũng có quyền đề xuất truất phế Giáo tông
Đầu sư gồm 3 vị Thái, Thượng, Ngọc, có nhiệm vụ giữ quyền lập luật và
ban hành luật đạo, nhưng phải thông qua Chưởng pháp và Giáo tông phê chuẩn
14
Tất cả các tầng Trời đều là phần vô hình của Càn Khôn Vũ Trụ Ở trên tất cả là 3 tầng Trời gọi là: - Thái Cực, - Ngôi Dương, - Ngôi Âm, gọi chung là Tam Thiên Vị nghĩa là Ba Ngôi Trời Nơi tầng Thái Cực có Bạch Ngọc Kinh, là trung tâm của Càn Khôn Vũ Trụ Kế tiếp bên dưới là 33 từng Trời 33 tầng Trời nầy hợp với 3 tầng Trời bên trên, tổng cộng 36 tầng Trời, gọi là Tam thập lục Thiên Trong Tam thập lục Thiên, mỗi tầng Trời có một vị Thiên Đế chưởng quản Thiên Đế chỉ là hóa thân của Đức Chí Tôn Thượng Đế Dưới Tam thập lục Thiên là Niết Bàn Cảnh, là cõi của chư Phật ngự Dưới Niết Bàn Cảnh là Cửu Trùng Thiên, tức là 9 tầng Trời, mà tầng Trời thứ 9 gọi là Tạo Hóa Thiên, do Đức Phật Mẫu chưởng quản Tầng Trời thứ 9 là Tạo Hóa Thiên, thì Niết Bàn Cảnh của chư Phật thuộc tầng Trời thứ 10, nên người ta gọi đây Thập phương chư Phật
Trang 39Đầu sư có quyền xin bỏ luật nếu luật đó trái với lợi ích của tín đồ, ba vị này cũng
có con dấu riêng, khi ban hành luật cũng phải đồng thời có ba con dấu ấy
Phối sư gồm 36 vị, chia đều ra ba chi Thái, Thượng, Ngọc mỗi chi 12 vị
Mỗi chi chọn ra một vị làm Chánh Phối sư Chánh Phối sư có thể thay thế Đầu sư
để hành đạo, nhưng không có quyền xin bỏ luật lệ Phối sư là người thừa lệnh Chánh Phối sư để hành đạo
Giáo sư gồm 72 vị, chia đều ra ba chi Thái, Thượng, Ngọc mỗi chi 24 vị
Giáo sư có nhiệm vụ dạy dỗ tín đồ trong đường đạo và đường đời Đây là những người giữ sổ bộ của tín đồ, thực hiện các lễ nghi liên quan đến đời người của tín
đồ Giáo sư có quyền cầu xin giản bớt các luật lệ có liên quan đến tín đồ
Giáo hữu gồm 3000 vị, cũng chia đều thành ba chi Thái, Thượng, Ngọc mỗi
chi chiếm 1000 vị Có nhiệm vụ phổ biến chơn truyền của đạo và có quyền xin giảm luật lệ của đạo
Các phẩm trên được liệt vào hàng chức sắc của Cửu Trùng Đài, những người giữ phẩm này phải là người đức độ, hết lòng vì đạo, không còn vướn bận chuyện gia đình và xã hội, gọi là phế đời hành đạo
Lễ sanh là những người có hạnh tốt, không giới hạn số lượng, cũng được
chia chi Thái, Thượng, Ngọc Lễ sanh có nhiệm vụ dạy tín đồ về nghi lễ, cúng tế
và lãnh trách nhiệm thượng tượng15, khai đàn cho tín đồ mới nhập môn Tín đồ muốn vào hàng chức sắc phải qua hàng Lễ sanh
Chức việc bao gồm Chánh Trị sự và Phó Trị sự, có trách nhiệm chăm sóc,
dìu dắt, giúp đỡ đời sống sinh hoạt của tín đồ, xem tín đồ như em ruột của mình Chịu trách nhiệm chung về hoạt động đạo sự nơi địa phương được giao phó quản
lý Chức việc phải tùng theo lịnh của Giáo hữu và Lễ sanh
Tín đồ là những người không có chức vị trong đạo, là những người có tâm
hướng về đạo, có niềm tin vào sự cứu rỗi của Đấng Cao Đài Tín đồ không giới hạn về số lượng, càng nhiều càng tốt
15
Nghi thức lập bàn thờ, dựng thánh tượng Thiên Nhãn cho tín đồ
Trang 40- Hiệp Thiên Đài là cơ quan tư pháp của Đạo, có nhiệm vụ quản lý và bảo
vệ luật lệ trong đạo, lập ra Tam Giáo Tòa để xử người vi phạm luật đạo Ngoài ra đây còn là cơ quan giữ quyền bảo vệ chân truyền của Đạo, là cái gạch nối liền Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài cho Trời hiệp với người, cho vô hình hiệp với hữu hình bằng huyền diệu của cơ bút để ban truyền Thánh huấn nhằm vận hành cơ Đạo, cứu rỗi chúng sinh Là quyền pháp luật cầm cân thiêng liêng, đưa rước chúng sinh vào đạo, đưa rước linh hồn vào Bát Quái Đài
Đứng đầu Hiệp Thiên Đài là Hộ pháp, tiếp đến là Thượng sanh và Thượng phẩm, dưới nữa có Thập Nhị Thời Quân, Thập Nhị Bảo Quân, Giám đạo, Truyền trạng và Sĩ tải Ngoài ra các họ đạo còn có thêm Thông sự, được xem là cùng cấp với Phó Trị sự, là người của Hiệp Thiên Đài nắm phần luật lệ ở địa phương
Trong Thập Nhị Thời Quân được chia làm 3 chi: Chi Pháp, chi Đạo, chi Thế
Chi Pháp có nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn luật pháp của Đạo, có thể tiến hành
xử phạt tín đồ đến các hàng chức sắc nếu vi phạm luật Đạo Đứng đầu là Hộ pháp,
kế đến gồm Bảo pháp, Hiến pháp, Khai pháp và Tiếp pháp
Chi Đạo có chức năng tiếp nhận và xử lý cáo trạng, xem xét các tình tiết liên quan đến cáo trạng, nếu thấy oan uổng hay chưa cấu thành hành vi phạm tội thì sẽ trình lên cho cấp cao để xem lại Đứng đầu là Thượng phẩm, dưới có Bảo đạo, Hiến đạo, Khai đạo và Tiếp đạo
Chi Thế có nhiệm vụ tiếp nhận, xem xét, trình báo lên cấp trên những cáo trạng của người ngoài đạo hay tín đồ kiện cáo những vị chức sắc bất kể ở hàng nào Đứng đầu là Thượng sanh, kế đến là Bảo thế, Hiến thế, Khai thế và Tiếp thế
Ba chi này hoạt động tương đối độc lập, theo nguyên tắc bảo mật, luôn kiểm tra và giám sát lẫn nhau để đảm bảo tính nghiêm minh của luật Đạo
Dưới Thập Nhị Thời Quân là Thập Nhị Bảo quân, gồm: Bảo văn pháp quân, Bảo phong quân, Bảo học quân, Bảo sanh quân, Bảo kinh quân, Bảo nghệ quân, Bảo hóa quân, Bảo y quân, Bảo anh quân, Bảo lão quân, Bảo chơn quân và Bảo tịnh quân