Vai trò của CRPD được nhìn nhận trên các khía cạnh sau: - Là một trong những điều ước quốc tế cốt lõi về quyền con người: Theo quan điểm của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc về quyền con
Trang 1TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ
QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Trang 2MỤC LỤC
CHUYÊN ĐỀ 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ BỐI
CẢNH THỰC THI TẠI VIỆT NAM 3
I CÔNG ƯỚC CRPD – BƯỚC TIẾN TRONG THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI 3
1 Lịch sử 3
2 Sứ mệnh, tính chất, vị trí, vai trò của Công ước CRPD 4
3 Tầm quan trọng của Công ước CRPD – bước tiến trong thực thi quyềncon người 6
4 Quá trình tham gia Công ước CRPD của Việt Nam 7
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC 8
1 Các khái niệm cơ bản 8
2 Những nguyên tắc chủ đạo: 8 nguyên tắc 11
3 Các quyền con người của người khuyết tật 14
4 Bảo vệ quyền của các nhóm người khuyết tật đặc thù (phụ nữ và trẻ em khuyết tật) 15
5 Nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước và các chủ thể khác 16
II CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM 17
1 Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về người khuyết tật và công tác người khuyết tật 17
2 Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với Công ước CRPD và vấn đề nội luật hóa 27
III CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆC THỰC THI CÔNG ƯỚC CRPD TẠI VIỆT NAM 30
1 Cơ hội 30
2 Thách thức 32
3 Những vấn đề cần quan tâm trong thực hiện chính sách, pháp luật về người khuyết tật 35
CHUYÊN ĐỀ 2: PHƯƠNG PHÁP, QUY TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH LỒNG GHÉP THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NGÀNH/ ĐỊA PHƯƠNG 37
I Tổng quan về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và lồng ghép thực hiện Công ước về Quyền của Người khuyết tật trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngành/địa phương 37
1 Ý nghĩa, tầm quan trọng của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngành/địa phương 37
2 Lồng ghép thực hiện CRPD trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngành/ địa phương 41
II Phương pháp, quy trình lồng ghép việc thực hiện Công ước CRPD trong người khuyết tật trong lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngành/ địa phương 44
1 Cơ sở pháp lý 44
2 Phạm vi lồng ghép 45
3 Nguyên tắc lồng ghép 45
4 Phương pháp, quy trình, nội dung lồng ghép thực hiện CRPD trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngành/ địa phương 46
CHUYÊN ĐỀ 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUY TRÌNH 49
LẬP, THẨM ĐỊNH VÀ PHÂN BỔ DỰ TOÁN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP NGƯỜI KHUYẾT TẬT 49
I PHÂN CẤP NGÂN SÁCH 49
1 Ngân sách trung ương bố trí cho hoạt động NKT trong dự toán của các Bộ, ngành TW theo lĩnh vực quản lý 49
2 Ngân sách địa phương: (nguồn thu NSĐP, nguồn NSTW bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu) bố trí cho hoạt động NKT trong dự toán của các cơ quan đơn vị địa phương theo lĩnh vực quản lý 49
II LẬP DỰ TOÁN 50
1 Căn cứ lập dự toán 50
2 Quy trình lập dự toán chi thường xuyên cho hoạt động NKT 50
3 Lập dự toán chi hoạt động NKT bố trí trong Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) và các Chương trình mục tiêu (CTMT) có liên quan 51
III THẢO LUẬN DỰ TOÁN 52
IV QUYẾT ĐỊNH, GIAO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 53
PHỤ LỤC - HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 54
VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT (Hệ thống hóa theo chủ đề) 54
1 Nhóm văn bản chủ đạo 54
2 Nhóm văn bản về xác định KT và trợ giúp về y tế - phục hồi chức năng 54
3 Nhóm văn bản về trợ cấp, trợ giúp xã hội 55
4 Nhóm văn bản về chính sách hỗ trợ giáo dục 56
5 Nhóm văn bản về chính sách dạy nghề - giải quyết việc làm 57
6 Nhóm văn bản về thông tin, truyền thông và ưu đãi trong văn hóa, thể thao, du lịch 58
7 Nhóm văn bản về tiếp cận công trình xây dựng, giao thông công cộng 58
8 Nhóm văn bản về chính sách trợ giúp pháp lý và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực NKT 60
9 Nhóm văn bản hướng dẫn về chế độ tài chính 60
10 Nhóm văn bản về lập, quyết định và phân bổ dự toán ngân sách nhà nước 61
Trang 3Chuyên đề 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ BỐI CẢNH THỰC THI TẠI VIỆT NAM
I CÔNG ƯỚC CRPD – BƯỚC TIẾN TRONG THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI
1 Lịch sử
Công ước CRPD là kết quả của chuỗi hành động nỗ lực của Liên hợp quốc và các liên minh của người khuyết tật (NKT) qua nhiều thập kỷ, qua nhiều thế hệ, bằng những bước đi không mệt mỏi từ việc đề xướng Năm quốc tế về NKT 1981, thực thi Chương trình hành động thế giới về NKT trong thập kỷ 80, công nhận Ngày 3/12 hàng năm là Ngày quốc tê Người khuyết tật vào năm 1992, và tiến đến thông qua Công ước của Liên hợp quốc về quyền của NKT vào năm 2006
Cơ sở cho sự ra đời của CRPD là mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế về 2 vấn đề quan ngại đối với việc bảo đảm quyền con người của NKT:
- Mặc dù đã có rất nhiều biện pháp và cam kết cở cấp độ quốc gia và quốc tế, NKT vẫn tiếp tục gặp nhiều rào cản khi tham gia như những thành viên bình đẳng trong xã hội và bị xâm phạm nhân quyền ở tất cả mọi nơi trên thế giới;
- Sự đa dạng, phức tạp của các hình thức phân biệt đối xử do chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tín ngưỡng, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, quốc tịch, sắc tộc, nguồn gốc xuất xứ hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, tuổi tác hay tình trạng khác khiến cho NKT gặp rất nhiều khó khăn, bất lợi trong đời sống dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá cả ở những nước đang phát triển và những nước phát triển
Gắn với các cuộc vận động, các phong trào toàn cầu và khu vực về NKT là sự gia tăng nhận thức của cộng đồng quốc tế, thúc đẩy tranh luận, đàm phán để thống nhất quan điểm về những vấn đề cốt lõi và củng cố niềm tin về giá trị của một điều ước quốc tế toàn diện và đầy đủ nhằm thúc đẩy, bảo vệ quyền và phẩm giá của NKT sẽ đóng góp đáng kể vào việc điều chỉnh lại sự bất lợi sâu sắc về xã hội của NKT Đây chính là những yếu tố cần và đủ dẫn tới sự ra đời của CRPD
Công ước CRPD được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào Ngày quốc
tế NKT 3/12/2006 tại trụ sở chính của LHQ tại New York – là điều ước quốc tế về
Trang 4nhân quyền đầu tiên trong thế kỷ XXI - được mở ký vào ngày 30/03/2007 Trong ngày mở ký, đã có 82 quốc gia đã ký Công ước (giữ kỷ lục về số quốc gia tham gia ký Công ước vào ngày mở ký), 44 quốc gia ký Nghị định thư không bắt buộc
và 01 quốc gia phê chuẩn Công ước
2 Sứ mệnh, tính chất, vị trí, vai trò của Công ước CRPD
Là một điều ước quốc tế về nhân quyền, sứ mệnh của CRPD là nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, tiếp tục phát triển nội hàm quyền con người, bao gồm cả các phương pháp tiếp cận thay thế để cải thiện việc thụ hưởng các quyền con người và quyền tự do cơ bản một cách có hiệu quả, thực chất
Vai trò của CRPD được nhìn nhận trên các khía cạnh sau:
- Là một trong những điều ước quốc tế cốt lõi về quyền con người: Theo quan
điểm của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người, trên nền tảng Tuyên ngôn nhân quyền (UDHR-1948), đến nay có 9 Công ước được xác định
là 9 điều ước quốc tế cốt lõi về nhân quyền của Liên hợp quốc, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, bao gồm: Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc (ICERD-1965); Công ước về các Quyền dân sự, chính trị (CCPR-1966); Công ước về các Quyền kinh tế, văn hoá và xã hội (CESCR-1966); Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW-1979); Công ước về Chống các hình thức tra tấn và nhục hình vô nhân đạo khác (CAT-1984); Công ước về Quyền trẻ em (CRC-1989); Công ước về bảo vệ quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ (ICRMW-1990); Công ước về bảo vệ tất
cả mọi người khỏi bị đưa đi mất tích (ICPPED-2006); Công ước về Quyền người khuyết tật (CRPD-2006)
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức (hoàn thành thủ tục phê chuẩn) 7/9 Công ước chủ chốt nói trên (chưa tham gia ICRMW và ICPPED)
UDHR (1948) ICCPR (1966) – VN gia nhập 1982 ICESCR (1966) – VN gia nhập 1982 ICERD-
Trang 5- Là điều ước quốc tế quan trọng về bảo vệ quyền con người của các nhóm dễ bị
tổn thương: Trong số 9 Công ước chủ chốt về quyền con người, có đến 4 công
ước về về bảo vệ quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, bao gồm: CEDAW (phụ nữ), CRC (trẻ em), CRPD (người khuyết tật), ICRMW (lao động
di cư) Ngoài ra, trong khuôn khổ Liên hợp quốc, còn một số văn kiện quốc tế
khác đề cập đến quyền của người cao tuổi (Nghị quyết số 46/91 của ĐHĐ Liên
hợp quốc về các nguyên tắc của Liên hợp quốc về người cao tuổi – 1991);
người thiểu số (Tuyên bố về quyền của những người thuốc các nhóm thiểu số
về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ - 1992)
- Là điều ước quốc tế đa phương toàn diện nhất về bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khuyết tật: Bên cạnh Công ước CRPD, hệ thống pháp luật quốc
tế về quyền con người của người khuyết tật còn bao gồm Tuyên bố về quyền
của những người thiểu năng tâm thần (1971); Các nguyên tắc về bảo vệ những người bị thiểu năng tâm thần và tăng cường chăm sóc sức khỏe tâm thần
(1991); Các quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hóa cơ hội cho người khuyết tật (1993) hoặc các điều ước khu vực như Chiến lược Incheon về khuôn khổ hành
động thiên niên kỷ Biwako về người khuyết tật khu vực châu Á – Thái Bình Dương Tuy nhiên, Công ước CRPD là điều ước ở quy mô toàn cầu, điều chỉnh
toàn diện quyền con người của NKT với đầy đủ các dạng tật, có sự tham gia rộng lớn của các thành viên LHQ (đến nay đã có 177 quốc gia tham gia Công ước), có hiệu lực mạnh mẽ đối với các quốc gia thành viên
(a) Tái khẳng định rằng tính chất toàn cầu, không thể chia lìa, sự phụ thuộc và
liên quan lẫn nhau của tất cả quyền con người, tự do cơ bản và nhu cầu của người khuyết tật nhằm đảm bảo sự hưởng thụ đầy đủ của họ mà không bị phân biệt đối
xử,
1 Việt Nam chỉ đủ điều kiện tham gia các Công ước quốc tế về nhân quyền vào năm 1977 khi đã trở thành thành viên chính thức của Liên hợp quốc
Trang 6(b)Tin chắc rằng một Công ước toàn diện và đầy đủ nhằm thúc đẩy và bảo vệ
quyền và phẩm giá của người khuyết tật sẽ đóng góp đáng kể vào việc điều chỉnh lại sự bất lợi sâu sắc về xã hội của người khuyết tật và thúc đẩy sự tham gia của
họ trong đời sống dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá với các cơ hội bình đẳng, cả ở các nước đang phát triển và các nước phát triển
- Là văn kiện bổ sung, hoàn thiện và nâng tầm giá trị hiện thực cho Công ước về quyền trẻ em, đặc biệt trên khía cạnh làm rõ hơn nội dung khía cạnh quyền tiếp cận và hòa nhập của trẻ em và thanh thiếu niên khuyết tật
3 Tầm quan trọng của Công ước CRPD – bước tiến trong thực thi quyềncon người
Sự ra đời, tồn tại của Công ước CRPD, kế tiếp các điều ước quốc tế của Liên hợp quốc về nhân quyền là sự khẳng định mạnh mẽ thêm về tính chất toàn cầu, không thể chia lìa, sự phụ thuộc và liên quan lẫn nhau của tất cả quyền con người, tự do cơ bản và nhu cầu của người khuyết tật nhằm đảm bảo sự hưởng thụ đầy đủ của họ mà không bị phân biệt đối xử
- Khẳng định mạnh mẽ và làm rõ các quyền con người của NKT trên cơ sở bình
đẳng với người không khuyết tật Qua đó thiết lập các cơ chế pháp lý để Thúc đẩy, bảo vệ và đảm bảo các quyền của NKT:
+ Thúc đẩy quyền (nâng cao nhận thức về quyền của NKT);
+ Bảo vệ quyền (ban hành luật và các chính sách ghi nhận quyền của người khuyết tật và đưa ra hình thức xử phạt vi phạm);
+ Đảm bảo thực thi quyền (tăng khả năng tiếp cận dịch vụ, bao gồm cả tiếp cận thông tin)
- Xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc tôn trọng và thực thi các biện pháp cần thiết để hiện thực hóa các quyền của NKT
- Khẳng định và cổ cũ cách tiếp cận xã hội trong vấn đề khuyết tật và nhấn mạnh mục tiêu cần xóa bỏ các rào cản cản trở NKT hòa nhập đầy đủ, tăng cường khả năng tiếp cận của NKT;
- Đảm bảo cơ chế giám sát cấp quốc gia và quốc tế việc thực thi quyền của NKT
Trang 74 Quá trình tham gia Công ước CRPD của Việt Nam
- Tính đến thời điểm Việt Nam phê chuẩn, trên thế giới đã có 158 quốc gia ký Công ước và 141 quốc gia đã phê chuẩn Công ước này Tính đến tháng 5/2018,
số quốc gia tham gia CRPD đã tăng lên 177 quốc gia Trong khối ASEAN, toàn
bộ các quốc gia thành viên đã hoàn thành thủ tục ký và phê chuẩn Công ước Trên thế giới chỉ còn 10 quốc gia chưa có hành động gì (Boswana, Somalia, Holy See, Nam Sudan, Timor- Leste…)
- Chính phủ Việt Nam đã ký Công ước CRPD vào ngày 22/10/2007, là thành viên thứ 118 của Công ước
- Quốc hội khóa XII nỗ lực xây dựng, nâng Pháp lệnh người tàn tật 1988 thành Luật người khuyết tật vào năm 2010: Việc ban hành Luật người khuyết tật năm
2010 là một trường hợp khá đặc biệt trong hoạt động lập pháp của Việt Nam khi nhìn từ khía cạnh thực hiện nghĩa vụ của quốc gia thành viên khi tham gia các điều ước quốc tế về quyền của các đối tượng dễ bị tổn thương Trong khi sự
ra đời các đạo luật như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật bình
đẳng giới, Luật phòng, chống bạo lực gia đình là kết quả của quá trình “nội luật hóa” các cam kết quốc tế sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính
thức của Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC)2, Công ước về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW)3, thì Luật người khuyết tật lại là sản phẩm của quá trình tích cực điều chỉnh pháp luật nhằm bảo đảm sự tương thích, tiệm cận của pháp luật Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế trước khi cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phê chuẩn Công ước này
- Quốc hội khóa XIII phê chuẩn Công ước bằng Nghị quyết số 84/2014/QH1 ngày 28/11/2014 tại kỳ họp thứ Tám
Trang 84.1 Ý nghĩa của việc tham gia và phê chuẩn Công ước CRPD
- Việc Quốc hội phê chuẩn Công ước CRPD là bước hoàn thành thủ tục để Việt Nam trở thành thành viên Công ước
- Trong nhiệm kỳ Việt Nam lần đầu tiên là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016, việc Quốc hội cùng lúc 02 Công ước chủ chốt về nhân quyền của Liên hợp quốc (Công ước CRPD và Công ước CAT)
đánh dấu bước tiến quan trọng về thực thi quyền con người ở Việt Nam
- Hiến pháp năm 2013 với những điểm mới quan trọng về đề cao quyền con người, quyền công dân đã được thể chế hóa quan việc Quốc hội phê chuẩn Công ước với số phiếu tuyệt đối và không bảo lưu bất kỳ điều khoản nào của Công ước; chấp nhận những ràng buộc của việc thực hiện đúng cam kết của quốc gia thành viên, tạo cơ sở cho việc tăng cường đối thoại về nhân quyền và trao đổi với các nước, các tổ chức quốc tế về nhân quyền, thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển vì lợi ích dành cho người khuyết tật
- Sau một thời gian dài đã nỗ lực để đạt được những tiến bộ trong việc đảm bảo
cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật, việc Việt Nam phê chuẩn CRPD ghi một dấu mốc quan trọng, nâng cao uy tín của Việt Nam trong thực thi quyền con người, trên cơ sở tiếp thu những khuyến nghị của các Ủy ban chuyên môn của Liên hợp quốc, giám sát, theo dõi việc thực thi các công ước quyền con người của các quốc gia thành viên4, thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ của Việt Nam trong việc sẵn sàng giải quyết những trở ngại ngăn cản cô lập người khuyết tật trên với cách tiếp cận trên cơ sở quyền
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC
1 Các khái niệm cơ bản
Việc xây dựng hệ thống khái niệm liên quan đến vấn đề khuyết tật trên cơ sở cách tiếp cận xã hội và tiếp cận dựa trên quyền là yếu tố mấu chốt khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết của Công ước CRPD với tính chất là một văn kiện pháp lý
4 Tham khảo khuyến nghị của Ủy ban về Quyền trẻ em (CRC), CRC/C/VNM/CO/3-4, khoản 56
Trang 9quốc tế chứa đựng những tiêu chuẩn quốc tế toàn diện liên quan đến vấn đề khuyết tật và người khuyết tật
độ và tư duy về người khuyết tật có vai trò lớn hơn nhiều so với bản thân khiếm khuyết
“Khuyết tật là một khái niệm đang phát triển và khuyết tật là kết quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa người bị suy giảm chức năng và những rào cản về quan điểm và môi trường ngăn cản sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ vào xã hội một cách bình đẳng với những người khác”
“Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”
Các hàm ý của khái niệm:
- Không phải là một khái niệm ổn định, bất biến mà là kết quả tương tác hai chiều giữa tình trạng suy giảm chức năng (khiếm khuyết) của một người với các rào cản về môi trường và quan điểm Do vậy khái niệm khuyết tật không cố định mà được điều chỉnh tùy theo những bối cảnh cụ thể mà ở đó tồn tại những rào cản về quan điểm và môi trường với các mức độ khác nhau và cách giải quyết những cản trở hòa nhập xã hội
- Là khái niệm hình thành trên cơ sở cách tiếp cận xã hội Theo đó, chính môi trường bên ngoài và những rào cản về quan điểm, thái độ là yếu tố mấu chốt trong việc tạo nên tình trạng khuyết tật; khác với cách tiếp cận y tế tập trung định nghĩa theo tình trạng khiếm khuyết về thể chất, tinh thần và cảm giác của
Trang 10một người Cách tiếp cận này đòi hỏi phải phân loại phân loại những rào cản NKT gặp phải, chứ không phải phân loại dạng tật hay tính tỷ lệ khiếm khuyết
- Công ước bao hàm tất cả các dạng khuyết tật, không chỉ áp dụng đối với một
nhóm NKT cụ thể, mà áp dụng chung cho tất cả những người có khuyết tật dài hạn về thể chất, tâm thần, trí tuệ và giác quan; không phân biệt giữa những NKT lâu dài với những NKT trong thời gian ngắn
1.2 “Phân biệt đối xử do bị khuyết tật” có nghĩa là bất cứ hình thức phân biệt,
loại trừ hay hạn chế nào do bị khuyết tật, có mục đích hay ảnh hưởng làm giảm hay huỷ bỏ sự công nhận, thụ hưởng, thực hiện, trên cơ sở bình đẳng với những người khác, tất cả các quyền con người và tự do cơ bản về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự hay bất cứ lĩnh vực nào khác Nó bao gồm tất cả các hình thức
phân biệt đối xử, bao gồm việc từ chối không tạo ra điều kiện hợp lý hoặc sự điều
chỉnh hợp lý
Bình đẳng và không phân biệt đối xử là một trong những nguyên tắc và quyền
cơ bản nhất của luật nhân quyền quốc tế, là cốt lõi của các điều ước quốc tế về nhân quyền, bởi nó đặt trên nền tảng sự tôn trọng nhân phẩm, tính toàn vẹn của phẩm giá con người - So với một số Công ước quốc tế về quyền con người, nội hàm khái niệm “phân biệt đối xử” của Công ước CRPD bổ sung thêm các đặc điểm: nguồn gốc bản xứ và độ tuổi5
- Đáng lưu ý, các khía cạnh phân biệt đối xử đa chiều và phân biệt đối xử tăng
dần cũng đã được quy định trong công ước này6: một trẻ em có thể bị phân biệt đối xử do thuộc nhóm dân tộc thiểu số và bị khuyết tật; do nhận định chủ quan rằng trẻ yếu kém về ngôn ngữ cũng như giới tính và khiếm khuyết của trẻ Có
5 So sánh khoản (p), Lời nói đầu, Công ước CRPD Tham khảo những đặc điểm được bổ sung trong khoản 21, Bình luận chung số 6 về bình đẳng của Công ước CRPD đã được thông qua: khuyết tật; tình trạng sức khỏe; khuynh hướng bệnh tật do di truyền hoặc nguyên nhân khác; chủng tộc; màu da; nguồn gốc gia đình; giới tính; thai sản và khả năng làm mẹ/cha; địa vị dân sự, gia đình hoặc nghề nghiệp; thể hiện giới tính; đặc điểm giới tính; ngôn ngữ; tôn giáo; quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác; nguồn gốc quốc gia, dân tộc, bản xứ hoặc xã hội; người di cư, tị nạn hoặc xin tị nạn; thuộc nhóm dân tộc thiểu số; địa vị kinh tế hoặc tài sản; sinh nở; và độ tuổi
6 Khoản (p), Lời nói đầu (p) & Điều 6, Công ước CRPD
Trang 11nhiều yếu tố và đặc điểm tác động tiêu cực tới nỗ lực sinh sống bình đẳng trong
xã hội
1.3 “Giao tiếp” bao gồm các ngôn ngữ được trình bày bằng chữ thường hay chữ
Braille, giao tiếp bằng xúc giác, in chữ to, phương tiện truyền thông có thể tiếp cận được cũng như các dạng thức, phương tiện giao tiếp bằng chữ viết, nghe nói, ngôn ngữ trực tiếp, người đọc và các thức phóng to chữ hay các thức thay thế khác của giao tiếp, bao gồm công nghệ thông tin và truyền thông và có thể tiếp cận được;
1.4 “Ngôn ngữ” bao gồm các ngôn ngữ nói và ngôn ngữ ký hiệu và các hình thức
ngôn ngữ không dùng lời nói khác;
1.5 “Sự điều chỉnh hợp lý” nghĩa là sự sửa đổi, điều chỉnh cần thiết và thích hợp
mà không áp đặt một gánh nặng thiếu cân đối hay phi lý nào, ở nơi cần thiết trong trường hợp cụ thể, để đảm bảo người khuyết tật hưởng thụ hay thực thi, trên cơ sở bình đẳng với những người khác, tất cả quyền con người và sự tự do cơ bản
Trong hướng dẫn mới ban hành (ngày 9/3/2018), Ủy ban Công ước CRPD giải thích vai trò quan trọng của yếu tố tạo điều kiện hợp lý trong việc chống phân
biệt đối xử và đảm bảo bình đẳng “Với đặc thù là một nghĩa vụ không hồi tố, tạo
điều kiện hợp lý phải được thực hiện từ lúc người khuyết tật yêu cầu được tiếp cận với các hoàn cảnh hoặc môi trường không thể tiếp cận được, hoặc muốn thực hiện quyền của mình.”7
1.6 “Thiết kế phổ cập” có nghĩa là việc thiết kế các sản phẩm, môi trường,
chương trình và dịch vụ để tất cả mọi người có thể sử dụng ở phạm vi lớn nhất có thể được, mà không cần phải sửa đổi hay có thiết kế đặc biệt “Thiết kế phổ cập”
sẽ không loại trừ những thiết bị hỗ trợ dành cho những nhóm người khuyết tật cụ thể khi họ cần có những thiết bị này
VD thiết kế phổ cập đối với tay nắm cửa, vòi gạt nước…
2 Những nguyên tắc chủ đạo: 8 nguyên tắc
- Tôn trọng phẩm giá vốn có, sự tự chủ của cá nhân bao gồm sự tự do lựa chọn
và sự độc lập của cá nhân: Dựa trên giá trị cốt lõi trong trong Hiến chương của
7 Công ước CRPD, Bình luận chung số 6, Bình đẳng, khoản 24 (b)
Trang 12Liên Hiệp Quốc công nhận nhân phẩm và giá trị vốn có là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình trên thế giới,
Nền tảng của nguyên tắc này dựa trên giá trị phổ quát được công nhận trong
bản Tuyên bố toàn cầu về Nhân quyền và trong các Công ước quốc tế về Nhân quyền, Liên hiệp quốc đã tuyên bố và nhất trí rằng mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào
Công nhận sự tự do và độc lập cá nhân, bao gồm tự do lựa chọn, là quan trọng
đối với người khuyết tật,
- Không phân biệt đối xử: Dựa nên các giá trị phổ quát về quyền con người nhất
trí rằng mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào, tính chất toàn cầu, không thể chia lìa, sự phụ thuộc và liên quan lẫn nhau của tất cả quyền con người, tự do cơ bản và nhu cầu của người khuyết tật nhằm đảm bảo sự hưởng thụ đầy đủ của họ mà không bị phân biệt đối xử
Nguyên tắc này được đề xuất dựa trên quan ngại về điều kiện khó khăn mà
người khuyết tật, những người đang là đối tượng của các hình thức phân biệt đối xử đa dạng và phức tạp do chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tín ngưỡng, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, quốc tịch, sắc tộc, nguồn gốc xuất xứ hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, tuổi tác hay tình trạng khác
Cấm phân biệt đối xử là bước đầu tiên - quan trọng - trong việc giảm thiểu tình trạng không được tiếp cận về mặt xã hôi, xóa bỏ những rào cản chủ yếu tồn tại trong tư duy của mọi người Thể chế hóa đầy đủ về không phân biệt đối
xử sẽ gửi đi một thông điệp rõ ràng, có ý nghĩa với công tác triển khai thực hiện và có tác động tới tư duy về người khuyết tật
Nhà nước đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử, với vai trò là chủ thể bảo vệ sự thịnh vượng chung của
xã hội Biện pháp quan trọng đầu tiên để hạn chế phân biệt đối xử chính là thông qua hoạch định và thiết kế chính sách bảo đảm đối xử bình đằng
- Sự tham gia và hoà nhập xã hội đầy đủ và hiệu quả;
Trang 13Công nhận sự đóng góp hiện tại có giá trị và đầy tiềm năng của người
khuyết tật vào phúc lợi chung và công nhận sự đa dạng của cộng đồng người khuyết tật, và việc thúc đẩy sự hưởng thụ đầy đủ của người khuyết tật đối với các quyền con người và tự do cơ bản và sự tham gia đẩy đủ của người khuyết tật sẽ nâng cao tinh thần của họ và có những tiến bộ đáng kể trong sự phát triển của xã hội về con người, xã hội và kinh tế, cũng như xoá bỏ nghèo đói,
Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng người khuyết tật cần phải có cơ hội để
tham gia tích cực vào việc ra quyết định, các quá trình hoạch định chính sách
và chương trình, bao gồm những chính sách và chương trình có liên quan trực tiếp tới họ,
- Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như một phần của sự đa
dạng nhân loại và nhân văn;
Là sự mở rộng và nhấn mạnh trên cơ sở nguyên tắc về tôn trọng phẩm giá của NKT; theo đó sự phân biệt đối xử đối với bất kỳ một người nào với lý do khuyết tật là sự xâm phạm tới phẩm giá và giá trị vốn có của một con người Tính đa dạng của người khuyết tật là thực tế khách quan, đòi hỏi cần tôn trọng
sự khác biệt
- Bình đẳng về cơ hội;
Người khuyết tật cần phải có cơ hội để tham gia tích cực vào việc ra quyết định, các quá trình hoạch định chính sách và chương trình, bao gồm những chính sách và chương trình có liên quan trực tiếp tới họ Xóa bỏ những rào cản định kiến xã hội là biện pháp quan trọng để NKT được tham gia đầy đủ vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội
Tầm quan trọng của các nguyên tắc và hướng dẫn chính sách có trong Chương trình hành động thế giới liên quan tới người khuyết tật và trong Các quy chuẩn
về bình đẳng các cơ hội đối với người khuyết tật có ảnh hưởng tới sự thúc đẩy, hình thành và đánh giá các chính sách, kế hoạch, chương trình và hành động ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế để bình đẳng hơn nữa các cơ hội dành cho người khuyết tật,
Trang 14Do đó Công ước cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lồng ghép các vấn
đề khuyết tật như là một phần không thể thiếu của các chiến lược phát triển bền vững có liên quan,
- Tiếp cận;
Đề cao tầm quan trọng của việc tiếp cận tới môi trường vật chất, xã hội, kinh
tế và văn hoá, tới y tế và giáo dục và tới thông tin và truyền thông, để người khuyết tật hưởng thụ đầy đủ tất cả quyền con người và tự do cơ bản,
Xuất phát từ thực tế rằng phần lớn người khuyết tật sống trong điều kiện
nghèo khổ và do vậy, công nhận sự cấp thiết phải đề cập tới tác động tiêu cực của nghèo đói đối với người khuyết tật, nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận của các NKT đối với các dịch vụ xã hội cơ bản
- Bình đẳng giữa nam và nữ (tương thích với Công ước CEDAW);
Nhấn mạnh sự cần thiết phải kết hợp vấn đề giới trong tất cả những nỗ
lực nhằm thúc đẩy sự hưởng thụ hoàn toàn quyền con người và tự do cơ bản của người khuyết tật,
Phụ nữ và trẻ em gái khuyết tật thường phải chịu rủi ro nhiều nhất, bị bạo lực trong nhà lẫn bên ngoài, bị thương hay bị lạm dụng, bị bỏ mặc hoặc không được quan tâm, bị ngược đãi hoặc bị bóc lột,
- Tôn trọng những khả năng đang phát triển của trẻ khuyết tật và tôn trọng
quyền bảo vệ nhân dạng của trẻ khuyết tật
Trẻ khuyết tật phải được hưởng thụ đầy đủ toàn bộ quyền con người và tự do
cơ bản trên cơ sở bình đẳng với những trẻ em khác và nhắc lại những nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước về Quyền của trẻ em phải thực hiện vì mục đích đó,
3 Các quyền con người của người khuyết tật
Công ước không tạo ra những quyền mới của riêng NKT mà thực chất là khẳng định các quyền con người có bản của NKT trên nền tảng Tuyên ngôn nhân quyền Điều 10 Quyền được sống
Điều 12 Bình đẳng trước pháp luật và không phân biệt đối xử
Điều 14 Tự do và an ninh con người
Trang 15Điều 15 Không bị hành hạ hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm giảm phẩm giá hay bị ngược đãi
Điều 16 Không bị bóc lột, bạo hành hay lạm dụng
Điều 17 Bảo vệ sự toàn vẹn của con người
Điều 18 Tự do di chuyển và tự do quốc tịch
Điều 19 Sống độc lập và hòa nhập cộng đồng
Điều 21 Tự do ngôn luận và tự do tiếp cận thông tin
Điều 22 Tôn trọng sự riêng tư
Điều 23 Tôn trọng về nhà ở và gia đình
Điều 24 Giáo dục
Điều 25 Y tế
Điều 27 Công việc và việc làm
Điều 28 Mức sống và bảo trợ xã hội đầy đủ
Điều 29 Tham gia vào đời sống chính trị và cộng đồng
Điều 30 Tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghỉ ngơi, giải trí và thể thao
4 Bảo vệ quyền của các nhóm người khuyết tật đặc thù (phụ nữ và trẻ em khuyết tật)
Phụ nữ khuyết tật thường chịu phân biệt đối xử kép (vì lý do khuyết tật và
lý do giới) (Điều 6) Lĩnh vực mà phụ nữ và trẻ em gái rất dễ bị tổn thương là bạo lực trên cơ sở giới Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) ước tính rằng người khuyết tật có nguy cơ bị lạm dụng cao gấp 3 lần so với người khác Phụ nữ và trẻ
em khuyết tật có nguy cơ là nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới cao hơn nam giới khuyết tật Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) là điều ước riêng về quyền của phụ nữ Cùng với Công ước về Quyền của Người khuyết tật, Công ước này quy định nghĩa vụ của các quốc gia trong ngăn chặn sự phân biệt đối xử và thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ khuyết tật
Do đó, cần quan tâm đến vấn đề giới và khuyết tật trong các chương trình phát triển, tiến hành các biện pháp để đảm bảo phụ nữ và trẻ em gái được hưởng thụ đầy đủ và bình đẳng tất cả các quyền con người và tự do cơ bản của họ, ví dụ: tăng
tỷ lệ phụ nữ/trẻ em gái khuyết tật đến trường để đảm bảo quyền học tập của họ… Trên phương diện pháp lý quốc tế, quyền của trẻ em tàn tật lần đầu tiên được xác lập trong Công ước về quyền trẻ em (CRC), với 4 nguyên tắc quan trọng
Trang 16nhất là: không phân biệt đối xử; lợi ích tốt nhất của trẻ em; quyền được sống và phát triển; được tôn trọng ý kiến trong các vấn đề ảnh hưởng đến mình Điều 7 của CRPD liên quan chặt chẽ đến Điều 23 CRC, tạo nên quan điểm toàn diện và có tính cập nhật về bảo vệ quyền của trẻ em khuyết tật Chính bởi mối quan hệ này, nên CRPD được coi là sự bổ sung tạo nên tính toàn diện đối với CRC và làm rõ hơn nội dung khía cạnh quyền tiếp cận và hòa nhập của trẻ em và thanh thiếu niên khuyết tật Đặc biệt, Công ước này nhấn mạnh trẻ em và thanh thiếu niên khuyết tật, trong vai trò là chuyên gia trong lĩnh vực này, có quyền được lắng nghe và khẳng định tầm quan trọng của việc lắng nghe trẻ em và thanh thiếu niên khuyết tật Do đó, vận động sự tham gia của trẻ em và thanh thiếu niên khuyết tật, học hỏi kinh nghiệm cuộc sống của các em, sẽ là một phần quan trọng trong phương pháp luận giúp hiểu rõ cuộc sống của các em tại Việt Nam
5 Nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước và các chủ thể khác
Công ước quy định các nghĩa vụ chung (Điều 4) và các nghĩa vụ cụ thể
Chính phủ có nghĩa vụ chính trong đảm bảo thực thi Công ước Đây đồng thời cũng là nghĩa vụ cùa quốc gia thành viên trong thực thi điều ước quốc tế Các nghĩa vụ của Chính phủ bao gồm:
- Rà soát và sửa đổi, bổ sung các luật và chính sách hiện hành nhằm đảm bảo tuân thủ Công ước Các chính sách bao gồm chiến lược phát triển quốc gia, chiến lược quốc gia về người khuyết tật, chiến lược hòa nhập xã hội, cũng như các chiến lược/kế hoạch cấp bộ ngành nhằm thực thi quyền của NKT
- Hỗ trợ kinh phí thực hiện: chính phủ cần cấp ngân sách để thực thi luật pháp, chính sách về NKT
- Cung cấp hàng hóa và dịch vụ có thể tiếp cận được – Các hàng hóa và dịch vụ được cung cấp cần đảm bảo tiếp cận với người khuyết tật, từ đó giúp NKT thụ hưởng các quyền bình đẳng như những người khác Các dịch vụ này bao gồm dịch vụ dành riêng cho NKT và dịch vụ dành cho tất cả mọi người mà NKT có thể tiếp cận và sử dụng
- Nâng cao nhận thức – Người khuyết tật gặp nhiều rào cản do cộng đồng chưa nhận thức được quyền và năng lực của người khuyết tật Do vậy nâng cao nhận thức là rất cần thiết
Trang 17- Đào tạo – Tập huấn về Công ước cho cán bộ chuyên môn như giáo viên, chuyên gia y tế là rất quan trọng trong việc hiện thực hóa quyền của người khuyết tật Ví dụ giáo viên cần được trang bị kiến thức về giáo dục hòa nhập, chuyên gia y tế cần hiểu về cách tiếp cận xã hội/dựa trên quyền đối với NKT
- Thu thập dữ liệu – Là cần thiết để cung cấp thông tin và bằng chứng cho quá trình xây dựng luật pháp, chính sách thực thi Công ước Các quốc gia cần thu thập dữ liệu về tình trạng của người khuyết tật, những rào cản mà họ gặp phải trong việc thụ hưởng quyền
- Nâng cao năng lực - Các quốc gia cần tiến hành mọi biện pháp phù hợp để đáp ứng các nghĩa vụ của họ theo Công ước
Vai trò và nghĩa vụ của khu vực tư nhân cũng được đề cập cụ thể trong các điều khoản sau: Điều 4 (1) (e); Tiếp cận (Điều 9 (2) (b).); Di chuyển cá nhân (Điều 20 (d)); Tự do ngôn luận (Điều 21 (c)); Y tế (Điều 25 (d)); và Việc làm (Điều 27 (1) (h))
Ngoài khu vực tư nhân, Công ước cũng xác định vai trò của các bên có liên quan như: Điều 25 đề cập đến các chuyên gia y tế, Điều 12 nhắc đến người hỗ trợ NKT thực hiện năng lực pháp lý, Điều 19 đề cập đến người hỗ trợ sống độc lập, Điều 24 đề cập đến giáo viên Như vậy, dù chính phủ có trách nhiệm chính trong
đảm bảo thực thi Công ước, nhiều bên liên quan cũng có vai trò thực thi Công ước
II CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
1 Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về người khuyết tật và công tác người khuyết tật
1.1 Quan điểm, đường lối chính trị
Hướng tới và nỗ lực cho một xã hội không rào cản đối với NKT là mục tiêu cao cả, tốt đẹp của nhân loại tiến bộ và cũng là đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong suốt nhiều năm qua trên con đường thúc đẩy tiến bộ xã hội, ngày càng trở thành một giá trị cốt lõi của quản trị xã hội nói chung và quản lý nhà nước nói riêng
Về đường lối chính trị, quan điểm chủ đạo của Đảng về vấn đề NKT được
Trang 18đặt trên nền tảng quan điểm về phát triển con người, vốn được coi là một trong những trọng tâm nhất quán, xuyến suốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ Phát triển con người là một yếu tố thuộc nội hàm của phát triển bền vững bởi nó tạo nên nguồn nhân lực chất lượng – nói cách khác là nguồn vốn con người – cùng với các nguồn lực khác (tài nguyên, tài chính, vốn xã hội ) hợp thành dòng chảy quyết định chất lượng phát triển bền vững8 Phát triển con người bền vững là phát triển các lực lượng bản chất của con người, phát triển các năng lực vật chất và năng lực tinh thần, nhân cách, trí tuệ, thể chất của con người
Đường lối chính trị nói trên được thể hiện thành tuyên ngôn trong văn kiện quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam - Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011) “không
ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất”, “Chăm lo đời sống những người cao tuổi, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi”
Tầm nhìn và quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát
triển xã hội là “kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá,
xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách”9 Với tính chất là một lĩnh vực quan trọng của chính sách xã hội, việc xây dựng chiến lược, kế hoạch công tác về NKT đòi hỏi phải được xây dựng trên nền tảng phù hợp, tương thích với bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ kinh tế - xã hội hàng năm và từng giai đoạn Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong chỉ đạo thực tiễn vì trên thực tế các nghiên cứu quốc tế đã chỉ
8 Hội đồng lý luận trung ương, Phát triển và sáng tạo quản trị xã hội – Kinh
nghiệm Trung Quốc, Kinh nghiệm Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật,
2015, tr.443;
9 Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
Trang 19ra rằng các nước đang phát triển thường chưa chú ý đầy đủ đến các vấn đề an sinh đối với NKT10
Quyền của người khuyết tật thuộc nội hàm quyền được hưởng an sinh xã hội, thuộc nhóm quyền có điều kiện Đặc tính của nhóm quyền này là mức độ bảo đảm quyền phụ thuộc vào luật định của mỗi quốc gia tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và năng lực bảo đảm của quốc gia Đồng thời quá trình bảo đảm và thúc đẩy thực hiện quyền con người của NKT cũng được đặt trong hệ quy chiếu với các phạm trù liên quan mật thiết, đó là phẩm giá con người, tiếp cận dựa trên quyền, quản trị tốt và phát triển bền vững
Bên cạnh đường lối, tầm nhìn dài hạn của Cương lĩnh 2011, trong nhiều văn kiện được ban hành trong những năm gần đây, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện nhất quán và ngày càng sâu sắc hơn quan điểm không ngừng chăm lo, cải thiện đời sống của người khuyết tật nói riêng và người yếu thế nói chung, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước và huy động sự quan tâm của cả hệ thống chính trị đối với lĩnh vực công tác người khuyết tật Cụ thể là:
- Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Hội nghị lần thứ năm BCHTW khoá
XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 “Nâng cao
hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ mồ côi, người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão
- Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm
10 Ngân hàng thế giới (Margaret Grosh, Carlo del Ninno, Emil Tesliuc và
Azedine Ouerghi), Về bảo trợ xã hội và thúc đẩy xã hội, NXB Văn hóa – Thông
tin, 2008;
Trang 20giai đoạn 2016 – 2020 là “Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải
quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững” Báo cáo chính trị tại Đại hội, trên cơ sở
nhận định rõ những bất cập của quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, đã nêu rõ đường lối “Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu
quả của hệ thống an sinh xã hội đến mọi người dân; tạo điều kiện để trợ giúp
có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống Chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh xã hội của công dân Phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế”
1.2 Hệ thống pháp luật chuyên ngành về NKT
a) Hiến pháp
So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp 2013 có những bước tiến quan trọng trong việc hiến định tư tưởng về quyền của NKT và trách nhiệm chủ đạo của Nhà nước trong trợ giúp NKT Cụ thể như sau:
- Điều 34 khẳng định “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” Đây là
lần đầu tiên khái niệm an sinh xã hội được sử dụng chính thức trong văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước Quyền được bảo đảm an sinh xã hội được ghi nhận với tính chất là một quyền công dân cơ bản để phù hợp với tính tương đối của quyền này theo lý luận về quyền con người Quyền của NKT nằm trong nội hàm của quyền được bảo đảm an sinh xã hội, gắn liền với sự đổi mới mạnh mẽ
quan niệm về quyền con người ghi nhận tại Điều 14 “Ở nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” 11 và Điều 16 “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”
- Cùng với tuyên bố về quyền, Điều 59 và Điều 61 Hiến pháp 2013 khẳng định
11 Tuyên bố tại Điều 14 Hiến pháp 2013 là sự đổi mới mạnh mẽ quan niệm về quyền con người so với Điều 50 Hiến
pháp 1992 “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”
Trang 21trách nhiệm chủ đạo của Nhà nước trong trợ giúp NKT và tạo điều kiện cho NKT được học văn hóa và học nghề Các quy định này đặt ra những đòi hỏi quan trọng đối với nền quản trị để phúc đáp yêu cầu được quan tâm chăm sóc, bảo vệ và tạo điều kiện để phát triển đối với NKT
Điều 59 “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã
hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”
Điều 61 “Nhà nước … tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được
tượng dễ bị tổn thương Trong khi sự ra đời các đạo luật như Luật bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em, Luật bình đẳng giới, Luật phòng, chống bạo lực gia đình
là kết quả của quá trình “nội luật hóa” các cam kết quốc tế sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC )12,
Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW)13, thì Luật người khuyết tật lại là sản phẩm của quá trình tích cực điều chỉnh pháp luật nhằm bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam với Công ước CRPD trước khi cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phê chuẩn Công ước này Đây là
lý do giải thích tại sao sau khi CRPD được thông qua vào năm 2006, Việt Nam rất tích cực ký kết tham gia Công ước vào năm 2007, nhưng đến năm 2015 mới phê chuẩn CRPD, sau khi đã ban hành Luật người khuyết tật vào năm 2010
Luật NKT 2010 đã thiết lập khuôn khổ pháp lý ở mức cao nhất hệ thống chính sách tương đối đầy đủ, toàn diện nhằm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và
12 CRC được thông qua năm 1989; VIệt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á, là quốc gia thứ hai trên toàn cầu phê chuẩn CRC vào tháng 2/1990; sau đó năm 1991 đạo luật đầu tiên về trẻ em mới ra đời
13 Việt Nam thuộc nhóm nước sớm tham gia Công ước này; ký vào ngày 29/7/1980, phê chuẩn vào ngày 17/2/1982; Luật bình đẳng giới được ban hành vào năm 2006, sau 24 năm phê chuẩn CEDAW
Trang 22thúc đẩy cơ hội bình đẳng để NKT thực hiện các quyền về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả năng của NKT để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội Người khuyết tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật Bên cạnh việc ghi nhận quyền, Luật NKT 2010 cũng thiết lập nhiều cơ chế đảm bảo quyền của NKT thông qua việc bố trí ngân sách để thực hiện các chương trình, đề án trợ giúp, chăm sóc, phục hồi chức năng cho NKT; phát triển nghề công tác xã hội; tạo điều kiện cho hoạt động của các tổ chức của và vì NKT…
Việc ban hành đạo luật này thể hiện sự quan tâm và nỗ lực quan trọng của Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm quyền của người khuyết tật, được coi là một trong những thành tựu nổi bật, là “điểm sáng” được nhấn mạnh trong Báo cáo quốc gia
về thực hiện quyền con người ở Việt Nam chu kỳ II14
Vào thời điểm trình Quốc hội phê chuẩn CRPD, Tờ trình của Chính phủ trước
Chủ tịch nước đã nêu rõ: Tại thời điểm ký Công ước CRPD, do hệ thống pháp luật
Việt Nam về NKT còn một số hạn chế nhất định, đặc biệt là Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 nên cần có thời gian để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Công ước CRPD Đến nay, hệ thống pháp luật về NKT của nước ta đã tương đối hoàn thiện và cơ bản phù hợp với Công ước
Luật NKT 2010 đã tạo nền tảng để khi phê chuẩn CRPD, Điều 2 Nghị quyết số
84/2015/QH13 của Quốc hội tuyên bố mạnh mẽ “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam cam kết thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật trên tất cả các lĩnh vực”
c) Hệ thống văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NKT
Sau khi Quốc hội ban hành Luật NKT năm 2010 và phê chuẩn Công ước CRPD vào năm 2015, từ năm 2011 đến nay, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
14 Bộ Ngoại giao, Báo cáo quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo
cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II (mục 66, 67,68);
Trang 23đã ban hành 55 văn bản quy phạm pháp luật để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các nội dung cụ thể của Luật NKT (xem Phụ lục), bao gồm:
- Phân loại theo thang giá trị văn bản:
+ 16 Nghị định (gồm 01 Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật và 15 nghị định có liên quan);
+ 04 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định có chứa quy phạm pháp luật);
+ 15 Thông tư liên tịch giữa các Bộ, ngành;
+ 20 Thông tư của các Bộ, ngành: gồm: Bộ Giao thông vận tải (07); Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (03); Bộ Tài chính (03); Bộ Giáo dục- Đào tạo (02); Bộ Y tế (01); Bộ Thông tin và Truyền thông (01); Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (01); Bộ Xây dựng (01); Bộ Tư pháp (01)
Số lượng rất lớn các Thông tư liên tịch được ban hành trong lĩnh vực này trong 4 năm qua cho thấy đặc trưng về tính liên ngành của chính sách, pháp luật về NKT Tuy nhiên, nó cũng đặt ra một vấn đề kỹ thuật cần quan tâm xử lý, đó là: Theo Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 thì từ ngày 30/6/2016, các Bộ, ngành không được ban hành văn bản liên tịch nữa Do đó, khi cần sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các Thông tư liên tịch đã nêu trên đây, thì cần có giải pháp xử lý theo hướng trình cơ quan có thẩm quyền cao hơn
- Phân loại theo nội dung điều chỉnh của văn bản: có thể chia thành 10 nhóm
theo các nội dung điều chỉnh tương đối độc lập như sau:
+ Nhóm các văn bản hướng dẫn chung, mang tính chủ đạo: 3 văn bản (01 Nghị định + 02 Thông tư);
+ Nhóm văn bản về xác định KT – y tế - phục hồi chức năng: 05 văn bản (04 Thông tư liên tịch + 01 Thông tư);
+ Nhóm văn bản điều chỉnh về trợ cấp – trợ giúp xã hội: 05 văn bản (01 Nghị định + 03 TTLT + 01 TT);
+ Nhóm văn bản điều chỉnh về chính sách hỗ trợ giáo dục: 09 văn bản (02 Nghị định + 01 Quyết định của Thủ tướng + 04 TTLT + 02 TT);
Trang 24+ Nhóm văn bản điều chỉnh về dạy nghề - giải quyết việc làm: 08 văn bản (03 nghị định + 01 Quyết định của Thủ tướng + 01 TTLT + 02 TT);
+ Nhóm văn bản điều chỉnh về thông tin, truyền thông – văn hóa, thể thao: 05 văn bản (02 Nghị định + 03 Thông tư);
+ Nhóm văn bản điều chỉnh về tiếp cận công trình xây dựng – giao thông: 13 văn bản (03 nghị định + 02 Quyết định của TTg + 08 Thông tư);
+ Nhóm văn bản điều chỉnh về trợ giúp pháp lý – xử lý vi phạm hành chính:
- Việc ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành manh mún, thiếu tập trung dẫn đến tình trạng số lượng văn bản rất lớn, nhiều tầng nấc giá trị quy phạm; một nội dung cụ thể của Luật được quy định trong nhiều Nghị định, Thông tư khác nhau, với những thời điểm có hiệu lực pháp luật khác nhau,
Trang 25BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT quy
định việc xác định mức độ khuyết tật
do Hội đồng xác định mức độ khuyết
tật thực hiện
Thông tư liên tịch
34/2012/TTLT-BYT-BLĐTBXH quy định, về việc
- Vẫn còn nội dung còn thiếu văn bản quy định cụ thể Ví dụ:
+ Chưa có văn bản quy định về chế độ, chính sách đối với người làm công tác người khuyết tật; cán bộ, công chức, nhân viên chăm sóc, nhân viên phục hồi chức năng, cán bộ chuyên trách của tổ chức người khuyết tật (điểm d, Khoản 1, Điều 50 Luật NKT); quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếp cận thông tin với NKT (khoản 5 Điều 50);
+ Tại Nghị định 28/2012/NĐ-CP, Chính phủ giao Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ quy định về loại hình, tiêu chí, quy mô, tiêu chuẩn của cơ sở chỉnh hỉnh, phục hồi chức năng (PHCN), cơ sở chăm sóc NKT, tạo việc làm và cơ sở cung cấp dịch vụ khác giúp NKT, làm cơ sở để thực hiện chính sách xã hội hóa chăm sóc NKT theo Điều 6 Luật MKT, nhưng đến nay chưa có văn bản quy định về vấn đề này
- Để thực hiện tốt chính sách, pháp luật về NKT, hoạt động tuyên truyền, phổ biến để NKT nắm được các chính sách cơ bản của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng và thực chất Điều 20 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012
đã xác định người khuyết tật là đối tượng đặc thù, cần được phổ biến, giáo dục pháp luật bằng hình thức, phương thức, phương tiện, tài liệu phù hợp với từng
Trang 26loại đối tượng người khuyết tật15 Tuy nhiên, trong khi một số đối tượng đặc thù khác đã có Đề án, chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật riêng16 thì cho đến nay trong hoạt động của Hội đồng giáo dục, phổ biến pháp luật vẫn chưa
có chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật đặc thù cho NKT
d) Quy định liên quan đến NKT trong các luật chuyên ngành
Tính đến hết năm 2016, trong hệ thống pháp luật hiện hành có khoảng 43 luật chuyên ngành có quy định liên quan đến NKT đang có hiệu lực thi hành, gồm 10 luật được ban hành trong thời kỳ thi hành Pháp lệnh người tàn tật và 33 luật, bộ luật được ban hành sau khi có Luật người khuyết tật năm 2010
Đáng nói là sau thời điểm có Luật NKT, hoạt động lập pháp của Quốc hội đã quan tâm mạnh mẽ đến việc xem xét, đánh giá nhu cầu của NKT và vấn đề tạo cơ hội bình đẳng cho NKT khi thẩm tra, xem xét, thông qua các dự án luật Kết quả là chỉ trong 1 nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (2011 – 2016), có tới 31% luật, bộ luật
đã được thông qua17 có quy định liên quan đến người khuyết tật Đây là bước tiến mạnh mẽ khẳng định trách nhiệm và sự quan tâm thích đáng của Quốc hội đối với vấn đề bảo vệ quyền của NKT trên diễn đàn lập pháp quốc gia Tuy chưa được triển khai một cách bài bản và mang tính pháp quy như hoạt động lồng ghép vấn
đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật, nhưng hoạt động xem xét, đánh giá tác động và đề xuất lồng ghép quy phạm về bảo đảm quyền của NKT trong các dự
15 Điều 20 Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật
1 Việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật tập trung vào các quy định pháp luật về quyền của người khuyết tật; chế độ, chính sách của Nhà nước, trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ người khuyết tật và các quy định khác của pháp luật liên quan đến người khuyết tật
2 Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật được chú trọng thực hiện bằng hình thức, phương thức, phương tiện, tài liệu phù hợp với từng loại đối tượng người khuyết tật
3 Nhà nước có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật; khuyến khích các tổ chức, cá nhân hỗ trợ kinh phí thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật
16 Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2013 – 2016; Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động ở doanh nghiệp; Đề án "Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại một số địa bàn trọng điểm về vi phạm pháp luật giai đoạn 2013 - 2016"
17 Tổng số luật, bộ luật được thông qua trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII là 107, trong đó có 30 luật, bộ luật có quy định về người khuyết tật (trừ Luật nuôi con nuôi là được thông qua trong khóa XII)
Trang 27án luật đã trở thành một thực tế lập pháp, mang lại nhiều kết quả quan trọng để thúc đẩy các giá trị tiến bộ về bảo đảm quyền của NKT trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Việc lồng ghép vấn đề NKT được quan tâm khá toàn diện ở các luật, bộ luật trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, lao động, tư pháp… nhưng mức độ cụ thể hóa và ý nghĩa thực chất của chính sách đối với NKT trong từng luật chuyên ngành rất khác nhau
- Một số luật đưa ra được những chính sách đặc thù, cụ thể đối với NKT Ví dụ:
Ưu đãi tham gia đấu thầu đối với nhà thầu sử dụng từ 25% NKT trở lên (Luật
đấu thầu); Cấm quảng cáo có nội dung định kiến đối với NKT (Luật quảng cáo); Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm để lao động là NKT
được khám sức khỏe ít nhất 6 tháng/1 lần (Luật an toàn, vệ sinh lao động)
- Một số Luật chỉ ghi nhận vấn đề liên quan đến NKT mang tính nguyên tắc Ví dụ: Quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của NKT khi thực hiện hòa giải (Luật hòa giải ở cơ sở); Tạo điều kiện thuận lợi cho NKT tiếp cận dịch vụ hàng không (Luật hàng không dân dụng)…
- Có luật thực chất đề cập khá nhiều nội dung liên quan đến người khuyết tật nhưng sử dụng những thuật ngữ khác theo truyền thống lập pháp cuar lĩnh vực luật chuyên ngành đó, cụ thể là Bộ luật hình sự lâu nay vẫn sử dụng thuật ngữ
“người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần”; hoặc Bộ luật Tố tụng hình
sự vẫn sử dụng thuật ngữ “tàn tật” (Điều 120)18
2 Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với Công ước CRPD và vấn đề nội luật hóa
2.1 Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với Công ước CRPD
Việt Nam đã ký Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật vào ngày 22/10/2007 Tuy nhiên, tại thời điểm đó, do hệ thống pháp luật Việt Nam về người khuyết tật còn một số hạn chế nhất định, đặc biệt là Pháp lệnh về Người tàn
18 Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có người thân thích là người tàn tật, già yếu, có nhược điểm về tâm thần mà không có người chăm sóc thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam giao người đó cho người thân thích khác chăm nom
Trang 28tật năm 1998 nên cần có thời gian để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Công ước Quyền của người khuyết tật Đến thời điểm Quốc hội phê chuẩn Công ước, hệ thống pháp luật về người khuyết tật của nước ta đã tương đối hoàn thiện và cơ bản phù hợp với Công ước Do đó, Điều 2 Nghị quyết 84/2014/QH13
về phê chuẩn Công ước CRPD tuyên bố mạnh mẽ:
“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cam kết thực hiện Công ước của
Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật trên tất cả các lĩnh vực”
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa đưa ra khái niệm về “giao tiếp”,
“ngôn ngữ”, “điều chỉnh hợp lý”, “thiết kế hoà nhập” Mặc dù chưa có các khái niệm chính thức nhưng Việt Nam đã nỗ lực cụ thể hóa các nội dung có liên quan đến các khái niệm này trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như việc ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về xây dựng đảm bảo người khuyết tật tiếp cận19; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kết cấu hạ tầng giao thông, công cụ hỗ trợ20, tiêu chuẩn quốc gia về công nghệ thông tin và truyền thông đảm bảo tiếp cận cho người khuyết tật
Vẫn còn những câu hỏi cho tương lai của quá trình nội luật hóa, bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam, trước hết là Luật người khuyết tật với Công ước CRPD:
- Khái niệm “khuyết tật”: Làm thế nào phản ánh đầy đủ các khía cạnh về xã hội
và các yếu tố môi trường;
- Chức năng và mục đích của quy định về “khuyết tật khác” tại điểm (f), khoản 1, Điều 3 của Luật Người khuyết tật của Việt Nam là gì? Mối liên hệ của các hình thức “khuyết tật khác” với (1) quan điểm nền tảng của CRPD coi người khuyết tật là bộ phận của nhân loại “có tính đa dạng”21 và (2) Bình luận mới nhất vào
tháng 3/2018 của Ủy ban CRPD về người tự kỷ, người gặp vấn dề về di truyền
hoặc thần kinh, người mắc bệnh hiếm gặp và bệnh mãn tính, người bị bệnh bạch
19 Thông tư số 21/2014/TT-BXD ngày 29/12/2014
20 Thông tư số 39/2012/TT-BGTVT ngày 24/9/2012
21 Khoản (d), Điều 3, Công ước CRPD
Trang 29tạng, người đồng tính nữ, đồng tính nam, người song tính, chuyển giới hoặc liên giới tính… 22
- Tính hợp lý của việc xác định mức độ khuyết tật “nặng”, “đặc biệt nặng” theo Luật NKT của Việt Nam trong mối quan hệ với khả năng đo lường nhu cầu được hỗ trợ và sự trợ giúp đối với NKT
- Vấn đề “tạo điều kiện hợp lý” hoặc các hình thức phân biệt đối xử đa chiều và phân biệt đối xử tăng dần
2.2 Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về người khuyết tật và vấn đề nội luật hóa Công ước CRPD
Hệ thống nhân quyền quốc tế xác định hai loại nghĩa vụ chính đối với các quốc gia thành viên:
- Nghĩa vụ thụ động: các quốc gia không được can thiệp vào việc hưởng thụ các
quyền con người
- Nghĩa vụ tích cực: các quốc gia chủ động tiến hành các biện pháp thúc đẩy các
quyền con người
Nghĩa vụ của các quốc gia bao gồm "tôn trọng, bảo vệ và thực thi":
- Nghĩa vụ tôn trọng – Các quốc gia không được can thiệp vào việc hưởng thụ
nhân quyền;
- Nghĩa vụ bảo vệ - Các quốc gia phải ngăn chặn hành vi vi phạm nhân quyền
của bên thứ ba như khu vực tư nhân v.v
- Nghĩa vụ thực thi - Các quốc gia thực hiện các biện pháp phù hợp để thực thi
nhân quyền như biện pháp lập pháp, hành chính, ngân sách, tư pháp và các biện pháp khác
Tương ứng với đó, các biện pháp cụ thể nhằm thực hiện các nghĩa vụ trên bao gồm:
- Tôn trọng – Loại bỏ bất kỳ hành động nào không phù hợp với Công ước;
22 Công ước CRPD, Bình luận chung số 6, Bình đẳng và không phân biệt đối xử, CRPD/C/GC/6, Khoản 33
Trang 30- Bảo vệ - Thực hiện các biện pháp loại bỏ sự phân biệt đối xử trong khu vực tư nhân;
- Thực hiện – Đưa ra các quy định pháp luật tương thích với Công ước; có các biện pháp nhằm hiện thực hóa các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Do đó, việc tiếp tục thúc đẩy hệ thống chính sách, pháp luật nhằm nội luật hóa đầy đủ, trọn vẹn các điều khoản của Công ước CRPD, cũng như các khuyến nghị của Ủy ban về người khuyết tật của Liên hợp quốc vẫn là vấn đề tiếp tục đặt ra trong quá trình phát triển của Việt Nam
III CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆC THỰC THI CÔNG ƯỚC CRPD TẠI VIỆT NAM
1 Cơ hội
1.1 Nền tảng tốt về quản trị vấn đề người khuyết tật
- Có quan điểm, đường lối chính trị tập trung, nhất quán về thực hiện an sinh xã hội, trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật trong dài hạn, gắn với vấn đề phát triển con người và bảo đảm quyền con người;
- Sự ghi nhận mạnh mẽ của Hiến pháp năm 2013 về quyền được bảo đảm an sinh
xã hội của mọi công dân (Điều 34) và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm bình đẳng về cơ hội và trợ giúp NKT; hệ thống pháp luật chuyên ngành tương đối đầy đủ, đồng bộ và cơ bản phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế để bảo
vệ và thực thi quyền của NKT;
- Chính phủ và các Bộ, ngành của Việt Nam đã ban hành và đang vận hành nhiều chương trình, đề án nhằm trợ giúp NKT; việc lồng ghép vấn đề NKT trong chính sách và tổ chức thực hiện chính sách ngày càng tiến bộ Ví dụ: Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững; Chương trình mục tiêu y tế - dân số; Chương trình mục tiêu trợ giúp xã hội; Kế hoạch hành động của Chính phủ về thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững…
- Bộ máy quản lý nhà nước và giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về NKT được thiết lập từ trung ương đến địa phương, với sự phân công, phân cấp tương đối ổn định trong nhiều năm qua; hệ thống quản trị vấn đề NKT đã có thêm bước tiến rõ ràng vào cuối năm 2015 khi Thủ tướng Chính phủ quyết định
Trang 31thành lập Ủy ban quốc gia về người khuyết tật - tổ chức phối hợp liên ngành của Chính phủ về lĩnh vực này
- Có hệ thống tổ chức xã hội của người khuyết tật/ vì người khuyết tật rất đa dạng, tham gia tích cực vào các hoạt động xây dựng và phản biện chính sách liên quan đến NKT; giám sát xã hội đối với việc thực thi chính sách, pháp luật đối với NKT
- Trên nền tảng thành tựu quốc gia qua 2 chu kỳ thực hiện các Công ước quốc tế
về quyền con người, quan hệ hợp tác quốc tế, trợ giúp kỹ thuật về công tác NKT ngày càng được thúc đẩy có hiệu quả
1.2 Những quyết sách mạnh mẽ về chính sách an sinh xã hội đang mở ra nhiều
cơ hội đối với công tác NKT
- Quan điểm mạnh mẽ về đổi mới mô hình tăng trưởng để nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững toàn diện về cả kinh tế, xã hội và môi trường Không thúc đẩy tăng trưởng bằng mọi giá, gây tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tiến bộ, công bằng xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái (Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 01/11/2016)
- Đường lối chỉ đạo hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ
môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu (Nghị quyết 11-NQ/TW ngày
+ Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, thống nhất; huy động sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng xã hội thực hiện chính sách
an sinh xã hội; khuyến khích người dân tự nguyện tham gia bảo đảm an sinh
xã hội