GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông ------ Luận Văn Thử nghiệm nuôi thu sinh khối Artemia franciscana tại Ninh Ích–Ninh Hòa-Khánh Hòa... GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVT
Trang 1GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
- -
Luận Văn
Thử nghiệm nuôi thu sinh
khối Artemia franciscana tại
Ninh Ích–Ninh Hòa-Khánh
Hòa
Trang 2GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
LỜI CẢM ƠN
Trong cuộc đời tôi thì 4 năm được làm sinh viên có thể nói là khoảng thời gian đẹp và quan trọng nhất; vì tôi có điều kiện học tập, giao lưu với rất nhiều bạn ở nhiều vùng miền, được truyền đạt nhiều kiến thức từ các thầy cô giỏi và tận tâm Điều quan trọng nhất là khoảng thời gian đại học tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ tay nghề để tương lai có một nghề nghiệp
ổn định
Để đạt được kết quả đó, tôi kính gởi lời cảm ơn đến tập thể thầy cô Khoa NTTS thuộc Trường Đại học Nha Trang đã tận tình truyền đạt cho tôi cũng như những sinh viên khác những kiến thức chuyên môn, kiến thức về cuộc sống để tôi có thể vững vàng bước vào đời
Qua đây tôi kính gởi lời cảm ơn đến các cô chú, anh chị em tại Ninh Ích-Ninh Hòa đã có nhiều giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho tôi trong quá trình thực tập Xin chân thành cảm ơn KS.Nguyễn Thị Thúy đã giúp đỡ tôi trong vấn đề phân lập và nuôi cấy các loại tảo
Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến ThS.Nguyễn Tấn Sỹ, người đã tạo điều kiện về vật chất, kinh phí và tài liệu tốt nhất cho tôi làm thực tập Ngoài ra, sự hướng dẫn tận tình của thầy là sự động viên lớn cho tôi vượt khó khăn để thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gởi lời chúc sức khỏe, thành công đến cha mẹ, thầy
cô giáo và các bạn sinh viên
Sinh viên thực hiện
Phan Thành Đông
Trang 3GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm sinh học của Artemia 3
1.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm phân bố 3
1.1.2 Hình thái 3
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng của Artemia 4
1.1.4 Khả năng thích nghi với điều kiện sống của Artemia 5
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và vòng đời của Artemia 6
1.2 Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản 9
1.3 Hoạt động nuôi sinh khối A.franciscana 11
1.4.Tình hình nghiên cứu về A.franciscana tại Việt Nam 12
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm, thu thập và xử lý số liệu 20
2.2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
2.2.2.2.Phương pháp thu thập số liệu 20
2.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 24
Trang 4GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Kỹ thuật chuẩn bị ao và cấy giống 25
3.1.1 Kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi 25
3.1.1.1 Kỹ thuật cải tạo ao 25
3.1.1.2 Kỹ thuật gây nuôi tảo 27
3.1.2 Kỹ thuật ấp trứng và thả giống 29
3.1.3 Kỹ thuật thả giống 31
3.2 Kỹ thuật chăm sóc và quản lý ao nuôi 33
3.2.1 Quản lý ao nuôi 33
3.2.2 Quản lý một số yếu tố môi trường trong ao nuôi 35
3.2.3 Theo dõi sự tăng trưởng, tỉ lệ sống và mật độ quần thể 41
3.2.3.1 Sự tăng trưởng về chiều dài và tốc độ tăng trưởng theo ngày của Artemia 41
3.2.3.2 Tỉ lệ sống 44
3.2.3.3 Biến động mật độ quần thể 46
3.3 Kỹ thuật thu và bảo quản sinh khối A.franciscana 47
3.3.1 Kỹ thuật thu sinh khối 47
3.3.2 Kỹ thuật bảo quản sinh khối 49
3.3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế 51
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 53
4.1 Kết luận: 53
4.2 Đề xuất ý kiến 54
Trang 5GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 3.1: Kết quả ấp nở thực tế của trứng A.franciscana 29
Bảng 3.2: Điều kiện môi trường các ao nuôi trước khi thả Nauplii 32
Bảng 3.3: Một số yếu tố môi trường các ao nuôi 37
Bảng 3.4: Tăng trưởng về chiều dài (mm) của A.franciscana ở các ao 42
Bảng 3.5: Tốc độ tăng trưởng bình quân/ngày (mm/ngày) của A.franciscana 43
Bảng 3.6: Tỉ lệ sống (%) của A.franciscana ở các ao thí nghiệm 44
Bảng 37: Năng suất sinh khối của các ao thí nghiệm 48
Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế trên 1ha nuôi thu sinh khối Artemia 51
Trang 7GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Trang Hình 1.1: Artemia franciscana 4
Hình1.2: Vòng đời phát triển của Artemia (Jumalon et al., 1982)[18] 7
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 19
Hình 2.2: Sơ đồ ao thí nghiệm 20
Hình 2.3: Máy đo YSI, Khúc xạ kế và nhiệt kế 21
Hình 2.4: Vị trí thu mẫu trong ao 22
Hình 3.1: Cải tạo ao nuôi 27
Hình 3.2: Kết quả gây màu nước 29
Hình 3.3: Tăng trưởng về chiều dài (mm) của A.franciscana ở các ao 42
Hình 3.4: Tốc độ tăng trưởng trung bình /ngày (mm/ngày) của Artemia 43 Hình 3.5: Tỉ lế sống (%) của A.franciscana ở các ao thí nghiệm 44
Hình 3.6: Gia tăng mật độ quần thể trong ao nuôi thí nghiệm 46
Hình 3.7: Thu sinh khối Artemia 49
Hình 3.8: Sinh khối A.franciscana chuẩn bị đem đi bảo quản 50
Trang 8GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nuôi trồng thuỷ sản đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân Đặc biệt ngành nuôi hải sản đang ngày càng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu thực phẩm của con người, nhất là đối với các sản phẩm có nguồn gốc từ biển Với
đà gia tăng dân số hiện nay, cũng như nhu cầu đối với thực phẩm chất lượng cao, con người buộc phải chú ý đến nguồn lợi hải sản Ngoài việc khai thác giống tự nhiên, việc sản xuất giống nhân tạo là vấn đề cần thiết để cung cấp con giống cho ngành nuôi trồng hải sản Trong quá trình sản xuất giống nhân tạo hiện nay thì việc giải quyết thức ăn tươi sống là khâu then chốt quyết định đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng Nhìn nhận từ vai trò quan trọng
đó thì nhiều loại thức ăn tươi sống được quan tâm nghiên cứu và sản xuất, đặc
biệt trong đó phải kể đến Artemia
Artemia là loại thức ăn rất quan trọng và không thể thiếu được trong
nghề nuôi trồng thủy sản, nhất là trong khâu sản xuất giống Ấu trùng
A.franciscana lúc mới nở ở giai đoạn Instar I và Instar II có kích thước nhỏ hơn so với các dòng Artemia khác, là loại thức ăn lý tưởng cho giai đoạn đầu của ấu trùng giáp xác và cá con [5], [7], [9]… Artemia tiền trưởng thành và trưởng thành được gọi là sinh khối So với nauplii Artemia được ấp nở từ trứng bào xác thì sinh khối Artemia có những ưu điểm vượt trội như: Chi phí
thấp, chất lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt sử dụng kích cỡ thích hợp sẽ đảm bảo cân bằng năng lượng tốt hơn trong việc lấy thức ăn và đồng hóa.Vì vậy đây là loại thức ăn phổ biến trong các trại sản xuất giống, trại ương giống hay nuôi vỗ tôm, cá bố mẹ
Điều kiện tự nhiên khu vực Ninh Hòa-Khánh Hòa có nhiều thuận lợi và
phù hợp cho nuôi sinh khối Artemia Tuy nhiên, cho đến nay các công trình
nghiên cứu và nuôi thử nghiệm đối tượng này ở Khánh Hòa chỉ mới được
Trang 9GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
thực hiện tại Cam Ranh và Đồng Bò (Nha Trang), hiện chưa có một nghiên
cứu nào về nuôi sinh khối Artemia tại địa phương này Bên cạnh đó, các công
trình nghiên cứu trước đây tại Khánh Hòa còn nhiều thiếu sót nên chưa có một mô hình hoàn chỉnh nhất để nuôi đối tượng này trên diện rộng Xuất phát
từ yêu cầu trên và được sự đồng ý của Khoa NTTS Trường Đại học Nha
Trang tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thử nghiệm nuôi thu sinh khối Artemia franciscana tại Ninh Ích–Ninh Hòa-Khánh Hòa”
Mục tiêu đề tài:
Thử nghiệm nuôi và xây dựng quy trình nuôi thu sinh khối Artemia franciscana trong ao đất tại Ninh Hòa-Khánh Hòa
Nội dung đề tài:
Kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi và thả giống
Kỹ thuật chăm sóc và quản lý ao nuôi
Kỹ thuật thu hoạch và bảo quản sinh khối Artemia sau thu hoạch
Ý nghĩa đề tài:
Đề tài kết hợp với một số đề tài khác sẽ dần hoàn thiện quy trình nuôi
sinh khối Artemia franciscana tại Khánh Hòa
Trong khoảng thời gian thực hiện đề tài, mặc dù bản thân tôi đã hết sức
cố gắng vượt qua mọi khó khăn nhưng vì một số điều kiện khách quan như thời tiết hay điều kiện cơ sở vật chất cùng với năng lực và kiến thức có hạn nên kết quả đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy,
cô và các bạn có những ý kiến đóng ghóp để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 10GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm sinh học của Artemia
1.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm phân bố
Artemia thuộc nhóm giáp xác có hệ thống phân loại như sau:
Giới (Kingdom): Động vật (Animalia)
Ngành(Phylum): Chân khớp (Arthropoda)
Lớp ( Class): Giáp xác (Crustacea)
Lớp phụ (Subclass): Chân mang (Branchiopoda)
Bộ (Order): Anostraca
Họ (Family): Artemiidae Grokwski, 1895
Giống (Genus): Artemia, Leach 1819
Loài (Species): Artemia franciscana Kellog, 1906[4]
Tên thường gọi: Artemia
Tên tiếng anh: Brine shrimp [17][20]
A.franciscana không phân bố tự nhiên ở Việt Nam, tuy nhiên hiện nay
được nuôi rộng rãi tại Vĩnh Châu và Bạc Liêu Đây là loài có nguồn gốc từ
Mỹ (San Francisco Bay, USA) sau khi du nhập vào Việt Nam và đã thích nghi dần trở thành loài bản địa của nước ta
1.1.2 Hình thái
Artemia thường có thân nhỏ, dài khoảng 1,2 – 1,5cm Artemia có thân
phân đốt rõ rệt gồm 3 phần: đầu, ngực và bụng, không có giáp đầu ngực[5]
Chính giữa phía trước đầu có mắt đơn, hai bên có đôi cuống mắt kép Đầu có 5 đôi phần phụ Đôi xúc giác thứ 2 của con cái con đực khác nhau Ở con cái chỉ là một mấu lồi nhỏ Ở con đực là thuỳ bám, thuỳ to khoẻ dùng để túm và cưỡi con cái trước khi giao cấu Hàm lớn, hàm nhỏ 1 và 2 cấu thành miệng [5]
Trang 11GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Phần ngực có 11 đốt và 11 đôi chân ngực; chân ngực có dạng bản rộng gồm lá trong, lá ngoài và lá quạt cấu thành Giữa lá quạt và lá ngoài có một
mảnh nhỏ mềm mại đó là mang–cơ quan hô hấp của Artemia Chân ngực phát
triển và có 3 chức năng: bơi lội, lọc thức ăn và hô hấp [5]
Phần bụng có 8 đốt, không có chân phụ Ở con cái đốt 1 và đốt 2 của phần bụng kết hợp với nhau hình thành nang trứng Ở con đực hình thành đôi
cơ quan giao cấu Đốt cuối cùng phần bụng có chẽ đuôi dẹt và bằng, xung quanh có nhiều tiêm mao, đuôi lớn hay nhỏ, tiêm mao nhiều hay ít thay đổi theo sự biến đổi của độ mặn Độ mặn càng cao, đuôi thu nhỏ lại [5]
Hình 1.1: Artemia franciscana 1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng của Artemia
Reeve (1963) đã nghiên cứu về tính ăn của Artemia với thí nghiệm sử
dụng các loại tảo và mật độ tảo khác nhau để xác định tính ăn lọc của chúng
và kết luận Artemia là loại sinh vật ăn lọc không chọn [4],[10]
Nghiên cứu về tập tính bắt mồi và loại thức ăn của Artemia, một số tác giả cho rằng Artemia là loại ăn lọc không chọn lựa, thức ăn của chúng là vi
tảo, mùn bả hữu cơ, vi khuẩn Tuy nhiên kích thước của thức ăn là yếu tố giới
Trang 12GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
hạn khả năng lọc thức ăn của Artemia, chúng chỉ lọc được thức ăn có kích thước nhỏ hơn 50µm (Sorgeloos et al., 1986) [4]
Do vậy, một số nghiên cứu về sử dụng vi tảo làm thức ăn trong nuôi
sinh khối Artemia đã được thực hiện trong những năm sau đó
Các sinh cảnh tự nhiên có hiện diện của Artemia cho thấy sự có mặt của chuỗi thức ăn đơn giản và rất ít thành phần giống loài tảo Artemia thường
hiện diện ở nồng độ muối cao mà ở nồng độ muối này hiếm gặp các loài tôm,
cá dữ và các động vật cạnh tranh thức ăn khác như luân trùng, giáp xác nhỏ
ăn tảo Ở các sinh cảnh này nhiệt độ, thức ăn, nồng độ muối là những yếu tố
chính ảnh hưởng đến mật độ quần thể Artemia hoặc ngay cả đến sự vắng mặt
tạm thời của chúng.[4]
Trong nghề nuôi Artemia trên ruộng muối nông dân thường sử dụng
phối hợp phân chuồng (chủ yếu là phân gà) kết hợp với phân hữu cơ như
Urea, NPK,… để gây màu trực tiếp trong ao nuôi Artemia hoặc gián tiếp
ngoài ao bón phân (ao nuôi tảo) trước khi cấp nước xanh vào trong ao nuôi
Artemia có thể sử dụng trực tiếp phân gà và các phân hữu cơ khác khi bón
vào ao nuôi Ngoài ra, khi lượng nước tảo cung cấp vào ao hàng ngày thiếu hụt nông dân còn sử dụng cám gạo, bột đậu nành… để duy trì quần thể.[9]
1.1.4 Khả năng thích nghi với điều kiện sống của Artemia
A.franciscana cũng như các loài khác trong giống Artemia là sinh vật
có tính rộng muối, chúng sống được trong môi trường nước lợ (vài phần ngàn) đến nước mặn bão hoà (250ppt)[20] Tuỳ theo điều kiện môi trường mà chúng có đặc điểm sinh trưởngvà sinh sản khác nhau
Artemia được tìm thấy trên 500 hồ nước mặn và ruộng muối trên thế giới Artemia được tìm thấy chủ yếu trong những ao hồ có nồng độ muối cao
(80ppt - 120ppt)[20], đây cũng là ngưỡng chịu đựng cao nhất về nồng độ
muối của các sinh vật dữ Từ 250 ppt trở lên mật độ Artemia giảm và có thể
Trang 13GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
chết hàng loạt [7] mặc dù chúng có thể sống ở nồng độ muối cao hơn nhưng
nhu cầu về năng lượng để điều hoà áp suất thầm thấu tăng làm ảnh hưởng bất lợi đến sinh trưởng và sinh sản của chúng, thậm chí chúng bị đói và bị chết do môi trường trở nên độc và việc trao đổi chất cực kỳ khó khăn
Mặc dù Artemia có thể sống tốt trong môi trường nước biển tự nhiên nhưng do Artemia không có cơ chế chống lại sinh vật dữ (cá, tôm…) và cạnh
tranh với các loài ăn lọc khác nên chúng có một cơ chế thích nghi rất tốt với
độ mặn cao (80 ppt – 120 ppt), mà hầu như các loài sinh vật dữ và sinh vật cạnh tranh không thể tồn tại
Nhiệt độ cũng là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng trực
tiếp đến sự sinh trưởng và sinh sản của Artemia Theo Nguyễn Thị Ngọc Anh
C Artemia có thể
chết rải rác hoặc chết hàng loạt, sức sinh sản giảm và khả năng phục hồi quần
thể chậm Khi nuôi Artemia ở phòng thí nghiệm (nhiệt độ ổn định) cũng đã
ở nhiệt độ 26o
C Nguyễn Thị Ngọc Anh, 2000 Đối với Artemia dòng Vĩnh
Châu-Việt Nam có đặc điểm thích nghi khá cao, đặc biệt với nhiệt độ, chúng
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và vòng đời của Artemia
Theo Sorgeloos (1980) Artemia có vòng đời ngắn (ở điều kiện tối ưu Artemia có thể phát triển thành con trưởng thành và tham gia sinh sản sau 7-8 ngày nuôi) Trong quần thể Artemia luôn có hai hình thức sinh sản là đẻ con
và đẻ trứng; sức sinh sản cao (trung bình 1500-2500 phôi) [19], [10]
Sự đẻ con (Ovoviviparity): trứng thụ tinh sẽ phát triển thành ấu trùng bơi lội tự do và được con cái phóng thích ra ngoài môi trường nước
Trang 14GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Sự đẻ trứng (Oviparity): các phôi chỉ phát triển đến giai đoạn phôi vị (gastrula) và sẽ được bao bọc bằng một lớp vỏ dày (được tiết ra từ tuyến vỏ trong tử cung) tạo thành trứng nghỉ (cyst) hay còn gọi là sự
“tiềm sinh” (diapause) và được con cái sinh ra [9]
Lượng ôm trứng của con cái khoảng từ 70 – 300 trứng, nếu gây nuôi trong phòng thí nghiệm thì chỉ khoảng 30 – 40 trứng [4]
Theo Sorgeloos và ctv.,,1980; Jumalon và ctv., 1982,… Artemia có
vòng đời phát triển như sau:
Hình1.2: Vòng đời phát triển của Artemia (Jumalon et al., 1982)[18]
Ngoài tự nhiên, Artemia đẻ trứng bào xác nổi trên mặt nước và được
sóng gió thổi giạt vào bờ Các trứng nghỉ này ngưng hoạt động trao đổi chất
và ngưng phát triển khi được giữ khô Nếu cho vào nước biển, trứng bào xác
có hình cầu lõm sẽ hút nước, phồng to Lúc này, bên trong trứng, sự trao đổi chất bắt đầu Sau khoảng 20 giờ, màng nở bên ngoài nứt ra (breaking) và phôi xuất hiện