1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO SÁNG KIẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở NHÀ TRƢỜNG THPT

100 26 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 7,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có lẽ trong Hướng dẫn giảng dạy bộ môn Ngữ văn năm học 2018 – 2019, Sở GD-ĐT Nam Định cần phải có những chỉ đạo cụ thể, quyết liệt hơn về vấn đề này để mỗi giáo viên phải nhận thấy tổ ch

Trang 1

Nam Định, tháng 6 năm 2018

Trang 2

5

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động trải

nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lý luận và phương pháp, hình thức dạy học – Bộ môn Ngữ văn

3.Thời gian áp dụng sáng kiến: Bắt đầu từ năm học 2015 - 2016

Chức vụ công tác: Tổ trưởng chuyên môn – Tổ Ngữ văn

Địa chỉ liên hệ: 17/88 Vỵ Xuyên, TP Nam Định – Tỉnh Nam Định

Điện thoại: 0902.227.037

Nơi làm việc: Trường THPT Trần Hưng Đạo – TP Nam Định

Tỉ lệ đóng góp sáng kiến: 100%

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:

Tên đơn vị: Trường THPT Trần Hưng Đạo – TP Nam Định

Địa chỉ: Số 75/203 đường Trần Thái Tông – Phường Lộc Vượng – TP Nam Định Điện thoại: 0228.3.847.042

Trang 3

6

MỤC LỤC

I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến……… ………5

II Mô tả giải pháp……… ……… 7

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sang kiến……… ……….….7

2 Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến ………… ….……… ……….8 2.1 Giải pháp đối với hiệu trưởng trường

2.2.1.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ trong lĩnh vực hoạt động trải

Trang 4

2.3.2.3 Cần quan sát và giải quyết kịp thời các tình huống phát sinh trong quá trình tổ

……… …….23

sinh……… ………….….25

Trang 6

I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:

1 Lĩnh hội tinh thần và thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị

Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu

Trang 7

10

cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế từ năm học 2014 – 2015, với quan điểm chỉ đạo “Phát triển giáo dục đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành, gắn lý luận với thực tiễn”

và mục tiêu tổng quát là “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc có hiệu quả”

Để thực hiện theo quan điểm chỉ đạo và mục tiêu trên, giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực: cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống; kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học; vận dụng dạy học giải quyết vấn đề; vận dụng dạy học theo tình huống; sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực

và sáng tạo; chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn; bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy học, đặc biệt là tăng cường tổ chức các hoạt động trải nghiệm gắn với môn học cho học sinh

Như vậy, tổ chức hoạt động trải nghiệm trong quá trình dạy học là một trong những hoạt động hữu ích hỗ trợ cho giáo viên trong việc thực hiện mục tiêu của Nghị quyết 29/NQ-TW

2 Hoạt động trải nghiệm đang là một vấn đề quan tâm của ngành giáo dục nói

riêng và toàn xã hội nói chung Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết- Tổng chủ biên chương trình sách giáo khoa THPT, chương trình mới có hai loại hoạt động trải nghiệm sáng tạo: Loại 1 là hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong từng môn học nhằm trải nghiệm kiến thức môn học trong thực tiễn Loại 2 là hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang tính tích hợp, trong đó học sinh dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kỹ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống và tham gia hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được phân bổ thời lượng giáo dục riêng trong Dự thảo Chương trình tổng thể thuộc loại 2 chiếm 105 tiết/ năm (riêng lớp 10 là 70 tiết)

Theo PGS TS Đỗ Ngọc Thống, Tổng chủ biên chương trình môn Ngữ văn mới khẳng định: Chương trình sẽ có đổi mới cả về mục tiêu, quy trình xây dựng, cũng như nội dung chương trình cho tới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá Mục tiêu của việc đánh giá được điều chỉnh trước hết là giúp giáo viên và nhà trường nắm được năng lực của từng học sinh, biết được học sinh của mình đang ở đâu và tiến bộ như thế nào qua từng giai đoạn Hình thức và nội dung đánh giá là tất cả những cách thức có thể phục vụ cho việc đánh giá năng lực đọc, viết, nói, nghe, năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy của học sinh Thậm chí, cách viết nhật ký, sổ tay văn học, facebook của học

Trang 8

3 Đối với người học, được tham gia hoạt động trải nghiệm là nhu cầu thiết tha

và nguyện vọng chính đáng Theo khảo sát với 200 học sinh khối 11 (năm học 2017 – 2018) trường THPT Trần Hưng Đạo, Nam Định, có 190/200 (95%) số học sinh mong muốn được tham gia các hoạt động trải nghiệm gắn với môn học Ngữ văn, ở các hình thức khác nhau, có 10/200 học sinh (5%) không bày tỏ ý kiến

4 Việc giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường THPT đã có những chuyển

biến tích cực Giáo viên đã có nhiều nỗ lực trong đổi mới phương pháp giảng dạy, tuy nhiên việc đổi mới này chủ yếu dừng ở những giờ Hội giảng, Thi giáo viên giỏi hoặc kiểm tra nội bộ Trong những giờ giảng dạy hàng ngày, giáo viên vẫn nặng về mục tiêu dạy kiến thức để chuẩn bị cho thi cử, chủ yếu vẫn dạy theo lối truyền thống, truyền thụ kiến thức một chiều Điều này khiến học sinh chán nản, mệt mỏi khi học Văn, thấy môn Văn chỉ là những lý thuyết giáo điều, không có ý nghĩa với cuộc sống Đặc biệt, trong hoàn cảnh hiện tại, có khoảng 70% học sinh không lấy môn Ngữ văn

để xét tuyển thi Đại học nên càng “nói không” với môn học này Do đó, đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức hoạt động trải nghiệm gắn với môn học này trở thành một vấn đề được quan tâm, để đưa văn học trở về với cuộc sống (nơi nó ra đời), khơi dậy tình yêu, sự say mê với văn chương trong học sinh

5 Đối với môn Ngữ văn, việc tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh chính là

phương pháp lấy hoạt động tự lực học tập của học sinh làm trung tâm Sử dụng hình thức

dạy học này sẽ đi theo được đúng tinh thần đổi mới phương pháp dạy học chuyển từ hệ hình dạy (tập trung vào việc dạy của người thầy) sang hệ hình học (tập trung vào việc học của HS)

và phát huy được năng lực, phẩm chất của người học

6 Sáng kiến được tạo ra từ kết quả khả quan thu được sau khi chúng tôi tiến

hành tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh toàn trường (đặc biệt là các lớp học sinh học tự chọn là các môn KHXH) trong các năm học 2015 – 2016, 2016 –

2017, 2017 - 2018

Chúng tôi đề xuất thành sáng kiến kinh nghiệm mong nhận được sự chia sẻ, trao đổi, thảo luận, góp ý của đồng nghiệp và các chuyên viên, lãnh đạo cấp trên để có thêm động lực và niềm tin thực hiện nhiệm vụ cũng như đam mê nghề nghiệp của mình

Trang 9

12

II Mô tả giải pháp:

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:

1.1 Trước năm học 2015 - 2016, việc tổ chức hoạt động trải nghiệm gắn với

môn học của giáo viên tổ Ngữ văn trường THPT Trần Hưng Đạo – TP Nam Định có những hình thức khá phong phú và đạt được những hiệu quả nhất định Nhưng có thể thấy thực trạng như sau:

1.1.1 Hoạt động trải nghiệm đã được chú ý nhưng còn mang tính hình thức

Giáo viên còn đang loay hoay chưa hiểu rõ thế nào là trải nghiệm gắn với môn học, do

đó lúng túng trong cách triển khai Học sinh chỉ coi hoạt động trải nghiệm là hoạt động vui chơi, tham quan dã ngoại, có tham gia cũng được, không cũng chẳng sao, không có nhiều tác dụng với môn học và cuộc sống

1.1.2 Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn chưa có những chiến lược, chưa có

kế hoạch trung hạn với hoạt động này Giáo viên chưa xác định được cụ thể mục tiêu, chưa biết lập kế hoạch hoạt động trải nghiệm trong một năm học, mà chỉ tổ chức theo kiểu tự phát, theo những hứng thú nhất thời, hoặc theo những kế hoạch tác nghiệp (còn gọi là kế hoạch hành động) ngắn hạn Học sinh chưa được định hướng rõ ràng, không biết mình cần đạt được mục tiêu gì, cần học được những kiến thức nào, nâng cao được năng lực gì, bồi dưỡng được những phẩm chất nào thông qua hoạt động trải nghiệm

Do đó, hoạt động trải nghiệm được tổ chức đôi khi còn sơ khoáng, làm cho có để báo cáo, đôi khi còn phản cảm làm mất đi vẻ đẹp vốn có của các tác phẩm văn học, đặc trưng của môn học, dẫn đến những sai lầm trong tư tưởng của học sinh

1.1.3 Hoạt động trải nghiệm chủ yếu dừng ở các hình thức đơn giản: đóng kịch,

tổ chức câu lạc bộ, tham quan dã ngoại…Các hình thức này cũng mới chỉ được tổ chức mang tính hình thức, chưa chuyên nghiệp Tuy nhiên, các hoạt động này đã tạo được hứng thú, hấp dẫn nhất định với học sinh nhưng chưa thực sự phát huy hết được năng lực, phẩm chất của người học

1.1.4 Nguồn kinh phí tổ chức các hoạt động này chủ yếu dựa vào sự đóng góp

của học sinh và phụ huynh học sinh nên còn hạn chế, gây khó khăn cho quá trình thực hiện tổ chức Do đó, hoạt động trải nghiệm chỉ dừng ở phạm vi lớp, lẻ tẻ ở một vài giáo viên, với quy mô, tính chất nhỏ lẻ, chưa thực sự tạo được hiệu quả đổi mới mạnh

mẽ

1.1.5 Sau quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm, tổ trưởng chuyên môn, giáo

viên chưa có sự kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được, tổng kết, rút kinh nghiệm Do đó, người tổ chức chưa kiểm định được chất lượng của hoạt động, học sinh chỉ coi đây là một hoạt động vui chơi, các hoạt động lần sau hầu như chưa có sự thay đổi về chất lượng so với lần hoạt động trước

Trang 10

13

Tuy nhiên, không phải 100% giáo viên tham gia tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh, hoạt động này chỉ dừng ở con số khoảng 50% giáo viên tích cực, tâm huyết với nghề, khao khát được đổi mới

1.2 Học sinh ngày nay rất thông minh, nhạy bén với cái mới, đặc biệt là năng

lực tiềm ẩn chưa thể bộc lộ hết qua những tiết học chính thức đóng khung trong không gian lớp học Các em có khả năng độc lập, tự chủ trong suy nghĩ và luôn muốn khẳng định cái tôi của mình Như vậy, việc tổ chức hoạt động trải nghiệm cần được giáo viên lựa chọn phù hợp với nội dung, mục tiêu bài học và phát huy được nhiều nhất năng lực của học sinh

2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến (trọng tâm)

Sáng kiến chúng tôi đề xuất là giải pháp để nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT nên phần giải pháp

là trọng tâm Hoạt động trải nghiệm trong môn học Ngữ văn gắn với các tiết dạy chính thức trong không gian lớp học (Trong 5 bước của Kế hoạch bài học thì hoạt động trải nghiệm xuất hiện ở Hoạt động 1: Hoạt động khởi động/ Xuất phát/ Trải nghiệm; Hoạt động 4: Vận dụng) và các hoạt động ngoài không gian lớp học với thời gian linh hoạt, nhưng trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm này chúng tôi chỉ tập trung vào những giải pháp nâng cao việc tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh ngoài giờ học lên lớp chính khóa

Trong dạy học môn Ngữ văn, hoạt động trải nghiệm gắn với các đối tượng là Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, học sinh nhưng chủ yếu là tổ trưởng chuyên môn, giáo viên và học sinh Sáng kiến kinh nghiệm này đề cập đến những giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT nên chủ yếu hướng đến hai đối tượng là tổ trưởng chuyên môn, giáo viên

2.1 Giải pháp đối với Hiệu trưởng trường THPT

2.1.1 Cần xác định được sứ mạng, giá trị của nhà trường và có tầm nhìn chiến lược thấy được vai trò của hoạt động trải nghiệm với sự phát triển của nhà trường

- Mỗi nhà trường dựa trên việc phân tích đặc điểm tình hình, những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, có thể xác định được sứ mệnh, tầm nhìn, hệ thống giá trị cơ bản khác nhau Cũng theo đó, tùy thuộc vào hướng đi của mỗi nhà trường mà việc xác định vị trí, tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm gắn với môn học cũng khác nhau

- Tại trường THPT Trần Hưng Đạo, Ban giám hiệu nhà trường đã xác định chiến lược

và tầm nhìn của nhà trường đến năm 2020 như sau:

Trang 11

Trên cơ sở xác định sứ mệnh, tầm nhìn và hệ thống giá trị cốt lõi như vậy, nhà trường rất coi trọng hoạt trải nghiệm gắn với môn học cho học sinh Vì đây là cơ hội để học sinh được phát triển tài năng và tư duy sáng tạo, để từ ngôi trường này các em bước những bước vững chắc vào cuộc sống rộng lớn trong tương lai

- Đối với môn Ngữ văn, nhà trường cũng xác định đây là một trong những bộ môn mũi nhọn, cần đổi mới và đi tiên phong trong hoạt trải nghiệm gắn với môn học Nhà trường đã động viên, khuyến khích tổ chuyên môn Ngữ văn tổ chức hoạt trải nghiệm gắn với môn học cho học sinh toàn trường Đó là hoạt động “Sân khấu hóa tác phẩm văn học” lần thứ nhất với hai vòng thi Sơ khảo (tổ chức tại trường) và vòng Chung kết (tổ chức tại nhà văn hóa 3/2) vào năm 2016

2.1.2 Trong lập kế hoạch chiến lược tổng thể phải chú ý đến hoạt trải nghiệm các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng

- Trong việc lập kế hoạch chiến lược tổng thể, Hiệu trưởng cần có sự quan tâm đích

đáng đối với hoạt động trải nghiệm nói chung và hoạt động trải nghiệm gắn với môn Ngữ văn nói riêng Vì đây là môn học có ý nghĩa quan trọng đến việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của người học và quá trình ấy đặc biệt trở nên sâu sắc khi được gắn với hoạt động trải nghiệm

2.2 Giải pháp đối với tổ trưởng chuyên môn

2.2.1 Có tầm nhìn để lập kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng đội ngũ trong lĩnh vực hoạt động trải nghiệm vừa có tính tổng thể vừa cụ thể

2.2.1.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ trong lĩnh vực hoạt động trải nghiệm

- Tổ trưởng chuyên môn phải là người hiểu được vấn đề, bản chất, vai trò, hình thức tổ chức của hoạt động trải nghiệm để có những chỉ đạo sát sao, động viên, khuyến khích, giúp đỡ tổ viên trong các hoạt động trải nghiệm gắn với môn học Người tổ trưởng phải giúp cho tổ viên của mình nhận thấy tổ chức trải nghiệm cho học sinh là một yêu cầu bắt buộc đối với người giáo viên trong thời đại này

- Tổ trưởng chuyên môn phải phân tích tình hình, xác định năng lực, sở trường, nhận thức, tâm huyết, nhu cầu của mỗi thành viên trong tổ về hoạt động trải nghiệm để từ

đó lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ về hoạt động trải nghiệm

Cách thức làm

Trang 12

15

+ Lập phiếu lấy thông tin trực tiếp từ giáo viên

+ Lập phiếu lấy thông tin giáo viên từ học sinh

+ Dựa trên sự quan sát đánh giá từ những hoạt động giảng dạy, tổ chức hoạt động trải nghiệm của giáo viên

+ Trên cơ sở có được các thông tin đầy đủ, chính xác, tổ trưởng phân tích tình hình theo biểu đồ SWOT (thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) rồi lập kế hoạch chiến lược, lập kế hoạch năm học và hoạt động

-Tổ trưởng chuyên môn lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ để tổ chức hoạt động trải nghiệm

Trong kế hoạch phải trả lời được các câu hỏi sau:

+ Mục tiêu là gì?

+ Tên hoạt động cụ thể?

+ Thời gian thực hiện (bắt đầu, kết thúc) khi nào?

+ Địa điểm ở đâu?

+ Người thực hiện là ai?

+ Người/ đơn vị phối hợp?

+ Người giám sát là ai?

+ Nguồn lực cần thiết là bao nhiêu?

+ Dự kiến kết quả đạt được?

2.2.1.2 Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ trong lĩnh vực hoạt động trải nghiệm

- Tổ chức lớp tập huấn:

Có 2 hình thức tổ chức:

+ Mời chuyên gia, giảng viên, giáo viên các trường bạn về tập huấn:

 Có thể mời chuyên gia, giảng viên trong từng hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm về tập huấn Nguồn kinh phí có thể xin từ quỹ cho hoạt động chuyên môn của nhà trường và có thể liên kết với các trường khác để giảm bớt nguồn chi phí hoặc tự giáo viên đóng góp

 Trường THPT Trần Hưng Đạo, ngày 18/12/2015 đã mời TS Nguyễn Quang Trung, nguyên là Tổ trưởng tổ Khoa học xã hội trường Chuyên ngữ Hà Nội về tập huấn cho giáo viên môn Ngữ văn về tổ chức hoạt động “Sân khấu hóa các tác phẩm văn học” Chúng tôi đã liên kết với trường THCS Lý Tự Trọng cùng tập huấn để giao lưu, học hỏi lẫn nhau, để hiểu thêm về đối tượng học sinh THCS và giảm bớt nguồn kinh phí cho hoạt động này

+ Chính giáo viên trong tổ tập huấn cho nhau:

 Giáo viên qua quá trình tự tìm hiểu, hoặc được tập huấn ở các lớp tập huấn của Sở GD-ĐT Nam Định, Bộ GD- ĐT, hoặc các chương trình dự án và qua quá

Trang 13

16

trình làm thực tế đã rút được kinh nghiệm sẽ tập huấn lại cho đồng nghiệp Cách làm này không tốn kém, lại hiệu quả, có ý nghĩa động viên, khích lệ vì các giáo viên đã thấy kết quả thực tế từ đồng nghiệp

 Tại trường Trần Hưng Đạo, ngày 11/10/2016, trong buổi sinh hoạt chuyên môn định kì, đồng chí tổ trưởng chuyên môn tổ Ngữ văn qua quá trình tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực tế nhiều lần tại quê hương của cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến và của nhà văn Nam Cao đã tập huấn lại cho tổ về cách thức, kinh nghiệm tổ chức buổi trải nghiệm thực tế tại quê hương, nơi tưởng niệm của các văn nghệ sĩ Sau buổi tập huấn, các giáo viên trong tổ hào hứng, rút kinh nghiệm và tổ chức nhiều chuyến đi thực tế cho học sinh Đồng chí Đào Thị Ngọc Phương tổ chức cho học sinh trải nghiệm tại quê hương Nguyễn Trãi (Chí Linh, Hải Dương), đồng chí Tống Thị Thu Hường cho học sinh đi thành Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội), đồng chí Lê Thị Yến cho học sinh đi đền Trần (Nam Định)…

- Tổ chức hội thảo:

+ Bước 1: Giáo viên tự bồi dưỡng qua quá trình tự nghiên cứu, học hỏi và quá trình thực hiện thực tế Tổ trưởng chuyên môn có thể cung cấp đường link, trang web hướng dẫn giáo viên tìm hiểu, tổ chức hoạt động trải nghiệm Trong quá trình tìm hiểu, tổ chức giáo viên có khó khăn gì tổ trưởng là người trực tiếp giúp đỡ hoặc phân công người có kinh nghiệm kịp thời giúp đỡ

+ Bước 2: Tổ trưởng chuyên môn tổ chức hội thảo để giáo viên có thể chia sẻ, thảo luận thẳng thắn, tháo gỡ khó khăn, rút kinh nghiệm trong quá trình tìm hiểu và tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh

2.2.2 Nâng cao chất lượng trong việc lập kế hoạch của tổ chuyên môn về Hoạt động trải nghiệm, tránh tình trạng hình thức

2.2.2.1 Lập kế hoạch trung hạn và kế hoạch năm học

- Kế hoạch trung hạn và kế hoạch năm học là sự cụ thể hóa kế hoạch chiến lược, đưa

ra các mục tiêu, chương trình hành động quan trọng trong giai đoạn kế hoạch của nhà

trường

- Tổ trưởng chuyên môn phải căn cứ vào việc phân tích tình hình thực tế (giáo viên, học sinh, mục tiêu, đặc trưng môn học… có kế hoạch trung hạn (3 -5 năm) và từng năm học về hoạt động này, cụ thể với từng giai đoạn Trong kế hoạch sẽ bao gồm

những nội dung chính như sau:

Trang 14

17

- Trong bản kế hoạch này có lẽ khó khăn nhất với tổ trưởng chuyên môn là vấn đề nguồn tài chính Từ thực tế của trường THPT Trần Hưng Đạo, chúng tôi thấy nguồn tài chính sẽ có từ: Ngân sách nhà nước chi cho hoạt động giáo dục; Sự đóng góp từ phụ huynh học sinh trực tiếp tham gia; Các anh/ chị học sinh cũ của nhà trường, Các

cơ quan, đoàn thể kết nghĩa; Các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh…Huy động được tài chính, chúng ta có điều kiện để tổ chức các hoạt động mang tính chuyên nghiệp

2.2.2.2 Lập kế hoạch cho từng hoạt động trải nghiệm cụ thể của tổ chuyên môn

- Kế hoạch hoạt động là kế hoạch về các mặt hoạt động cụ thể để triển khai kế hoạch năm học

- Với những hình thức trải nghiệm của học sinh được tổ chức trong phạm vi toàn khối hay toàn trường, tổ trưởng là người có trách nhiệm lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ thể

- Kế hoạch sẽ bao gồm những nội dung chính như sau:

- Nguồn kinh phí:

+ Huy động nguồn kinh phí từ nhiều nguồn lực khác nhau trong nhà trường và xã hội + Trường THPT Trần Hưng Đạo trong quá trình chuẩn bị cơ sở vật chất, điều kiện thực hiện cho Đêm chung kết Hội thi “Sân khấu hóa tác phẩm văn học” lần thứ nhất (ngày 29/10/2016) được tổ chức tại sân khấu nhà văn hóa 3/2 đã huy động nguồn lực kinh phí tài trợ từ nhiều lực lượng khác nhau Cụ thể: từ học sinh cũ là 20 triệu, từ công ty Du học Việt Phát, công ty Dệt may Sơn Nam là 7 triệu, nhà hát 3/2 là 5 triệu, phụ huynh học sinh đóng là tiền trang phục các lớp tự thuê khi tham gia hội thi, ngân sách chi cho hoạt động giáo dục của nhà trường là 5 triệu, Quỹ Đoàn niên cộng sản nhà trường là 7 triệu

- Nguồn lực:

Trang 15

đã mời NSƯT Nguyễn Thùy Linh, trưởng đoàn kịch nói tham gia vào ban giám khảo

để hỗ trợ thêm về mặt nghệ thuật ngay từ vòng sơ khảo, rồi đến đêm chung khảo

2.2.4 Chú ý đến tính chuyên nghiệp trong quá trình tổ chức thực hiện

- Quá trình tổ chức thực hiện theo đúng kế hoạch, mang tính chuyên nghiệp đến từng

chi tiết nhỏ nhất (Điều này sẽ có tác động mạnh đến ý thức học tập nghiêm túc của học sinh trước mắt và cách làm việc chuyên nghiệp của các em sau này) Tuy nhiên, tùy vào tình hình thực tế có thể điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp Người tổ trưởng chuyên môn phải có kĩ năng đưa ra những quyết định trong những thời điểm quan trọng, bất thường

- Trong quá trình tổ chức thực hiện, người tổ trưởng phải quan sát, kiểm tra kịp thời để đạt được kết quả dự kiến

- Phối kết hợp với các lực lượng xã hội có quan tâm đến giáo dục như: Đoàn thanh niên công sản nhà trường, Hội cha mẹ học sinh, phụ huynh học sinh các lớp, các tổ chức, cơ quan, đoàn thể…để thực hiện tốt hoạt động

Ví dụ: Trong quá trình tổ chức vòng sơ khảo và đêm chung kết Hội thi “Sân khấu hóa tác phẩm văn học” lần thứ nhất, chúng tôi đã phối hợp các lực lượng sau: Hội cha mẹ học sinh của nhà trường và các lớp tham gia thi; Đoàn kịch nói Nam Định; Lực lượng bảo vệ; Các cơ quan đoàn thể, để cuộc thi có thành công tốt đẹp

2.2.5 Chú trọng khâu kiểm tra, đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm

- Kiểm tra, đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm là khâu chúng ta hay bỏ qua trong quá trình thực hiện hoạt động trải nghiệm Tổ trưởng, người thực hiện tổ chức hoạt động trải nghiệm cần phải có khâu kiểm tra đối với học sinh, đối với giáo viên của mình để đánh giá về kết quả thu được và rút kinh nghiệm để lần sau tổ chức các hoạt động tốt hơn

- Trong quá trình kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm phải được các câu hỏi:

+ Sản phẩm thu được sau hoạt động là gì?

+ Chất lượng sản phẩm đó như thế nào?

+ Năng lực của học sinh như thế nào? Có tiến bộ hơn so với trước đó?

+ Hoạt động đó có phù hợp môn học, bài học hay không?

+ Hoạt động đã thực hiện được mục tiêu đề ra hay chưa?

Trang 16

19

+ Những thành công và tồn tại của hoạt động?

+ Cần phải có những giải pháp như thế nào khắc phục những hạn chế cho hoạt động lần sau?

2.3 Giải pháp đối với giáo viên

2.3.1 Cần nâng cao nhận thức về hoạt động trải nghiệm trong quá trình dạy học môn Ngữ văn

2.3.1.1 Nhận thức về trách nhiệm của người giáo viên trong việc tổ chức hoạt động trải nghiệm gắn với quá trình dạy học môn Ngữ văn

Tư tưởng, nhận thức sẽ chỉ đạo hành động, do đó giải pháp đầu tiên đối với người giáo viên là sự tự nhận thức Giáo viên cần nhận thức được vấn đề dạy học là để phát triển năng lực người học Nghị quyết số 29-NQ/TW (4/11/2013) về giáo dục đã nêu rõ: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Năng lực toàn diện của người học chỉ được bộc lộ và phát triển mạnh nhất trong các hoạt động trải nghiệm Để đào tạo được những công dân toàn cầu trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0, người dạy cần phải cho học sinh tự học qua quá trình trải nghiệm Do đó người giáo viên cần xác định tổ chức hoạt trải nghiệm gắn với môn học cho học sinh là yêu cầu bắt buộc chứ không phải mang tính khuyến khích, làm cũng được không làm cũng không sao

Trong những năm gần đây Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT Nam Định, đã có những công văn hướng dẫn về cách tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhưng chủ yếu là khuyến khích tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo hướng ngoài giờ lên lớp Thực tế nhiều nhà trường cũng đã khuyến khích môn Ngữ văn tổ chức những hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với môn học (Cụ thể như trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, trường Trần Hưng Đạo, Nguyễn Khuyến, Mỹ Lộc, Tống Văn Trân…) Đây là một hướng đi đúng đắn đã tiệm cận với Dự thảo về chương trình trải nghiệm sáng tạo của Bộ GD-ĐT Có lẽ trong Hướng dẫn giảng dạy bộ môn Ngữ văn năm học

2018 – 2019, Sở GD-ĐT Nam Định cần phải có những chỉ đạo cụ thể, quyết liệt hơn

về vấn đề này để mỗi giáo viên phải nhận thấy tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh gắn với môn học là trách nhiệm của bản thân mình

2.3.1.2 Nhận thức về khái niệm, các dạng thức, hình thức tổ chức một hoạt động trải nghiệm gắn với môn học Ngữ văn

2.3.1.2.1 Nhận thức về khái niệm hoạt động trải nghiệm

- Theo Từ điển tiếng Việt:

+“Trải nghiệm” được hiểu là trải qua, kinh qua Để học hỏi con người cần có sự trải

nghiệm, khám phá Khám phá giúp ta nhận ra cái đúng, sai trong cuộc sống từ đó rút bài học quý giá hoàn thiện bản thân

Trang 17

20

+ “Sáng tạo” là sự sản xuất, tạo ra, sinh ra một cái gì đó mà trước đây chưa hề có,

chưa tồn tại Sáng tạo là biểu hiện của tài năng trong lĩnh vực đặc biệt nào đó: năng lực tiếp thu tri thức, hình thành ý tưởng mới Muốn xác định được mức độ sáng tạo cần phải phân tích các sản phẩm sáng tạo

+ “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo” (hiện tại gọi là hoạt động trải nghiệm vì trong trải

nghiệm đã có sáng tạo) là hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của các nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất, nhân cách

và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình

- Hoạt động trải nghiệm trong môn Ngữ văn phải gắn với đặc trưng và mục tiêu của môn học Mỗi tác phẩm văn học là một tác phẩm nghệ thuật bằng ngôn từ phản ánh cuộc sống con người, xã hội thông qua lăng kính tâm hồn, nhận thức của người sáng tạo Mục tiêu của môn Ngữ văn ngoài việc hình thành năng lực giao tiếp, năng lực đọc viết và năng lực sáng tạo (thuộc nhóm năng lực chung) còn có trách nhiệm hình thành

và phát triển ở học sinh năng lực chuyên biệt của môn học là năng lực tiếp nhận và tạo lập văn bản Đây là những cơ sở để hình thành những dạng thức trải nghiệm ở học sinh trong môn Ngữ văn

2.3.1.2.2 Nhận thức về các dạng, các hình thức tổ chức của hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn

- Các dạng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn

Theo Th.S Lê Khánh Tùng (Trường Đại học Sư phạm Huế) hoạt động trải nghiệm trong môn Ngữ văn có những dạng cơ bản sau:

+ Trải nghiệm vật chất: Trải nghiệm vật chất là những trải nghiệm “có thể quan sát

được” Hoạt động này phù hợp với môn Ngữ văn vì nó bắt đầu từ sự quan sát của học sinh về các hiện tượng tự nhiên, xã hội khi các em tham gia vào đời sống cộng đồng; những cảm xúc được hình thành từ những điều nhìn thấy; các đồ dùng trực quan hay những âm thanh, hình ảnh được trình chiếu bằng các phương tiện khoa học kĩ thuật; mẫu (bài tập, tình huống…) trong dạy học, cuộc đời và sự nghiệp của các tác giả văn học hay những người nổi tiếng…Dù hoạt động của học sinh có thể trực tiếp hay gián tiếp qua phương tiện cụ thể nhưng hầu hết nó đều là sự tương tác trực tiếp của người học với một hoàn cảnh hay tình huống cụ thể Dạng trải nghiệm này có thể tạo cảm xúc trực tiếp ngay trong thời điểm đang diễn ra hoạt động trải nghiệm, để lại ấn tượng mạnh làm xuất hiện động lực tích cực để hoàn thành nhiệm vụ học tập

+ Trải nghiệm tinh thần: Trải nghiệm tinh thần có thể xem là dạng trải nghiệm phù

hợp với những giá trị đặc trưng mà môn Ngữ văn có thể mang lại cho người học Hoạt động trải nghiệm này “liên quan đến các khía cạnh trí tuệ và ý thức; là sự kết hợp giữa

Trang 18

21

tư duy, nhận thức, trí nhớ, cảm xúc, ý chí và tưởng tượng Nó bao gồm cả quá trình nhận thức và vô thức” Để trải nghiệm, trước hết người học cần phải tưởng tượng ra bức tranh hiện thực được mô tả và mã hóa bằng ngôn ngữ hình tượng thông qua năng lực liên tưởng và tưởng tượng Vì vậy trải nghiệm tinh thần trong trường hợp này tập trung cơ bản vào những hoạt động như “ướm thử số phận”; “nếm trải nghệ thuật” trong quá trình dạy học Dạng trải nghiệm này ngoài việc huy động kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ thẩm mỹ cá nhân, quan niệm sống…nó còn đưa lại phẩm chất quý giá trong hành trình sống của con người đó chính là sự sẻ chia Đây là phẩm chất khởi đầu để xây dựng đời sống tinh thần khoan dung, trí đức, có tác dụng chi phối và điều chỉnh các hành vi khiến con người trở nên thân thiện

+ Trải nghiệm tình cảm: Trong lĩnh vực giáo dục, học sinh bằng môn Văn học mà hình

thành những cảm xúc, tình cảm thẩm mỹ đã trở thành mục tiêu quan trọng được định dạng cho môn học Đặc điểm của thời đại, những giá trị chân lý đạo đức được tôn vinh hay hạ thấp đều được các tác giả mã hóa trong hành vi, bản chất của các nhân vật tham gia vào hiện thực đặt ra trong tác phẩm thuật Thế giới tình cảm của con người bắt đầu

từ lòng biết ơn, sự rung động, những cảm xúc hay thậm chí là những ấn tượng được thu nhận qua trực giác cá nhân Chính vì thế trải nghiệm tình cảm trong môn Ngữ văn được ví như những hạt giống gieo trên mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu Sự trải nghiệm này sẽ hình thành lối sống tích cực, chủ động, sẻ chia giữa con người với con người và với môi trường xung quanh

+ Trải nghiệm xã hội: Các hoạt động trải nghiệm xã hội cho “con người kỹ năng và

thói quen cần thiết để sống trong xã hội của mình, chia sẻ kinh nghiệm, hình thành những chuẩn mực, phong tục, giá trị, vai trò xã hội, biểu tượng và ngôn ngữ” Môi trường xã hội có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Vì vậy việc trải nghiệm xã hội trong môn Ngữ văn được kì vọng Trong thực tế, các hình thức tham quan những danh lam thắng cảnh, đến quê hương của những nhà thơ, nhà văn, sưu tầm văn học địa phương, câu lạc bộ sáng tác văn học, tìm hiểu các loại hình nghệ thuật truyền thống, các hình thức biểu diễn hay sân khấu hóa tác phẩm…đều được xem là cơ hội để người học hóa thân, tham gia trực tiếp vào các hoạt động có chủ điểm gắn liền với hoạt động giáo dục môn học Trải nghiệm xã hội qua môn học Ngữ văn là cơ hội phát triển tâm lý, nhận thức của học sinh, cải thiện các kỹ năng sống, biến quan tâm chia sẻ thành phẩm chất, biết xác định các tiêu chí phù hợp

để phát triển bản thân hài hòa trong mối quan hệ với điều kiện sống cụ thể của từng cá nhân

+ Trải nghiệm chủ quan: Đây là trải nghiệm dựa trên sức mạnh của trực giác cá nhân

khi tương tác với môi trường Kết quả của trải nghiệm này đưa lại cho chủ thể những cảm xúc hay trạng thái tâm lý phù hợp với nội dung trải nghiệm Xuất phát từ kinh

Trang 19

22

nghiệm cá nhân nên kết quả trải nghiệm có khả năng không chính xác Tuy nhiên nhờ vào những phản hồi người học vẫn có thể tiếp tục điều chỉnh nhận thức, rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá

+ Trải nghiệm mô phỏng: Người học sẽ thể hiện năng lực qua việc giải quyết các tình

huống giả định Với đặc điểm như vậy, hoạt động mang tính chất mô phỏng và tái hiện đời sống trong nội dung văn học đều được xem là cơ hội cho học sinh trải nghiệm Theo cách này hầu hết việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại cũng đáp ứng được yêu cầu học tập, trong đó hợp lý và hiệu quả nhất có thể sử dụng máy tính Sự cụ thể hóa các vấn đề trừu tượng thông qua xử lý của giáo viên khiến học sinh

có cái nhìn chính xác và rõ ràng hơn về đối tượng nhận thức Ngoài ra, việc sắm vai hay tổ chức những trò chơi trí tuệ liên quan đến môn học cũng là cách trải nghiệm mô phỏng hiệu quả Sự mô phỏng khiến học sinh có khả năng xử lí tốt một tình huống tương tự trong cuộc sống

- Các hình thức tổ chức của hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn

Theo các chuyên gia nghiên cứu về giáo dục và qua quá trình thực tiễn tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Trần Hưng Đạo, chúng tôi đề xuất một số những hình thức cơ bản sau:

+ Hình thức câu lạc bộ:

 Câu lạc bộ sẽ tập hợp những học sinh có năng khiếu, có niềm đam mê với văn chương Tại đây các em sẽ được giao lưu, học hỏi, chia sẻ những kiến thức, hiểu biết của mình về môn Ngữ văn mà mình đam mê Các em sẽ được bộc lộ những ý tưởng sáng tạo, được làm chủ những hoạt động của mình và bạn bè Qua đó, ngọn lửa đam mê văn học của các em sẽ bùng cháy mãnh liệt hơn Ngoài việc phát triển cảm xúc thẩm mỹ, kỹ năng cảm thụ văn học, các em còn phát triển các thêm một số kỹ năng khác như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lắng nghe và biểu đạt ý kiến, kỹ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kỹ năng viết bài, kỹ năng chụp ảnh, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề…

 Trong các câu lạc bộ, giáo viên sẽ là người định hướng, hướng dẫn học sinh lập kế hoạch theo chủ đề cho phù hợp với các đối tượng tham gia, theo sát các em trong quá trình hoạt động, hỗ trợ kịp thời những khó khăn nảy sinh trong quá trình hoạt động Quy trình để tổ chức câu lạc bộ văn học như sau:

 Bước 1: GV trong tổ Ngữ văn phụ trách câu lạc bộ sẽ tham khảo ý kiến của cả tổ chuyên môn rồi đưa ra các danh mục, chủ đề hoạt động

 Bước 2: Tổ chức truyền thông quảng bá về câu lạc bộ

 Bước 3: Cho học sinh đăng ký theo sở thích và sở trường

 Bước 4: Tổ chức phỏng vấn để tuyển chọn học sinh vào câu lạc bộ

Trang 20

23

 Bước 5: Họp các thành viên của câu lạc bộ, bầu các chức danh (Chủ tịch, Phó chủ tịch câu lạc bộ, thư ký…), xây dựng kế hoạch theo chủ đề

 Bước 6: Thông qua Hội cha mẹ học sinh, kêu gọi sự ủng hộ về vật chất

và tinh thần của các bậc phụ huynh, các cơ quan đoàn thể

 Bước 7: Học sinh lập kế hoạch cụ thể theo các chủ đề, phân công công việc và thực hiện Các thày cô trong tổ Ngữ văn là người tư vấn tham mưu

 Câu lạc bộ có thể sinh hoạt theo các chủ đề gắn với chương trình Ngữ văn THPT hoặc gắn với đời sống của văn học đương đại Câu lạc bộ có thể sinh hoạt

theo một số chủ đề như: Ca dao em và tôi (chủ yếu dành cho học sinh lớp 10 nghiên cứu, sưu tầm, sáng tác về ca dao, dân ca…); Một thời đại thi ca (chủ yếu dành cho học

sinh lớp 11 nghiên cứu, sưu tầm, sáng tác, phổ nhạc… về thơ lãng mạn 1932 – 1945);

Hình ảnh người lính trong văn học (chủ yếu dành cho học sinh lớp 12 nghiên cứu, sưu tầm, sáng tác, phổ nhạc, vẽ tranh …gắn với những tác phẩm về người lính); Mãi mãi tuổi 20 (dành cho tất cả đối tượng học sinh tìm hiểu, sưu tầm, sáng tác thơ, truyện, phổ

nhạc, vẽ tranh… về 2 cuốn nhật kí của Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm, cùng các tác phẩm nói về thế hệ trẻ trong chiến tranh học trong chương trình và nằm ngoài chương trình)…

+ Hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học:

 Các tác phẩm văn học sẽ được học sinh lựa chọn để chuyển thể thành kịch bản sân khấu và biểu diễn tiểu phẩm dựa trên kịch bản đã chuyển thể Qua hình thức sân khấu, người học phải làm sáng tỏ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm Học sinh có thể lựa chọn nhiều hình thức khác nhau nhưng không làm mất đi đặc trưng, vẻ đẹp của tác phẩm văn học

 Học sinh có thể chuyển thể những tác phẩm văn học vốn là loại hình nghệ thuật bằng ngôn từ thành những loại hình nghệ thuật khác như: kịch, múa, nhạc kịch, hát, chèo…Trong Hội thi “Sân khấu hóa các tác phẩm văn học” lần thứ nhất của

trường THPT Trần Hưng Đạo năm 2016, bài kí Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)

đã được học sinh lớp 12A5 chuyển thành thể múa đương đại; Đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền (trích: tiểu thuyết Những người khốn khổ - V.Huy-gô) được học sinh lớp 11B1 chuyển thành hình thức nhạc kịch, bài thơ Tây Tiến của Quang

Dũng được học sinh lớp 12B1 chuyển thành kịch…Sự chuyển thể sang các hình thức phong phú đã đem đến sự bất ngờ, nhiều cảm xúc cho người xem và chuyển tải được nhiều nhất những thông điệp nghệ thuật của tác phẩm

 Học sinh có thể chọn một trích đoạn hoặc cả tác phẩm tùy thuộc vào yêu cầu và tính chất của hoạt động

Trang 21

24

 Ở hình thức này, học sinh được trải nghiệm ở các dạng: trải nghiệm tinh thần, trải nghiệm tình cảm, trải nghiệm mô phỏng …; được phát huy năng lực sáng tạo, năng lực cảm thụ văn học, năng lực âm nhạc, năng lực diễn xuất, năng lực thẩm

mỹ năng lực điều hành…; học rèn luyện kỹ năng viết kịch bản, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý…

 Ở hình thức này, giáo viên là người lập kế hoạch, giao nhiệm vụ, tổ chức, kiểm tra, đánh giá hoạt động của học sinh

 Các bước tiến hành để tổ chức hoạt động sân khấu tác phẩm văn học như sau:

 Bước 1: Xác định mục tiêu hoạt động:

Chuyển thể được một hoặc một vài tác phẩm đã học (đã đọc) theo chủ đề hoạt động thành một kịch bản sân khấu

Biểu diễn tiểu phẩm kịch dựa trên kịch bản đã chuyển thể

Thông qua hình thức sân khấu hóa HS được củng cố, khắc sâu nội dung, ý nghĩa của các tác phẩm HS biết cách chuyển thể hóa tác phẩm và làm quen với phương pháp “trả tác phẩm về cho HS”

HS hình thành và rèn luyện một số kỹ năng: lấy thông tin, làm việc nhóm, thuyết trình, diễn xuất…

HS được bồi đắp tình yêu với văn chương nghệ thuật…

 Bước 2: Lập kế hoạch hoạt động Xác định thời gian thực hiện (Cụ thể hóa thời gian là bao nhiêu tuần, mỗi tuần làm công việc gì; GV sử dụng linh hoạt thời gian trên lớp hoặc ngoài giờ học để hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động: tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin, xây dựng

ý tưởng sản phẩm; Thời gian báo cáo sản phẩm, đánh giá, chia sẻ về sản phẩm; GV yêu cầu HS sử dụng thời gian tự học ở nhà để hoàn thành các công việc của cá nhân và nhóm theo kế hoạch GV và HS, HS trong các nhóm có thể gặp trực tiếp hoặc trao đổi với nhau qua các phương tiện CNTT như: điện thoại, máy tính kết nối Internet, qua các hình thức như: qua facebook, zalo, messenger, email, qua ứng dụng google form…)

Xác định thiết bị và vật tư (SGK, máy tính kết nối Internet, băng đãi về tiểu phẩm, sổ tay, bút viết, nguyên vật liệu chế tạo đạo cụ sân khấu, trang trí sân khấu, chuẩn bị trang phục, loa đài…) Có thể linh hoạt việc sử dụng thiết bị và vật tư phù hợp với điều kiện thực tế

Xác định hình thức tổ chức, hình thức hoạt động (theo phạm vi lớp hay khối lớp hoặc toàn trường/ Hình thức cuộc thi, hội thi hay chỉ biểu diễn tại lớp học hoặc trong buổi học tập thực tế tại quê hương của các nhà thơ nhà văn…)

Trang 22

HS tìm kiếm thông tin (HS có thể tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, truyện, thơ, tranh ảnh, băng đĩa, Internet, qua chính các tác giả, các nhà phê bình, các diễn viên, các nghệ nhân…

HS xử lý thông tin: GV trực tiếp kiểm tra các phiếu thông tin và tư liệu HS

đã tìm kiếm được, hướng dẫn HS lập sơ đồ tư duy về các nội dung có liên quan đến hình thức sân khấu hóa GV yêu cầu các nhóm về hoàn thành sơ đồ tư duy

HS xây dựng ý tưởng cho kịch bản sân khấu: Nhóm trưởng điều hành nhóm mình thảo luận tưởng: lựa chọn nguyên tác chuyển thể; hình thức chuyển thể; đặt tên cho tiểu phẩm; dự kiến nhân vật (số lượng nhân vật chính, nhân vật phụ, tên nhân vật); phân cảnh cho kịch bản (tùy theo cách chuyển thể mà xem xét những việc cần lược bỏ, thêm hoặc đảo trình tự so với nguyên tác) GV nhận xét và tư vấn cho ý tưởng kịch bản của từng nhóm (đảm bảo sự đa dạng, không trùng lặp về ý tưởng)

HS sáng tác kịch bản chuyển thể: Nhóm trưởng có thể giao cho 2-3 thành viên viết, trao đổi, thảo luận để đi đến thống nhất GV góp ý, sửa chữa kịch bản cho từng nhóm

HS chuẩn bị cho biểu diễn: Nhóm bàn bạc, phân công nhiệm vụ chuẩn bị những yếu tố cần thiết: Phân vai, làm đạo cụ sân khấu, trang phục nhân vật, hỗ trợ âm thanh, tiếng động, lên kế hoạch tập kịch GV yêu cầu HS lập danh sách thành viên tham gia biểu diễn tiểu phẩm GV gợi ý cho HS theo một số những câu hỏi: (1) Dựa vào tiêu chí nào để phân vai cho các thành viên trong nhóm mình? (2) Nhóm em sẽ chọn những trang phục gì cho “diễn viên” của mình? Nhóm lựa chọn những nguyên vật liệu nào để làm đạo cụ, cách làm ra sao? (3) Kế hoạch luyện tập của nhóm thế nào?

GV chủ động phối hợp với GV chủ nhiệm, các GV trong tổ và phụ huynh

HS để hỗ trợ HS chuẩn bị sân khấu, thiết bị và vật tư chuẩn bị cho buổi biểu diễn GV chủ động giám sát các buổi tập và các hoạt động làm đạo cụ biểu diễn của HS để tư vấn, hỗ trợ kịp thời; Định hướng cho các nhóm chuẩn bị máy ảnh, điện thoại để chụp ảnh, quay phim của nhóm mình để làm tư liệu hỗ trợ quá trình kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm

 Bước 4: Biểu diễn kịch bản Đại diện các nhóm giới thiệu tiểu phẩm; Biểu diễn tiểu phẩm trên sân khấu; Diễn viên tương tác với khán giả và kêu gọi sự bình chọn từ khán giả

Trang 23

26

GV tùy vào điều kiện mà tổ chức cho HS biểu diễn tiểu phẩm chuyển thể ở quy mô lớp, nhóm lớp, khối lớp, cả trường; Trong quá trình biểu diễn GV phân công hoặc trực tiếp điều hành quản lý HS; Định hướng HS chụp ảnh, quay lại phần biểu diễn của nhóm mình; Phân công HS điều hành phần tương tác giao lưu giữa “diễn viên” và khán giả

 Bước 5: Đánh giá sản phẩm và hoạt động Tiêu chí đánh giá về sản phẩm: Chất lượng kịch bản (Kịch bản có thể hiện được chủ đề tư tưởng của tác phẩm văn học không? Có sáng tạo hay không?) Chất lượng của tiết mục biểu diễn trên sân khấu (diễn xuất tự nhiên; trang phục đẹp, phù hợp; đạo cụ sân khấu sáng tạo…)

Tiêu chí đánh giá về hoạt động: Các thành viên tích cực, chủ động, sáng tạo trong làm việc cá nhân; đoàn kết, tôn trọng và sẵn sàng hợp tác, tương trợ lẫn nhau hiệu quả

Hình thức: GV có thể lập một ban giám khảo đánh giá và lấy phiếu bình chọn từ HS Yêu cầu HS (khán giả) bình chọn cho các tiết mục theo hạng mục: diễn xuất tốt nhất; trang phục đẹp nhất; kịch bản hay nhất; tiểu phẩm xuất sắc nhất

GV nêu câu hỏi gợi ý HS chia sẻ về quá trình tìm kiếm thông tin; quá trình chuẩn bị, quá trình biểu diễn,…để xác nhận về quá trình HS thực hiện hoạt động và kiến thức, năng lực HS đạt được qua chủ đề

GV tập hợp phiếu bình chọn của HS, đưa ra tổng kết, nhận xét, đánh giá chung toàn bộ quá trình hoạt động của HS và sản phẩm các nhóm

+ Hình thức sân khấu tương tác (sân khấu diễn đàn):

 Sân khấu tương tác là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Phần trình diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác và sự

tham gia của khán giả

 Mục đích của hoạt động này nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy để học sinh đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lý tình huống Thông qua hình thức này học sinh được rèn luyện các kỹ năng như: kỹ năng phát hiện vấn đề, kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải

quyết tình huống và khả năng ứng phó trước sự thay đổi của cuộc sống

 Trong môn Ngữ văn, hình thức này đặc biệt phù hợp với những tác phẩm

có kết thúc mở

 Các bước có thể tham khảo hình thức sân khấu hóa tác phẩm GV có thể

linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức

Trang 24

27

+ Hình thức làm phim ngắn:

 Giới trẻ ngày nay đặc biệt thích thú với hình thức trải nghiệm làm phim ngắn Các tác phẩm văn học đã được học sinh thổi vào đó cái nhìn mới sinh động qua những bộ phim ngắn Học sinh có thể chọn một vài phân cảnh đặc sắc hoặc chuyển thể

cả tác phẩm, thậm chí có thể nối kết nhiều tác phẩm để làm thành một bộ phim

 Ở hình thức này, học sinh không chỉ được trải nghiệm dạng tinh thần, tình cảm mà còn được trải nghiệm xã hội Làm phim ngắn các em được thỏa sức sáng tạo: được hóa thân vào nhân vật, được trải nghiệm qua những cảnh sống khác nhau, được thử làm đạo diễn, diễn viên, người hóa trang, phục trang, chọn bối cảnh…Qua đó các em sẽ hình thành, phát triển được tình yêu cuộc sống, sự sẻ chia với đồng loại

 Ở hình thức này, giáo viên là người tổng phụ trách chung, cùng các em lập kế hoạch, lên ý tưởng, duyệt kịch bản, tư vấn chọn bối cảnh, chọn diễn viên…theo sát, giúp đỡ khi các em gặp khó khăn nhưng tuyệt đối không làm thay, làm hộ các em

 Các bước làm phim một bộ phim ngắn chuyển thể từ một hoặc một vài tác phẩm văn học đã học trong chương trình:

 Bước 1: Xác định mục tiêu hoạt động Chuyển thể được một hoặc một vài tác phẩm đã học (đã đọc) theo chủ đề hoạt động thành kịch bản của một bộ phim ngắn

Làm phim dựa trên dựa trên kịch bản đã chuyển thể

Thông qua hình thức làm phim, xem phim HS được củng cố, khắc sâu nội dung, ý nghĩa của các tác phẩm HS biết cách chuyển thể hóa tác phẩm và làm quen với phương pháp “trả tác phẩm về cho HS”

HS hình thành và rèn luyện một số kỹ năng: lấy thông tin, làm việc nhóm, thuyết trình, diễn xuất, chỉ đạo nghệ thuật, hóa trang, dựng bối cảnh, quay phim…

HS được bồi đắp tình yêu với văn chương nghệ thuật…

 Bước 2: Lập kế hoạch hoạt động Xác định thời gian thực hiện (Cụ thể hóa thời gian là bao nhiêu tuần, mỗi tuần làm công việc gì; GV sử dụng linh hoạt thời gian trên lớp hoặc ngoài giờ học để hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động: tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin, xây dựng

ý tưởng sản phẩm; Thời gian báo cáo sản phẩm, đánh giá, chia sẻ về sản phẩm; GV yêu cầu HS sử dụng thời gian tự học ở nhà để hoàn thành các công việc của cá nhân và nhóm theo kế hoạch GV và HS, HS trong các nhóm có thể gặp trực tiếp hoặc trao đổi với nhau qua các phương tiện CNTT như: điện thoại, máy tính kết nối Internet, qua các hình thức như: qua facebook, zalo, messenger, email, qua ứng dụng google form…)

Trang 25

28

Xác định thiết bị và vật tư (SGK, máy tính kết nối Internet, băng đĩa về tiểu phẩm, sổ tay, bút viết, nguyên vật liệu chế tạo đạo cụ, tạo bối cảnh, tạo âm thanh tiếng động, chuẩn bị trang phục,…) Có thể linh hoạt việc sử dụng thiết bị và vật tư phù hợp với điều kiện thực tế

Xác định hình thức tổ chức, hình thức hoạt động (theo phạm vi lớp hay khối lớp hoặc toàn trường/ Hình thức cuộc thi, hội thi, liên hoan phim hay chỉ làm phim chiếu tại lớp học,…)

HS tìm kiếm thông tin (HS có thể tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, truyện, thơ, tranh ảnh, băng đĩa, Internet, qua chính các tác giả, các nhà phê bình, các diễn viên, các nghệ nhân…)

HS xử lý thông tin: GV trực tiếp kiểm tra các phiếu thông tin và tư liệu HS

đã tìm kiếm được, hướng dẫn HS lập sơ đồ tư duy về các nội dung có liên quan đến hình thức làm phim GV yêu cầu các nhóm về hoàn thành sơ đồ tư duy

HS xây dựng ý tưởng cho kịch bản phim: Nhóm trưởng điều hành nhóm mình thảo luận ý tưởng: lựa chọn nguyên tác chuyển thể; hình thức chuyển thể; đặt tên cho tiểu phẩm; dự kiến nhân vật (số lượng nhân vật chính, nhân vật phụ, tên nhân vật); phân cảnh cho kịch bản (tùy theo cách chuyển thể mà xem xét những việc cần lược bỏ, thêm hoặc đảo trình tự so với nguyên tác) GV nhận xét và tư vấn cho ý tưởng kịch bản của nhóm (Nếu là cuộc thi, hội thi, liên hoan thì đảm bảo sự đa dạng, không trùng lặp về ý tưởng giữa các nhóm)

HS sáng tác kịch bản chuyển thể: Nhóm trưởng có thể giao cho 2-3 thành viên viết, trao đổi, thảo luận để đi đến thống nhất GV góp ý, sửa chữa kịch bản phim cho từng nhóm

HS chuẩn bị cho quay phim: Nhóm bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể chuẩn bị những yếu tố cần thiết: Phân vai, làm đạo cụ, trang phục diễn viên, hỗ trợ âm thanh, tiếng động, lên kế hoạch quay phim GV yêu cầu HS lập danh sách thành viên tham gia GV gợi ý cho HS theo một số những câu hỏi: (1) Dựa vào tiêu chí nào để phân vai cho các thành viên trong nhóm mình? (2) Nhóm em sẽ chọn những trang

Trang 26

29

phục gì cho “diễn viên” của mình? Nhóm lựa chọn những nguyên vật liệu nào để làm đạo cụ, cách làm ra sao? Chọn bối cảnh ở đâu? (3) Kế hoạch quay của nhóm thế nào?

GV chủ động phối hợp với GV chủ nhiệm, các GV trong tổ và phụ huynh

HS để hỗ trợ HS chuẩn bị bối cảnh, thiết bị và vật tư chuẩn bị cho các buổi quay GV chủ động giám sát các buổi quay và các hoạt động làm đạo cụ của HS để tư vấn, hỗ trợ kịp thời; Định hướng, tư vấn cách quay, cách chọn góc quay để đạt hiệu quả cao nhất

 Bước 4: Quay phim Quay phim theo kế hoạch GV luôn theo sát, hỗ trợ giải quyết những khó khăn cùng HS trong quá trình quay phim

 Bước 5: Tổ chức chiếu phim Công tác truyền thông: Đại diện các nhóm giới thiệu phim; Diễn viên tương tác với khán giả và kêu gọi sự bình chọn từ khán giả; Trailer phim trên Facebook cá nhân, trên các trang website của Đoàn trường, nhà trường (nếu là hội thi, liên hoan phim)

GV tùy vào điều kiện mà tổ chức cho HS làm phim ở quy mô lớp, nhóm lớp, khối lớp, cả trường; Trong quá trình chiếu phim GV phân công hoặc trực tiếp điều hành quản lý HS

 Bước 6: Đánh giá sản phẩm và hoạt động Tiêu chí đánh giá về sản phẩm: Chất lượng kịch bản (Kịch bản có thể hiện được chủ đề tư tưởng của tác phẩm văn học không? Có sáng tạo hay không?) Chất lượng của phim (diễn xuất tự nhiên; trang phục đẹp, phù hợp; đạo cụ sáng tạo, bối cảnh phù hợp, chất lượng quay phim…)

Tiêu chí đánh giá về hoạt động: Các thành viên tích cực, chủ động, sáng tạo trong làm việc cá nhân; đoàn kết, tôn trọng và sẵn sàng hợp tác, tương trợ lẫn nhau hiệu quả

Hình thức: GV có thể lập một ban giám khảo đánh giá và lấy phiếu bình chọn từ HS Yêu cầu HS (khán giả) bình chọn cho các tiết mục theo hạng mục: diễn viên xuất sắc nhất; trang phục đẹp nhất; kịch bản hay nhất; phim ngắn xuất sắc nhất, quay phim xuất sắc nhất…

GV nêu câu hỏi gợi ý HS chia sẻ về quá trình tìm kiếm thông tin; quá trình chuẩn bị, quá trình quay phim,…để xác nhận về quá trình HS thực hiện hoạt động và kiến thức, năng lực HS đạt được qua chủ đề

GV tập hợp phiếu bình chọn của HS, đưa ra tổng kết, nhận xét, đánh giá chung toàn bộ quá trình hoạt động của HS và sản phẩm các nhóm

+ Hình thức tham quan, dã ngoại:

 Trong các hình thức trải nghiệm, có lẽ đây là hình thức học sinh cảm thấy hứng thú nhất Trong môn Ngữ văn, hình thức tham quan dã ngoại thường là đến

Trang 27

30

quê hương của các danh nhân hoặc bối cảnh được nói đến trong các tác phẩm, gặp gỡ các nhà văn, nhà thơ hoặc hậu bối của họ để tìm hiểu thêm về thân thế, cuộc đời, con người tác giả hoặc hình mẫu nhân vật, từ đó hiểu thêm về tác phẩm

 Qua hoạt động này, các em sẽ có những trải nghiệm xã hội, hoàn thiện

kỹ năng sống, kỹ năng làm việc nhóm

 Tuy nhiên ở hình thức này, giáo viên phải chú ý cách thức tổ chức nếu không sẽ biến chuyến đi trải nghiệm là một buổi tham quan dã ngoại, là một cuộc đi chơi có phần nhàm chán (vì những địa điểm gắn với tác phẩm văn chương của chúng

ta sẽ không vui, không đẹp bằng các khu giải trí hiện đại)

 Các bước tổ chức hoạt động trải nghiệm gắn với hình thức tham quan dã ngoại:

 Bước 1: Xác định mục tiêu hoạt động Thông qua hình thức dã ngoại, HS được củng cố, khắc sâu nội dung, ý nghĩa của các tác giả, tác phẩm HS hiểu biết về không gian văn hóa được gợi ra trong tác phẩm, tình hình chính trị xã hội, đặc điểm cuộc sống, con người của địa phương và làm quen với phương pháp “trả tác phẩm về cho HS”, phương pháp dạy học dự án

HS hình thành và rèn luyện một số kỹ năng: lấy thông tin, làm việc nhóm, thuyết trình, tổ chức sự kiện, quan sát rút ra những nhận xét, xử lý tình huống…

HS được bồi đắp tình yêu với đất nước, với văn chương nghệ thuật…

 Bước 2: Lập kế hoạch hoạt động Xác định thời gian thực hiện (Cụ thể hóa thời gian đi, thời gian chuẩn bị là bao nhiêu tuần, mỗi tuần làm công việc gì; Thời gian báo cáo sản phẩm trong chuyến

đi và sau chuyến đi; Thời gian đánh giá, chia sẻ về sản phẩm; GV yêu cầu HS sử dụng thời gian tự học ở nhà để hoàn thành các công việc của cá nhân và nhóm theo kế hoạch GV và HS, HS trong các nhóm có thể gặp trực tiếp hoặc trao đổi với nhau qua các phương tiện CNTT như: điện thoại, máy tính kết nối Internet, qua các hình thức như: qua facebook, zalo, messenger, email, qua ứng dụng google form…)

Xác định địa điểm, phương tiện di chuyển, hành trình và các hoạt động trong suốt hành trình (GV phải xem xét rõ về địa điểm đến, tính kỹ phương án đi đảm bảo an toàn cho HS; lên kế hoạch lịch trình rõ ràng, nên có sự kết hợp nhiều hình thức trải nghiệm trong hình thức tham quan dã ngoại như: sân khấu hóa, tổ chức trò chơi, diễn đàn…)

Xác định thiết bị và vật tư (SGK, máy tính kết nối Internet, băng đĩa về tiểu phẩm, sổ tay, bút viết, máy ảnh, máy quay, smart phone…); Nếu chuyến đi có kết hợp với những hình thức trải nghiệm khác có thể thêm các thiết bị và vật tư như: nguyên

Trang 28

31

vật liệu chế tạo đạo cụ, tạo bối cảnh, tạo âm thanh tiếng động, chuẩn bị trang phục

Có thể linh hoạt việc sử dụng thiết bị và vật tư phù hợp với điều kiện thực tế

Xác định hình thức tổ chức, hình thức hoạt động (theo phạm vi lớp hay khối lớp hoặc toàn trường…)

Xác định hình thức đánh giá sản phẩm sau chuyến đi

 Bước 3: Hoạt động chuẩn bị cho chuyến tham quan Chia lớp thành các nhóm theo sở thích và năng lực dựa trên tinh thần tự nguyện: Nhóm sân khấu hóa (viết kịch bản về tác phẩm liên quan đến chuyến đi, chuẩn bị đạo cụ, trang phục, bối cảnh sân khấu (nếu có thể), lên kế hoạch tập luyện theo kịch bản); Nhóm tổ chức trò chơi (đọc tài liệu, tìm hiểu kỹ về hành trình, đưa ra những câu hỏi liên quan đến kiến thức về tác phẩm, tác giả của chuyến đi, những ngành nghề truyền thống, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa của địa phương để đưa

ra những câu hỏi hoặc dự kiến tổ chức trò chơi); Nhóm CNTT (phụ trách quay phim, chụp ảnh, lấy tư liệu, làm phóng sự bằng hình video sau chuyến đi); Nhóm hậu cần (chuẩn bị nước uống, đồ ăn, những loại thuốc thông thường, đảm bảo sức khỏe cho cả đoàn trong chuyến đi)

GV theo sát các nhóm, kiểm tra quá trình chuẩn bị, hỗ trợ các nhóm khi gặp khó khăn GV phối hợp cùng Chi hội phụ huynh của lớp, GVCN để chuẩn bị tốt cho

HS trong chuyến đi

Kinh phí từ nguồn đóng góp của phụ huynh HS và các cơ quan, tổ chức quan tâm đến giáo dục

 Bước 4: Tổ chức chuyến đi Đến địa điểm tham quan; Thăm các khu di tích, tưởng niệm của các tác giả, nghe thuyết minh, trao đổi, thảo luận về các tác giả, tác phẩm; Giao lưu văn hóa với nhân dân địa phương; Thăm các làng nghề truyền thống; Tìm hiểu về ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương; Tổ chức hoạt động chung cho cả đoàn như: biểu diễn các tác phẩm đã được sân khấu hóa, tổ chức trò chơi,…

 Bước 5: Tổng kết, đánh giá về chuyến đi và các sản phẩm sau chuyến đi

Tống kết về những điều đã làm được trong chuyến đi: kiến thức, kỹ năng được hình thành, thái độ tích cực của HS, sự chuẩn bị của các nhóm…

Rút kinh nghiệm về những hạn chế: ví dụ về khâu chuẩn bị cơ sở vật chất của nhóm hậu cần, nhóm làm sân khấu hóa đã đạt được như sự kỳ vọng của các thành viên trong đoàn chưa

Yêu cầu HS làm sản phẩm sau chuyến đi: Viết bài thu hoạch về tác giả, tác phẩm, về những ngành nghề truyền thống, về văn hóa địa phương,…hoặc thể hiện

Trang 29

+ Hình thức tổ chức diễn đàn, hội thảo:

 Hình thức hội thảo, diễn đàn tạo cơ hội cho học sinh tìm hiểu về một vấn đề văn học, chủ động bày tỏ những quan điểm cá nhân thậm chí có thể trái chiều với quan điểm của các nhà giáo dục Đây là môi trường để học sinh khẳng định vai trò

cá nhân

 Trong hình thức này, giáo viên là người điều hành, lắng nghe, định hướng cho học sinh những suy nghĩ tích cực, những cách hiểu đúng về văn học, từ đó hướng các em tới những cảm xúc, suy nghĩ tốt đẹp

 Các bước tổ chức diễn đàn, hội thảo:

 Bước 1: Xác định mục tiêu hoạt động

Tổ chức diễn đàn, hội thảo về một chủ đề, vấn đề văn học thiết thực đối với quá trình học tập, nhận thức, bồi dưỡng tâm hồn của HS

Thông qua hình thức diễn đàn, tổ chức hội thảo HS được nghiên cứu về vấn

đề một cách khoa học, được bày tỏ quan điểm, lập trường riêng

HS hình thành và rèn luyện một số kỹ năng: lấy thông tin, làm việc nhóm, thuyết trình, nghiên cứu khoa học, tổ chức sự kiện…

HS được bồi đắp tình yêu với văn chương nghệ thuật…

 Bước 2: Lập kế hoạch hoạt động Xác định thời gian thực hiện (Cụ thể hóa thời gian là bao nhiêu tuần, mỗi tuần làm công việc gì; GV sử dụng linh hoạt thời gian trên lớp hoặc ngoài giờ học để hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động: tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin, xây dựng

ý tưởng sản phẩm; Thời gian báo cáo sản phẩm, đánh giá, chia sẻ về sản phẩm; GV yêu cầu HS sử dụng thời gian tự học ở nhà để hoàn thành các công việc của cá nhân và nhóm theo kế hoạch GV và HS, HS trong các nhóm có thể gặp trực tiếp hoặc trao đổi với nhau qua các phương tiện CNTT như: điện thoại, máy tính kết nối Internet, qua các hình thức như: qua facebook, zalo, messenger, email, qua ứng dụng google form…)

Xác định thiết bị và vật tư (SGK, máy tính kết nối Internet, sổ tay, bút viết,…) Có thể linh hoạt việc sử dụng thiết bị và vật tư phù hợp với điều kiện thực tế

Xác định hình thức tổ chức, hình thức hoạt động (theo phạm vi lớp hay khối lớp hoặc toàn trường); có thể tổ chức diễn đàn trên các trang mạng, hay website

Xác định hình thức đánh giá sản phẩm

Trang 30

33

 Bước 3: Tổ chức hoạt động chuẩn bị Chuẩn bị điều kiện vật chất: thiết bị và vật tư, địa điểm tổ chức diễn đàn, hội thảo GV phân công cụ thể công việc cho từng HS, hoặc nhóm HS

Chia lớp thành các nhóm (Cần chú ý mỗi nhóm có cả nam và nữ, với các tính cách khác nhau như mạnh dạn và nhút nhát…; theo sở trường, sở thích…Các HS trong cùng nhóm ở gần nhà nhau để các em thuận lợi khi làm việc ở nhà): mỗi nhóm viết một về vấn đề được đặt ra trong hội thảo, diễn đàn

HS tìm kiếm thông tin (HS có thể tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, truyện, thơ, tranh ảnh, băng đĩa, Internet, qua chính các tác giả, các nhà phê bình, …)

HS xử lý thông tin: GV trực tiếp kiểm tra các phiếu thông tin và tư liệu HS

đã tìm kiếm được, hướng dẫn HS lập sơ đồ tư duy về các nội dung có liên quan đến vấn đề hội thảo GV yêu cầu các nhóm về hoàn thành sơ đồ tư duy

HS trao đổi, thảo luận trong nhóm, để đi đến thống nhất viết thành sản phẩm GV góp ý, sửa sản phẩm cho từng nhóm

Sau khi các nhóm hoàn thành sản phẩm thì phô tô tài liệu của nhóm mình trao đổi với các nhóm khác để các nhóm khác nghiên cứu, phản biện, trao đổi trong quá trình hội thảo

GV chủ động phối hợp với GV chủ nhiệm, các GV trong tổ và phụ huynh

HS để hỗ trợ HS chuẩn bị bối cảnh, thiết bị và vật tư chuẩn bị cho buổi hội thảo, diễn đàn GV chủ động giám sát các buổi hoạt động của HS để tư vấn, hỗ trợ kịp thời

 Bước 4: Tổ chức diễn đàn, hội thảo Công tác truyền thông: Giới thiệu về mục đích, hình thức tổ chức hội thảo, diễn đàn trên Facebook cá nhân, trên các trang website của Đoàn trường, nhà trường (nếu tổ chức ở quy mô cấp trường)

GV tùy vào điều kiện mà tổ chức cho HS làm ở quy mô lớp, nhóm lớp, khối lớp, cả trường; Trong quá trình hội thảo, tổ chức diễn đàn, GV phân công hoặc trực tiếp điều hành quản lý HS

 Bước 5: Đánh giá sản phẩm và hoạt động Tiêu chí đánh giá về sản phẩm: Chất lượng các bài báo cáo

Tiêu chí đánh giá về hoạt động: Các thành viên trong hội thảo và diễn đàn tích cực, chủ động trong quá trình hội thảo trên tinh thần tôn trọng và sẵn sàng hợp tác, tương trợ lẫn nhau

+ Hình thức triển lãm:

 Những tác phẩm văn chương, hay những sáng tác của chính học sinh sẽ được trưng bày thành một triển lãm theo những chủ đề nhất định, gắn với những kiến thức nhất định, để tất cả các học sinh khác có thể thưởng lãm, cảm nhận Các sản

Trang 31

 Trong hình thức này, giáo viên là người điều hành, cùng học sinh lên ý tưởng và thực hiện Hình thức này thường có một quá trình chuẩn bị rất lâu vì thế giáo viên phải là người truyền lửa để học sinh có thể cháy hết mình vì những đam mê

 Các bước tổ chức triển lãm:

 Bước 1: Xác định mục tiêu hoạt động

Tổ chức triển lãm về một chủ đề, vấn đề văn học thiết thực đối với quá trình học tập, nhận thức, bồi dưỡng tâm hồn của HS

Thông qua hình thức tổ chức triển lãm HS được nghiên cứu về vấn đề một cách khoa học, được bày tỏ quan điểm, lập trường riêng, được sáng tạo với hiều hình thức khác nhau: vẽ tranh, viết truyện tranh, làm mô hình, làm phim ngắn, làm poster

HS hình thành và rèn luyện một số kỹ năng: lấy thông tin, làm việc nhóm, thuyết trình, nghiên cứu khoa học, tổ chức sự kiện…

HS được bồi đắp tình yêu với văn chương nghệ thuật…

 Bước 2: Lập kế hoạch hoạt động Xác định thời gian thực hiện (Cụ thể hóa thời gian là bao nhiêu tuần, mỗi tuần làm công việc gì; GV sử dụng linh hoạt thời gian trên lớp hoặc ngoài giờ học để hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động: tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin, xây dựng

ý tưởng sản phẩm; Thời gian báo cáo sản phẩm, đánh giá, chia sẻ về sản phẩm; GV yêu cầu HS sử dụng thời gian tự học ở nhà để hoàn thành các công việc của cá nhân và nhóm theo kế hoạch GV và HS, HS trong các nhóm có thể gặp trực tiếp hoặc trao đổi với nhau qua các phương tiện CNTT như: điện thoại, máy tính kết nối Internet, qua các hình thức như: qua facebook, zalo, messenger, email, qua ứng dụng google form…)

Xác định thiết bị và vật tư (SGK, máy tính kết nối Internet, sổ tay, bút viết, băng đĩa…) Có thể linh hoạt việc sử dụng thiết bị và vật tư phù hợp với điều kiện thực

Trang 32

HS tìm kiếm thông tin (HS có thể tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, truyện, thơ, tranh ảnh, băng đĩa, Internet, qua chính các tác giả, các nhà phê bình, …)

HS xử lý thông tin: GV trực tiếp kiểm tra các phiếu thông tin và tư liệu HS

đã tìm kiếm được, hướng dẫn HS lập sơ đồ tư duy về các nội dung có liên quan đến vấn đề triển lãm GV yêu cầu các nhóm về hoàn thành sơ đồ tư duy

HS trao đổi, thảo luận trong nhóm, để đi đến thống nhất trong việc hình thành sản phẩm GV góp ý, sửa sản phẩm cho từng nhóm

GV chủ động phối hợp với GV chủ nhiệm, các GV trong tổ và phụ huynh

HS để hỗ trợ HS chuẩn bị bối cảnh, thiết bị và vật tư chuẩn bị cho buổi triển lãm GV chủ động giám sát các buổi hoạt động của HS để tư vấn, hỗ trợ kịp thời

 Bước 4: Tổ chức triển lãm Công tác truyền thông: Giới thiệu về mục đích, hình thức tổ chức triển lãm trên Facebook cá nhân, trên các trang website của Đoàn trường, nhà trường (nếu tổ chức ở quy mô cấp trường)

GV tùy vào điều kiện mà tổ chức cho HS làm ở quy mô lớp, nhóm lớp, khối lớp, cả trường; Trong quá trình tổ chức triển lãm, GV trực tiếp điều hành quản lý HS theo các công việc đã được phân công

 Bước 5: Đánh giá sản phẩm và hoạt động Tiêu chí đánh giá về sản phẩm: Chất lượng các sản phẩm trong triển lãm Tiêu chí đánh giá về hoạt động: Các thành viên trong tổ chức triển lãm tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình làm việc cá nhân và nhóm trên tinh thần tôn trọng và sẵn sàng hợp tác, tương trợ lẫn nhau

Hình thức: GV có thể lập một ban giám khảo đánh giá và lấy phiếu bình chọn từ HS Yêu cầu HS (khán giả) bình chọn cho các tiết mục theo hạng mục: sản phẩm ấn tượng nhất của triển lãm, sản phẩm yêu thích nhất của triển lãm, sản phẩm thiết thực nhất của triển lãm, người giới thiệu hay nhất về sản phẩm …

GV nêu câu hỏi gợi ý HS chia sẻ về quá trình tìm kiếm thông tin; quá trình chuẩn bị, quá trình làm sản phẩm,…để xác nhận về quá trình HS thực hiện hoạt động

và kiến thức, năng lực HS đạt được qua chủ đề

Trang 33

36

GV tập hợp phiếu bình chọn của HS, đưa ra tổng kết, nhận xét, đánh giá chung toàn bộ quá trình hoạt động của HS và sản phẩm các nhóm

+ Hình thức hội thi/ cuộc thi:

 Hội thi/ cuộc thi là một hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện, định hướng những giá trị của tuổi trẻ

 Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể, luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/ đội thắng cuộc

 Mục đích của hội thi/ cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng nhu cầu học tập, vui chơi cho các em; thu hút tài năng và sự sáng tạo của học sinh; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần bồi dưỡng cho các

em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức

 Có thể tổ chức những Hội thi/ cuộc thi như: Hội thi “Sân khấu hóa tác phẩm văn học”; Cuộc thi sáng tác viết về đề tài người lính; Cuộc thi vẽ chân dung nhân vật em yêu thích…

 Các bước tổ chức hội thi:

 Bước 1: Xác định mục tiêu hoạt động

Tổ chức hội thi về một chủ đề, vấn đề văn học thiết thực đối với quá trình học tập, nhận thức, bồi dưỡng tâm hồn của HS

Thông qua hình thức hội thi HS được nghiên cứu về vấn đề một cách khoa học, được bày tỏ quan điểm, lập trường riêng, được sáng tạo với tác phẩm văn học qua nhiều hình thức tùy thuộc vào hình thức hội thi

HS hình thành và rèn luyện một số kỹ năng: lấy thông tin, làm việc nhóm, thuyết trình, nghiên cứu khoa học, tổ chức sự kiện…

HS được bồi đắp tình yêu với văn chương nghệ thuật…

 Bước 2: Lập kế hoạch hoạt động Xác định thời gian thực hiện (Cụ thể hóa thời gian là bao nhiêu tuần, mỗi tuần làm công việc gì; GV sử dụng linh hoạt thời gian trên lớp hoặc ngoài giờ học để hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động: tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin, xây dựng

ý tưởng sản phẩm; Thời gian báo cáo sản phẩm, đánh giá, chia sẻ về sản phẩm; GV yêu cầu HS sử dụng thời gian tự học ở nhà để hoàn thành các công việc của cá nhân và nhóm theo kế hoạch GV và HS, HS trong các nhóm có thể gặp trực tiếp hoặc trao đổi với nhau qua các phương tiện CNTT như: điện thoại, máy tính kết nối Internet, qua

Trang 34

Chia lớp thành các nhóm (Cần chú ý mỗi nhóm có cả nam và nữ, với các tính cách khác nhau như mạnh dạn và nhút nhát…; theo sở trường, sở thích…Các HS trong cùng nhóm ở gần nhà nhau để các em thuận lợi khi làm việc ở nhà): mỗi nhóm phụ trách về một vấn đề của hội thi

HS tìm kiếm thông tin (HS có thể tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, truyện, thơ, tranh ảnh, băng đĩa, Internet, qua chính các tác giả, các nhà phê bình, …)

HS xử lý thông tin: GV trực tiếp kiểm tra các phiếu thông tin và tư liệu HS

đã tìm kiếm được, hướng dẫn HS lập sơ đồ tư duy về các nội dung có liên quan đến vấn đề hội thi GV yêu cầu các nhóm về hoàn thành sơ đồ tư duy

HS trao đổi, thảo luận trong nhóm, để đi đến thống nhất tạo thành sản phẩm GV góp ý, sửa sản phẩm cho từng nhóm

GV chủ động phối hợp với GV chủ nhiệm, các GV trong tổ và phụ huynh

HS để hỗ trợ HS chuẩn bị bối cảnh, thiết bị và vật tư chuẩn bị cho hội thi GV chủ động giám sát các buổi hoạt động của HS để tư vấn, hỗ trợ kịp thời

 Bước 4: Tổ chức hội thi Công tác truyền thông: Giới thiệu về mục đích, hình thức tổ chức hội thi, diễn đàn trên Facebook cá nhân, trên các trang website của Đoàn trường, nhà trường (nếu tổ chức ở quy mô cấp trường)

GV tùy vào điều kiện mà tổ chức cho HS làm ở quy mô lớp, nhóm lớp, khối lớp, cả trường; Trong quá trình hội thi, GV phân công hoặc trực tiếp điều hành quản lý

HS

 Bước 5: Đánh giá sản phẩm và hoạt động Tiêu chí đánh giá về sản phẩm: Chất lượng các sản phẩm trong hội thi theo các tiêu chí đã được đặt ra ngay từ ban đầu Có thể điều chỉnh các tiêu chí đánh giá nếu trong quá trình hoạt động thực tế thấy có những điểm chưa hợp lý

Trang 35

38

Tiêu chí đánh giá về hoạt động: Các thành viên trong hội thi tích cực, chủ động trong quá trình làm việc cá nhân và nhóm trên tinh thần tôn trọng và sẵn sàng hợp tác, tương trợ lẫn nhau

Hình thức: GV có thể lập một ban giám khảo đánh giá và lấy phiếu bình chọn từ HS Yêu cầu HS (khán giả) bình chọn cho các tiết mục theo hạng mục: sản phẩm ấn tượng nhất của hội thi, sản phẩm yêu thích nhất của hội thi, sản phẩm txuất sắc nhất của hội thi, …Tùy vào hình thức các hội thi có thể bình chọn theo các hạng mục khác nhau

GV nêu câu hỏi gợi ý HS chia sẻ về quá trình tìm kiếm thông tin; quá trình chuẩn bị, quá trình làm sản phẩm,…để xác nhận về quá trình HS thực hiện hoạt động

và kiến thức, năng lực HS đạt được qua chủ đề

GV tập hợp phiếu bình chọn của HS, đưa ra tổng kết, nhận xét, đánh giá chung toàn bộ quá trình hoạt động của HS và sản phẩm các nhóm

 Giáo viên có thể chỉ là người hướng dẫn cho một nhóm học sinh làm, điều chỉnh những kiến thức cho chuẩn xác

=> Giáo viên nắm chắc các dạng thức, hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong quá trình dạy học môn Ngữ văn để vận dụng sáng tạo khi chọn ra một hoặc phối hợp nhiều hình thức trải nghiệm phù hợp nhất với đối tượng học sinh của mình, với nội dung kiến thức của môn học

2.3.2.Cần nâng cao khả năng lập kế hoạch, công tác chuẩn bị, quá trình tổ chức và kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm khi tổ chức hoạt động trải nghiệm trong quá trình dạy học môn Ngữ văn

2.3.2.1 Cần nâng cao khả năng lập kế hoạch về tổ chức hoạt động trải nghiệm gắn với môn Ngữ văn

Giáo viên cần phải lập các loại kế hoạch về tổ chức hoạt động trải nghiệm như sau:

Trang 36

39

- Kế hoạch cho cả năm học

- Kế hoạch cho từng hoạt động trải nghiệm

2.3.2.1.1 Lập kế hoạch cho cả năm học

Kế hoạch cho cả năm học cần phải có những yêu cầu sau:

-Phân tích tình hình: tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức để từ

đó tìm ra hình thức tổ chức hoạt động cho từng giai đoạn

Khi phân tích tình hình cần trả lời cho các câu hỏi:

+ Lớp mình dạy có bao nhiêu học sinh nam, bao nhiêu học sinh nữ?

+ Học sinh theo học ban nào: KHXH hay KHTN?

+ Trình độ, thái độ của học sinh với môn Ngữ văn như thế nào? Nguyên nhân?

+ Điều kiện gia cảnh chung của học sinh?

+ Khi tham gia hoạt động trải nghiệm gắn với môn Ngữ văn học sinh mong muốn điều gì?

-Xác định mục tiêu: Giáo viên cần phải xác định mục tiêu cho các hoạt động trải nghiệm

+ Hoạt động trải nghiệm này gắn với kiến thức nào?

+ Học sinh được trải nghiệm điều gì?

+ Học sinh cần đạt được phẩm chất, năng lực gì?

+ Học sinh cần đạt được những kiến thức gì?

-Trong bản kế hoạch cần thấy được những nội dung sau:

+ Đối tượng tham gia

- Kế hoạch hoạt động là kế hoạch cho một hoạt động trải nghiệm cụ thể

- Trong kế hoạch có thể triển khai các nội dung như sau:

+ Tiêu đề: Tên chủ đề gắn với sản phẩm, bài học trong môn học

+ Mục tiêu: Định hướng sản phẩm cần thực hiện, kiến thức cần chiếm lĩnh - vận dụng, hoạt động HS cần làm

+ Thời gian: Khoảng thời gian tổ chức, thời điểm bắt đầu tổ chức Có thể điều chỉnh thời gian để tổ chức dưới một trong các hình thức sau:

 Tổ chức dạy trong các tiết trên lớp: Dạy theo chủ đề, chương trình nhà trường,

ôn tập, củng cố…

Trang 37

+ Các giai đoạn hoạt động

 Giai đoạn tìm kiếm thông tin:

 Hướng dẫn HS đọc SGK, các bài liên quan đến kiến thức của sản phẩm và viết vào phiếu thu thập thông tin với các từ khóa tương ứng của từng chủ đề Đây là nội dung quan trọng để đánh giá HS có đạt chuẩn kiến thức kĩ năng hay không

 Hướng dẫn tìm kiếm thông tin theo những từ khóa từ các ngồn khác (Internet, thư viện,…) để mở rộng kiến thức, đào sâu kiến thức và gắn bài học với thực tiễn Hoạt động này cũng nhằm mục đích phát huy năng lực khai thác và sử dụng công nghệ thông tin để định hướng kỹ năng, năng lực nghề nghiệp cho HS trong thế kỉ XXI

 Giai đoạn xử lý thông tin:

 Sơ đồ hóa những thông tìm kiếm được theo định hướng kiến thức,

kĩ năng của chủ đề và của sản phẩm Giai đoạn này phát huy mạnh năng lực tư duy hình ảnh, sáng tạo và thể chế kiến thức của HS

 Do khả năng tổng hợp của HS còn chưa tốt nên GV cần hướng dẫn

cụ thể cho HS trong quá trình sơ đồ hóa kiến thức, thông tin tìm kiếm được

 Giai đoạn xây dựng ý tưởng cho sản phẩm: Xây dựng và định hình ý tưởng sản phẩm của chủ đề từ các thông tin tìm kiếm đã được xử lý Giai đoạn này HS sẽ huy động, vận dụng kiến thức đã học vào một sản phẩm trong thực tiễn, GV cần để HS bộc

lộ ý tưởng và xác nhận sự phù hợp của kiến thức vận dụng vào sản phẩm

 Giai đoạn thực hiện, xây dựng sản phẩm: Xây dựng, thực hiện các sản phẩm theo các bước nhằm cụ thể hóa ý tưởng đã đề xuất thành sản phẩm thật của chủ đề

 Giai đoạn trình bày, báo cáo sản phẩm:

 HS báo cáo quá trình thực hiện sản phẩm, quá trình học tập của cả nhóm

 Giai đoạn này HS thể hiện sâu sắc giá trị của mình để khẳng định bản thân nên GV cần có những câu hỏi để HS giãi bày, chiêm nghiệm và xác nhận quá trình sáng tạo, cố gắng của HS

Trang 38

41

 Giai đoạn đánh giá sản phẩm và hoạt động của HS: GV có thể dự kiến cách đánh giá như sau:

 Nhóm tự đưa ra đánh giá sản phẩm theo các tiêu chí và đánh giá theo

ý tưởng đã đề xuất Có 3 mức độ để HS tự đánh giá đồng đẳng với nhau đó là: cá nhân

HS tự đánh giá đóng góp của mình với nhóm, các thành viên trong nhóm tự đánh giá đóng góp của mình với nhóm, các thành viên trong trong nhóm tự đánh giá hoạt động của nhóm, các nhóm tự đánh giá chéo nhau khi trình bày báo cáo GV cần để HS tự chủ, dân chủ trong đánh giá lẫn nhau

 Dựa vào tiêu chí đánh giá, GV xác định việc tổ chức thực hiện sản phẩm và học tập là đạt hay không đạt Ghi nhận mức độ đóng góp của từng cá nhân thực hiện trong nhóm theo kết quả tự đánh giá của HS và kết quả đánh giá đồng đẳng giữa các em

 Có thể dựa vào các sản phẩm hoặc hình thức sau để đánh giá HS khi trình bày báo cáo: Qua sản phẩm, tập san; Qua trình bày báo cáo và các câu hỏi; Qua hoạt động biểu diễn, thực hiện; Qua hồ sơ học tập, phiếu học tập…

 Phụ lục (nếu có): Cung cấp thông tin và bổ sung các thông tin về chủ đề của sản phẩm

 Cần xác định cần những phương tiện máy móc gì hỗ trợ cho hoạt động?

Có thể huy động từ đâu? (Từ nhà trường, giáo viên, học sinh hay phụ huynh, hay các

cơ quan đoàn thể có thể liên kết hỗ trợ…)

 Ai là người chuẩn bị? Cần phải có sự phân công cụ thể, ghi bằng biên bản để phân công trách nhiệm

 Nguồn kinh phí lấy từ đâu? (Từ ngân sách nhà trường hỗ trợ, từ phụ huynh học sinh, từ các cơ quan đoàn thể liên kết, từ những doanh nghiệp muốn quảng cáo hình ảnh…)

+ Chuẩn bị về các công việc cụ thể:

Trang 39

42

 Giáo viên phải xác định cho học sinh rõ ràng đây là hoạt động học tập chứ không phải là hình thức vui chơi giải trí để học sinh làm các công việc được phân công một cách nghiêm túc

 Chia học sinh theo các nhóm tùy thuộc vào năng lực và sở thích Giao công việc một cách cụ thể với những kế hoạch về thời gian thực hiện và hoàn thành Luôn theo dõi, kiểm tra tiến độ, chất lượng công việc, có sự giúp đỡ kịp thời Giáo viên tránh tình trạng giao công việc một cách chung chung, bỏ buông học sinh trong quá trình làm việc

Ví dụ: Trong Kế hoạch tham quan – học tập thực tế tại làng Đại Hoàng, quê hương của nhà văn Nam Cao chỉ riêng có một chương trình giao lưu học tập tại sân đình của làng, chúng tôi đã phải giao cho 4 nhóm học sinh làm việc với sự phân công cụ thể như sau:

Nhóm 1: Chuyển thể tác phẩm Chí Phèo sang hình thức sân khấu (có thể chọn

đóng kịch, chọn hình thức múa đương đại hoặc nhảy …) Nhóm này gồm 10 em Giáo viên phải họp nhóm xem học sinh nào là nhóm trưởng, ai viết kịch bản, ai là đạo diễn,

ai là diễn viên, ai hóa trang, thuê trang phục đạo cụ, ai phụ trách phần nhạc, tập thời gian nào, địa điểm ở đâu…Giáo viên phải là người cung cấp đường link, trang web hướng dẫn học sinh có nguồn tham khảo

Nhóm 2: Nhóm tổ chức trò chơi Nhóm này phải sáng tạo các hình thức chơi để gắn với nội dung học được từ tác phẩm và từ chuyến đi trải nghiệm Vì thế công việc của nhóm này có một phần bị trước ở nhà và một phần thu hoạch được trong quá trình tham quan Nhóm này gồm có 5 em có kiến thức văn học tốt (có 1 nhóm trưởng) Giáo viên là người họp nhóm, duyệt kiến thức, tư vấn hình thức trò chơi, cung cấp các tên sách, nguồn học liệu để giúp các em hoàn thành tốt công việc

Với cả 2 nhóm giáo viên có thể hướng dẫn cụ thể học sinh tra cứu Internet: các trang sau để tìm tài liệu (word, hình ảnh, âm thanh, video, file nhạc (beat, có lời)… về tác giả, tác phẩm) và tải các phần mềm ứng dụng cần thiết

Trang 40

 GV cần có sự làm việc cụ thể trước với các lực lượng phối hợp để tổ chức tốt hoạt động trải nghiệm

Ví dụ: Trong chuyến tham quan thực tế tại làng Đại Hoàng (quê hương của Nam Cao), chúng tôi đã chủ động liên hệ trước với bác Trần Hữu Vịnh phụ trách trông coi khu tưởng niệm của nhà văn Nam Cao, bác Nguyễn Thị Hồng trông coi khu di tích nhà Bá Kiến, bác Trần Luận- chủ cơ sở cá kho Trần Luận, bác Nguyễn Long- phó giám đốc công ty dệt may Châu Giang… về thời gian, về số lượng HS tham gia, về nội dung cần thuyết minh và trao đổi GV chuẩn bị càng chu đáo thì hoạt động trải nghiệm càng đạt được hiệu quả như mục tiêu đề ra

2.3.2.3 Cần quan sát và giải quyết kịp thời các tình huống phát sinh trong quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm

- Trong quá trình tổ chức, giáo viên phải là người điều hành chung, quan sát những tình huống bất thường và có cách xử lý phù hợp trên nguyên tắc bảo đảm an toàn cho học sinh, tôn trọng, yêu thương, sẻ chia cùng các em

2.3.2.4 Cần chú trọng khâu kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm khi tổ chức hoạt động trải nghiệm trong quá trình dạy học môn Ngữ văn

- Kiểm tra, đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm là khâu chúng ta hay bỏ qua hoặc làm

sơ khoáng trong quá trình thực hiện hoạt động trải nghiệm Người thực hiện tổ chức hoạt động trải nghiệm cần phải có khâu kiểm tra đối với học sinh để đánh giá về kết quả thu được và rút kinh nghiệm để lần sau tổ chức các hoạt động tốt hơn

- Có 2 hình thức: HS tự đánh giá và GV đánh giá

- Trong quá trình kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm phải được các câu hỏi:

+ Sản phẩm thu được sau hoạt động là gì?

+ Chất lượng sản phẩm đó như thế nào?

+ Năng lực của học sinh như thế nào? Có tiến bộ hơn so với trước đó?

+ Hoạt động đó có phù hợp môn học, bài học hay không?

+ Hoạt động đã thực hiện được mục tiêu đề ra hay chưa?

+ Những thành công và tồn tại của hoạt động?

Ngày đăng: 27/04/2021, 22:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w