GIỚI THIỆU
Bối cảnh
Mạng lưới các tổ chức phi chính phủ Việt Nam về Thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (VNGO-FLEGT) đã hợp tác với tổ chức FERN trong nhiều năm để nâng cao năng lực và sự tham gia của tổ chức xã hội vào các cuộc thảo luận đa bên trong tiến trình đàm phán VPA-FLEGT giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) Kể từ năm 2012, VNGO-FLEGT đã thực hiện nhiều nghiên cứu và tham vấn nhằm thúc đẩy đối thoại về mối quan tâm của cộng đồng địa phương, hướng tới một thỏa thuận pháp lý nhằm chấm dứt khai thác gỗ bất hợp pháp và cải thiện quản trị rừng Sau khi ký kết thỏa thuận, Chính phủ Việt Nam đã tăng cường nội luật hóa các cam kết VPA và kết nối thể chế thông qua Ủy ban thực hiện chung (JIC) và Nhóm nòng cốt đa bên để đáp ứng các yêu cầu đánh giá và giám sát tác động của VPA.
Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) tiếp tục hợp tác với FERN thông qua mạng lưới VNGO-FLEGT để phát triển và thử nghiệm khung giám sát tác động của VPA-FLEGT đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành chế biến gỗ tại Việt Nam Sáng kiến này hỗ trợ các hộ dân trồng rừng và cộng đồng sống dựa vào rừng, là một phần của dự án Rừng, Quản Trị, Thị trường và Khí hậu (FGMC) do DFID tài trợ, với sự quản lý và điều phối của FERN cùng các đối tác địa phương tại Ghana, Liberia, Việt Nam, Cameroon và Cộng hòa Cong-go trong giai đoạn 2019-2021.
Dự án tại Việt Nam hướng đến việc thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả và bao trùm với sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội, đồng thời nâng cao hiểu biết về các quy trình thảo luận liên quan đến giám sát FTAs Áp dụng Lý thuyết thay đổi, SRD sẽ tập trung vào việc củng cố mạng lưới tổ chức xã hội trong lĩnh vực lâm nghiệp, như VNGO-FLEGT, xây dựng năng lực và tính chính danh cho các hoạt động giám sát, phát triển công cụ giám sát quản trị, và đào tạo đại diện tổ chức xã hội để họ có thể tham gia đánh giá tác động của VPA-FLEGT đối với ngành gỗ Thiết kế này phù hợp với cam kết tại Điều 15 của Hiệp định VPA-FLEGT về sự tham gia của các bên liên quan và thiết lập cơ chế giám sát đa bên trước khi thực hiện VPA.
Dự án FGMC sẽ chứng kiến sự hợp tác giữa mạng lưới VNGO-FLEGT và SRD, những đơn vị tiên phong tại Việt Nam trong việc thử nghiệm cơ chế giám sát tác động của VPA-FLEGT Họ sẽ phát triển một khung chỉ số và bộ công cụ giám sát tác động của VPA đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành chế biến gỗ Sự tham gia của tổ chức xã hội và hiệp hội ngành gỗ là yếu tố quan trọng, tạo tiền đề cho việc vận hành nhóm giám sát đa bên và thúc đẩy thảo luận về việc thực hiện VPA.
Mục tiêu nghiên cứu
Thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức xã hội và hiệp hội doanh nghiệp ngành gỗ là rất quan trọng trong việc phát triển, tham vấn và thử nghiệm bộ chỉ số giám sát tác động của VPA-FLEGT đến doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) trong ngành chế biến gỗ (CNCBG) ở Việt Nam.
Tăng cường năng lực cho các tổ chức xã hội và hiệp hội trong việc lập kế hoạch và thực hiện các thí điểm nhằm giám sát tác động của VPA/FLEGT đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là rất quan trọng Việc này bao gồm việc thu thập thông tin cần thiết để đánh giá hiệu quả và tác động của các chính sách này đối với sự phát triển bền vững của DNVVN.
Báo cáo thử nghiệm giám sát tác động của VPA-FLEGT đến DNVVN được thực hiện qua việc tổng hợp và phân tích thông tin, tham vấn kết quả, và biên soạn báo cáo cơ sở (baseline).
TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH VPA-FLEGT VÀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ VIỆT NAM
Hiệp định VPA-FLEGT và triển vọng phát triển ngành gỗ Việt Nam
Sau 8 năm đàm phán, Chính phủ Việt Nam và Liên minh châu Âu đã ký Hiệp định VPA-FLEGT vào tháng 10 năm 2018, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/6/2019 Mục tiêu của hiệp định này là đảm bảo rằng tất cả gỗ và sản phẩm gỗ được sản xuất hợp pháp, từ đó thúc đẩy thương mại các sản phẩm gỗ có nguồn gốc từ rừng được quản lý bền vững Nghị quyết số 25/NQ-CP được ban hành vào ngày 23/4/2019 đã phê duyệt hiệp định này, tạo nền tảng cho việc hợp tác giữa Việt Nam và EU trong lĩnh vực quản lý lâm sản.
EU và Việt Nam hợp tác nhằm giải quyết vấn đề khai thác và buôn bán gỗ bất hợp pháp trong các chuỗi cung ứng xuyên quốc gia, không chỉ giới hạn trong Việt Nam hay EU Việc thực hiện VPA-FLEGT thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc thúc đẩy "Thương mại và Phát triển bền vững", một yếu tố quan trọng trong Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA), dự kiến có hiệu lực từ giữa năm 2020.
Hiệp định VPA-FLEGT gồm 27 điều và 09 phụ lục, cùng với việc thành lập Ủy ban thực thi chung Việt Nam-EU (JIC) để giám sát và đánh giá việc thực hiện cam kết Ủy ban này cũng đảm bảo cơ chế đối thoại và chia sẻ thông tin giữa hai bên Việt Nam đã thiết lập Nhóm nòng cốt đa bên về VPA-FLEGT, hoạt động như một diễn đàn nhằm tăng cường công tác tuyên truyền và giám sát độc lập việc thực thi hiệp định Một số điều và phụ lục quan trọng của VPA-FLEGT được liệt kê trong bảng dưới đây.
Bảng 1 Một số điều và phụ lục quan trọng của VPA-FLEGT Điều Phụ lục
1 Mục tiêu I Danh mục hàng hóa đưa vào hiệp định VPA
3,4,6 Cơ chế cấp phép FLEGT; Cơ quan cấp phép; Giấy phép FLEGT IV Cơ chế cấp phép FLEGT
5 Các cơ quan có thẩm quyền
7 Định nghĩa gỗ sản xuất hợp pháp II Định nghĩa gỗ hợp pháp
Xác minh gỗ sản xuất hợp pháp; Áp dụng Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp của Việt Nam và các biện pháp khác
V Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp của Việt Nam
Tiêu chí đánh giá tính sẵn sàng vận hành của
Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp của Việt Nam
VI Đề cương cho nhiệm vụ đánh giá độc lập
15 Sự tham gia của các bên liên quan trong thực thi Hiệp định
18 Ủy ban thực thi chung IX Chức năng của Ủy ban thực thi chung
19 Báo cáo và công bố thông tin VIII Công bố thông tin
15 Hiệu lực, thời hạn và chấm dứt
Hiệp định VPA-FLEGT sẽ được thực hiện khi cơ chế cấp phép FLEGT hoạt động, cho phép xuất khẩu gỗ hợp pháp sang EU với giấy phép FLEGT, từ đó mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cho các bên liên quan tại Việt Nam Chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản quy phạm như Nghị định về Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp (VNTLAS) và Thông tư 27/2018/TT-BNNPTNT nhằm kiểm soát khai thác và buôn bán gỗ bất hợp pháp JIC cũng sẽ xây dựng các hướng dẫn đánh giá độc lập để đảm bảo thực hiện VNTLAS và cấp phép FLEGT Các công cụ giám sát này không chỉ thúc đẩy cung ứng gỗ hợp pháp mà còn thiết lập nền tảng cho quản trị tốt ngành lâm nghiệp Việt Nam.
Hiệp định VPA-FLEGT mang lại cơ hội phát triển đột phá cho ngành công nghiệp gỗ Việt Nam, với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 20 tỷ USD vào năm 2025 Để đạt được điều này, ngành gỗ cần mở rộng quy mô sản xuất và chủ động trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu "gỗ sạch" Cải thiện chất lượng lao động và phát triển bền vững chuỗi giá trị lâm nghiệp từ trồng rừng đến xuất khẩu là rất quan trọng, thông qua các liên kết dọc và ngang giữa doanh nghiệp và cộng đồng Việc tạo ra nguồn nguyên liệu gỗ sạch từ rừng trồng "sản xuất sạch" trên "đất sạch" là điều cần thiết để tái định hướng phát triển cho gần 4 triệu ha rừng trồng hiện có, trong bối cảnh còn nhiều rủi ro và thách thức trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cộng đồng địa phương.
Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam đạt 11,3 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 10% và sự tham gia của 4.500 doanh nghiệp, trong đó có 3.800 doanh nghiệp nội địa Mặc dù xếp sau Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc, Liên minh châu Âu vẫn là thị trường xuất khẩu đồ gỗ quan trọng nhất của Việt Nam, với giá trị xuất khẩu đang tăng lên 1 tỷ USD mỗi năm.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong lĩnh vực lâm nghiệp tại Việt Nam được quy định tại Điều 6 của Nghị định số 39/2018/NĐ-CP, ban hành ngày 11/3/2018, theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm này bao gồm các tiêu chí xác định cụ thể nhằm phân loại và hỗ trợ phát triển DNVVN trong ngành lâm nghiệp.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực lâm nghiệp được định nghĩa là doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người, tổng doanh thu hàng năm không vượt quá 50 tỷ đồng, hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng Tuy nhiên, doanh nghiệp này không được xếp vào loại siêu nhỏ, mà siêu nhỏ được xác định là doanh nghiệp có không quá 10 lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm, tổng doanh thu không quá 3 tỷ đồng, hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực lâm nghiệp được xác định là những doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân hàng năm không vượt quá 200 người, tổng doanh thu hàng năm không quá 200 tỷ đồng, hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng Tuy nhiên, loại hình doanh nghiệp này không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ.
Theo Bộ NN-PTNT (2019), đến cuối năm 2018, Việt Nam có khoảng 4.500 doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản, trong đó 3.900 doanh nghiệp nội địa (86,7%) và 600 doanh nghiệp FDI Các doanh nghiệp vừa chế biến vừa xuất khẩu chiếm 30,3% tổng số, với giá trị xuất khẩu đồ gỗ năm 2018 đạt 9,3 tỷ USD, trong đó doanh nghiệp FDI chiếm 70% Hầu hết doanh nghiệp trong ngành thuộc khu vực tư nhân (khoảng 95%), thu hút khoảng 500.000 lao động, với 55-60% là lao động được đào tạo và làm việc ổn định, còn lại là lao động giản đơn theo mùa vụ (40-45%), chưa tính đến lực lượng lao động lớn trong lĩnh vực trồng rừng ở khu vực nông thôn miền núi.
Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, với vốn điều lệ dưới 50 tỷ đồng, chiếm khoảng 93% tổng số doanh nghiệp, trong khi các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn có vốn trên 50 tỷ đồng chỉ chiếm phần còn lại (Bộ NN-PTNT, 2018) Mặc dù chưa có báo cáo chi tiết về số lượng và phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành chế biến gỗ tại Việt Nam, nhưng rõ ràng đây là nhóm doanh nghiệp chiếm ưu thế, đặc biệt là cùng với các doanh nghiệp siêu nhỏ.
Hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) trong ngành chế biến gỗ bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chủ yếu hoạt động dưới các hình thức pháp nhân như công ty tư nhân, công ty TNHH và công ty cổ phần Rà soát sơ bộ cho thấy DNVVN tham gia vào nhiều công đoạn của chuỗi cung ứng, từ khai thác hoặc nhập khẩu đến xuất khẩu, theo quy định của VNTLAS về các điểm kiểm soát quan trọng trong việc xác minh nguồn gốc gỗ, như được nêu tại Mục 6.2 của Hiệp định VPA FLEGT.
Nguồn cung gỗ cho sản xuất và chế biến đến từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: (i) gỗ khai thác chính từ rừng tự nhiên trong nước; (ii) gỗ tận thu từ rừng tự nhiên; (iii) gỗ từ rừng trồng phòng hộ; (iv) gỗ từ rừng trồng sản xuất; (v) gỗ cao su; (vi) gỗ thu mua sau xử lý tịch thu; và (vii) gỗ nhập khẩu.
• Vận chuyển và giao dịch (lần đầu và các lần tiếp theo)
• Chế biến/sản xuất các loại đồ gỗ/sản phẩm gỗ
Các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong ngành chế biến và thương mại đồ gỗ tham gia vào nhiều chuỗi giá trị khác nhau, cả ở thị trường nội địa và quốc tế Đặc biệt, quy mô và mức độ đa dạng hóa của quá trình cung ứng của họ có thể thay đổi theo thời gian để tận dụng các cơ hội lợi nhuận Theo báo cáo của NEPCON và Forest Trends (2018), các doanh nghiệp này gắn bó chặt chẽ với khoảng 30 làng nghề đồ gỗ, bao gồm 2000-3000 hộ gia đình và 3000-8000 lao động Họ cũng kết nối với 1,4 triệu hộ gia đình trồng rừng hoặc có đất lâm nghiệp, trong đó có cả cộng đồng dân tộc thiểu số, cung cấp gỗ nguyên liệu nội địa chủ yếu là keo cho chế biến dăm gỗ và đồ gỗ khác, bên cạnh gần 260.000 hộ gia đình trồng cao su tiểu điền.
Hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Việt Nam, bao gồm cả ngành gỗ, phải tuân thủ các quy định pháp luật như Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014, và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 2017 Các luật này yêu cầu doanh nghiệp tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, như Công ước CITES Do đó, cơ cấu vận hành và hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNVVN bị ảnh hưởng bởi nhiều khung pháp lý, chính sách quốc gia và quốc tế, cùng với các yếu tố khác như bối cảnh chính trị, biến động thị trường, và năng lực vốn cũng như khoa học công nghệ.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khung nghiên cứu
Khung nghiên cứu được hình thành dựa trên các quy định của VPA, bao gồm điều 15 về sự tham gia của các bên liên quan, Phụ lục IX về chức năng của Ủy ban thực thi chung, và điều 10 cùng Phụ lục IV liên quan đến đánh giá định kỳ VNTLAS và cơ chế cấp phép FLEGT Dựa trên các nội dung này, DNVVN sẽ chịu tác động mạnh mẽ từ năm quy định trong VPA, dẫn đến năm ảnh hưởng cụ thể đến các doanh nghiệp.
Khung giám sát
Khung giám sát bao gồm các nội dung, chỉ số và công cụ cần thiết để thu thập thông tin Dựa trên khung nghiên cứu, một khung giám sát đã được phát triển từ kết quả tham vấn với các bên liên quan như VNGO-FLEGT và các chuyên gia trong lĩnh vực gỗ và lâm sản Quá trình tham vấn và hình thành khung giám sát trải qua 4 bước rõ ràng.
1 Tạo lập, xác minh và phê duyệt bằng chứng tại tất cả các công đoạn của chuỗi cung
2 Hệ thống phân loại tổ chức và xác minh dựa trên rủi ro (5.4.1)
3 Kiểm soát chuỗi cung ứng
4 Xác minh xuất khẩu (7.1.1 và
5 Lưu trữ và quản lý dữ liệu
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1 Mức độ tiếp cận thông tin, đáp ứng và sẵn sàng
2 Sản xuất, thị trường và hiệu quả kinh doanh
3 Quản trị và chính sách lâm nghiệp địa phương
Hình 2 Quá trình tham vấn xây dựng khung giám sát
Kết quả tham vấn đã thống nhất một khung giám sát tác động của VPA-FLET đối với DNVVN, bao gồm 3 nhóm tác động, 10 tiêu chí và 25 chỉ số (Phụ lục 1).
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) trong lĩnh vực lâm nghiệp, được xác định theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ Tiêu chí xếp hạng DNVVN dựa trên (i) số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân và (ii) tổng doanh thu của doanh nghiệp.
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật chọn mẫu phi ngẫu nhiên để xác định các doanh nghiệp Cụ thể, phương pháp chọn mẫu theo phán đoán được áp dụng, trong đó các doanh nghiệp được lựa chọn dựa trên sự đánh giá phù hợp với các tiêu chí đã đề ra.
Rà soát Hiệp định VPA và yêu cầu dự án là bước quan trọng trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu về giám sát tác động đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) Cuộc họp tham vấn VNGO-FLEGT do SRD tổ chức tại Hà Nội đã thu hút sự tham gia của các chuyên gia trong mạng lưới, nhằm đóng góp ý kiến cho khung nội dung giám sát tác động Qua đó, các chuyên gia đã thảo luận và đưa ra các lựa chọn phù hợp cho nội dung giám sát, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc thực hiện các chính sách liên quan.
Dự thảo Khung chỉ số giám sát tác động của VPA đối với DNVVN; tham vấn chuyên gia các hiệp hội gỗ/lâm sản và mạng lưới VNGO-FLEGT
Tổ chức tập huấn và hướng dẫn cho các hiệp hội chế biến gỗ và lâm sản như FPA Bình Định và Hiệp hội Cao su Việt Nam nhằm lựa chọn khung chỉ số giám sát, đồng thời phát triển công cụ thu thập thông tin DNVVN dựa trên các góp ý kỹ thuật.
Trong nghiên cứu, 86 doanh nghiệp đã được phỏng vấn tại 7 tỉnh, với Hà Nội chiếm tỷ lệ cao nhất (21%) và Nghệ An đứng thứ hai (19%), trong khi Bắc Ninh chỉ có 2 doanh nghiệp tham gia Số lượng mẫu thu được phù hợp cho giai đoạn thử nghiệm giám sát về thể chế thực hiện, thời gian và nguồn lực Tuy nhiên, nghiên cứu chưa có đại diện doanh nghiệp từ các khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, cũng như một số địa bàn trọng điểm về CNCBG, trồng rừng sản xuất và xuất nhập khẩu gỗ như Đông Bắc Bộ (Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định), Thừa Thiên Huế-Quảng Nam, Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương.
Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên năm vùng địa lý của Việt Nam, bao gồm: vùng đồng bằng Sông Hồng với hai tỉnh Hà Nội và Bắc Ninh, vùng Đông Bắc với tỉnh Bắc Ninh, vùng Bắc Trung Bộ với hai tỉnh Nghệ An và Quảng Trị, vùng Nam Trung Bộ với tỉnh Bình Định, và vùng Đông Nam Bộ với tỉnh Đồng Nai.
Hà Nội Bắc Ninh Phú Thọ Nghệ An Quảng Trị Bình Định Đồng Nai
Hình 4 Địa bàn nghiên cứu
Thu thập và phân tích số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo nghiên cứu, hiệp hội sản xuất gỗ và các trang web liên quan, cung cấp thông tin về số lượng doanh nghiệp và kim ngạch xuất nhập khẩu, cũng như các chính sách quy định liên quan đến doanh nghiệp.
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc điều tra trực tiếp các doanh nghiệp bằng bảng hỏi, trong đó nghiên cứu đã hợp tác với Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Binh Dinh).
Liên hiệp các hội khoa học-kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (PUSTA) cùng với Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung (CRD) và Trung tâm Môi trường và Tài nguyên sinh học tỉnh Nghệ An là bốn cơ quan quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại khu vực miền Trung Việt Nam.
Các điều tra viên tư vấn độc lập có kinh nghiệm về gỗ hợp pháp sẽ tiến hành điều tra tại làng nghề Họ đã được đào tạo kỹ lưỡng để đảm bảo thông tin thu thập được là chính xác và đầy đủ, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu.
Primary data collected is entered into Excel for verification and cleaning before being analyzed using R statistical software The main analyses conducted include descriptive statistics (mean, percentage, standard deviation, count), correlation analysis (Spearman rank), and differential analysis (Kruskal-Wallis test).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của các doanh nghiệp được khảo sát
Nghiên cứu đã thu thập và phân tích thông tin của 86 doanh nghiệp, bao gồm các đặc điểm liên quan đến hình thức sở hữu, pháp nhân đăng ký, lĩnh vực kinh doanh, và các tổ chức hiện có của công ty.
Bảng 2 Đặc điểm của các doanh nghiệp được khảo sát
1 Loại DN theo hình thức sở hữu
2 Loại DN theo pháp nhân đăng ký
3 Lĩnh vực đăng k ý kinh doanh
Trồng rừng, chăm sóc rừng và ươm giống cây lâm nghiệp
Khai thác gỗ; khai thác, thu nhặt lâm sản khác trừ gỗ
Hoạt động dịch vụ lâm nghiệp
Chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa
Sản xuất giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ
Bán buôn tre, nứa, gỗ cây và gỗ chế biến
Xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập-tái xuất, quá cảnh gỗ và đồ gỗ
4 Các tổ chức trong công ty
Tổ chức công đoàn 50 58,14 Đoàn thanh niên 5 5,81
Trong tổng số 86 đơn vị cung cấp thông tin, 78 doanh nghiệp tư nhân (DNTN) chiếm 90,7%, trong khi có 7 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và 1 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sở hữu tư nhân là hình thức phổ biến nhất trong các doanh nghiệp được khảo sát Theo Luật Doanh nghiệp (2014), 57% đơn vị tham gia là công ty trách nhiệm hữu hạn, bao gồm 20 công ty TNHH một thành viên và 29 công ty TNHH hai thành viên Ngoài ra, 39,5% là công ty cổ phần với 34 đơn vị, trong khi số lượng DNTN là tương đối nhỏ Điều này cho thấy gần 60% doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực chế biến gỗ thuộc loại hình công ty TNHH.
Theo khảo sát, 65% doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng trong thị trường nội địa, trong khi chỉ gần 35% hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu gỗ và đồ gỗ Gần 70% doanh nghiệp có hoạt động chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, và hơn 50% sản xuất đồ gỗ như giường, tủ, bàn ghế.
Theo nghiên cứu, nhiều doanh nghiệp đã thành lập tổ chức công đoàn, nhưng gần 42% doanh nghiệp vẫn chưa có Theo Nghị định 98/2014/NĐ-CP, doanh nghiệp có từ 5 thành viên trở lên có thể thành lập công đoàn Tỷ lệ tổ chức công đoàn cao nhất tập trung ở Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nội và Nghệ An, trong khi một số địa phương như Đồng Nai không có tổ chức công đoàn nào Phân tích cho thấy 85,7% doanh nghiệp nhà nước có công đoàn, trong khi tỷ lệ này chỉ đạt 56,4% ở doanh nghiệp tư nhân, 63,2% ở công ty TNHH và 53% ở công ty cổ phần Ngoài ra, sự hiện diện của hội phụ nữ và đoàn thanh niên trong doanh nghiệp rất thấp, với 98,8% đơn vị chưa có hội phụ nữ và chỉ gần 6% có đoàn thanh niên Thiếu các tổ chức xã hội này có thể làm suy yếu khả năng bảo vệ quyền lợi của người lao động và yêu cầu doanh nghiệp tuân thủ quy định về bảo hiểm xã hội, dẫn đến tỷ lệ lao động nữ tham gia BHXH thấp, nhiều nơi chưa đạt 50%.
Khả năng thích ứng và sẵn sàng tuân thủ thực hiện quy định về cung ứng gỗ/sản phẩm gỗ hợp pháp
4.2.1 M ức độ ti ế p c ậ n thông tin c ủ a doanh nghi ệ p v ề yêu c ầ u g ỗ h ợ p pháp và VPA-FLEGT
Từ góc độ pháp lý và quản lý nhà nước, khái niệm gỗ và lâm sản hợp pháp đã trở nên quen thuộc đối với các cá nhân và tổ chức sở hữu rừng, cũng như các đơn vị lâm nghiệp như lâm trường.
Từ năm 1991, khi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được ban hành và được sửa đổi vào năm 2004, hệ thống quy định về quản lý rừng và lâm sản đã được xây dựng và thực thi Luật Lâm nghiệp hiện hành đã tạo ra các quy trình và thủ tục rõ ràng, đồng thời quy định việc xử phạt các hành vi vi phạm hành chính và hình sự liên quan đến rừng Các cơ quan kiểm lâm từ trung ương đến địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và thực thi luật pháp về rừng và lâm sản.
Thông tư số 27/2018/TT-BNNPTNT và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP hiện đang được doanh nghiệp áp dụng để quản lý và truy xuất nguồn gốc lâm sản Kể từ năm 2010, ngành CNCBG đã có cơ hội tiếp cận thông tin về gỗ hợp pháp thông qua quá trình đàm phán VPA-FLEGT giữa Việt Nam và EU, với định nghĩa gỗ hợp pháp và VNTLAS là những phụ lục quan trọng Sau khi kết thúc đàm phán vào tháng 5/2017, các tài liệu này đã được Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN-PTNT, hiệp hội và NGOs chia sẻ rộng rãi Từ tháng 5/2019, VNForest đã dự thảo Nghị định quy định VNTLAS để tham vấn ý kiến doanh nghiệp và xã hội Như vậy, doanh nghiệp ngành gỗ hiện có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin về gỗ hợp pháp và VPA-FLEGT một cách minh bạch và dễ dàng Đánh giá mức độ tiếp cận thông tin được thực hiện qua hai chỉ số: số lượt tiếp cận thông tin và tự đánh giá hiểu biết của lãnh đạo, cán bộ quản lý về gỗ hợp pháp và VPA-FLEGT.
Tôi không biết!
2 Tham khảo: http://tongcuclamnghiep.gov.vn/LamNghiep/Index/tong-cuc-lam-nghiep-lay-y-kien-du-thao-nghi-dinh-quy- dinh-he-thong-bao-dam-go-hop-phap-viet-nam-4002
4.2.1.1 Số lượt tiếp cận thông tin của DN về yêu cầu gỗ hợp pháp và VPA-FLEGT
Hình 5 Số lượt tiếp cận thông tin của doanh nghiệp về yêu cầu gỗ hợp pháp VPA-FLEGT
Theo khảo sát, có đến 32,6% doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) chưa bao giờ có lãnh đạo hoặc cán bộ chủ chốt tham gia các sự kiện như hội nghị, hội thảo hay tập huấn liên quan đến gỗ hợp pháp và Hiệp định VPA-FLEGT Trong khi đó, 53,5% đại diện doanh nghiệp đã tham gia từ 1-5 lần, và 14% tham gia từ 6 lần trở lên Tổng cộng, gần 70% DNVVN trong khu vực khảo sát đã ít nhất một lần tiếp cận thông tin về cung ứng gỗ hợp pháp qua các sự kiện do bên ngoài tổ chức.
Số lượt tiếp cận thông tin về VPA-FLEGT không có sự khác biệt lớn giữa các loại hình doanh nghiệp, nhưng có sự khác biệt rõ rệt giữa các tỉnh khảo sát (P=0,00) Các tỉnh Bắc Ninh, Bình Định và Quảng Trị thường có số lượt tiếp cận cao hơn Kết quả này phù hợp với vai trò tích cực của các hội/hiệp hội như VIFOREST, FPA-BinhDinh và Hội đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ trong việc kết nối và thúc đẩy doanh nghiệp tham gia các sự kiện liên quan đến VPA-FLEGT, bao gồm tham vấn và hợp tác với các tổ chức NGOs như Forest Trends và EFI để nâng cao hiểu biết cho lãnh đạo doanh nghiệp về khung nội dung LD và VNTLAS.
4.2.1.2 Tự đánh giá mức độ hiểu biết của lãnh đạo, cán bộ quản lý của các DNVVN về gỗ hợp pháp hoặc VPA-FLEGT
Mức độ hiểu biết của lãnh đạo doanh nghiệp về VPA-FLEGT ảnh hưởng đến khả năng điều chỉnh của doanh nghiệp nhằm tuân thủ các quy định liên quan Hiện có hơn 38% doanh nghiệp có hiểu biết dưới mức trung bình và gần 40% có hiểu biết trung bình, trong khi chỉ có một tỷ lệ nhỏ doanh nghiệp có hiểu biết tốt hoặc rất tốt Cụ thể, trung bình cứ 5 doanh nghiệp thì chỉ có 1 đơn vị có lãnh đạo hoặc cán bộ quản lý hiểu biết tốt về gỗ hợp pháp và VPA-FLEGT.
Hình 6 Tự đánh giá mức độ hiểu biết về gỗ hợp pháp hay VPA-FLEGT
Tiếp cận thông tin về VPA-FLEGT, dù trực tiếp hay gián tiếp, có tác động rõ rệt đến mức độ hiểu biết của doanh nghiệp Phân tích dữ liệu cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa việc tiếp cận thông tin và mức độ hiểu biết (P