Việt Nam hiện tham gia bao nhiêu FTA?
Tính đến tháng 11 năm 2016, Việt Nam hiện tham gia 16 Hiệp định Thương mại
Việt Nam hiện có tổng cộng 10 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký và thực hiện, 02 FTA đã ký nhưng chưa thực hiện, 01 FTA đã hoàn tất đàm phán và 03 FTA vẫn đang trong quá trình đàm phán.
Các FTA đã ký và đã thực hiện
ATIGA AANZFTA ACFTA AIFTA AJCEP AKFTA VCFTA VJEPA VKFTA VN-EAEU FTA
Các FTA đã ký và chưa thực hiện
TPP AHKFTA FTA cơ bản kết thúc đàm phán VN-EU FTA
Các FTA chưa kết thúc đàm phán
EFTA-VN FTA VN-Israel FTA RCEP
Quy tắc xuất xứ (ROO) là gì?
Quy tắc xuất xứ, theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là bộ tiêu chí cần thiết để xác định nguồn gốc quốc tịch của hàng hóa Định nghĩa này ngày càng trở nên phổ biến trong các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) toàn cầu, bao gồm cả các FTA mà Việt Nam tham gia Trong đó, quy tắc xuất xứ ưu đãi (Preferential ROO) đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các tiêu chí này.
10 quy định được thiết kế để đảm bảo hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan FTA, miễn là chúng tuân thủ các quy định về xuất xứ áp dụng trong FTA đó.
Mục đích của Quy tắc xuất xứ là gì?
Quy tắc xuất xứ đóng vai trò như "quốc tịch" của hàng hóa, giúp hải quan xác định nguồn gốc hàng hóa và liệu chúng có đủ điều kiện nhận ưu đãi thuế quan hay không Trong các hiệp định thương mại tự do (FTA), quy tắc này đảm bảo rằng chỉ những hàng hóa có xuất xứ từ FTA mới được hưởng ưu đãi thuế quan, trong khi hàng hóa từ bên ngoài FTA sẽ không được áp dụng ưu đãi này.
Quy tắc xuất xứ đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng giữa thuận lợi hóa thương mại và phòng tránh gian lận thương mại Một bộ quy tắc xuất xứ đơn giản, linh hoạt và dễ áp dụng sẽ thúc đẩy thương mại, trong khi đó, các tiêu chí quá lỏng lẻo có thể dẫn đến gian lận Ngược lại, một bộ quy tắc chặt chẽ và phức tạp, mặc dù giúp kiểm soát tốt hơn, lại có thể làm giảm tính thuận lợi trong giao dịch thương mại.
"Thuận lợi hóa thương mại" được thực hiện thông qua việc thiết lập bộ "quy tắc xuất xứ" nhằm cân bằng giữa việc tạo điều kiện thương mại và ngăn chặn gian lận Điều này giúp đánh giá hiệu quả của Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đối với những người sử dụng quy tắc xuất xứ để nhận ưu đãi thuế quan.
Quy tắc xuất xứ đóng vai trò quan trọng trong việc đo lường mức độ thụ hưởng ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) Tỷ lệ này được tính bằng kim ngạch xuất khẩu sử dụng Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi đến các thị trường thành viên FTA so với tổng kim ngạch xuất khẩu chung đến các thị trường này Tỷ lệ tận dụng ưu đãi càng cao cho thấy số lượng hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ ưu đãi và được hưởng thuế quan ưu đãi càng lớn.
Năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Trung Quốc đạt 21.98 tỷ USD, trong đó 6.8 tỷ USD được hưởng ưu đãi C/O mẫu E Tỷ lệ tận dụng ưu đãi của hàng hóa Việt Nam trong Hiệp định ACFTA là 31%, được xem là mức trung bình, không cao cũng không thấp, so với các FTA toàn cầu.
Trong năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Chi-lê đạt 805,4 triệu USD, trong đó 514,5 triệu USD được hưởng ưu đãi từ C/O mẫu VC Tỷ lệ tận dụng ưu đãi này lên tới 64%, cho thấy đây là một con số tương đối cao so với các FTA khác mà Việt Nam đã thực hiện.
Hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ ưu đãi sẽ được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi hoặc tự chứng nhận xuất xứ, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để được hưởng ưu đãi thuế quan từ FTA Điều này sẽ thúc đẩy việc tìm kiếm và sản xuất nguyên phụ liệu, hàng hóa trong khuôn khổ FTA, đồng thời kích thích đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên của FTA để tận dụng lợi ích mà FTA mang lại.
Có bao nhiêu loại quy tắc xuất xứ?
Có hai loại quy tắc xuất xứ chính: "quy tắc xuất xứ ưu đãi" và "quy tắc xuất xứ không ưu đãi" Quy tắc ưu đãi giúp hàng hóa được hưởng thuế quan ưu đãi tại thị trường nhập khẩu, trong khi quy tắc không ưu đãi không nhằm mục đích này tại các thị trường mà Việt Nam không có FTA Đặc biệt, trong một số trường hợp, quy tắc không ưu đãi có thể trở thành quy tắc ưu đãi khi hàng hóa xuất khẩu từ thị trường X vào thị trường Z phải chịu thuế tự vệ hoặc thuế chống bán phá giá cao hơn mức thuế MFN Khi đó, hàng hóa từ thị trường Y vào thị trường Z có thể chịu thuế MFN thấp hơn, và C/O không ưu đãi phát hành từ thị trường Y sẽ là căn cứ pháp lý để thị trường Z loại trừ hàng hóa nhập khẩu từ thị trường X khỏi thuế tự vệ hoặc thuế chống bán phá giá.
Theo Quyết định số 1105/QĐ-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành ngày 30 tháng 5 năm 2017, thuế chống bán phá giá đối với tôn mạ màu mã HS 7210.41.11 nhập khẩu từ Trung Quốc (nhà sản xuất Tangshan Branch) là 38,34% Mức thuế ACFTA là 15% và thuế MFN là 20% Nếu nhà nhập khẩu Việt Nam chọn nhập khẩu từ Đài Loan với C/O không ưu đãi, mức thuế MFN 20% sẽ thấp hơn thuế chống bán phá giá 38,34% áp dụng cho hàng hóa từ Trung Quốc, do đó C/O không ưu đãi này trở thành "ưu đãi" vì mức thuế phải chịu thấp hơn.
Trong “Quy tắc xuất xứ ưu đãi” có ưu đãi đơn phương, song phương và đa phương:
(i) Ưu đãi đơn phương là Ưu đãi thuế quan mà các nền kinh tế phát triển
Các nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU cung cấp ưu đãi thuế quan một chiều cho các nước đang phát triển hoặc kém phát triển như Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia và Bangladesh Những ưu đãi này không phải là kết quả của các cuộc đàm phán Khi nền kinh tế phát triển (A) nhận thấy nền kinh tế đang hoặc kém phát triển (B) đã có sự trưởng thành trong một số ngành hàng cụ thể, A có thể quyết định rút lại các ưu đãi thuế quan đã cấp cho B.
Thuế suất ưu đãi GSP cho tôm thành phẩm từ Việt Nam vào EU là 7% Kể từ 01/01/2015, EU đã ngừng cấp ưu đãi thuế cho tôm từ Thái Lan do ngành tôm nước này đã phát triển Tôm Thái Lan xuất khẩu vào EU phải chịu thuế MFN 20%, tương đương với thuế suất áp dụng cho tôm từ Ấn Độ Việt Nam không có nghĩa vụ phải áp dụng mức thuế tương đương cho sản phẩm nhập khẩu từ EU.
Ưu đãi song phương là kết quả của quá trình đàm phán các FTA và thỏa thuận thương mại song phương Hiện nay, Việt Nam đã ký kết các FTA với Nhật Bản, Hàn Quốc và Chi-lê Nếu xem ASEAN hoặc EAEU như một thị trường thống nhất, ACFTA có thể được coi là hiệp định song phương giữa ASEAN và Trung Quốc Ngoài ra, FTA giữa Việt Nam và EU cũng được xem là một hiệp định song phương giữa Việt Nam và thị trường chung của 28 thành viên EU.
Ưu đãi đa phương là kết quả của quá trình đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) hoặc thỏa thuận thương mại có sự tham gia của hơn hai bên Các hiệp định như TPP và RCEP là ví dụ điển hình của FTA đa phương, với sự tham gia của nhiều quốc gia có trình độ phát triển khác nhau.
Quy tắc xuất xứ ưu đãi được xác định bởi các tiêu chí như xuất xứ thuần túy (WO), xuất xứ thuần túy FTA (WO-AK hoặc WO-RCEP), sản phẩm được sản xuất hoàn toàn từ nguyên liệu có xuất xứ (PE), chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC), hàm lượng giá trị khu vực (RVC), công đoạn gia công chế biến cụ thể (SP) hoặc sự kết hợp của các tiêu chí này Các FTA trước đây thường có quy tắc chung (GR) và quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR), trong khi một số FTA chỉ áp dụng quy tắc chung mà không có quy tắc cụ thể Các FTA ký sau này hoặc được sửa đổi từ phiên bản cũ thường chỉ bao gồm danh mục quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR) với đầy đủ các mã.
HS cấp độ 6 số từ Chương 01 đến Chương cuối của Biểu thuế cho thấy các FTA có PSR nhưng không có quy tắc chung được đánh giá là thân thiện với người sử dụng Điều này giúp dễ dàng tra cứu, tương tự như Biểu thuế Xu hướng này đang trở thành phổ biến trong các cuộc đàm phán FTA gần đây và sẽ tiếp tục trong tương lai.
HS là gì?
Hệ thống HS (Harmonized System) là công cụ tiêu chuẩn hóa quốc tế dùng để mô tả và mã hóa hàng hóa, phục vụ cho việc phân loại hàng hóa thương mại toàn cầu Được xây dựng và duy trì bởi Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), hệ thống này hiện có 179 quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam, quốc gia gia nhập WCO vào năm 1993.
Vì sao quy tắc CTC không vượt quá cấp độ 6 số?
Quy tắc Chuyển đổi mã số HS (CTC) bao gồm ba cấp độ: CC (chuyển đổi Chương ở cấp độ 2 số), CTH (chuyển đổi Nhóm ở cấp độ 4 số) và CTSH (chuyển đổi phân nhóm ở cấp độ 6 số) Danh mục HS quốc tế chỉ phân loại hàng hóa đến cấp độ 6 số, trong khi các thành viên WCO có thể sử dụng thêm các chữ số 8 và 10 để phân loại hàng hóa chi tiết hơn và xác định mức thuế suất cụ thể Tại các quốc gia thành viên WCO, các Chương, Nhóm và Phân nhóm của hàng hóa gần như giống nhau, vì vậy quy tắc xuất xứ CTC không vượt quá cấp độ Phân nhóm 6 số.
Hệ thống HS được phân chia thành ba cấp độ: Chương, Nhóm và Phân nhóm Ví dụ này minh chứng rằng khi số lượng mã HS tăng lên, mô tả về hàng hóa sẽ trở nên cụ thể và chi tiết hơn.
Vì sao mã HS khai trên C/O ưu đãi FTA là mã HS của Bên nhập khẩu?
Mã HS ở các cấp độ 2 số, 4 số và 6 số thường giống nhau giữa các thành viên WCO, nhưng các thành viên có thể bổ sung thêm số (8 số, 10 số) để chi tiết hóa mặt hàng, giúp việc áp thuế quan thuận lợi hơn Do đó, mã HS giữa Bên xuất khẩu và Bên nhập khẩu có thể khác nhau Cơ quan hải quan Bên nhập khẩu sẽ quyết định xem mã HS của sản phẩm nhập khẩu có phù hợp với thực tế hàng hóa và tiêu chí xuất xứ khai báo hay không, từ đó xác định khả năng hưởng ưu đãi thuế quan đặc biệt từ FTA Vì vậy, mã HS được khai trên C/O ưu đãi FTA là mã HS của Bên thành viên nhập khẩu.
Cùng một sản phẩm A, trong trường hợp nào thì A được coi là hàng hóa và trong trường hợp nào thì A được coi là nguyên liệu?
A được xem là nguyên liệu khi nó đóng vai trò là yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng Ngược lại, A trở thành hàng hóa khi được sử dụng trong giao dịch thương mại (mua – bán) với mục đích cuối cùng là tiêu dùng.
Làm thế nào để phân biệt một nguyên liệu có xuất xứ (A) và một nguyên liệu không có xuất xứ/ không xác định được xuất xứ (B)?
nguyên liệu không có xuất xứ/ không xác định được xuất xứ (B)?
A là nguyên liệu đáp ứng quy định về xuất xứ trong các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) và được sử dụng để sản xuất hàng hóa Mỗi FTA có các quy định xuất xứ khác nhau, do đó A có thể là nguyên liệu có xuất xứ trong AANZFTA nhưng không có xuất xứ trong ACFTA nếu không tuân thủ các quy tắc xuất xứ riêng của từng hiệp định.
Khi B không tuân thủ các quy định về xuất xứ trong Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), B vẫn có thể được nhập khẩu trong khuôn khổ của FTA nhưng không đáp ứng tiêu chí xuất xứ Ngoài ra, B cũng có khả năng được nhập khẩu ngoài phạm vi của FTA và có thể không xác định được xuất xứ ban đầu.
Làm thế nào để phân biệt một hàng hóa có xuất xứ (A) và một hàng hóa không có xuất xứ/ không xác định được xuất xứ (B)?
Hàng hóa được coi là A khi đáp ứng các quy định về xuất xứ trong FTA và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ ưu đãi (C/O) hoặc Tự chứng nhận xuất xứ (TCNXX) ưu đãi Chỉ những sản phẩm có xuất xứ như A mới đủ điều kiện nhận ưu đãi thuế quan đặc biệt theo FTA.
Sản phẩm B sẽ không được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi nếu không đáp ứng quy định về xuất xứ trong Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việc nhập khẩu B trong khuôn khổ FTA không đồng nghĩa với việc sản phẩm này có xuất xứ từ FTA Chỉ khi B có C/O ưu đãi hoặc được hưởng ưu đãi thuế quan đặc biệt theo quy định của TCNXX, sản phẩm mới được công nhận có xuất xứ FTA.
Bột, sữa và trứng là những nguyên liệu chính để sản xuất bánh, trong khi bánh trở thành hàng hóa khi được bán cho người tiêu dùng.
“Sữa” cũng sẽ được coi là hàng hóa khi được bán cho người tiêu dùng, thay vì sử dụng để tạo ra “bánh” thành phẩm.
Thế nào là “xuất xứ thuần túy”?
“WO” hay “Xuất xứ thuần túy” là một tiêu chí quan trọng để xác định nguồn gốc hàng hóa Đây là tiêu chí nghiêm ngặt nhất trong hệ thống quy tắc xuất xứ, giúp đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong việc xác định xuất xứ sản phẩm.
20 tiễn thương mại quốc tế như hiện nay, không có nhiều các sản phẩm đáp ứng tiêu chí này
WO là hàng hóa được sản xuất hoàn toàn trong lãnh thổ của Bên thành viên xuất khẩu hoặc từ nguyên liệu có xuất xứ thuần túy của Bên đó Đối với động vật sống như gà, bò, nếu chúng được sinh ra và nuôi dưỡng tại Việt Nam, thì sẽ được coi là có xuất xứ thuần túy Việt Nam.
Hàng hoá được coi là có xuất xứ thuần túy hoặc được coi là sản xuất toàn bộ tại Nước thành viên xuất khẩu trong các trường hợp sau:
Cây trồng và sản phẩm từ cây trồng bao gồm quả, hoa, rau, tảo biển, nấm và nhiều loại cây khác, tất cả đều được trồng, thu hoạch hoặc thu lượm tại địa phương.
Động vật sống bao gồm nhiều loại như động vật có vú, chim, cá, giáp xác, động vật thân mềm, bò sát, cũng như vi khuẩn và virus, tất cả đều được sinh ra và nuôi dưỡng tại các nước thành viên xuất khẩu.
3 Các hàng hoá chế biến từ động vật sống tại Nước thành viên xuất khẩu
4 Hàng hoá thu được từ săn bắn, đánh bẫy, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản, thu lượm hoặc săn bắt tại Nước thành viên xuất khẩu
Khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên khác không được đề cập trong các khoản 1 đến 4 của Điều này, được chiết xuất hoặc thu thập từ đất, biển, đáy biển hoặc dưới đáy biển của quốc gia thành viên.
Sản phẩm đánh bắt từ tàu đăng ký tại một Nước thành viên và treo cờ của Nước thành viên đó, cùng với các sản phẩm khác khai thác từ vùng biển lãnh hải, đáy biển hoặc dưới đáy biển ngoài vùng lãnh hải của Nước thành viên, phải đảm bảo rằng Nước thành viên đó có quyền khai thác theo luật quốc tế.
Sản phẩm đánh bắt và các sản phẩm từ biển khác phải được thu hoạch từ vùng biển bởi tàu thuyền được đăng ký và treo cờ của một Nước thành viên.
Sản phẩm chế biến và sản xuất trên tàu được đăng ký và treo cờ của một Nước thành viên, ngoại trừ các sản phẩm quy định tại khoản 7 Điều này.
Các sản phẩm khác bao gồm khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên được khai thác từ vùng biển lãnh hải, đáy biển, hoặc dưới đáy biển ngoài lãnh hải.
Sản phẩm đánh bắt ngoài vùng lãnh hải được coi là có xuất xứ từ Nước thành viên nếu tàu khai thác được đăng ký và treo cờ của Nước thành viên đó, đồng thời Nước thành viên có quyền khai thác theo luật quốc tế.
3 Theo luật quốc tế, việc đăng ký tàu chỉ có thể được tiến hành tại một Nước thành viên
Các vật phẩm thu nhặt tại nước đó không còn khả năng thực hiện chức năng ban đầu và không thể sửa chữa hay khôi phục Chúng chỉ có thể được vứt bỏ, sử dụng làm nguyên vật liệu hoặc tái chế.
Phế thải và phế liệu được phân loại từ hai nguồn chính: thứ nhất, chúng phát sinh từ quá trình sản xuất tại các nước thành viên xuất khẩu; thứ hai, chúng là hàng hóa đã qua sử dụng được thu gom tại các nước này, với điều kiện rằng hàng hóa đó chỉ phù hợp để sử dụng làm nguyên vật liệu thô.
11 Hàng hoá thu được hoặc được sản xuất tại một Nước thành viên xuất khẩu từ các sản phẩm được quy định từ khoản 1 đến khoản 10 Điều này
(Định nghĩa về xuất xứ thuần túy trong Hiệp định Thương mại Hàng hóa
Theo quy định của ASEAN (ATIGA), các khoản 9 và 10 trong định nghĩa về xuất xứ thuần túy coi phế thải và phế liệu là có xuất xứ thuần túy, do đó sẽ tự động được khai báo theo tiêu chí này.
WO trên C/O ưu đãi và TCNXX ưu đãi liên quan đến các FTA thế hệ mới như TPP, trong đó phế thải, phế liệu và các hàng hóa tương tự được định nghĩa rõ ràng.
Các khoản 8 và 9 nêu trên có khả năng đáp ứng bất kỳ tiêu chí nào phù hợp với bản chất của hàng hóa và quy định PSR cho hàng hóa đó Do đó, hàng hóa có thể được ghi các tiêu chí khác trên C/O hoặc TCNXX mà không nhất thiết phải tuân theo tiêu chí cụ thể nào.
WO như trong ATIGA và một số FTA ASEAN Cộng khác
12.“WO” trong phạm vi lãnh thổ một Bên thành viên hay nhiều hơn một Bên thành viên?
Tiêu chí “PE” có nghĩa là gì?
PE là viết tắt của sản phẩm được sản xuất hoàn toàn từ nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng Các trường hợp sau đây có thể được coi là đạt tiêu chí "PE":
Sản phẩm được sản xuất hoàn toàn từ nguyên liệu đạt tiêu chí WO, như trường hợp "WO-TPP" ở câu số 12, cho thấy nguồn gốc nguyên liệu thuần túy Ngoài ra, sản phẩm cũng đáp ứng tiêu chí RVC, CTC và/hoặc tiêu chí công đoạn gia công chế biến cụ thể (SP).
(iii) Được sản xuất toàn bộ từ các nguyên liệu đáp ứng tiêu chí PE;
(iv) Được sản xuất toàn bộ từ các nguyên liệu đáp ứng tiêu chí WO, PE hoặc RVC, CTC hoặc SP
Tiêu chí PE, WO-FTA và RVC 100% giống nhau hay khác nhau?
Tiêu chí RVC 100% là một phần của tiêu chí PE, nhưng không phải lúc nào PE cũng đồng nghĩa với RVC 100% Tiêu chí PE yêu cầu 100% nguyên liệu sử dụng phải đáp ứng tiêu chí WO-FTA, tức là không có nguyên liệu nào không có xuất xứ hoặc không xác định được xuất xứ Ngược lại, tiêu chí RVC 100% có thể cho phép một phần nguyên liệu không có xuất xứ hoặc không xác định được xuất xứ.
Thương nhân Việt Nam sản xuất bánh mì đạt tiêu chí xuất xứ RVC 100% để xuất khẩu sang Xinh-ga-po, với trị giá 20$ Trong đó, nguyên liệu bao gồm 3$ sữa nhập khẩu từ Ma-lai-xi-a, 4$ đường từ Thái Lan, và 8$ bột mì cũng từ Thái Lan, tất cả đều có C/O mẫu D Giá trị gia tăng tại Việt Nam là 5$, và RVC được tính trực tiếp là 3 + 4 + 8 + 5.
Trên C/O mẫu D của sữa nhập khẩu từ Ma-lai-xi-a, RVC 40% có nghĩa là chỉ 40% giá trị gia tăng cuối cùng được tạo ra tại Ma-lai-xi-a, trong khi 60% còn lại có thể được nhập khẩu từ bất kỳ nguồn nào trên thế giới Điều này có nghĩa là trong 3$ sữa nhập khẩu, có 1.8$ (60% của 3$) nguyên liệu có xuất xứ từ bên ngoài ASEAN Sự khác biệt này so với tiêu chí WO-FTA là 100% nguyên liệu đầu vào phải đáp ứng tiêu chí WO trước khi sản xuất thành phẩm.
RVC là gì?
RVC (Regional Value Content) là hàm lượng giá trị khu vực trong các hiệp định FTA, xác định ngưỡng phần trăm mà hàng hóa cần đạt để được công nhận xuất xứ Ngưỡng này có thể thay đổi tùy theo từng FTA và quy tắc cụ thể của mặt hàng (PSR) cho từng mã HS Thông thường, ngưỡng RVC phổ biến trong các FTA toàn cầu là 40%, trong khi ngưỡng RVC trong Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) là 35%.
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) quy định các tiêu chí khác nhau cho quy tắc xuất xứ, trong đó bao gồm RVC 40% hoặc CTH Cụ thể, một số dòng sản phẩm như cua (mã 1605.10) và tôm (mã 1605.20) yêu cầu RVC 35%, trong khi các bộ phận của hộp số xe (mã 8708.40) yêu cầu RVC cao hơn là 45%.
RVC được tính như thế nào?
RVC được tính theo 2 cách: trực tiếp hoặc gián tiếp
RVC là một yếu tố quan trọng trong các FTA, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại Các nhà sản xuất và người xuất khẩu có thể tính RVC theo hai phương pháp khác nhau Tuy nhiên, một số FTA như ACFTA chỉ cho phép tính RVC theo phương pháp gián tiếp.
Phiên bản nâng cấp của ACFTA dự kiến sẽ có hiệu lực vào năm 2019, cho phép thương nhân lựa chọn giữa hai phương pháp tính toán trực tiếp hoặc gián tiếp, từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động thương mại.
Chi phí nguyên vật liệu FTA
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí phân bổ trực tiếp +
Lợi nhuận x 100 % Trị giá FOB của thành phẩm
Trị giá của nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá không có xuất xứ
Trị giá FOB của thành phẩm
Việc tạo thuận lợi cho người xuất khẩu giúp gia tăng cơ hội đáp ứng tiêu chí xuất xứ, từ đó nâng cao tỷ lệ sử dụng ưu đãi từ C/O mẫu E theo FTA.
Cách tính gián tiếp sử dụng trị giá FOB của thành phẩm bằng cách trừ đi các yếu tố đầu vào không có xuất xứ hoặc không xác định được xuất xứ Thương nhân thường ưu tiên phương pháp này vì có thể giấu một số yếu tố như lợi nhuận, chi phí phân bổ và chi phí nhân công Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương quy định hai ngưỡng RVC khác nhau: 40% hoặc 45% cho cách tính trực tiếp, trong khi ngưỡng RVC cho cách tính gián tiếp là 50% hoặc 55% Thông thường, ngưỡng RVC trong PSR khi tính gián tiếp sẽ cao hơn 10% so với cách tính trực tiếp.
Thế nào là CTC?
CTC (Chuyển đổi mã số HS của hàng hóa) là một tiêu chí xuất xứ quan trọng trong các FTA, yêu cầu mã HS của thành phẩm phải khác mã HS của nguyên liệu đầu vào ở cấp độ 2, 4 hoặc 6 số, tùy thuộc vào Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR) CTC bao gồm ba loại: Chuyển đổi Chương (CC), Chuyển đổi Nhóm (CTH) và Chuyển đổi Phân nhóm (CTSH) Trong đó, Chuyển đổi Chương (CC) là cấp độ nghiêm ngặt nhất, Chuyển đổi Nhóm (CTH) có mức độ vừa phải, và Chuyển đổi Phân nhóm (CTSH) là cấp độ lỏng nhất.
RVC có nhiều ngưỡng khác nhau, nhưng ngưỡng phổ biến nhất là 40% Trong khi CTC có 3 cấp độ (CC, CTH và CTSH), cấp độ CTH được ưa chuộng hơn cả Nhiều FTA lựa chọn sử dụng quy tắc “RVC 40% hoặc CTH” làm tiêu chuẩn chung cho nhiều mặt hàng Đây là hai tiêu chí cơ bản nhất để chứng minh rằng sản phẩm đã trải qua quá trình “chuyển đổi cơ bản” và đủ điều kiện để được công nhận có xuất xứ FTA.
Một số đặc tính cơ bản của tiêu chí CTC
18 “CTC ex from” – “CTC loại trừ” nghĩa là gì?
Trong danh mục Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR) của nhiều Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), người đọc thường thấy các mã HS đi kèm quy tắc “CTC ngoại trừ một số mã HS nhất định” Điều này có nghĩa là nếu mã HS của nguyên liệu trùng với mã HS được liệt kê, thì nguyên liệu đó sẽ không được áp dụng quy tắc CTC.
“loại trừ/ ngoại trừ một số mã HS nhất định” thì nguyên liệu đó phải chứng minh là có xuất xứ FTA
Trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP), quy tắc xuất xứ cho Chương 02 (Thịt và phụ phẩm ăn được từ thịt sau giết mổ) là CC ngoại trừ từ Chương 01, có nghĩa là sản phẩm phải đáp ứng yêu cầu xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan.
32 nguyên liệu thuộc Chương 01 thì nguyên liệu đó phải có xuất xứ trong phạm vi AJCEP
Trong Hiệp định ATIGA, quy tắc xuất xứ cho Nhóm 7209 (sắt hoặc thép không hợp kim, cán phẳng, rộng từ 600 mm trở lên, cán nguội, chưa dát phủ, mạ hoặc tráng) yêu cầu RVC hoặc CTH, ngoại trừ mã 7208 và 7211 Điều này có nghĩa là sản phẩm hoàn thiện thuộc nhóm 7209 phải sử dụng nguyên liệu đầu vào có mã HS tương ứng.
7208 và/hoặc 7211 thì các mã HS này phải có xuất xứ trong phạm vi ASEAN.
De Minimis là gì?
De Minimis được định nghĩa là tỷ lệ nguyên vật liệu không đáng kể không đáp ứng tiêu chí CTC, nhưng sản phẩm vẫn được công nhận có xuất xứ nếu tỷ lệ này không vượt quá ngưỡng X% hoặc giá trị/trọng lượng của thành phẩm Tỷ lệ này được tính bằng cách chia trọng lượng hoặc giá trị của nguyên vật liệu không đáp ứng tiêu chí CTC cho tổng trọng lượng hoặc giá trị FOB của thành phẩm sử dụng nguyên vật liệu đó.
Tỷ lệ thay đổi X% phụ thuộc vào quy định của các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), thường dao động ở mức 10% dựa trên trọng lượng hoặc trị giá Một số FTA áp dụng quy định nghiêm ngặt hơn, chỉ cho phép ngưỡng 7% hoặc 8% cho một số mặt hàng cụ thể.
Vì sao các sản phẩm dệt may có tiêu chí De Minimis tính theo trọng lượng, mà các nhóm sản phẩm loại khác chỉ có tiêu chí De Minimis tính theo trị giá?
Dệt may là nhóm sản phẩm duy nhất có mô tả hàng hóa tính theo trọng lượng, điều này không giống với các sản phẩm khác như sắt thép, mà có thể được mô tả theo chiều dài hoặc độ dày Mô tả trọng lượng trong dệt may dựa vào tỷ trọng của bông, xơ, và sợi đặc thù, tạo nên thành phẩm dệt may độc đáo.
Ngành dệt may, đặc biệt trong lĩnh vực thời trang, sử dụng nhiều loại chất liệu nhẹ nhưng có giá trị cao Nếu chỉ áp dụng tiêu chí De Minimis dựa trên giá trị, sẽ có một số nguyên liệu không được xem xét đúng mức.
Sản phẩm có trọng lượng nhẹ nhưng giá trị lớn sẽ không đủ điều kiện áp dụng quy định De Minimis, dẫn đến việc thành phẩm không được hưởng ưu đãi thuế quan đặc biệt từ FTA Điều này xảy ra ngay cả khi chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ nguyên liệu không đáp ứng quy tắc xuất xứ, dù là về giá trị hay trọng lượng.
- Mã HS 5208.31: vải vân điểm đã nhuộm, trọng lượng không quá 100g/m 2 );
- Mã HS 5204.11: chỉ khâu làm từ bông, chưa đóng gói để bán lẻ, có tỷ trọng bông từ 85% trở lên;
- Mã HS 7208.25: thép cuộn không hợp kim cán phẳng, có chiều dày từ 4.75 mm trở lên
21 “Công đoạn gia công chế biến đơn giản” là gì? Nếu vi phạm công đoạn này, sản phẩm có được coi là có xuất xứ hay không?
Công đoạn gia công chế biến đơn giản, dù thực hiện độc lập hay kết hợp, đều không đáp ứng đủ điều kiện quy tắc xuất xứ.
Mỗi Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) có quy định riêng về danh mục các "công đoạn gia công chế biến đơn giản", và hàng hóa thuộc các công đoạn này sẽ không được xét xuất xứ Danh mục này có thể thay đổi về độ dài và có thể áp dụng cùng với một hoặc nhiều tiêu chí xuất xứ như WO, PE, RVC, CTC hoặc SP, tùy thuộc vào quy định cụ thể của từng FTA.
Hiệp định TPP không bao gồm điều khoản liên quan đến "công đoạn gia công chế biến đơn giản" Danh mục PSR trong TPP được quy định một cách chi tiết và chặt chẽ nhằm ngăn chặn tình trạng "công".
35 đoạn gia công chế biến đơn giản” có thể diễn ra nhằm gian lận xuất xứ thực chất của hàng hóa.
Như thế nào được coi là “quy trình sản xuất cụ thể”?
Quy trình sản xuất cụ thể (SP) yêu cầu nguyên liệu không có xuất xứ phải trải qua sản xuất, gia công hoặc chế biến tại một Bên thành viên FTA Nếu sản phẩm A áp dụng tiêu chí WO, sản phẩm B có tiêu chí RVC, sản phẩm C theo tiêu chí CTC, và sản phẩm D thuộc tiêu chí “RVC hoặc CTC”, thì các sản phẩm này đều đáp ứng yêu cầu xuất xứ.
Quy trình sản xuất cụ thể không chỉ là một tiêu chí đơn lẻ trong các tiêu chí A, B, C hoặc D, mà là một quy trình toàn diện được mô tả rõ ràng.
Quy định cụ thể về quy trình sản xuất kết hợp với các tiêu chí đã nêu mang lại ưu điểm là tính ổn định Khi tuân thủ một quy trình sản xuất nhất định, hàng hóa đạt chuẩn sẽ luôn có xuất xứ rõ ràng, không bị ảnh hưởng bởi chi phí nguyên liệu, nhân công hay các yếu tố đầu vào khác Điều này cũng giúp sản phẩm không bị tác động bởi sự biến động của nguồn cung nguyên liệu, một yếu tố có thể ảnh hưởng đến tiêu chí CTC.
Có bao nhiêu hình thức cộng gộp?
Có 3 hình thức cộng gộp cơ bản:
(i) Cộng gộp thông thường (Accumulation): Đây là hình thức cộng gộp áp dụng trong tất cả các FTA Việt Nam là thành viên Đây cũng là hình
Trong thương mại quốc tế, có 37 thức cộng gộp phổ biến Nếu nguyên liệu đáp ứng các tiêu chí xuất xứ cụ thể, 100% giá trị của nguyên liệu sẽ được cộng gộp vào quá trình sản xuất tiếp theo để tính xuất xứ cho thành phẩm.
Cộng gộp toàn bộ, hay còn gọi là Cộng gộp đầy đủ, là hình thức áp dụng trong các FTA thế hệ mới như TPP và cho một số nhóm hàng nhất định như dệt may trong AJCEP và AANZFTA Quy định này cho phép nguyên liệu không cần phải đáp ứng hoàn toàn quy tắc xuất xứ, mà chỉ cần đạt một phần tiêu chí xuất xứ Cụ thể, nếu nguyên liệu chỉ đáp ứng được tiêu chí RVC 19% thay vì RVC 40%, vẫn có thể được cộng gộp vào quá trình sản xuất để tính xuất xứ cho thành phẩm Tuy nhiên, phần giá trị gia tăng được cộng gộp chỉ là 19% chứ không phải toàn bộ giá trị của nguyên liệu.
Cộng gộp bán phần (Partial Cumulation) là hình thức cộng gộp duy nhất theo quy định của ATIGA Theo đó, nếu nguyên liệu đáp ứng tiêu chí tại khoản (i), sẽ được cộng gộp 100% giá trị nguyên liệu Nếu nguyên liệu chỉ đạt ngưỡng RVC từ 20 đến 39%, thì tỷ lệ phần trăm thực tế trong khoảng này sẽ được cộng gộp vào quá trình sản xuất tiếp theo để xác định xuất xứ hàng hóa.
Khi áp dụng "cộng gộp từng phần" theo ATIGA, nguyên liệu sẽ được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu D và được đánh dấu vào ô "Partial Cumulation" Việc đánh dấu này giúp cơ quan hải quan của bên nhập khẩu nhận biết rằng C/O này được sử dụng cho mục đích cộng gộp từng phần và sẽ không đủ điều kiện hưởng thuế quan ưu đãi theo ATIGA.
Phụ tùng, phụ kiện, dụng cụ có được tính đến khi xác định xuất xứ của hàng hóa không?
Một chiếc Ti-vi (TV) có nguồn gốc từ AKFTA và đi kèm với điều khiển từ xa xuất xứ Đài Loan, vậy liệu toàn bộ sản phẩm TV, bao gồm cả điều khiển từ xa, có được xem là có xuất xứ AKFTA hay không?
Khi một chiếc ô tô có nguồn gốc từ ASEAN nhưng lốp dự phòng lại có nguồn gốc từ Trung Quốc, câu hỏi đặt ra là liệu toàn bộ chiếc ô tô, bao gồm cả lốp dự phòng, có được xem là có xuất xứ ASEAN hay không?
Khi xác định xuất xứ của hàng hóa, vật liệu đóng gói và bao bì, bao gồm cả những loại được sử dụng cho bán lẻ và vận chuyển, có thể được tính đến Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và chính xác trong quy trình xuất xứ sản phẩm.
Ví dụ: hộp đựng giày; chai đựng rượu; bao bì bọc và bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển, …
Thế nào được gọi là “vận chuyển trực tiếp”?
Hàng hóa cần chứng minh đáp ứng quy định về vận chuyển trực tiếp để được hưởng ưu đãi thuế quan FTA Các quy định này tương tự nhau giữa các FTA, yêu cầu hàng hóa phải được vận chuyển trực tiếp từ lãnh thổ của Bên thành viên xuất khẩu đến lãnh thổ của Bên thành viên nhập khẩu Trong trường hợp quá cảnh tại một Bên khác, việc vận chuyển chỉ được coi là trực tiếp nếu đáp ứng các điều kiện nhất định.
- Quá cảnh là cần thiết vì lý do địa lí hoặc do các yêu cầu có liên quan trực tiếp đến vận tải;
- Hàng hoá không tham gia vào giao dịch thương mại hoặc tiêu thụ tại nước quá cảnh đó; và
Hàng hóa chỉ trải qua các bước dỡ và bốc lại, cùng với những công đoạn cần thiết để bảo quản chúng trong điều kiện tốt nhất.
(Quy định về vận chuyển trực tiếp trong ATIGA)
Quy định về C/O giáp lưng giúp thuận lợi hóa hay cản trở thương mại? Tại sao các FTA song phương lại không có điều khoản này? Phân biệt “Back-to-Back C/O” và “Movement Certificate”
Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, hay còn gọi là "C/O giáp lưng", là tên gọi khác nhau nhưng có cùng bản chất C/O này được cấp bởi bên thành viên xuất khẩu trung gian dựa trên thông tin từ C/O do bên thành viên xuất khẩu đầu tiên cấp Do đó, để có C/O giáp lưng, cần có giao dịch của ít nhất ba bên thành viên.
Hiệp định mới cho phép cấp Chứng nhận Xuất xứ (C/O) giáp lưng, tuy nhiên một số FTA yêu cầu nhà xuất khẩu trên C/O giáp lưng và nhà nhập khẩu trên C/O gốc phải là một, nghĩa là người nhập khẩu cũng phải là người xuất khẩu và không được bán hàng cho bên thứ ba tại thành viên trung gian (như AKFTA, ACFTA, AIFTA) Điều này tạo ra quy định chặt chẽ, làm giảm tính thuận lợi trong thương mại có nhiều bên tham gia Một số FTA còn yêu cầu sản phẩm phải hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của cơ quan hải quan (AIFTA, ACFTA) Ngược lại, một số FTA khác không yêu cầu nhà xuất khẩu trên C/O giáp lưng phải trùng với nhà nhập khẩu trên C/O gốc, cho phép nhà nhập khẩu bán hàng cho thương nhân khác, người này sẽ đứng tên tại Ô số 1 (nhà xuất khẩu) trên C/O giáp lưng (như ATIGA, AANZFTA, AJCEP).
Hóa đơn Bên thứ ba có được chấp nhận trong các FTA hay không?
Hóa đơn Bên thứ ba hiện được chấp nhận rộng khắp trong các FTA của Việt Nam do đây là thực tiễn thương mại quốc tế phổ biến.
Quy tắc xuất xứ áp dụng cho cùng một mặt hàng trong các FTA khác nhau như thế nào?
Một số nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam có quy tắc xuất xứ tương đồng trong các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), nhưng cũng có những nhóm hàng với quy tắc khác nhau giữa các FTA Các bảng dưới đây sẽ minh họa cụ thể cho các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực này.
Trong ASEAN
ASEAN hiện đang triển khai hai dự án thí điểm về tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), trong đó Việt Nam tham gia dự án thí điểm số 2 Sự khác biệt chính giữa hai dự án này là tiêu chí lựa chọn nhà xuất khẩu đủ điều kiện để tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa.
Dự án thí điểm số 1 cho phép các nhà xuất khẩu, bao gồm công ty thương mại và nhà sản xuất đủ điều kiện, tự chứng nhận xuất xứ Điều này cho phép họ sử dụng TCNXX trên mọi chứng từ thương mại như hóa đơn, vận đơn và phiếu đóng gói.
Dự án thí điểm số 2 cho phép các Nhà xuất khẩu đồng thời là Nhà sản xuất đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ cho hàng hóa do chính họ sản xuất Điều này cũng cho phép việc ghi TCNXX trên hóa đơn thương mại gốc của hàng hóa.
Các điều kiện để được công nhận là Nhà xuất khẩu đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ theo quy định của các nước ASEAN còn thiếu tính đồng nhất và tương đồng Để nâng cao hiệu quả tự chứng nhận xuất xứ, các nước ASEAN phát triển như Thái Lan đã áp dụng cơ chế quản lý rủi ro hiệu quả và có chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với gian lận thương mại, đặc biệt trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa Thái Lan cũng tham gia vào cả hai Dự án thí điểm số 1 và số 2.
Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Việt Nam, vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng vào cơ chế tự chứng nhận xuất xứ Điều này xuất phát từ việc Hải quan các nước nhập khẩu thường đặt nhiều nghi vấn đối với các lô hàng tự chứng nhận so với các lô hàng được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) truyền thống Chẳng hạn, trong giai đoạn đầu thực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ, Hải quan Thái Lan đã tiến hành xác minh tất cả các lô hàng nhập khẩu sử dụng hóa đơn tự chứng nhận xuất xứ.
Số lượng các Nhà xuất khẩu đủ điều kiện được phép tự chứng nhận xuất xứ trong ASEAN tính đến tháng 6/2016
Dự án thí điểm số 1: Dự án thí điểm số 2:
Nước thành viên Nhà XK đủ điều kiện Nước thành viên Nhà XK đủ điều kiện
Trong EU
EU khẳng định không thể trở lại cơ chế chứng nhận xuất xứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, sau 18 năm thực hiện thành công tự chứng nhận xuất xứ với hầu hết các đối tác đã ký FTA.
Theo cơ chế tự chứng nhận xuất xứ của EU, doanh nghiệp được cấp mã số ủy quyền có quyền tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu Để nhận mã số này, doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt và thường xuyên bị kiểm tra bởi cơ quan hải quan Ngoài các doanh nghiệp được ủy quyền, một số ít doanh nghiệp không đạt tiêu chuẩn hoặc xuất khẩu với giá trị nhỏ (dưới 6.000 Euro) vẫn có thể sử dụng hệ thống cấp chứng nhận của EU.
CO cho các đối tượng này
Trong khuôn khổ ACFTA, Trung Quốc không tỏ ra quan tâm đến việc tự chứng nhận xuất xứ Do đó, trong quá trình đàm phán nâng cấp ACFTA, các thành viên không đề cập đến vấn đề này.
Các FTA ASEAN Cộng mà Việt Nam tham gia đều mở ra khả năng đàm phán lại và nâng cấp Hiệp định, tùy thuộc vào tiến trình thống nhất về cơ chế TCNXX chung trong ASEAN.
Trong khi ASEAN đã thực hiện thí điểm TCNXX từ năm 2010 và vẫn chưa thống nhất được về một cơ chế chung
Hiệp định TPP cho phép cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu tự chứng nhận và khai báo xuất xứ hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại Với cơ chế chứng nhận xuất xứ linh hoạt, TPP được xem là hiệp định mở nhất trong lĩnh vực này.
Cơ chế này mang lại lợi ích to lớn cho doanh nghiệp bằng cách giảm thiểu thời gian, chi phí và nguồn nhân lực, đồng thời yêu cầu khả năng kiểm soát và quản lý hiệu quả.
Cơ quan Chính phủ đã đưa ra 55 lý do hiệu quả nhằm đảm bảo cơ chế vận hành thuận lợi, tạo điều kiện cho thương nhân Việt Nam và các đối tác quốc tế trong việc xuất khẩu và nhập khẩu.
CƠ CHẾ VÀ THỦ TỤC CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ TRONG CÁC FTA VIỆT NAM
1 Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN
2 Hiệp định thiết lập khu vực thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc
3 Hiệp định thiết lập khu vực thương mại tự do ASEAN- Hàn Quốc
4 Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN- Nhật Bản
5 Hiệp định thiết lập khu vực thương mại tự do ASEAN- Ấn Độ
6 Hiệp định thiết lập khu vực thương mại tự do ASEAN-Ôt-xtray-lia- Niu Dilan
7 Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
8 Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản
9 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam- Chile
10 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam- Hàn Quốc
11 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu
12 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam- Liên minh Châu Âu
I Cơ chế chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA)
ATIGA là hiệp định cốt lõi và là cơ sở pháp lý cho ASEAN trong việc đàm phán các FTA với các đối tác thương mại Chương về chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong các FTA ASEAN Cộng dựa vào quy định của ATIGA, cụ thể là Chương về Chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Operational Certification Procedures – OCP), làm nguồn tham chiếu đáng tin cậy trong quá trình xây dựng phương án đàm phán.
Một số điểm đặc trưng trong Cơ chế chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong ATIGA được thể hiện như dưới đây:
1 Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu D
1 C/O phải làm trên giấy màu trắng, khổ A4, phù hợp với mẫu quy định tại Phụ lục VIII C/O phải được làm bằng tiếng Anh
2 Một bộ C/O bao gồm một bản gốc và hai bản sao các-bon
3 Mỗi C/O mang một số tham chiếu riêng của Tổ chức cấp C/O
4 Mỗi C/O mang chữ ký bằng tay và con dấu của Tổ chức cấp C/O
Bản C/O gốc được gửi từ Người xuất khẩu cho Người nhập khẩu để nộp cho cơ quan Hải quan tại cảng hoặc nơi nhập khẩu Bản thứ hai được tổ chức cấp C/O của Nước thành viên xuất khẩu lưu giữ, trong khi bản thứ ba sẽ được Người xuất khẩu lưu lại.
Tất cả các nước thành viên ASEAN, bao gồm Việt Nam, đều sử dụng mẫu giấy C/O theo quy định của ASEAN Việc không tuân thủ mẫu giấy này có thể dẫn đến việc C/O mẫu D bị từ chối tại cơ quan hải quan nước nhập khẩu, ảnh hưởng đến ưu đãi thuế quan Hiện nay, các nước thành viên ASEAN, trong đó có Việt Nam, đang cấp C/O mẫu D dưới dạng bản giấy.
58 tại chỉ chấp nhận C/O mẫu D bản giấy cho tất cả các lô hàng xuất nhập khẩu trong phạm vi ASEAN
Các nước thành viên ASEAN, bao gồm In-đô-nê-xi-a, Xinh-ga-po, Thái Lan và Việt Nam, đã ký Nghị định thư áp dụng C/O mẫu D điện tử (eC/O), dự kiến chính thức thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 Việc cấp và chấp nhận C/O mẫu D bản giấy vẫn tiếp tục diễn ra giữa các thành viên còn lại của ASEAN và Việt Nam Điều này đánh dấu sự khác biệt quan trọng giữa ASEAN và các FTA, đồng thời là bước đệm cho ASEAN, bao gồm Việt Nam, triển khai C/O điện tử với các đối tác FTA trong tương lai Sự chuyển đổi này giúp giảm thiểu thời gian, chi phí và nhân sự liên quan đến C/O, cải thiện quản lý hệ thống C/O, tạo thuận lợi thương mại và thúc đẩy tăng trưởng thương mại bền vững trong khu vực ASEAN.
Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu D được cấp trong trường hợp cộng gộp từng phần, điều này là đặc trưng duy nhất trong ASEAN mà các FTA khác không có Nếu hàng hóa không đạt tiêu chí RVC 40% nhưng có thể đạt tối thiểu 20%, cơ quan cấp C/O có thể cấp C/O mẫu D với tỷ lệ phần trăm thực tế được sản xuất tại nước xuất khẩu (ví dụ RVC 25%) Thương nhân cần đánh dấu vào ô “Partial Cumulation” trên ô số 13 của C/O mẫu D Cơ quan Hải quan nước nhập khẩu sẽ dựa vào thông tin này để xem xét hàng hóa nhập khẩu, nhưng không được hưởng ưu đãi thuế quan ATIGA, vì C/O này chỉ được sử dụng cho mục đích cộng gộp trong sản xuất tiếp theo tại Việt Nam hoặc nước thành viên ASEAN khác Cơ quan cấp C/O tại Việt Nam sẽ căn cứ vào hồ sơ xin C/O từ thương nhân xuất khẩu để tính toán việc cộng gộp cho quá trình sản xuất tiếp theo.
59 trăm thực tế được tạo ra (ví dụ RVC 30%) chứ không được cộng gộp 100% trị giá (như trường hợp RVC 40%) của nguyên liệu đầu vào
Quy trình cấp C/O mẫu D tại khoản này tương tự như quy trình cấp C/O mẫu D tại khoản (1), với điểm khác biệt duy nhất là C/O mẫu D tại khoản (1) được hưởng ưu đãi thuế quan ATIGA, trong khi C/O mẫu D tại khoản (2) không được hưởng ưu đãi này và chỉ được dùng để cộng gộp vào quá trình sản xuất tiếp theo tại nước thành viên xuất khẩu.
C/O mẫu D tại khoản (1) và khoản (2) đều là bản giấy, tính đến hết 31 tháng 12 năm 2017
Phụ lục VI HƯỚNG DẪN VỀ CỘNG GỘP TỪNG PHẦN
(Ban hành kèm theo Thông tư số 22/2016/TT-BCT ngày 03 tháng 10 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Công Thương)
Để thực hiện khoản 2 Điều 6 Phụ lục I:
Hàng hoá sẽ được cộng gộp từng phần nếu ít nhất 20% hàm lượng giá trị khu vực (RVC) của chúng có nguồn gốc từ quốc gia thành viên nơi sản xuất hoặc gia công hàng hoá.
2 RVC của hàng hoá quy định tại khoản 1 Phụ lục này sẽ được tính theo công thức quy định tại Điều 5 Phụ lục I
3 Hàng hoá xuất khẩu áp dụng các quy định cộng gộp từng phần không được hưởng ưu đãi thuế quan của nước thành viên nhập khẩu
4 Hàng hoá xuất khẩu áp dụng các quy định tại phụ lục này phải có C/O hợp lệ, có đánh dấu vào ô “Partial Cumulation” thuộc ô số 13
5 Các quy định liên quan của Phụ lục VII, bao gồm cả Điều 18 và Điều
19, áp dụng cho C/O được cấp nhằm mục đích cộng gộp từng phần./
3 Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu D giáp lưng (B2B C/O)
“C/O giáp lưng” là C/O được cấp bởi Nước thành viên xuất khẩu trung gian dựa trên C/O của Nước thành viên xuất khẩu đầu tiên
Quy định về C/O giáp lưng trong ATIGA có nhiều điểm tương đồng với quy định về C/O giáp lưng trong AANZFTA và AJCEP, đó là không bắt buộc
Theo quy định, 60 nhà xuất khẩu trên C/O giáp lưng và nhà nhập khẩu trên C/O gốc phải là một, tạo thuận lợi cho thương mại khi cho phép mua bán hàng hóa qua nhiều bên mà vẫn đảm bảo hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan đặc biệt của FTA tại nước thành viên nhập khẩu cuối cùng Để cấp C/O giáp lưng, nhà xuất khẩu bên thành viên trung gian cần xuất trình C/O gốc ban đầu, đảm bảo thông tin trên C/O giáp lưng phù hợp với C/O gốc Việt Nam và các thành viên ASEAN hiện cấp 100% C/O giáp lưng bản giấy, tương tự như các C/O tại khoản (1) và (2) của Mục I trong ATIGA.
Tổ chức cấp C/O của Nước thành viên trung gian có thể cấp C/O giáp lưng nếu có đơn đề nghị cấp C/O giáp lưng của Người xuất khẩu, với điều kiện: