ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG NGUYỄN SINH SÁNG TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN SINH SÁNG
TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI XÃ SAN THÀNG,
THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội – Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN SINH SÁNG
TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI XÃ SAN THÀNG,
THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS Lê Trọng Cúc
Hà Nội – Năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo của Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn quan tâm và tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS.Lê Trọng Cúc đã dành sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện Luận văn
Để hoàn thành luận văn này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn UBND xã San Thàng, UBND thành phố Lai Châu, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp, tập thể Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Lai Châu, Lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Lai Châu đã tạo điều kiện, giúp đỡ về thời gian cũng như tài liệu, công tác khảo sát thực địa phục vụ cho quá trình nghiên cứu của tôi
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, ủng
hộ và chia sẻ những khó khăn, thuận lợi cùng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu./
Hà Nội, tháng 3/2015
Học viên
Nguyễn Sinh Sáng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung nghiên cứu của Luận văn này được hình thành và phát triển từ quan điểm của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Lê Trọng Cúc Các số liệu và kết quả có được trong Luận văn là trung thực; không sử dụng số liệu của các tác giả khác chưa được công bố
Hà Nội, ngày 06 tháng 03 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Sinh Sáng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu 2
3 Đối tượng 3
4 Phạm vi nghiên cứu: 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài 3
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1 Các vấn đề môi trường nông thôn ở Việt Nam 11
1.2.3 Các vấn đề môi trường nông thôn cấp bách tại tỉnh Lai Châu 19
1.2.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 20
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Địa điểm nghiên cứu 28
2 2 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2014; 38
2.3 Đối tượng nghiên cứu: 38
2.4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 39
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa: 39
2.4.2.2 Phương pháp thống kê xử lý số liệu: 40
2.4.2.3 Phương pháp tổng hợp, đánh giá so sánh 40
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Đánh giá hiện trạng môi trường xã San Thàng, thành Phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu 41
3.1.1 Vấn đề sử dụng nước sinh hoạt 41
3.1.2 Vấn đề nước thải 43
3.1.3 Vấn đề rác thải sinh hoạt 47
3.1.4 Vệ sinh môi trường 53
Trang 63.1.5 Ô nhiễm môi trường trong hoạt động nông nghiệp 58
3.1.6 Nhận thức về bảo vệ môi trường 60
3.1.7 Tập quán sinh hoạt, sản xuất 62
3.4 Hiện trạng môi trường xã San Thàng, tỉnh Lai Châu theo mô hình Động lực – Áp lực – Trạng thái – Đáp ứng (DPSIR) 63
3.4.1 Động lực: Gia tăng dân số 66
3.4.2 Sản xuất nông nghiệp 66
3.4.3 Tập quán sinh hoạt, sản xuất 68
3.4.4 Đề xuất giải pháp (Đáp ứng) Error! Bookmark not defined 3.5 Những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện tiêu chí môi trường trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới 69
3.5.1 Đánh giá thực hiện tiêu chí môi trường trong bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới của xã San Thàng 69
3.6 Đề xuất một số giải pháp thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới xã San Thàng 70
3.6.1 Cấp nước 70
3.6.2 Thoát nước thải và vệ sinh môi trường 71
3.6.3 Nâng cao vai trò và năng lực quản lý của cơ quan quản lý địa phương 79
3.6.4 Tuyên truyền vận động người dân 80
3.6.5 Xây dựng quy ước bảo vệ môi trường phù với phong tục tập quán 80
1 Kết luận 81
2 Kiến nghị 82
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang 8DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Thời kỳ đổi mới nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển rất quan trọng, trong đó đặc biệt phải nói đến vai trò to lớn của kinh tế nông nghiệp và nông thôn Cho đến nay, khi chúng ta bước vào thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nông dân dần càng có vị trí, vai trò quan trọng Nước ta có trên 77% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn với cơ cấu ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông lâm ngư nghiệp, tiểu thu công nghiệp và dịch vụ Trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, khu vực nông thôn mang tính chiến lược, trước mắt còng nh lâu dài Vì vậy, nông thôn chi phối và tác động nhiều mặt đến các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường quốc gia
Hiện nay, nông thôn nước ta đang trong quá trình đổi mới và phát triển Cùng với quá trình đó cũng phát sinh không ít vấn đề về môi trường mà bức xúc nhất là tính ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường nông thôn Việt Nam hiện nay đang là vấn đề có tính cấp bách đòi hỏi chúng ta phải thực sự quan tâm sâu hơn về vấn đề này chứ không chỉ dừng lại ở sự cảnh báo hay hô hào một cách chung chung Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26/NQTW khẳng định xây dựng nông thôn mới là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ
đã có Quyết định số 49/QĐTTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm 19 tiêu chí) về nông thôn mới Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dưng, thực hiện mô hình nông thôn mới nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia về nông thôn mới phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước Mục tiêu của việc xây dựng nông thôn mới ngoài việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân thì việc bảo vệ môi trường sinh thái tại nơi người dân sinh sống rất quan trọng Trong 19 tiêu chí về nông thôn mới thì tiêu chí số 17 là tiêu chí về môi trường nông thôn, tuy nhiên từ khi triển khai thực hiện, tiêu chí số 17 luôn là tiêu chí khó thực hiện của nhiều địa phương và thường không được coi trọng như các tiêu chí khác Trong khi đó, nhiều vấn đề môi trường nông thôn đang là vấn đề nan
Trang 11giải, các địa phương cần nhìn nhận vấn đề thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới là một tiêu chí quan trọng và cần được quan tâm đúng mức để phát kinh tế xã hội nông thôn bền vững hơn
Chương trình xây dựng nông thôn ở tỉnh Lai Châu trong gần ba năm qua đã
có những bước tiến đáng kể, tạo sự chuyển biến tích cực góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn miền núi, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân Hầu hết các địa phương trong tỉnh, việc thực hiện tiêu chí môi trường số 17 trong bộ tiêu chí nông thôn mới cũng đang gặp phải những vấn đề nan giải đỏi hỏi phải sự quan tâm và thực hiện các giải phải tích cực hơn nữa đặc biệt là với một tỉnh miền núi đa phần là nông thôn Xã San Thàng thuộc thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu là một trong những xã được xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Lai Châu Để có những đánh giá khái quát hiện trạng môi trường nông thôn tại xã cùng với việc thực hiện xậy dựng nông thôn mới tại địa
phương tôi tiến hành đề tài “Tìm hiểu hiện trạng môi trường nông thôn và đề xuất
một số giải pháp thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại
xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu”
Nghiên cứu hiện trạng môi trường xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu:
Nghiên cứu những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện tiêu chí môi trường nông thôn mới: Khó khăn trong việc tiếp cận các văn bản pháp luật, các chính sách của nhà nước liên quan đến việc thực hiện tiêu môi trường nông thôn mới; Khó khăn trong việc triển khai thực hiện tiêu chí môi trường nông thôn mới
Giải pháp khắc phục những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện môi trường nông thôn mới
Trang 123 Đối tượng
+ Tiêu chí/ chỉ tiêu môi trường nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐTTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn
+ Môi trường xã San Thàng bao gồm môi trường tự nhiên và xã hội;
+ Người dân xã San Thàn, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu
4 Phạm vi nghiên cứu: Xã San Thàng
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ mối tương quan sinh thái giữa con người và môi trường
Trang 13* Nông thôn miền núi là vùng nông thôn ở các vùng núi mang đặc thù nông thôn nhưng khác nhau về điều kiện canh tác, phương thức canh tác nông nghiệp, đường xã đi lại khó khăn, dân trí thấp, tập quán sinh hoạt – sản xuất lạc hậu[1]
* Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển của con người
và sinh vật” (Luật Bảo vệ môi trường, 2005) [2]
* Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật [2]
* Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học [2]
* Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một khái niệm rộng, được đề cập ở nhiều lĩnh vực khác nhau:
Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển [3]
Trang 14 Quan điểm khác lại cho rằng, phát triển nông thôn nhằm nâng cao về vị thể kinh tế và xã hội cho người dân nông thôn qua việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực
*Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về mô hình phát triển cả
về nông nghiệp và nông thôn, mô hình nông thôn mới là kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa, văn hóa của người Việt Nam Nhìn chung mô hình nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường); đạt được hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường); tiến bộ hơn so với các mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến
và vận dụng trên cả nước
Có thể quan niệm “Mô hình nông thôn mới là tổng thể các đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng những yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng tiến
về mọi mặt so với các mô hình nông thôn trước đó [4]
*Chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triể n kinh tế xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm có 11 nội dung, trong đó nội dung thứ 9 nói về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn [5]
- Mục tiêu:
+ Đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng xã:
Làng xã thực sự là một cộng đồng, trong đó công tác quản lý của Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước) Quản lý của Nhà nước và tự quản của nông dân được kết hợp hài hòa; các giá trị
Trang 15truyền thống làng xã được phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh, trật tự xã hội,… nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn
+ Đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, đô thị hóa, chuẩn bị những điều kiện vật
chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời Trước hết, tạo cho người dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống và canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang sản xuất
hàng hóa, dịch vụ, du lịch; để người nông dân có thể “ly nông bất ly hương”
+ Nông thôn biết khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực
Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, môi trường được giữ gìn, khai thác tốt tiềm năng du lịch, khôi phục ngành nghề truyền thống, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Vận dụng các công nghệ cao về quản lý, sinh học, các hoạt động kinh tế đạt hiệu quả Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phát triển hài hòa, hội nhập địa phương, vùng,
cả nước và quốc tế
+Dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất
Các chủ thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các
tổ chức phi chính phủ, Nhà nước, tư nhân…) tham gia tích cực trong mọi quá trình
ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng Người nông dân thực
sự “được tự do và tự quyết định trên luống cày, thửa ruộng của mình”, Daoa chọn
phương án sản xuất, kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
+ Nông dân, nông thôn có văn hóa phát triển, trí tuệ được nâng lên, sức lao
động được giải phóng, nhiệt tình cách mạng ðýợc phát huy Ðó chính là sức mạnh nội sinh của làng xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Người nông dân có cuộc sống ổn định, trình độ học vấn, khoa học kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ gìn những giá trị văn hóa, bản sắc truyền thống, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi phong trào chính trị,
Trang 16kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại nhằm vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, vừa góp phần xây dựng quê hương văn minh, giàu đẹp
Các tiêu chí này đang trở thành mục tiêu, yêu cầu trong hoạch định chính sách
về mô hình nông thôn mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
* Quyết định số 491/QĐTTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới [5]
Xây dựng nông thôn mới (NTM) là chủ trương có tầm cỡ chiến lược đặc biệt quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, nhằm cụ thể hóa việc thực hiện nghị quyết lần
thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X ) về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn Chủ trương này có mục tiêu toàn diện: Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn từng bước hiện đại, xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý gắn công nghiệp với phát triển dịch vụ, gắn phát triển nông thôn với
đô thị theo quy hoạch, xây dựng xã hội nông thôn mới dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững an ninh trật tự, tăng cường hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Như vậy chủ trương xây dựng NTM mang tính nhân văn sâusắc, vừa là mục tiêu, yêu cầu phát triển bền vững, vừa là nhiệm vụ cấp bách, lâu dài đòi hỏi phải tiến hành đúng quy định, đồng bộ, chắc chắn
Quyết định số 491/QĐTTg Ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM gồm 19 tiêu chí, bao gồm 11 chương trình mục tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn., gồm 11 nội dung sau:
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội;
Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập;
- Giảm nghèo và an sinh xã hội;
Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn;
Phát triển giáo dục đào tạo ở nông thôn;
Trang 17Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn;
Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị xã hội trên địa bàn;
Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
* Tiêu chí số 17: Tiêu chí môi trường
Xã được công nhận đạt tiêu chí môi trường khi đạt được 05 yêu cầu:
+ Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy định đạt mức quy định của vùng;
+ 90% cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn đạt chuẩn về môi
trường (10% còn lại tuy có vi phạm nhưng đang khắc phục);
+ Đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng hộ xanh sạch đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môi trường;
+ Nghĩa trang có quy hoạch và quản lý theo quy hoạch;
+ Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo qui định
Giải thích từ ngữ:
+ Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy định:
Nước sạch theo Quy chuẩn Quốc gia là nước đáp ứng các chỉ tiêu theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN: 02:2009/BYT) về chất lượng nước sinh hoạt do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tại Thông tư số 05/2009/TT BYT ngày 17/6/2009
Nước hợp vệ sinh là nước sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi;
Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước theo Quy chuẩn Quốc gia theo vùng quy định như sau: Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên: 80% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 45% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng
Trang 18Quy chuẩn Quốc gia; Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long: 90% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng Quy chuẩn Quốc gia; Bắc trung Bộ và Duyên hải Nam trung Bộ: 85% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng Quy chuẩn Quốc gia; Các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi trường nếu trong quá trình sản xuất, chế biến có xả nước thải, chất thải rắn, mùi, khói bụi, tiếng ồn nằm trong giới hạn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường tại Thông tư số 46/2011/TTBTNMT ngày 26/12/2011 quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, Thông tư số 47/2011/TTBTNMT ngày 28/12/2011 quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và các văn bản khác có liên quan; Chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh là chuồng trại đáp ứng các yêu cầu: Nằm cách biệt với nhà ở; chất thải chăn nuôi (phân, nước tiểu) được thu gom xử lý; không xả, chảy tràn trên bề mặt đất; không gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh
+ Đạt tiêu chí đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng hộ xanh sạch đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môi trường khi đáp ứng các yêu cầu: Đường làng, ngõ xóm xanh, sạch, đẹp;Trên 90% số hộ đã thực hiện cải tạo vườn, chỉnh trang hàng rào; cổng ngõ không lầy lội;
Không có cơ sở sản xuất kinh doanh (chăn nuôi, chế biến thực phẩm, sản xuất nghề tiểu thủ công nghệ, buôn bán phế liệu) gây ô nhiễm môi trường
+ Nghĩa trang có quy hoạch và quản lý theo quy hoạch:Mỗi thôn hoặc liên thôn hoặc xã, liên xã có quy hoạch đất làm nghĩa trang lâu dài phù hợp với tập quán của địa phương (trừ nơi có tập quán an táng không ở nghĩa trang);Có Quy chế quản
lý nghĩa trang;Việc táng người chết phải được thực hiện phù hợp với tín ngưỡng, phong tục, tập quán tốt, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại
+ Rác thải, chất thải, nước thải được thu gom và xử lý là: Hộ gia đình có nhà
vệ sinh, nhà tắm đạt tiêu chuẩn quy định; có hệ thống tiêu thoát (nước thải, chất thải sinh hoạt) đảm bảo vệ sinh, không gây ô nhiễm không khí và nguồn nước xung quanh; Mỗi khu dân cư tập trung của thôn, xã phải có hệ thống tiêu thoát nước thải
Trang 19thông thoáng, hợp vệ sinh; Thôn, xã có tổ dịch vụ thu gom rác thải và xử lý tại bãi rác tập trung
*Mô hình DPSIR
Khái niệm về mô hình DPSIR: Do tổ chức môi trường châu Âu (EEA) xây dựng vào năm 1999, được viết tắt của 05 từ tiếng Anh:
Driving Forces (D): có nghĩa là lực điều khiển (Dự án EIR dịch là động lực),
lực điều khiển có khái quát nào đang tác động lên môi trường của địa bàn đang được xem xét, ví dụ: Sự gia tăng dân số, công nghiệp hóa, đô thị hóa
Presure (P), có nghĩa là áp lực Áp lực lên nhân tố môi trường Ví dụ: Xả
thải khí, nước đã ô nhiễm, chất thải rắn,
State (S), có nghĩa là tình trạng Tình trạng môi trường tại một thời điểm
hoặc thời gian nhất định Ví dụ: tình trạng không khí, nước, đất, tài nguyên, đa dạng sinh học,
Impact (I), có nghĩa tác động Tác động tiêu cực hoặc tích cực của tình trạng
đó đối với con người như điều khiển cũng như điều kiện sinh sống, hoạt động sản xuất của con người,
Response (R),có nghĩa là đáp ứng Con người có những hoạt động gì để đáp
ứng nhằm khắc phục các tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích cực nêu trên
Mô hình DPSIR được Daoa chọn làm mô hình định hướng cho hoạt động xây dựng chỉ thị môi trường Mô hình này rất mạnh trong việc cung cấp một cái nhìn tổng quan bối cảnh vấn đề môi trường và cũng như minh họa và làm rõ những mối quan hệ nhân quả nói chung Những mối quan hệ nhân quả này thường mang tính khái niệm và về bản chất mang tính định tính chứ không phải được xác định bằng phương trình toán học Mối quan hệ nhân quả này có thể được nhiều người biết tới nhưng lại khó có thể định lượng được Chỉ có rất ít trường hợp cụ thể
mà trong đó có thể xác định được một tập hợp các phương trình toán học có thể xâu chuỗi/ liên hệ được các yếu tố/thành phần với nhau để mô tả toàn cảnh theo mô hình DPSIR Tuy nhiên, đối với từng phần riêng lẻ trong mối liên hệ nhân quả thì các
Trang 20chỉ thị lại cho phép xác định và giúp ta hiểu được về các thành phần phụ thuộc lẫn nhau riêng lẻ của chúng mà trên cơ sở đó có thể phân tích các xu hướng
Tại Thông tư số 09/2011/TTBTNMT ngày 11/8/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường được định nghĩa như sau: Mô hình DPSIR là mô hình mô tả mối quan
hệ tương hỗ giữa Động lực – D (phát triển kinh tế xã hội, nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi trường) – Áp lực – P (các nguồn thải trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi trường) – Hiện trạng – S (hiện trạng chất lượng môi trường) – Tác động –
I (tác động của ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe cộng đồng, hoạt động phát triển kinh tế xã hội và môi trường, sinh thái) – Đáp ứng – R (các giải pháp về bảo
vệ môi trường)[6]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Các vấn đề môi trường nông thôn ở Việt Nam
Kết quả điều tra toàn quốc về vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn do bộ y
tế và UNICEF thực hiện được công bố ngày 26/03/2008 cho thấy VSMT và vệ sinh
cá nhân còn quá kém chỉ có 18% tổng số hộ gia đình, 11,7% trường học, 36,6 trạm
y tế xã 21% UBND xã và 2,6% khu chợ tuyến xã có nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của
Bộ y tế (Quyết định 08/2005/QĐBYT); Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch còn rất thấp 7,8% khu chợ nông thôn; 11,7% dân cư nông thôn; 14,2% trạm y tế xã; 16,1% UBND xã; 26,4% trường học có tiếp cận sử dụng nước máy; Ngoài ra, kiến thức của người dân về vệ sinh cá nhân và VSMT còn rất hạn chế, thái độ của người dân còn rất bằng quang về vấn đề này [8]
Theo Lê Văn Khoa, Hoàng Xuân Cơ (2004) [9] Nước ta là một nước nông nghiệp, 74% dân số đang sống ở khu vực nông thôn và miền núi với khoảng 20%số
hộ ở mức đói nghèo Những năm gần đây, các hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt động dịch vụ, sinh hoạt đã làm xuất hiện nhiều vấn đề môi trường có tính chất đan xen lẫn nhau và ở nhiều nơi, nhiều chỗ đã và đang trở nên bức xúc Những vấn đề này gây tác động mạnh mẽ và lâu dài đến hệ sinh thái nông nghiệp và nông thôn Nó hạn chế tính năng sản xuất của các thành phần môi trường, giảm năng suất cây trồng và vật nuôi, cản trở sự phát triển bền vững Càng ngày,
Trang 21những vấn đề ô nhiễm môi trường càng trở nên phổ biến rộng rãi, len lỏi trong mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt thường nhật của người dân nông thôn Và quan trọng nhất, hiện trạng trên tác đọng xấu đến sức khoẻ cộng đồng nông thôn và hậu quả là lâu dài, không những đối với thế hệ hiện tại mà cả thế hệ mai sau [9]
- Vấn đề nước sạch và môi trường:
Vấn đề phải kể đến về hiện tượng môi trường sống của người dân ở các vùng nông thôn Việt Nam đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước sạch và VSMT nông thôn
Nếu như chúng ta quan niệm nước sạch chỉ đơn giản là nước mưa, nước giếng khoan qua xử lý bằng bể lọc đơn giản chứ không phải nước sạch được xử lý ở các thành phố lớn thì tỷ lệ người dân nông thôn nhất là khu vực miền núi còn rất thấp
Có thể thấy rõ điều này thông qua bảng số liệu sau:[9]
Bảng 2.1 :Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng
ĐVT: %
Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch (%)
3 Bắc Trung Bộ & Duyên HảI miền Trung 36 36
(Nguồn: Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2011) [12]
Qua bảng trên, có thể thấy rõ, những người dân ở nông thôn Việt Nam đang phải sinh hoạt với những nguồn nước như thế nào ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ cao nhất cũng chỉ 39% dân số được sử dụng nước sạch Còn vùng thấp nhất là vùng núi phía Bắc, chỉ có 15% dân số được cấp nước sạch
Trang 22Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khoẻ, là nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán… Các bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu sắt, thiếu máu, kém phát triển, gây tử vong nhất là trẻ em
Có 88% trường hợp tiêu chảy là do thiếu nước sạch, VSMT kém Có thể thấy, nguyên nhân gây tình trạng ô nhiễm môi trường và nguồn nước ở nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau:
+ Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hoá chất trong nông nghiệp như phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan và không có kiểm soát
Nhìn chung, lượng phân bón hoá học ở nước ta sử dụng sòn ở mức trung bình cho 1 ha gieo trồng, bình quân 8090 kg/ha (cho lúa là 150180 kg/ha), so với Hà Lan 758kg/ha, Hàn Quốc 467kg/ha, Trung Quốc 390kg/ha Tuy nhiên việc sử dụng này lại gây sức ép đến môi trường nông nghiệp và nông thôn với 3 lý do: Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu lực phân bón thấp: Bón phân không cân đối, nặng về
sử dụng phận đạm; Chất lượng phân bón không đảm bảo, các loại phân bón NPK, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị trường không đảm bảo chất lượng đăng kí, nhẵn mác, bao bì nhái, đóng gói không đúng khối lượng đang là áp lực chính cho nông dân và môi trường đất [9]
Ngoài ra miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập tục sử dụng phân Bắc, phân chuồng tươi vào canh tác ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), phân tươi được coi là thức
ăn cho cá, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng sức khoẻ con người
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc diệt chuột; thuốc trừ cỏ Các loại này có đặc điểm là rất độc với mọi sinh vậ; tồn dư lâu dài trong môi trường đất, nước gây ô nhiễm; Tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất và môi trường nước
Hiện nay nước ta chưa sản xuất được thuốc BVTV mà phải nhập khẩu để gia công hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm bao gói lớn để sang chai đóng gói nhỏ tại các nhà máy trong nước
Trang 23Đặc biệt ở rau xanh, sâu bệnh có thể làm tổn thất trung bình từ 1040% sản lượng nên đầu tư cho thuốc BVTV sẽ mang lại lợi nhuận trên 5 lần Chính vì vậy, lượng thuốc BVTV sử dụng cho rau thường quá mức cho phép Điều này dẫn đến ô nhiễm đất, nước Từ môi trường đất nước, nông sản, thuốc BVTV sẽ xâm nhập vào
cơ thể con người và tích tụ lâu dài gây các bệnh như ung thư, tổn thương về di truyền Trẻ em nhạy cảm với thuốc bảo vệ thực vật cao hơn người lớn gấp 10 lần Đặc biệt thuốc BVTV làm cho trẻ em thiếu ôxi trong máu, suy dinh dưỡng, giảm chỉ số thông minh, chậm biết đọc, biết viết
Điều đáng quan tâm là tình trạng ngộ độc thực phẩm do các hoá chất độc, trong đó có thuốc BVTV vẫn diễn ra phức tạp và có nhiều hướng gia tăng không chỉ riêng ở nông thôn mà còn ở các thành phố lớn có sử dụng nông sản có nguồn gốc từ nông thôn
Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quản lý thuốc BVTV còn nhiều bất cập
và gặp nhiều khó khăn Hàng năm có khoảng 10% Số lượng thuốc được nhập lậu
Số này rất đa dạng về chủng loại, chất lượng không đảm bảo mà vẫn lưu hành trên thị trường Thứ hai là việc sử dụng còn tuỳ tiện, không tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật theo nhãn mác không dảm bảo thời gian cách li của từng loại thuốc Thứ ba là
do một lượng lớn thuốc BVTV tồn đọng tại các kho cũ, hết niên hạn sử dụng còn nằm dải rác tại các tỉnh thành trên cả nứơc Theo Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường, Bộ Tư lệnh Hoá học (2004), trong khoảng hơn 300 tấn thuốc BVTV tồn đọng có nhiều chất nằm trong số 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phá huỷ Và cuối cùng
là việc bảo quản thuốc BVTV còn rất tuỳ tiện, không có nơi bảo quản riêng, nhiều
hộ để thuốc BVTV trong nhà, trong bếp, trong chuồng nuôi gia súc.[9]
Theo Phạm Ngọc Quế (2003)[11] hiện tại số hộ ở nước ta chăn nuôi gia súc gia cầm là rất phát triển nhưng phương thức chăn nuôi lạc hậu (thả rông, làm chuồng dưới nhà sàn, phân để trong chuồng lâu không được xử lý hoặc dọn rửa chuồng xả bừa bãi vào các nguồn nước…) đã làm cho môi trường nông thôn ngày càng ô nhiễm Ngoài lượng phân, còn có nước tiểu, thức ăn thừa cũng chiếm một khối lượng đáng kể trong tổng số chất thải do chăn nuôi đưa đến Rõ ràng nếu lượng
Trang 24phân này không được xử lý tốt chắc chắn sẽ tạo ra một sự ô nhiễm đáng kể đối với
vệ sinh môi trường
Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất thải rắn
từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân Hiện nay cả nước có khoảng 1450 làng nghề, phân bố trên 58 tỉnh thànhvà đông đúc nhất ở đồng băng Sông Hồng, vốn là cái nuôi của làng nghề truyền thống, với tổng số 472 làng nghề các loại tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Thái Bình, Bắc Ninh…Trong
đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ sản xuất lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%) Do đó đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nông thôn, tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí, sức khoẻ của người dân làng nghề.[9]
- Ô nhiễm không khí: Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than
Do đó lượng bụi và các lượng khí CO, CO2, SO2 và NOx thải ra trong quá trình sản xuất trong làng nghề khá cao Theo kết quả điều tra tại các làng nghề sản xuất gạch
đỏ ( Khai Tái – Hà Tây), vôi (Xuân Quan Hưng Yên) hàng năm sử dụng khoảng
6000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò đã sinh ra nhiều loại bụi như CO, CO2, SO2, NOx và nhiều loại thải khác gây nguy hại tới sức khoẻ của người dân trong khu vực
và làm ảnh hưởng hoa màu, sản lượng cây trồng của nhiều vùng lân cận Đây cũng
là một trong những nguyên nhân gây các vụ xung đột, khiếu kiện như ở Thái Bình, Bắc Ninh, Hưng Yên…[9]
- Ô nhiễm môi trường đất: chủ yếu tập trung tại các làng nghề tái chế kim
loại Kết quả nghiên cứu của đề tài KC.08.06 cho thấy một số mẫu đất ở làng nghề tái chế thuộc xã Chỉ Đạo huyện Văn Lâm Hưng Yên cho thấy hàm lượng Cu2+ đạt
từ 43,68 69,68 pp Hàm lượng các kim loại nặng cũng rất cao, vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép.[9]
Bên cạnh đó có khoảng 3.600 chợ nông thôn, trung bình mỗi ngày thải ra 0,4 0,5 kg chất thải Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến nên mới thu gom được khoảng 30% chuyên chở về những nơi tập trung rác Bãi rác tại các huyện, các chợ nông thôn chưa có cơ quan quản lý và biện pháp xử lý Chủ yếu tập
Trang 25trung để phân huỷ tự nhiên và gây những gánh nặng cho công tác bảo vệ môi trường [9]
Bảng 2.2: Tình trạng phát sinh chất thải rắn Các loại chất thải rắn Toàn quốc Đô thị Nông thôn Tổng lượng phát sinh chất thảisinh hoạt
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung bình
(Nguồn: Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2011)[12]
Một nguyên nhân nữa dẫn đến sự xuống cấp của môi trường nông thôn là do
tổ chức trong lĩnh vực VSMT nông thôn còn phân tán sự phối hợp các Bộ ngành chưa tốt Nhà nước chưa có chính sách huy động sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế để cùng với người sử dụng xây dựng công trình vệ sinh mà vẫn
áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính Về pháp chế vẫn còn thiếu các quy định và hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt trong lĩnh vực vệ sinh môi trường Đa số hộ chưa có hố xí đạt tiêu chuẩn vệ sinh, nhất là vùng bị ngập lụt, vùng ven biển nơi có mật độ ngư dân cao [9]
Hiện trạng về VSMT nông thôn vấn còn nhiều vấn đề bức xúc Chất lượng của chúng ngày một tăng, lan tràn làm ô nhiễm đất, nước kể cả ngấm sâu dưới mặt đất hàng choc, hàng trăm mét Ô nhiễm môi trường gây ra do con người trong hoạt động nông nghiệp, công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp, chăn nuôi và
do những chất thải sinh hổặt các khu vực phân bố dân cư
* Các vấn đề môi trường nông thôn miền núi [9]
Trang 26Khi nói đến ô nhiễm môi trường, người ta thường hay quan tâm, bàn bạc về
ô nhiễm môi trường tại các khu vực đô thị, vấn đề xả thải ở các nhà máy, các khu công nghiệp,… mà chưa chú ý nhiều đến ô nhiễm môi trường ở nông thôn nhất là nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các tỉnh miền núi Trong thực tế, tình trạng ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn vùng miền núi cũng đang
là vấn đề đáng bàn và cần phải có sự quan tâm, đầu tư thích đáng hơn nữa
Trước hết, do thói quen sinh hoạt, do điều kiện phát triển về kinh tế xã hội chưa cao, nên tình trạng sử dụng nhà tiêu tạm bợ, không hợp vệ sinh hoặc không có nhà tiêu, đi tiêu tự do bừa bãi trên rừng, tại khu vực bờ suối,… còn tồn tại khá nhiều
ở vùng nông thôn miền núi Theo báo cáo của Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013, tỷ lệ hộ gia đình khu vực nông thôn sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của Tây Bắc nói chung chỉ đạt 47% và của tỉnh Lai Châu là 41%, trong đó phần lớn là nhà tiêu chìm có ống thông hơi, một loại hình tuy rẻ tiền, khá phù hợp với điều kiện kinh tế của vùng đồng bào dân tộc thiểu
số nhưng lại là loại hình dễ bị hư hỏng và rất nhanh xuống cấp thành loại hình nhà tiêu không hợp vệ sinh trong thời gian ngắn nếu không được sử dụng và bảo quản cẩn thận Vấn đề này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đất và nguồn nước sinh hoạt của khu vực nông thôn Bên cạnh đó, thói quen chăn nuôi gia súc thả rông, nuôi nhốt dưới gầm nhà sàn và tình trạng phân không được thu gom, xử lý, vương vãi xung quanh nhà và đường đi, khi gặp nắng bốc mùi, gặp mưa rửa trôi cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống Nếu không có biện pháp nuôi nhốt, thu gom và xử lý phân gia súc hợp lý và khoa học thì vấn đề ô nhiễm môi trường ở nông thôn vùng miền núi hiện nay sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn
Ngoài ra, do sự phát triển của cuộc sống nên hàng ngày lượng rác ở nông thôn thải ra môi trường ngày càng nhiều hơn, trong khi đó, việc thu gom rác tập trung hầu như chỉ được thực hiện tại các thị trấn vì vậy tại vùng sâu, vùng xa, vì nhiều lý do khác nhau như không có nơi thu gom rác, do thói quen… hiện tượng người dân tự do vứt các loại rác thải (túi ni lông, xác động vật nuôi bị chết, các đồ dùng phế thải của gia đình…) ra môi trường xung quanh vẫn còn rất phổ biến
Trang 27Như vậy rất dễ nhận thấy, vấn đề môi trường ở khu vực nông thôn vùng miền núi hiện nay đang là một trong những vấn đề cấp bách Những nguy cơ sức khỏe mà người dân khu vực này phải đối mặt trước tiên chính là những bệnh tật có liên quan đến điều kiện vệ sinh kém, mà trong đó trẻ em chính là đối tượng dễ bị tổn thương nhất
Theo Tổ chức Y tế thế giới, không được tiếp cận với các điều kiện vệ sinh thích hợp, không có nước để sử dụng cho các hành vi vệ sinh và uống nước không
an toàn là những nguyên nhân gây ra 88% số ca tử vong do các bệnh tiêu chảy trên thế giới Các bệnh truyền nhiễm đặc biệt là bệnh tiêu chảy đóng vai trò quyết định đến sự tăng trưởng kém và suy dinh dưỡng ở trẻ em tại các nước đang phát triển Bên cạnh đó, điều kiện vệ sinh kém là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em và luôn đi kèm với các bệnh khác như: đau mắt hột, các bệnh giun bao gồm giun đũa, giun trong máu và các loại giun đường ruột khác Tuy nhiên, trẻ
em không phải là đối tượng bị ảnh hưởng duy nhất mà còn hàng triệu người khác chậm phát triển và sức khỏe bị hủy hoại vì các bệnh tiêu chảy và các bệnh khác có liên quan đến nước và vệ sinh môi trường Ngoài ra, bệnh ung thư cũng là một nguy
cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe của người dân nông thôn do ảnh hưởng của việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật không đúng cách và chưa đảm bảo an toàn
Để góp phần hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn, biện pháp cấp bách trước mắt là phải nâng cao nhận thức về môi trường sống, cần làm tốt công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức và đề cao ý thức trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội Đưa các chỉ tiêu về vệ sinh như tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh,
tỷ lệ cộng đồng thực hiện tốt công tác bảo vệ nguồn nước,… vào chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện, xã để nâng cao hơn nữa trách nhiệm của chính quyền các cấp về công tác này Cùng với đó là tuyên truyền đến người dân, gia đình về tầm quan trọng, lợi ích của việc giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường đối với sức khỏe, hạnh phúc của con người Có thể áp dụng chế tài xử phạt theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường đối với những cá nhân và gia đình tái vi phạm nhiều lần về vệ
Trang 28sinh môi trường nông thôn như chăn nuôi gia súc thả rông, nuôi nhốt gia súc dưới gầm nhà sàn, đổ thuốc bảo vệ thực vật thừa xuống nguồn nước, vứt rác thải bừa bãi
ra môi trường… để người dân có ý thức, chủ động và tự giác hơn trong việc thu gom rác thải, di dời chuồng nuôi gia súc ra xa nhà ở và không thả rông gia súc Từ
đó chúng ta mới từng bước cải thiện được môi trường sống, giảm thiểu bệnh tật cho cộng đồng dân cư khu vực nông thôn vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số trên địa bàn các tỉnh miền núi trong giai đoạn trước mắt và lâu dài
1.2.3 Các vấn đề môi trường nông thôn cấp bách tại tỉnh Lai Châu
Mang đặc thù của tỉnh miền núi, tỉnh Lai Châu cũng đang gặp phải các vấn đề môi trường nghiêm trọng, có thể nhận thấy các vấn đề môi trường bức xúc của tỉnh như sau [10]
Ô nhiễm môi trường tại khu vực khai thác khoáng sản, đặc biệt là khai thác khoáng sản là kim loại
Ô nhiễm môi trường tại các đô thị do nước thải và chất thải rắn
Suy giảm rừng nhanh chóng, tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh hiện đã xuống thấp, trong đó rừng tự nhiên, rừng nguyên sinh còn chiếm một tỷ lệ nhỏ Chất lượng rừng suy giảm cả rừng đầu nguồn Tài nguyên sinh vật rừng tiếp tục suy giảm và xuống cấp Đây chính là nguyên nhân phát sinh tai biến lũ quét, lạt lở đất ở tỉnh
Ô nhiễm và suy thoái môi trường đất diễn ra ở nhiều nơi từ đất rừng, đất nông nghiệp
Nguy cơ ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng tại nhiều nơi: Chất lượng nước mặt, nước ngầm (tăng độ đục, độ axit, hàm lượng các cation kim loại…) Nhiều sông, suối, dòng chảy bị bồi lấp
Vệ sinh môi trường nông thôn bị ảnh hưởng nghiêm trọng do chất thải rắn, nước thải sinh hoạt,…
Ô nhiễm môi trường do ảnh hưởng của thiên tai hàng năm
Cháy rừng, suy giảm chất lượng rừng
Canh tác nương rẫy gây xói mòn, sạt lở trong thời kỳ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
Trang 29 Ảnh hưởng của biển đổi khí hậu: Lương mưa tăng, xói mòn, sạt lở tăng, có nhiều diễn biến bất thường của thời tiết như băng tuyết, sường muối
1.2.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam [11]
Ở Việt Nam, Chương trình thí điểm xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ CNHHĐH được triển khai thực hiện theo kết luận số 32KL/TW ngày 20/11/2008 của Bộ Chính trị Xây dựng nông thôn mới là giải pháp chủ yếu, quan trọng và có tính chiến lược để thực hiện thành công Nghị quyết 26NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân của Đảng, nhà nước, đã được nhân dân đồng tình và hưởng ứng tích cực Trong 03 năm qua, Chính phủ cùng các
Bộ, ngành, các cấp ủy, chính quyền cùng cả hệ thống chính trị và đông đảo nhân dân đã chung vai, góp sức thực hiện Chương trình và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, rất vui mừng và trân trọng; tạo nên nhiều chuyển biến mới trong nông nghiệp, bộ mặt nông thôn được đổi mới, đời sống nông dân được nâng lên
Theo báo cáo tổng hợp của Ban Chỉ đạo, đến nay có 185 xã đạt 19 tiêu chí;
số tiêu chí đạt chuẩn bình quân cả nước tăng từ 4,7 tiêu chí/xã năm 2011 lên 8,47 tiêu chí/xã năm 2014; có 93,1% số xã hoàn thành quy hoạch chung; 81% số xã phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới; có khoảng trên 9.000 mô hình sản xuất có hiệu quả, tăng thu nhập cho nông dân, bao gồm: mô hình sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị có ứng dụng công nghệ cao, cánh đồng lớn, gắn sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân; thu nhập của dân cư nông thôn năm 2013 tăng hơn 1,8 lần so với năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo nông thôn đến hết 2013 là 12,6 %, giảm bình quân 2% năm trong thời điểm kinh tế khó khăn
Kết quả đạt cụ thể trong việc thực hiện tiêu chí môi trường như sau:
Xây dựng cơ sở hạ tầng nước sạch và vệ sinh môi trường: Thực hiện chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường, các địa phương đã xây dựng, nâng cấp được hơn 1.000 công trình nước sạch tập trung, 500 bãi thu gom rác thải, 1200 cống rãnh thoát nước thải vệ sinh Ngoài ra, các địa phương đã sửa chữa, nâng cấp
480 trường học các cấp; xây dựng, nâng cấp 39 trụ sở xã; xây dựng 516 nhà văn hóa
Trang 30thôn, xã; xây dựng 50 trạm y tế xã; xây dựng 120 công trình điện; xây dựng 28 chợ
và hàng trăm công trình khác được xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng
Theo kết quả đánh giá của các địa phương số xã đạt nhóm các tiêu chí này chiếm khoảng 20% số xã của các tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồngvà Đồng Bằng sông Cửu Long… Tuy nhiên, công tác xây dựng hạ tầng đang bộc
lộ một số hạn chế như nguồn lực đầu tư cho xây dựng hạ tầng nông thôn mới vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, mức huy động từ các nguồn khác còn thấp; Chưa chú trọng đến các công trình y tế, văn hoá, vệ sinh môi trường nông thôn…; Việc tuyên truyền, vận động sự tham gia, đóng góp của người dân còn hạn chế Thiếu quản lý, duy tu và bảo dưỡng các công trình hạ tầng sau khi đưa vào sử dụng
Về môi trường: Hiện tại có 40% xã thành lập tổ thu gom rác thải (tăng 10%
xã so với trước thời điểm thực hiện xây dựng nông thôn mới)
Tuy nhiên, các vấn đề về môi trường nông thôn chưa có nhiều chuyển biến Các hoạt động cải tạo cảnh quan như sửa chữa đường sá, cổng ngõ, phát quang bụi rậm, sửa sang hàng rào, cải tạo vườn tạp để có thu nhập và có cảnh quan đẹp từ mỗi nhà, đồng thờidễ huy động sự đóng góp của cộng đồng vẫn chưa được Ban Chỉ đạo các địa phương chú trọng chỉ đạo thực hiện
Bên cạnh những kết quả rất quan trọng đã đạt được, việc thực hiện Chương trình trong thời gianqua vẫn còn một số hạn chế: Tiến độ triển khai nhìn chung còn chậm so với mục tiêu, yêu cầu; nhận thức của một bộ phận cán bộ đảng viên và người dân về những nội dung thiết yếu của Chương trình chưa đầy đủ, việc quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền ở một số nơi chưa thường xuyên, sâu sát; một
số cơ chế, chính sách, không phù hợp, chậm được bổ sung điều chỉnh, sửa đổi; công tác sơ kết, nhân rộng mô hình chưa được thường xuyên, kịp thời; bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo ở một số địa phương còn chưa đủ mạnh; việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, đổi mới và phương thức tổ chức mô hình sản xuất trong nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu; tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp đang có xu hướng chậm lại; sản xuất nông nghiệp chậm phát triển theo hướng hiện đại, thiếu tính bền vững; quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa gắn được sản xuất với chế biến,
Trang 31tiêu thụ và xuất khẩu; nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp chưa được coi trọng Đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu Tỷ lệ hộ nghèo cả nước tuy có giảm nhưng vẫn cao, thu nhập và mức sống của nông dân còn khó khăn; tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn chưa được giải quyết có hiệu quả, năng lực ứng phó với thiên tai còn nhiều hạn chế; chất lượng y tế, văn hóa, giáo dục ở nhiều nơi còn thấp; hệ thống hạ tầng nông thôn, nhất là các vùng miền núi còn lạc hậu, chậm được cải thiện Nguồn Lực Trung ương và huy động nguồn lực xã hội cho Chương trình còn thấp nhiều so với yêu cầu thực tế
* Tình hình xây dựng nông thôn mới tỉnh Lai Châu [12]
Là tỉnh có diện tích rộng, dân số mỏng, có những xã rộng gần bằng 1 tỉnh ở đồng bằng nên Lai Châu gặp không ít khó khăn trong quá trình xây dựng nông thôn mới (NTM) Chính vì vậy, Ban Chỉ đạo (BCĐ) chương trình NTM xác định phải lồng ghép các chương trình một cách linh hoạt trong quá trình triển khai để đạt được kết quả khả quan nhất Trong năm 2014 Lai Châu sẽ phấn đấu chỉ tiêu tăng bình quân 1,5 tiêu chí/xã Trong đó các xã điểm cơ bản đạt 19 tiêu chí NTM vào năm
2015 Ba nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng NTM của Lai Châu là tập trung tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng khai thác tiềm năng lợi thế; bê tông hóa đường trục ngõ thôn, bản theo phương châm nhà nước hỗ trợ, nhân dân làm và tổ chức thu gom rác thải, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, nhà xí hợp vệ sinh Theo BCĐ Chương trình MTQG về xây dựng NTM tỉnh, sau 3 năm triển khai, cho đến thời điểm hiện tại về cơ cấu bộ máy, tổ chức BCĐ cấp tỉnh và cấp huyện, tỉnh Lai Châu đã cơ bản kiện toàn Cụ thể, đã có 8/8 huyện, thị thành lập BCĐ lồng ghép các nguồn vốn để xây dựng NTM và đẩy mạnh tuyên truyền người dân tham gia Tỉnh cũng đã phát động phong trào toàn dân chung sức xây dựng NTM được đông đảo bà con nhiệt tình hưởng ứng Nhờ đó, trong năm 2013 Lai Châu đã hoàn thành xây dựng quy hoạch và phê duyệt đề án ở 96/96 xã Sau 3 năm triển khai, Lai Châu đã
mở mới hàng trăm công trình, trên 400km đường giao thông liên xã, bản, nội bản, đường nội đồng
Trang 32Chủ trương của tỉnh là hỗ trợ xi măng, vật liệu còn người dân đóng góp ngày công Theo số liệu thống kê sơ bộ, bà con đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Lai Châu đã hiến trên 100.000 m2 đất, đóng góp hơn 67 tỉ đồng Đặc biệt, tỉnh rất chú trọng công tác thủy lợi, vì đây là cơ sở quan trọng để người dân có thể chủ động sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập, từ đó đảm bảo an ninh lương thực cho tỉnh Trong 3 năm qua, hệ thống thủy lợi được tỉnh Lai Châu đầu tư cải tạo, xây mới đã đáp ứng được 80% tỉ lệ diện tích gieo cấy, nâng tổng diện tích canh tác được tưới tiêu thường xuyên trong năm 2013 lên trên 22.000ha, tăng gần 1.200 ha so với năm
2010 Nhìn chung, xét theo tiêu chí, tính đến hết năm 2013, bình quân Lai Châu đạt 6,67 tiêu chí/xã, tăng 3,9 tiêu chí/xã so với năm 2010 Lai Châu hiện chưa có xã nào đạt 19 tiêu chí, số xã đạt 15 18 tiêu chí hiện cũng chỉ có 1, chiếm 1,04%; số xã đạt
10 14 tiêu chí hiện nâng lên 14, tăng 3 xã so với năm 2011; số xã đạt 5 9 là 60, tăng 43 xã so với năm 2011 và số xã dưới 5 tiêu chí còn lại 21, giảm 54 xã so với
2011
* Nâng cao thu nhập là tiêu chí quyết định
Để đạt được theo đúng bộ tiêu chí NTM của BCĐ Trung ương đòi hỏi phải
có một nguồn đầu tư rất lớn, một cơ chế thật đặc thù và đặc biệt là quyết tâm cao
độ
Trong 3 năm, từ 2011 đến 2013, tỉnh Lai Châu chi ngân sách trực tiếp đầu tư cho xây dựng NTM là 43,973 tỉ đồng, số tiền chỉ như muối bỏ biển với một tỉnh rộng hơn 9.000 km Tuy nhiên, trong năm 2014 này tỉnh Lai Châu có bước đột phá lớn khi dành hơn 109 tỉ đồng xây dựng NTM So với nhiều địa phương khác chỉ là
số lẻ, nhưng với một tỉnh mà thu ngân sách hàng năm chỉ xấp xỉ trên dưới 600 tỉ đồng thì nó chiếm tới gần 15% Qua đó cho thấy lãnh đạo tỉnh Lai Châu đặc biệt chú trọng đến chương trình NTM
Xác định phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân là một trong những mục tiêu quan trọng, then chốt để chương trình xây dựng NTM thành công, trong những năm qua và định hướng những năm tiếp theo, Lai Châu luôn đặt tiêu chí này lên hàng đầu trong các chương trình lồng ghép linh hoạt
Trang 33Ba năm qua, Lai Châu tập trung đẩy mạnh phong trào thâm canh tăng vụ, đưa lúa đông xuân lên vùng cao, tăng thêm vụ ngô xuân sớm và trồng ngô trên vùng bán ngập thủy điện… đưa sản lượng lương thực toàn tỉnh trong năm 2013 lên 182.000 tấn, vượt kế hoạch đề ra Tính đến hết năm 2013, tỉnh Lai Châu đã trồng được gần 12.000 ha cao su, hiện đang tạo công ăn việc làm và thu nhập khá ổn định cho hàng nghìn công nhân và lao động địa phương
Để đạt hiệu quả cao trong quá trình xây dựng NTM, ông Lê Trọng Quảng Phó Chủ tịch UBND kiêm Phó BCĐ chương trình NTM Lai Châu chia sẻ: Trong cách làm phải thật sự linh động, mềm mại Làm sao vừa đạt được mục tiêu đề ra, song không làm sai lệch các nguyên tắc về đầu tư và thủ tục hành chính Nhà nước
đã ban hành
Ví dụ, khi đầu tư làm đường giao thông nông thôn, tỉnh Lai Châu ưu tiên làm những con đường vào các vùng trồng chè, cao su trước để thúc đẩy sản xuất kết hợp với những chính sách dành riêng cho làm đường với các vùng được quy hoạch trồng chè sẽ tạo ra mạng lưới giao thông hoàn chỉnh cho việc đưa cơ giới hóa vào sản xuất sau này
“Nhờ cách làm linh hoạt, đến hết năm 2013 Lai Châu đã tổng diện tích chè gần 4.000ha, trong đó chè tiêu chuẩn VietGAP là 105 ha, chiếm gần 50% diện tích là các giống chè trồng mới chất lượng cao Kim Tuyên Qua đó, nâng sản lượng búp chè tươi toàn tỉnh lên xấp xỉ 20.000 tấn Hiện tại, Lai Châu đã có một số DN chè đang hoạt động rất ổn định
* Kết quả đạt được xây dựng nông thôn mới xã San Thàng [13]
San Thàng là xã “cửa ngõ” thành phố Lai Châu nên ngay sau khi phát động phong trào thi đua “Đảng bộ, Nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu chung tay, góp sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2011 – 2020, xã San Thàng đã được tạo điều kiện về nguồn vốn để thực hiện các tiêu chí nông thôn mới Ban Chỉ đạo, Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới xã, Ban phát triển các bản tuyên truyền bằng nhiều hình thức ở cơ sở để người dân hiểu, tham gia xây dựng nông thôn mới
Trang 34Đánh giá kết quả chương trình xây dựng nông thôn mới theo bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Bảng 2.3: Các tiêu chí NTM đạt được của xã San Thàng so với 19 tiêu chí
NTM năm 2013 STT Tên Tiêu chí NTTM Nhóm tiêu chí NTM (Đạ/chưa đạt) Đánh giá Tổng số chỉ tiêu “Đạt”
Trang 35San Thàng đóng góp xây dựng các tuyến đường liên bản, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải đã tặng bằng khen và thưởng bằng hiện vật 20 tấn xi măng Bút Sơn
Người dân San Thàng hôm nay đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa, đáp ứng phần nào nhu cầu tiêu thụ của thị trường thành phố Những sản phẩm: rau xanh bản Séo Xin Chải, Thành Công (quy mô trên 8ha), hoa bản San Thàng 2; thuỷ sản, gia súc gia cầm bản Lò Suối Tủng, Phan Lìn, chè, gạo tẻ dâu, khoai lang, các loại bánh dần có thương hiệu, chỗ đứng trong lòng người tiêu thụ và là bước phát triển kinh tế vững chắc cho xã nông nghiệp này
"Nếu như năm 2010, diện tích sản xuất tăng vụ mới là 57ha thì nay đã là 238ha, góp phần tăng thu nhập cho người dân từ 9,5 triệu đồng/người/năm vào năm 2010 lên 18 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn xã chỉ còn 2,16% Bộ mặt của xã càng thêm thay đổi khi tỷ lệ hộ gia đình có nhà ở đạt chuẩn Bộ Xây dựng từ 40% năm 2010 đã được nâng lên 80% trong năm 2014" là những con số so sánh của Phó Chủ tịch UBND xã Trương Thanh Nam khẳng định về sự thay đổi của xã từ khi thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
Cùng với nền kinh tế phát triển, điện, đường, trường, trạm được đầu tư giúp đời sống người dân sáng lạn hơn Khi đêm xuống, từ trên đỉnh Lản Nhì Thàng nhìn xuống khu vực xã đã thấy ánh điện thay sao chiếu sáng dọc trục đường quốc lộ 4D đến khu vực bản Mới, bản Trung Tâm và dọc trục đường đi ngã ba Duy Phong đến bản Tả Xin Chải I Bộ máy chính quyền cũng có sự thay đổi tích cực khi năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của chính quyền được nâng lên Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường phối hợp, giữ mối liên hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân Công tác quy hoạch cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chú trọng Trong những năm tới, San Thàng sẽ trở thành vựa nông sản cung cấp cho thành phố Hiện, xã tiếp tục phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND thành phố hỗ trợ Nhân dân duy trì và phát triển thế mạnh vùng và đang thực hiện
mô hình lúa tẻ dâu 30ha, mô hình khoai lang 5ha, sản xuất chế biến chè 191ha tăng
vụ, khuyến khích người dân phát triển kinh tế bằng các sản vật địa phương
Để tạo điều kiện cho người dân phát triển nông nghiệp và thuận lợi trong việc vận chuyển vật tư ra đồng, vận chuyển nông sản về nhà, xã tiếp tục cứng hóa 5 tuyến giao thông nội đồng, nâng tỷ lệ km đường nội đồng được cứng hóa hết năm
Trang 362014 đạt 55% (tiêu trí 50%) Kiên cố hóa 5 tuyến kênh mương thủy lợi phục vụ sản xuất, nâng tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa hết năm 2014 đạt 53% (tiêu trí 50%)
Tiêu chí môi trường được xem là tiêu chí khó đạt trong xây dựng nông thôn mới và được xã thực hiện thí điểm tại bản Cắng Đắng, Phan Lìn Đến bản Cắng Đắng hôm nay, những tuyến đường liên bản thêm thoáng đãng khi mỗi tuần đều được người dân quét sạch, phát dọn cỏ Các loại bệnh do ư thức vệ sinh kém không
c ̣n Hay như xã Phan Lìn, trong các cuộc họp ở bản đều chú trọng việc vận động người dân chung tay xử lý rác thải sinh hoạt bằng cách chôn lấp, đốt… để đảm bảo môi trường sống của người dân Hiện nay, trên các tuyến đường chính của xã đã có
tổ vệ sinh môi trường thu gom rác thường xuyên, tạo môi trường sống sạch, đẹp văn minh
Một niềm vui mới nữa của xã San Thàng là năm nay, bên cạnh việc sửa chữa, cấp thiết bị mới cho các nhà văn hóa bản San Thàng 1, Lùng Than, Cắng Đắng, Chin Chu Chải thì xã được đầu tư xây dựng mới 3 nhà văn hóa ( Lò Suối Tủng, Trung Tâm, Thành Công, Phan Lìn, San Thàng II) Khu vực nhà văn hóa và sân thể thao xã được xây dựng sẽ là khu vui chơi, sinh hoạt cộng đồng của 5 dân tộc anh em Để đáp ứng cơ sở vật chất văn hóa, xã còn được bổ sung nguồn vốn tu sửa, xây mới một số hạng mục, chỉnh trang lại khu vực gốc cây phục vụ Lễ cúng Tú Tỉ hàng năm của Nhân dân bản San Thàng I
Trang 37CHƯƠNG 2:
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP
LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu
Xã San Thàng, tỉnh Lai Châu;
2.1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu
a Vị trí địa lý
Xã San Thàng nằm ở phía Tây của Thành phố Lai Châu, cách trung tâm thành phố Lai Châu 5 km, xã San Thàng có ranh giới hành chính như sau:
Phía Bắc giáp xã Sùng Phài, Thèn Sin, Tả Lèng, huyện Tam Đường;
Phía Đông giáp giáp xã Giang Ma, huyện Tam Đường;
Phía Tây giáp phường Tân Phong, thị xã Lai Châu và các xã Nùng Nàng, Sùng Phài thuộc huyện Tam Đường;
Phía Nam giáp xã Bản Giang, huyện Tam Đường
b Địa hình
Xã San Thàng có địa hình là núi cao, độ cao trung bình 987m so với mực nước biển, có độ dốc trung bình 250, bị chia cắt bởi các dãy núi dài theo hướng Tây
Trang 38Bắc – Đông Nam và các hệ thống suối, xen kẽ là các địa hình thung lũng hẹp tương đối bằng phẳng
Địa hình có độ cao thay đổi do hình thành núi đá vôi dày đặc và có nhiều hố cát tơ
c Điều kiện về khí tượng thủy văn
* Điều kiện khí tượng
Điều kiện khí tượng, khí hậu của khu vực xã San Thàng đặc trưng bởi vùng núi phía Tây Bắc Bộ
- Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí của xã San Thàng có sự chênh lệch lớn giữa các mùa trong năm và có sự dao động lớn trong ngày, tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm
là từ tháng 6 đến tháng 10, tháng có nhiệt độ thấp nhất từ tháng 11 cho đến tháng 02 năm sau Nhiệt độ trung bình năm 2013 là 19.90C
- Độ ẩm không khí
Độ ẩm trung bình của khu vực xã San Thàng là tương đối cao, dao động trong khoảng là 69 91%, đặc biệt tháng 1 năm 2011 độ ẩm không khí thành phố Lai Châu tương đối thấp, chỉ có 20% Độ ẩm tương đối trung bình tháng của năm
ít chịu ảnh hưởng của bão và gió mùa Đông Bắc Ngoài ra còn có mưa đá, gió lốc thường xảy ra vào đầu mùa mưa với tần suất xuất hiện trung bình 1,3 1,5 ngày/năm
Trang 39- Tốc độ gió và hướng gió
Khu vực xã San Thàng chịu ảnh hưởng của gió Tây, Đông Nam và gió mùa Đông Bắc, ít chịu ảnh hưởng của bão
- Các dạng thời tiết đặc biệt
Gió mùa đông bắc là những khí áp cao hình thành từ lục địa châu á thổi qua Hoa Nam (Trung Quốc) vào miền Bắc nước ta theo hướng đông bắc từ tháng 9 đến tháng 5 Giữa mùa đông lạnh, số đợt gió mau hơn và sức gió mạnh hơn của các đợt so với đầu và cuối mùa
Mỗi đợt gió mùa đông bắc tràn về ảnh hưởng tới thời tiết địa phương từ 3 tới gần chục ngày, với đặc trưng là nhiệt độ không khí hạ thấp đột ngột, rồi bị "nhiệt đới hoá" mà ấm dần lên Có những đợt gió mùa đông bắc tràn về đầu mùa hoặc cuối mùa đông gặp không khí nhiệt đới nóng ẩm gây nhiễu loạn thời tiết, sinh ra giông tố, lốc xoáy, kèm mưa đá, tàn phá các địa phương khi chúng tràn qua
+ Sương muối
Thường vào tháng 12 và tháng 1 năm sau, khi kết thúc các đợt gió mùa đông bắc, trời nắng hanh, đêm không mây, lặng gió, gây ra bức xạ mặt đất rất mạnh Nhiệt độ không khí hạ thấp nhanh có thể xuống dưới 0oC Hơi nước trong không khí giáp mặt đất ngưng kết dạng tinh thể muối, đọng lại gây thời tiết lạnh buốt gọi
là sương muối
+ Nồm
Vào mùa đông, xen giữa các đợt lạnh có những ngày nóng bức bất thường hay xảy ra vào mùa xuân, độ ẩm không khí lên đến trên 90%, gây hiện tượng hơi nước đọng ướt át nền nhà, làm ẩm mốc các đồ dùng, thực phẩm, sâu bệnh phái triển gọi là thời tiết nồm
+ Mây mù
Vào cuối mùa xuân (khoảng tháng 3 4), nhất là ở những thung lũng kín, sườn núi khuất gió hay có hiện tượng mây mù dày đặc, tầm nhìn mắt thường không quá 5m đôi khi cả ngày không có ánh nắng mặt trời (trực xạ O%)
* Điều kiện thủy văn và tài nguyên nước khu vực xã San Thàng
Trang 40Khu vực xã San Thàng có suối Bản Giang chảy qua Trên địa bàn xã có rải rác các ao, hồ nuôi thủy sản của các hộ dân và có một khe suối nhỏ chảy theo sườn đồi và bên cạnh cánh đồng lúa
Suối Bản Giangcó chế độ dòng chảy ổn định theo mùa, mùa mưa mực nước dâng cao và chảy xiết
d Các nguồn tài nguyên
Xã San Thàng có tổng diện tích đất tự nhiên là 2744.34 ha
Căn cứ hiện trạng khu đất, điều kiện địa chất thủy văn khu vực và tài liệu địa chất báo cáo tình hình địa chất tỉnh Lai Châu Đất đai của xã San Thàng mang các đặc điểm sau:
+ Lớp đất 1: Lớp sét mầu vàng có lẫn sỏi sạn, có chiều sâu trung bình từ 0 – 2m; + Lớp đất 2: Lớp đá phong hóa màu trắng nứt nẻ nhiều, có chiều sâu trung bình từ 2m – 11 m;
R0=1,52kg/cm2 E=325,64kg/cm2 ;
+ Lớp đất 3: Lớp đá phong hóa rắn chắc màu trắng khoan đến 17,5 m vẫn chưa hết;
- Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn chỉ có khoáng sản đá làm vật liệu xây
dựng, các mỏ khai thác đá hiện tại đã ngừng hoạt động do hết nhu cầu sử dụng
- Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học: