1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI :TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HOÁ THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

72 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả Hồ Thị Hồng Ánh, Đỗ Thanh Hà, Nguyễn Trà My, Trần Thị Thanh Trà
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Loa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (9)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (11)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (11)
    • 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (11)
      • 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài (11)
      • 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu (12)
    • 1.5. Phương pháp nghiên cứu (12)
    • 1.6 Cấu trúc bài nghiên cứu (12)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (14)
    • 2.1. Lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập của Ngân hàng thương mại (14)
      • 2.1.1. Khái niệm về đa dạng hóa thu nhập ngân hàng (14)
      • 2.1.2. Một số chỉ tiêu đo lường đa dạng hóa thu nhập của Ngân hàng (16)
    • 2.2. Lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thuơng mại (17)
      • 2.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại (17)
      • 2.2.2. Một số chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại (17)
    • 2.3. Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng (18)
    • 2.4. Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng (19)
      • 2.4.1 Tác động của đa dạng hóa thu nhập lên hoạt động ngân hàng thương mại tại các nước phát triển (19)
        • 2.4.1.1. Đa dạng hóa thu nhập tác động đến lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại (19)
        • 2.4.1.2. Rủi ro của đa dạng hóa thu nhập đối với hoạt động ngân hàng thương mại (22)
        • 2.4.2.1 Đa dạng hóa thu nhập tác động đến lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại (25)
        • 2.4.2.2 Rủi ro của đa dạng hóa thu nhập đối với hoạt động của ngân hàng thương mại (30)
      • 2.4.3. Khoảng trống nghiên cứu (35)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP VÀ LỢI NHUẬN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM (38)
    • 3.1. Thực trạng đa dạng hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam (38)
      • 3.1.1. Mô hình ngân hàng kinh doanh đa năng – xu thế phát triển tất yếu của ngân hàng thương mại (38)
      • 3.1.2. Phân tích cơ cấu nguồn thu nhập của ngân hàng thương mại tại Việt Nam (0)
        • 3.1.2.1. Cơ cấu thu nhập của từng nhóm ngân hàng (39)
        • 3.1.2.2. Tính ổn định nguồn thu nhập của các ngân hàng thương mại Việt Nam (0)
      • 3.1.3. Thực trạng đa dạng hóa thu nhập các ngân hàng thương mại Việt Nam (44)
      • 3.1.4. Đánh giá tình hình đa dạng hóa của ngân hàng thương mại tại Việt Nam (0)
    • 3.2. Thực trạng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam (45)
      • 3.2.1. Thực trạng hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam (45)
      • 3.2.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2017 (50)
    • 3.3. Phân tích xu hướng ảnh hưởng của đa dạng hóa tới hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2017 (50)
  • CHƯƠNG 4: DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (54)
    • 4.1. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu (54)
      • 4.1.1. Dữ liệu (54)
      • 4.1.2. Phương pháp nghiên cứu (54)
    • 4.2. Mô hình nghiên cứu (54)
    • 4.3. Thống kê mô tả (56)
    • 4.4. Kết quả hồi quy ước lượng (57)
      • 4.4.1. Kiểm định Hausman (57)
      • 4.4.2. Kết quả ước lượng và thảo luận kết quả (58)
      • 4.4.3. Nghiên cứu bổ sung (61)
        • 4.4.3.1. Đa dạng hoa thu nhập với kinh nghiệm của ngân hàng (61)
        • 4.4.3.2. Đa dạng hoá thu nhập với các ngân hàng thương mại có vốn nước ngoài . 60 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý (62)
    • 5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu (65)
    • 5.2. Giải pháp (65)
      • 5.2.1. Giảm thiểu chi phí của ngân hàng (65)
      • 5.2.2 Gia tăng lợi nhuận của ngân hàng (67)

Nội dung

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Lý do chọn đề tài

Toàn cầu hoá đang mở rộng và Việt Nam tích cực hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, hội nhập cũng mang lại thách thức cho thị trường tài chính, với sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại trong nước và ngân hàng nước ngoài Đến cuối năm 2019, hệ thống ngân hàng Việt Nam có 4 ngân hàng 100% vốn nhà nước và 31 ngân hàng cổ phần trong nước, cùng với 9 ngân hàng nước ngoài Sự gia tăng ngân hàng nước ngoài đã ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng trong nước, buộc họ phải hy sinh một phần lợi nhuận để giữ thị phần Thêm vào đó, suy thoái kinh tế và dịch bệnh đã làm giảm thu nhập từ hoạt động tín dụng, dẫn đến nợ xấu và yêu cầu trích lập dự phòng rủi ro cao hơn Ngân hàng Trung ương siết chặt quản lý rủi ro, tạo áp lực lên lợi nhuận ngân hàng Do đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần tìm cách gia tăng lợi nhuận và nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là chuyển hướng sang tăng thu từ dịch vụ để đối phó với sự kiểm soát tín dụng chặt chẽ nhằm ngăn ngừa lạm phát và bất ổn hệ thống.

Đến năm 2020, mục tiêu là tăng gấp đôi tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các ngân hàng thương mại (NHTM) Một giải pháp quan trọng là chuyển đổi mô hình kinh doanh từ "độc canh tín dụng" sang đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ phi tín dụng Khi gặp khó khăn trong cho vay và các quy định kiểm soát tín dụng, các NHTM đã thực hiện chiến lược đa dạng hóa nguồn thu để tìm kiếm cơ hội mới Trước đây, nguồn thu ngoài lãi chủ yếu từ phí dịch vụ như séc và quản lý tài sản, nhưng gần đây các ngân hàng đã mở rộng sang bảo hiểm, đầu tư thương mại và các dịch vụ khác Việc này giúp các NHTM cạnh tranh tốt hơn trên thị trường, gia tăng thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau Tuy nhiên, sự thay đổi của nền kinh tế cũng ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng.

Quá trình tự do hóa tài chính bắt đầu từ những năm 1970 đã dẫn đến sự gia tăng nguồn thu nhập ngoài lãi cho các ngân hàng, trong khi thu nhập từ lãi có xu hướng suy giảm Tại Mỹ, Canada và châu Âu, thu nhập ngoài lãi đã tăng lên rõ rệt, nhưng tại Việt Nam, tỷ lệ này vẫn thấp, chỉ khoảng 20% trong giai đoạn 2012 – 2013, so với 35 – 40% ở Myanmar, Philippines và Singapore Điều này cho thấy các ngân hàng thương mại Việt Nam có tiềm năng gia tăng lợi nhuận thông qua chiến lược đa dạng hóa thu nhập Mặc dù nhiều nghiên cứu đã phân tích tác động của đa dạng hóa đến lợi nhuận ngân hàng, kết quả vẫn chưa đồng nhất và có sự khác biệt lớn.

Trong gần một thập kỷ qua, nhiều ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã thực hiện chiến lược đa dạng hóa Các nghiên cứu học thuật liên quan đến vấn đề này đã được thực hiện, bao gồm các công trình của Võ Xuân Vinh (2015), Võ Đức Thọ (2017) và Nguyễn Khánh Ngọc.

Nghiên cứu này đánh giá tác động của việc đa dạng hóa các nguồn thu nhập đến lợi nhuận của ngân hàng, dựa trên số liệu của 46 ngân hàng trong giai đoạn từ 2007 đến 2017.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến lợi nhuận ngân hàng trong giai đoạn 2007 – 2017, cho thấy rằng đa dạng hóa thu nhập có thể gia tăng lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp và hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng dựa trên các bằng chứng thực nghiệm và thực trạng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

Bài nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau:

- Đa dạng hóa thu nhập có ảnh hưởng đến lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại không?

- Đa dạng hóa thu nhập có làm gia tăng lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại không?

- Các nhà quản trị ngân hàng cần lưu ý đến những đề suất nào khi thực hiện đa dạng hóa thu nhập cho ngân hàng của mình?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài Đa dạng hóa thu nhập, lợi nhuận của ngân hàng thương mại và mối quan hệ giữa đa dạng hóa và lợi nhuận của ngân hàng

Nghiên cứu này phân tích thực trạng đa dạng hóa và lợi nhuận tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Đặc biệt, nó tập trung vào việc khám phá mối quan hệ giữa đa dạng hóa và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại trong bối cảnh hiện nay.

- Không gian và thời gian: Số liệu được thu thập từ 46 NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ 2007 – 2017.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng phân tích hồi quy trên dữ liệu bảng để khám phá mối quan hệ giữa sự đa dạng hóa thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng thương mại Nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của các yếu tố đa dạng hóa đến hiệu quả tài chính của các tổ chức ngân hàng, từ đó cung cấp thông tin giá trị cho các nhà quản lý trong việc tối ưu hóa chiến lược kinh doanh.

- Thống kê mô tả các biến

Phân tích hồi quy trong dữ liệu bảng có thể được thực hiện thông qua phương pháp ước lượng cố định (Fixed Effects) và phương pháp ước lượng ngẫu nhiên (Random Effects) Để xác định mô hình tối ưu, cần áp dụng kiểm định Hausman nhằm so sánh hiệu quả giữa hai phương pháp này Qua đó, kết luận cuối cùng sẽ được đưa ra dựa trên kết quả phân tích.

Cấu trúc bài nghiên cứu

Bài nghiên cứu gồm các chương sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Chương 3: Thực trạng đa dạng hóa thu nhập và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 4: Dữ liệu, mô hình, phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu tác động của đa dạng hóa đến lợi nhuận

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 1 tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu cũng như đối tượng, phạm vi, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu nhằm xem xét tác động của việc đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn từ

Từ năm 2007 đến 2017, chương 2 sẽ làm rõ các khái niệm về đa dạng hóa thu nhập và lợi nhuận ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, chương cũng sẽ trình bày các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đa dạng hóa thu nhập đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trên toàn cầu và tại Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập của Ngân hàng thương mại

2.1.1 Khái niệm về đa dạng hóa thu nhập ngân hàng Đa dạng hóa (diversification) là quá trình một địa phương, một công ty hoặc cá nhân tìm cách tăng thêm lĩnh vực hoạt động hoặc mặt hàng sản xuất kinh doanh để giảm bớt rủi ro gắn liền với việc chuyên môn hóa quá mức Đa dạng hóa là một cách thức nhằm làm giảm rủi ro phi hệ thống, được thường xuyên sử dụng trong quản trị đầu tư Đa dạng hóa thu nhập ngân hàng là việc ngân hàng bổ sung và làm phong phú thêm các nguồn thu nhập bằng cách đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ,… trong khuôn khổ pháp luật cho phép

Do đa dạng hoá thu nhập, ngân hàng thương mại sẽ có 2 thành phần thu nhập, đó là: thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi

Thu nhập từ lãi, hay còn gọi là các khoản thu nhập từ hoạt động truyền thống của ngân hàng thương mại, chủ yếu không bị ảnh hưởng bởi tình hình sản xuất kinh doanh mà phụ thuộc vào số tiền và lãi suất trong hợp đồng Có ba khoản thu nhập từ lãi đặc trưng.

Khoản thu từ hoạt động cho vay bao gồm thu nhập từ tín dụng, lợi nhuận từ kinh doanh chứng khoán nợ và lãi suất thu được từ các khoản vay khách hàng.

Khoản thu từ tiền gửi là tổng số tiền mà các ngân hàng thương mại thu được theo định kỳ từ các khoản tiền gửi có kỳ hạn tại Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng khác, và số dư tiền gửi thanh toán.

(3) Đầu tư chứng khoán nợ

Hoạt động tín dụng là cốt lõi của ngân hàng thương mại (NHTM), với khoản thu lãi từ tín dụng chiếm tỷ trọng lớn, đóng vai trò quan trọng trong doanh thu của NHTM.

Thu nhập ngoài lãi là các khoản thu từ tất cả các nguồn thu nhập còn lại khác của

NHTM Các khoản thu nhập này không phụ thuộc vào thị trường lãi suất Bao gồm:

Khoản thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ bao gồm các loại phí như phí thanh toán tiền mặt, phí bảo lãnh mở tín dụng, phí chuyển tiền, phí đại lý và hoa hồng từ các nghiệp vụ thực hiện.

(2) Khoản thu từ hoạt động thương mại: mua bán chứng khoán, mua bán vàng, mua bán ngoại hối,…

Khoản thu từ hoạt động đầu tư bao gồm các khoản góp vốn để mua cổ phần trong doanh nghiệp, góp vốn thành lập công ty con và góp vốn vào các liên doanh.

(4) Các khoản thu khác: thanh lý tài sản, mua bán nợ,… (các hoạt động mang tính chất không thường xuyên tại NHTM)

Nghiên cứu của Lipczynski và cộng sự (2005) cho thấy rằng có nhiều phương thức đa dạng hóa thu nhập, bao gồm việc phong phú hóa các loại hình sản phẩm dịch vụ, mở rộng thị trường và thực hiện đa dạng hóa tuần túy.

 Mở rộng loại hình sản phẩm

Mở rộng loại hình sản phẩm bao gồm:

(1) Cung cấp các sản lphẩm dịch vụ phi tín dụng dựa trên việc NHTM kinh doanh hoạt động tín dụng

Ngân hàng đang tích cực phát triển hoạt động kinh doanh phi tín dụng thông qua việc ứng dụng công nghệ, đặc biệt là ngân hàng điện tử, ngày càng trở nên phổ biến Trong tương lai, các ngân hàng thương mại (NHTM) sẽ tiếp tục nghiên cứu và mở rộng việc áp dụng ngân hàng số để nâng cao hiệu quả kinh doanh.

(3) Đa dạng thêm các sản phẩm, dịch vụ của NHTM trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, góp vốn mua cổ phần và kinh doanh chứng khoán

Ngân hàng thương mại mở rộng thị trường thông qua việc khai thác các thị trường mới, bao gồm việc mở rộng về quy mô địa lý, thay đổi thị phần, và điều chỉnh đối tượng khách hàng.

Đa dạng hóa thuần túy đề cập đến việc tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh hoàn toàn mới, tuy nhiên, việc mở rộng sang các lĩnh vực khác với hoạt động truyền thống của ngân hàng thương mại (NHTM) hiện nay gặp nhiều khó khăn Điều này chủ yếu do những đặc thù trong kinh doanh tiền tệ và sự kiểm soát chặt chẽ từ Ngân hàng Trung ương nhằm ngăn chặn rủi ro có thể dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống.

2.1.2 Một số chỉ tiêu đo lường đa dạng hóa thu nhập của Ngân hàng Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua chỉ số Herfindahl – Hirshman (HHI) HHI được đo lường bằng cách chia tổng thu nhập thành thu nhập từ lãi và thu nhập phi lãi

NONTRADITIONALit là thu nhập phi lãi của Ngân hàng i trong năm t

TRADITIONALit là thu nhập lãi thuần của Ngân hàng i trong năm t

OPERATINGINCOMEit là thu nhập hoạt động ròng của Ngân hàng i trong năm t và OPERATINGINCOMEit = TRADITIONALit + NONTRADITIONALit

Nghiên cứu của Strioh KJ và cộng sự (2006) cùng Chiorazzo và cộng sự (2008) đã phân chia thu nhập thành hai nguồn để giải thích đặc điểm của các nguồn thu nhập có thể âm Để dễ dàng hiểu ý nghĩa của chỉ số, các tác giả đã sử dụng chỉ số DIV nhằm đo lường biến đa dạng hóa thu nhập.

1 1 it it it it it

Chỉ số DIV phản ánh mức độ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng, với giá trị tối đa là 0.5, cho thấy sự đa dạng hóa hoàn hảo Khi chỉ số DIV giảm xuống dưới 0.5, thậm chí có thể âm, mức độ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng cũng giảm theo.

Lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thuơng mại

Kinh doanh hiệu quả là yêu cầu và thách thức lớn đối với ngân hàng thương mại (NHTM) để tồn tại và cạnh tranh Khái niệm về hiệu quả chưa có sự thống nhất trong nghiên cứu, vì nó được nhìn nhận khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực và góc độ phân tích.

Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng được đánh giá qua việc sử dụng hợp lý các nguồn lực như nhân lực, tài lực và vật lực, phù hợp với tiềm lực của ngân hàng Điều này không chỉ nâng cao khả năng cạnh tranh mà còn tăng cường lợi nhuận cho ngân hàng.

Hiệu quả kinh doanh trong ngành ngân hàng được đánh giá từ góc độ khách hàng, bao gồm sự phù hợp và tiện ích của sản phẩm dịch vụ với nhu cầu và mục đích sử dụng của họ Điều này còn phụ thuộc vào thủ tục đơn giản, kỳ hạn linh hoạt và lãi suất hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của từng khách hàng.

Hiệu quả kinh doanh tốt đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo lưu thông tiền tệ và hàng hóa, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Nó cũng giúp cân bằng mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và sự phát triển kinh tế, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp hiệu quả.

2.2.2 Một số chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

NIM (Biên lãi ròng) là tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi phải trả của ngân hàng, phản ánh mức chênh lệch lãi suất mà ngân hàng thu được từ hoạt động huy động và đầu tư tín dụng.

ROA (Return on Assets) là chỉ số đo lường khả năng sinh lời của tài sản mà không phụ thuộc vào cấu trúc tài chính, cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Một ROA thấp cảnh báo về hiệu quả hoạt động kém hoặc sự phân tán dẫn đến lợi nhuận không đủ để bù đắp chi phí, trong khi ROA cao cho thấy hoạt động kinh doanh hiệu quả và cơ cấu tài sản hợp lý của ngân hàng.

ROE là chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, cho thấy mỗi đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu lợi nhuận sau thuế.

ROE thể hiện mức thu nhập mà cổ đông nhận được từ mỗi đồng vốn đầu tư vào ngân hàng, đồng thời phản ánh mức độ bù đắp cho các rủi ro mà họ chấp nhận khi đầu tư vào lĩnh vực này.

ROE = (Lợi nhuận sau thuế) / (Vốn chủ sở hữu) Lợi nhuận cao là yếu tố quan trọng giúp ngân hàng tái đầu tư, mở rộng quy mô và nâng cao năng lực tài chính Theo tiêu chuẩn của Moody’s, khả năng sinh lời được coi là tốt khi ROA đạt ≥ 1% và ROE từ 12-15%.

Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng

Đa dạng hóa thu nhập trong ngân hàng không chỉ làm tăng chi phí và thu nhập ngoài lãi mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng Theo lý thuyết tài chính, việc này còn có thể cải thiện hiệu quả trong việc quản lý rủi ro Sự kết hợp giữa đa dạng hóa thu nhập và khả năng sinh lợi là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Các lý thuyết về trung gian tài chính chỉ ra rằng việc gia tăng lợi nhuận theo quy mô liên quan đến đa dạng hóa nguồn thu nhập Ngân hàng cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ sẽ tạo ra nhu cầu lớn hơn và từ đó tăng thu nhập Baele và cộng sự (2007) cho rằng, nhờ vào việc đa dạng hóa hoạt động, ngân hàng có thể thu thập thông tin phong phú hơn, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc bán chéo sản phẩm và phát triển các hoạt động khác.

Theo nghiên cứu của Stiroh (2004), ngân hàng có khả năng chia sẻ thông tin và các yếu tố đầu vào như lao động và công nghệ cho nhiều hoạt động khác nhau Điều này giúp ngân hàng tận dụng chi phí cố định và giảm chi phí hoạt động, đồng thời đa dạng hóa nguồn thu nhập và giảm thiểu rủi ro.

Theo Smith và cộng sự (2003), đa dạng hóa thu nhập có thể giúp giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng, đồng thời đóng góp vào việc ổn định lợi nhuận Việc không quá phụ thuộc vào nguồn thu nhập từ lãi là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự bền vững trong hoạt động tài chính của ngân hàng.

Thu nhập ngoài lãi từ phí dịch vụ thường có tính ổn định cao hơn so với thu nhập lãi từ cho vay Điều này giúp các ngân hàng giảm thiểu rủi ro thông qua việc đa dạng hóa nguồn thu nhập.

Một số quan điểm cho rằng thu nhập từ lãi có tính ổn định hơn, do khách hàng thường e ngại các chi phí phát sinh từ việc thay đổi mối quan hệ tín dụng Ngược lại, thu nhập ngoài lãi có thể biến động nhiều hơn vì chi phí chuyển đổi không quá lớn Hơn nữa, khi các ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động thu nhập ngoài lãi, chi phí cố định sẽ tăng đáng kể, dẫn đến gia tăng đòn bẩy hoạt động và rủi ro cao hơn (DeYoung và Roland, 2001).

Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

2.4.1 Tác động của đa dạng hóa thu nhập lên hoạt động ngân hàng thương mại tại các nước phát triển

2.4.1.1 Đa dạng hóa thu nhập tác động đến lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại:

Nghiên cứu của Rosie Smith và Geoffrey Wood (2003) đã phân tích thu nhập phi lãi và sự ổn định tổng thu nhập của các ngân hàng tại EU trong giai đoạn từ năm 2003 Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa thu nhập phi lãi và sự ổn định tài chính của các ngân hàng, góp phần làm rõ vai trò quan trọng của thu nhập phi lãi trong bối cảnh kinh tế châu Âu.

Nghiên cứu từ năm 1994 đến 1998 đã phân tích 2655 tổ chức tài chính ở 15 quốc gia Châu Âu, tập trung vào hai câu hỏi chính: (i) Mối liên hệ giữa lợi nhuận và rủi ro hoạt động của thu nhập phi lãi với hoạt động thu lãi của ngân hàng, và (ii) Lợi ích tiềm năng của việc đa dạng hóa thu nhập phi lãi đối với các tổ chức ngân hàng Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những mối quan hệ quan trọng giữa các yếu tố này, góp phần nâng cao hiểu biết về hoạt động tài chính trong khu vực.

(1) Thu nhập phi lãi ngày càng có ảnh hưởng quan trọng đến thu nhập lãi ròng

(2) Sự phát triển của thu nhập phi lãi không thể bù đắp hoàn toàn cho sự giảm xuống của lợi nhuận lãi suất

Thu nhập phi lãi trong ngành ngân hàng có sự biến động lớn hơn so với thu nhập lãi suất, điều này được ghi nhận ở cả cấp độ toàn châu Âu và từng ngành ngân hàng riêng lẻ, ngoại trừ các ngân hàng thương mại Trong suốt nhiều năm, sự thay đổi của thu nhập phi lãi ngày càng trở nên rõ rệt.

Có một mối tương quan nghịch giữa thu nhập lãi và thu nhập phi lãi ở nhiều quốc gia, với mức độ khác nhau Thu nhập phi lãi dường như ổn định tổng thu nhập kinh doanh, ngoại trừ hai nước châu Âu Do đó, việc mở rộng hoạt động của ngân hàng đã giúp giảm sự biến động của các dòng thu nhập.

(5) Cơ cấu thu nhập phi lãi là khá đồng nhất

Nghiên cứu của Ramona Busch và Thomas Kick (2009) đã phân tích ảnh hưởng của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả và rủi ro của các ngân hàng tại Đức từ năm 1995 đến 2007, sử dụng dữ liệu từ bảng cân đối giám sát (BAKIS) và thông tin về các ngân hàng cho vay Kết quả cho thấy các ngân hàng có thu nhập từ phí lớn có lợi nhuận điều chỉnh rủi ro trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tổng tài sản (ROA) cao hơn Tuy nhiên, đối với các ngân hàng thương mại, sự tham gia mạnh mẽ vào hoạt động thu phí dẫn đến biến động ROE và ROA cao hơn, đồng nghĩa với rủi ro gia tăng Một số hoạt động thu nhập liên quan đến rủi ro cao hơn có thể gây bất ổn cho cả ngân hàng cá nhân và toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Nghiên cứu của Steve Mercieca, Klaus Schaeck và Simon Wolfe (2006) đã phân tích tác động của đa dạng hóa đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng nhỏ ở châu Âu, sử dụng dữ liệu từ 755 ngân hàng thuộc 15 quốc gia trong giai đoạn 1997-2003 Kết quả cho thấy rằng đa dạng hóa không mang lại lợi ích trực tiếp cho các tổ chức tín dụng trong thời kỳ này Mặc dù phù hợp với lý thuyết danh mục đầu tư, nghiên cứu đã chỉ ra rằng dòng doanh thu tập trung có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận trung bình và biến động doanh thu Điều này mâu thuẫn với lý thuyết trung gian truyền thống, vốn nhấn mạnh lợi ích của đa dạng hóa đối với hoạt động ngân hàng, khi phân tích cho thấy mối liên hệ tiêu cực giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu suất điều chỉnh rủi ro.

Nghiên cứu của Robert DeYoung và Tara Rice (2003) với 37,175 quan sát từ 4,712 ngân hàng thương mại tại Mỹ trong giai đoạn 1989-2001 đã chỉ ra mối quan hệ giữa thu nhập phi lãi, chiến lược kinh doanh, điều kiện thị trường, công nghệ và hiệu quả tài chính Kết quả cho thấy các ngân hàng quản lý tốt thường mở rộng hoạt động phi lãi chậm hơn, và việc tăng biên thu nhập phi lãi liên quan đến việc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận thấp hơn Những phát hiện này khẳng định rằng thu nhập phi lãi cùng tồn tại với thu nhập lãi, trong khi hoạt động trung gian vẫn là dịch vụ tài chính cốt lõi của ngân hàng Mô hình phân tích cũng cho thấy đặc điểm ngân hàng, điều kiện thị trường và sự phát triển công nghệ có mối liên hệ chặt chẽ với sự gia tăng khác nhau trong thu nhập phi lãi.

Trong hai thập kỷ qua, các ngân hàng thương mại Mỹ đã phát triển 24 loại thu nhập phi lãi khác nhau Sự gia tăng đa dạng các hình thức thu nhập phi lãi này đặt ra câu hỏi về tác động của chúng đến hiệu quả tài chính của ngân hàng Nghiên cứu cần xem xét liệu việc mở rộng các nguồn thu nhập phi lãi có thực sự cải thiện hay làm giảm hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại.

Nghiên cứu của Kevin J Stiroh và Adrienne Rumble (2005) đã phân tích sự thay đổi trong chi phí, doanh thu và thu nhập ngoài lãi của các tập đoàn tài chính Mỹ từ năm 1997 đến 2002 Dữ liệu cho thấy rằng lợi ích từ sự đa dạng hóa trong các tập đoàn tài chính được bù đắp nhiều hơn nhờ vào việc tăng cường các hoạt động phi lãi Mặc dù hoạt động phi lãi có tính biến động cao, nhưng nó lại mang lại lợi nhuận vượt trội hơn so với hoạt động cho vay.

Nghiên cứu của Seungho Baek, Seung Youn Cha và Namhoon Lee (2015) sử dụng dữ liệu từ hệ thống thông tin thống kê tài chính (FSIS) để phân tích hoạt động thu nhập phi lãi và thu nhập lãi của ba loại ngân hàng lớn tại Hàn Quốc từ năm 2007 đến 2013 Nghiên cứu nhằm trả lời hai câu hỏi chính: ảnh hưởng của doanh thu thu nhập phi lãi đến thu nhập kinh doanh ròng và mối liên hệ giữa biến động thu nhập phi lãi với biến động thu nhập kinh doanh ròng Kết quả cho thấy cơ cấu thu nhập của ngân hàng Hàn Quốc chủ yếu dựa vào thu nhập lãi thuần, mặc dù có sự gia tăng doanh thu từ hoạt động thu nhập phi lãi nhờ vào việc bán bảo hiểm và chứng khoán Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra rằng thu nhập phi lãi ròng không tạo ra nhiều rủi ro như thu nhập lãi thuần, trái ngược với quan điểm trước đây cho rằng biến động thu nhập phi lãi càng cao thì rủi ro ngân hàng càng tăng.

Nghiên cứu của Rossi, Schwaiger và Winkler (2009) đã phân tích ảnh hưởng của đa dạng hóa ngân hàng đối với rủi ro, chi phí và hiệu quả lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Áo từ 1997 đến 2003 Dựa trên dữ liệu từ Ngân hàng Trung ương Áo, nghiên cứu cho thấy đa dạng hóa có tác động tích cực đến hiệu suất ngân hàng, cụ thể là (i) giảm rủi ro dự báo và nhu cầu trích lập dự phòng, (ii) giảm chi phí và tăng hiệu quả lợi nhuận, và (iii) đa dạng hóa giữa các ngành giảm yêu cầu về vốn.

2.4.1.2 Rủi ro của đa dạng hóa thu nhập đối với hoạt động ngân hàng thương mại:

Robert DeYoung và Tara Rice (2004) là những nhà nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng thương mại tại Hoa Kỳ Họ đã phát triển một mô hình để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, dựa trên dữ liệu từ 4,712 ngân hàng thương mại ở Mỹ trong giai đoạn nghiên cứu.

Từ năm 1989 đến 2001, nghiên cứu chỉ ra rằng sự gia tăng thu nhập ngoài lãi có liên quan đến biến động lợi nhuận cao hơn, làm xấu đi sự đánh đổi lợi nhuận của các ngân hàng Kết quả cũng cho thấy việc mở rộng đa dạng hóa thu nhập của các ngân hàng thương mại ở Mỹ sẽ làm tăng rủi ro trong giai đoạn đầu của thời kỳ nghiên cứu, nhưng lại giảm vào những năm sau đó.

Nghiên cứu của Stiroh (2004a) và Stiroh cùng Rumble (2006) đã chỉ ra rằng thu nhập ngoài lãi là chỉ số quan trọng để đo lường sự đa dạng hóa ngân hàng khỏi thu nhập lãi truyền thống Stiroh (2004a) phân tích dữ liệu từ các ngân hàng Hoa Kỳ giai đoạn 1984-2001 và phát hiện rằng mối tương quan giữa thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi gia tăng, làm giảm lợi ích từ việc đa dạng hóa nguồn thu nhập phi truyền thống Hơn nữa, rủi ro có mối tương quan ngược với tỷ lệ thu nhập từ nguồn phi lãi, đặc biệt là thu nhập giao dịch, dẫn đến giảm lợi nhuận trên mỗi đơn vị rủi ro Stiroh và Rumble (2006) cũng khẳng định rằng việc tăng cường tiếp xúc với thu nhập phi lãi làm xấu đi sự đánh đổi rủi ro của ngân hàng, khi sự biến động gia tăng của thu nhập ngoài lãi vượt qua lợi ích đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Nghiên cứu của Rosie Smith, Christos Staikouras và Geoffrey Wood (2002) về hệ thống ngân hàng châu Âu giai đoạn 1994 – 1998 cho thấy mối tương quan tiêu cực giữa thu nhập lãi và ngoài lãi ở một số quốc gia, mặc dù ở các mức độ khác nhau; thu nhập ngoài lãi dường như ổn định tổng thu nhập hoạt động Thành phần thu nhập ngoài lãi khá không đồng nhất, và với sự gia tăng tầm quan trọng của nó, uy tín và rủi ro chiến lược của ngân hàng cũng được nâng cao Sự gia tăng các loại rủi ro đã làm phức tạp hóa hoạt động quản lý rủi ro của ngân hàng và nhiệm vụ của các giám sát viên, đòi hỏi sự chú ý vào các loại rủi ro khác Kết quả này có thể hỗ trợ cho các lập luận về yêu cầu vốn cụ thể đối với các loại rủi ro ngoài rủi ro tín dụng và thị trường.

THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP VÀ LỢI NHUẬN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 27/04/2021, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ana Lozano-Vivas, Fotios Pasiouras (2010), ‘The impact of non-traditional activities on the estimation of bank efficiency: International evidence’, Journal of Banking& Finance 34 (2010) 1436 – 1449 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking
Tác giả: Ana Lozano-Vivas, Fotios Pasiouras
Năm: 2010
4. Barry Williams & Laurie Prather (2010), ‘Bank risk and return: the impact of bank non-interest income’, International Journal of Managerial Finance Vol. 6 No. 3, 2010 pp.220 - 244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Managerial Finance Vol. 6 No. 3, 2010 pp
Tác giả: Barry Williams & Laurie Prather
Năm: 2010
13. Laetitia Lepetit, Emmanuelle Nys, Philippe Rous & Amine Tarazi (2007), ‘Bank income structure and risk: An empirical analysis of European banks’, Journal of Banking& Finance 32 (2008) 1452 – 1467 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking
Tác giả: Laetitia Lepetit, Emmanuelle Nys, Philippe Rous & Amine Tarazi
Năm: 2007
17. NCS. Châu Đình Linh (2014),‘6 xu hướng ảnh hưởng đến kênh phân phối của ngân hàng bán lẻ’, Tạp chí cafef, truy cập lần cuối vào ngày 2 tháng 5 năm 2020 từ<https://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/6-xu-huong-anh-huong-den-kenh-phan-phoi-cua-ngan-hang-ban-le-201412091522379603.chn&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘"6 xu hướng ảnh hưởng đến kênh phân phối của ngân hàng bán lẻ"’, Tạp chí cafef
Tác giả: NCS. Châu Đình Linh
Năm: 2014
30. Võ Phúc Trường Thành (2019), ‘Xác định yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại’, Tạp chí tài chính, truy cập lần cuối vào ngày 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí tài chính
Tác giả: Võ Phúc Trường Thành
Năm: 2019
1. Allen N. Berger, Iftekhar Hasan & Mingming Zhou (2010), ‘The effects of focus versus diversification on bank performance: Evidence from Chinese banks’, Journal of Banking & Finance 34 (2010) 1417 – 1435 Khác
2. Anita K. Pennathur, Vijaya Subrahmanyam & Sharmila Vishwasrao, ‘Income diversification and risk: Does ownership matter? An empirical examination of Indian banks’, Journal of Banking & Finance 36 (2012) 2203 – 2215 Khác
5. Damankah Basil Senyo, Anku-Tsede Olivia & PhD2 Abubakar Musah (2015), ‘Income Diversification and Financial Stability of Banks in Ghana’, International Journal of Business and Social Science Vol. 6, No. 6; June 2015 Khác
6. Hiep Ngoc Luu, Loan Quynh Thi Nguyen, Quynh Huong Vu & Le Quoc Tuan (2019), ‘Income diversification and financial performance of commercial banks in Vietnam’, Review of Behavioral Finance Khác
7. Hoàng Thị Hương Thảo (2017), ‘Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến lợi nhuận ngân hàng thương mại Việt Nam’, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Khác
8. Jorge H. L. Ferreira, Francisco A. M. Zanini & Tiago W. Alves (2018), ‘Bank revenue diversification: its impact on risk and return in Brazilian banks’, R. Cont. Fin. – USP, São Paulo, v. 30, n. 79, p. 91 - 106 Khác
9. Kaiguo Zhou (2014), ‘The Effect of Income Diversification on Bank Risk: Evidence from China’, Emerging Markets Finance & Trade / May–June 2014, Vol. 50, Supplement 3, pp. 201 – 213 Khác
10. Khanh Ngoc Nguyen (2019), ‘Revenue Diversification, Risk and Bank Performance of Vietnamese Commercial Banks’ Khác
11. Kevin J. Stiroh, Adrienne Rumble (2005),’ The dark side of diversification: The case of US financial holding companies’, Journal of Banking & Finance 30 (2006) 2131 – 2161 Khác
12. Kun-Li Lin & Yu-Li Huang (2012), ‘Is the Diversification of Bank Income the Bright Side or Dark Side? A Global Perspective’, Management Review Vol. 33 (July 2014), 117 - 120 Khác
14. Mohammed Amidu, Simon Wolfe (2013), ‘Does bank competition and diversification lead to greater stability? Evidence from emerging markets’, Review of Development Finance 3 (2013) 152 – 166 Khác
15. Matthias Kửhler (2014),‘Does non-interest income make banks more risky? Retail- versus investment-oriented banks’, Review of Financial Economics 23 (2014) 182 – 193 Khác
16. Nguyễn Minh Sáng, Nguyễn Thị Thùy Trang (2018), ‘Tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt nam’, Tạp chí khoa học đại học Đà Lạt tập 8, số 1s, 2018 118 – 132 Khác
18. Nguyễn Minh Sáng, Nguyễn Thị Thùy Trang (2018), ‘Tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro và khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam’, Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt tập 8, số 1s, 2018, 118 – 132 Khác
19. Phạm Thị Đan Phượng (2008), ‘Giải pháp tăng tỷ trọng thu từ hoạt động dịch vụ trong cơ cấu thu nhập của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam’, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm