1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn tập ở nhà môn Ngữ Văn 9

51 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Ôn Tập Ở Nhà Môn Ngữ Văn 9
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Đề cương
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 73,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 2. Cảm nhận của em về nhân vật Anh thanh niên trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long.. … Cháu có ông bố tuyệt lắm. Hai bố con cùng viết đơn xin ra lính đi mặt trận. Kết [r]

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 9 (Dành cho cho học sinh trong thời gian nghỉ học do dịch cúm Covid-19)

A PHẦN TIẾNG VIỆT:

* KIẾN THỨC LÝ THUYẾT:

I Các phương châm hội thoại:

1 Phương châm về lượng:

Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung; nội dung của lời nói phải đáp ứng đúng yêucầu của cuộc giao tiếp, không thiêu, không thừa

2 Phương châm về chất:

Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có bằng

chứng xác thực

3 Phương châm cách thức:

Khi giao tiếp, cần nói ngắn gọn, rành mạch; tránh nói mơ hồ

4 Phương châm quan hệ:

Khi giao tiếp, cần nói đúng vào đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề

5 Phương châm lịch sự:

Khi giao tiếp, cần tế nhị và tôn trọng người khác

II Sự phát triển của từ vựng.

1 Phát triển về nghĩa của từ:

- Thêm nghĩa cho từ

- Chuyển nghĩa trên cơ sở nghĩa gốc (có 2 phương thức chuyển nghĩa: chuyển nghĩa ẩn

dụ và chuyển nghĩa hoán dụ)

Trang 2

* BÀI TẬP VẬN DỤNG:

1 Những câu sau liên quan đến phương châm hội thoại nào? Hãy giải thích tại sao có thể khẳng định như vậy?

- Dây cà ra dây muống

- Lời chào cao hơn mâm cỗ

- Nói có sách, mách có chứng

- Ông nói gà, bà nói vịt

2 Xác định và phân tích giá trị của các biện pháp tu từ trong các trường hợp sau :

a) Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật

“Không có kính, rồi xe không có đèn,Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim”

b) Truyện Kiều – Nguyễn Du

“Vân xem trang trọng khác vời,Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang,Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

c) Truyện Kiều – Nguyễn Du

“Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thu thủy nét xuân sơn,Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”

d) Bếp lửa – Bằng Việt

“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

3 Tìm các từ Hán Việt có trong đoạn thơ sau, giải nghĩa các từ đó:

Đầu lòng hai ả tố nga,

Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân

Trang 3

Mai cốt cách tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười

(Trích “Truyện Kiều”– Nguyễn Du)

4 Dẫn câu nói sau theo 2 cách (trực tiếp và gián tiếp:

Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

b)

Được lời như cởi tấm lòng,

Gởi kim thoa với khăn hồng trao tay.

Cũng nhà hành viện xưa nay,

Cũng phường bán thịt cũng tay buôn người.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

c)

Đề huề lưng túi gió trăng,

Sau chân theo một vài thằng con con.

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

**************************************************************

B PHẦN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI:

I Định hướng cách viết một bài văn Nghị luận xã hội

- Phải đảm bảo 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài

1 Mở bài:

* Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận:

Trang 4

2 Thân bài:

Đối với dạng đề bàn về một tư tưởng, đạo lý tình cảm: dàn ý có thể xây dựng như sau:

* Nêu khái quát về tư tưởng, đạo lý tình cảm đó; hoặc giải thích (đối với đề

ra dưới dạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ):

(Nếu đề đã rõ nội dung cần nghị luận thì nêu khái quát Nếu đề ra dưới dạnghàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ nội dung thì giải thích gọn rõ, đi từ khái niệm, các từkhóa quan trọng đến giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng để rút ra vấn đề cần nghịluận)

* Bàn bạc, làm sáng tỏ vấn đề; liên hệ, mở rộng vấn đề:

- Nêu biểu hiện cụ thể của tư tưởng đạo lý tình cảm đó

- Nêu tác dụng, ý nghĩa của tư tưởng đạo lý, tình cảm (Đặt và trả lời câuhỏi : Vấn đề ấy cần thiết, quan trọng thế nào ? Nếu không có tư tưởng đạo lýtình cảm đó thì con người, xã hội sẽ ra sao? Có dẫn chứng minh họa cho vấn

* Bài học nhận thức, hành động: (có thể lồng vào trong quá trình viết ở thân

bài, cũng có thể đưa vào phần kết bài)

Đối với dạng đề bàn về một hiện tượng xã hội: dàn ý có thể xây dựng như sau:

* Nêu khái quát về hiện tượng xã hội đó; hoặc giải thích (đối với đề ra dưới

dạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ):

Nếu đề đã rõ nội dung cần nghị luận thì nêu khái quát Nếu đề ra dướidạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ nội dung thì GV hướng dẫn học sinh giải thíchgọn rõ, đi từ khái niệm, các từ khóa quan trọng đến giải thích nghĩa đen, nghĩabóng để rút ra vấn đề cần nghị luận

* Nêu biểu hiện cụ thể của hiện tượng xã hội đó: (minh họa bằng dẫn chứng)

* Nêu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xã hội đó:

Trang 5

* Tác hại, hậu quả của hiện tượng xã hội đó (đối với hiện tượng tiêu cực); ý

nghĩa, tác dụng (đối với hiện tượng tích cực”:

* Lật ngược vấn đề (nếu sự việc đang bàn mang tính một chiều)

* Bài học nhận thức, hành động:

(có thể lồng vào trong quá trình viết ở thân bài, cũng có thể đưa vào phần kết bài)

+ Nếu là hiện tượng tích cực:

- Bản thân đồng tình ủng hộ hiện tượng tích cực trên, tuyên truyền chobạn bè, người thân học tập

- Luôn học hỏi để rèn luyện bản thân từ đó biết sống đẹp sống có ích,biết bắt đầu từ những việc làm giản dị nhất, có ý nghĩa nhất

+ Nếu là hiện tượng tiêu cực:

- Kịch liệt phản đối hiện tượng tiêu cực trên, tuyên truyền cho bạn bèngười thân tránh xa, quay lưng, tẩy chay với nó

- Góp phần đấu tranh, ngăn chặn sự ảnh hưởng nguy hại của hiện tượngtiêu cực đó, biết bắt đầu từ những việc làm giản dị nhất, có ý nghĩa nhất

3 Kết bài:

- Khái quát lại vấn đề

II Tham khảo hướng dẫn chấm

HDC câu 2 trong Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 NH 2019-2020 của Sở GD&ĐT

a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận; đúng kiểu bài nghị luận về

một vấn đề tư tưởng, đạo lý

0.25

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: bàn về bài học ứng xử trong cuộc sống

được gợi lên từ câu tục ngữ “Một sự nhịn, chín sự lành” – bài học về sự nhẫn

nhịn

0.25

c. Triển khai bài viết mạch lạc, tự nhiên, hợp lý, kết hợp lý lẽ và dẫn chứng 2.0

Trang 6

Có nhiều cách triển khai vấn đề Đây là một hướng tham khảo để đánh

giá::

- Giới thiệu vấn đề: bài học ứng xử từ câu “Một sự nhịn, chín sự lành” 0.25

- Giải thích:

+“Nhịn” là nhẫn nhịn, nhường nhịn “Lành” là bình yên, hài hòa, là điều tốt

đẹp Hai vế câu tục ngữ có quan hệ nhân - quả Có thể hiểu: “nhịn” để có được “lành”, muốn “lành” thì cần biết “nhịn”.

+ Các số từ (một, chín) nhấn mạnh lợi ích to lớn của sự nhẫn nhịn Câu tục

ngữ khuyên nhủ mọi người cần biết nhẫn nhịn, nhường nhịn, cư xử đúng mực

trong giao tiếp bởi vì chỉ “một sự nhịn” có thể đem lại đến “chín sự lành”,

một chút nhẫn nhịn sẽ giữ được, có được rất nhiều điều tốt đẹp cho cuộc

sống Đây là bài học ứng xử rất sâu sắc

0.25

- Bàn bạc, làm sáng tỏ vấn đề:

+ Ứng xử đúng mực, biết nhẫn nhịn sẽ khiến mỗi cá nhân và cả xã hội có

được nhiều điều tốt đẹp Khi có hiểu lầm, người biết “nhịn” sẽ kiềm chế được

cảm xúc, điều chỉnh suy nghĩ, làm chủ hành vi để hóa giải, xoa dịu và giải

quyết các mâu thuẫn một cách êm đẹp khiến các bên hiểu nhau, tôn trọng,

thông cảm chia sẻ, tin cậy và gắn bó hơn Với mâu thuẫn gay gắt, biết kiềm

chế để dịu bớt căng thẳng, lựa thời điểm hợp lý để hóa giải, mọi chuyện sẽ trở

lại bình thường Cách ứng xử ấy sẽ hạn chế bạo lực, ngăn ngừa cái xấu, góp

phần làm cho xã hội ngày càng lành mạnh

+ Ngược lại, nếu bức xúc, nổi nóng, tinh thần lấn át lý trí sẽ dẫn đến lời nói,

hành vi sai trái, gây ra những hậu quả đáng tiếc Tuổi học trò dễ nảy sinh

những mâu thuẫn, hiểu lầm dẫn đến xung đột làm rạn nứt tình cảm, tác động

xấu đến tinh thần và thể chất của nhau Hiện tượng bạo lực học đường (xúc

phạm, đánh nhau gây hậu quả nghiêm trọng) thời gian qua nói lên điều đó

Thiếu kiềm chế, nông nổi, không biết “nhịn” đúng lúc thường không có cơ

hội hối hận, sửa chữa sai lầm Lời khuyên “Một sự nhịn, chín sự lành” càng

trở nên cần thiết để ta tránh những điều như vậy!

0,5

- Liên hệ, mở rộng vấn đề:

+ Đề cao giá trị của nhẫn nhịn trong ứng xử, cha ông ta có những lời

khuyên tương tự: “Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng

nhau”, “Sa chân với lại, sa miệng với không lại”,… Phong trào “Nói lời hay,

làm việc tốt” trong học sinh cũng nhằm rèn cho chúng ta đức tính nhẫn nhịn

nói trên

+ Tuy nhiên, không phải lúc nào “sự nhịn” cũng sẽ đem lại “sự lành” Có lẽ

cũng bởi vậy mà cha ông ta dùng số từ “chín” (với hàm ý: nhiều, hầu hết) chứ

0.25

Trang 7

không phải “mười”(với hàm ý: tất cả, trọn vẹn) Nhân vật chị Dậu trong đoạn

trích “Tức nước vỡ bờ”(Ngô Tất Tố) đã “nhịn” và biết phản kháng đúng lúc.

Trong lịch sử, khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta năm 1946, Bác

Hồ đã ra chỉ rõ “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng.

Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới,(…) Chúng

ta phải đứng lên!…” Khi cần, phải đấu tranh để bảo vệ danh dự, lẽ phải,

quyền lợi chính đáng

- Bài học nhận thức và hành động:

+ Rèn tính nhẫn nhịn, biết lắng nghe, chia sẻ, làm chủ cảm xúc để luôn ứng

xử theo hướng tích cực; suy nghĩ chín chắn trước khi hành động

+ Phê phán, loại bỏ tính nông nổi, dễ nổi nóng, hành động theo cảm tính

nhất thời, thích “chuyện bé xé ra to”,…

+ Biết vận dụng bài học ứng xử ấy một cách linh hoạt; đấu tranh khẳng địnhgiá trị, đòi lẽ phải, công bằng cho bản thân và cộng đồng; góp phần cùng mọi

người tạo nên xã hội lành mạnh, tôn trọng, quan tâm chia sẻ

0.5

d. Sáng tạo: khuyến khích những bài viết có cách diễn đạt độc đáo, có sự

khám phá trong triển khai giải quyết vấn đề

1 Suy nghĩ của em về văn hóa giao tiếp của học sinh hiện nay?

2 Suy nghĩ của em về câu danh ngôn “Tri thức là sức mạnh”

Trang 8

Thơ ông không nhiều nhưng có những bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hìnhảnh thơ chọn lọc, hàm súc, dư ba

* Tác phẩm chính: "Đầu súng trăng treo" (1966)

2.Tác phẩm:

Đồng chí được sáng tác vào đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội thamgia chiến đáu trong chiến dịch Việt bắc (Thu đông 1947) của quân và dan ta đánh bạicuộc tấn công quy mô của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc

Bài thơ "Đồng chí" là một trong những bài thơ thành công xuất sắc viết về đềtài người lính và tình đồng chí đồng đội cao cả và thiêng liêng

3 Phân tích bài thơ.

Y1: Cơ sở hình thành tình đồng chí:

Điểm tương đồng gặp gỡ đầu tiên của người linh chính là sự tương đồng vềhoàn cảnh xuất thân:

"Quê hương anh nước mặn đồn chua,

Làng thôi nghèo đất cày lên sỏi đá"

- Hai câu đầu gợi lên hoàn cảnh xuất thân: Các anh đều là những người nôngdân mặc áo lính, ra đi từ những miền quê nghèo còn nhiều lam lũ, vất vả, quê anh

"nước mặn đồng chua", làng tôi "nghèo đất cày lên sỏi đá" Có sự đối lập giữa nước mặn đồng chua và đất cày lên sỏi đá giữa hai vùng quê nhưng lại có sự tương đồng

trong cuộc sống còn nghèo khổ, nhọc nhằn của những người lính

- Vì thế mà họ vốn là những người xa lạ, chẳng hẹn mà lại quen nhau được "Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau"

-> Sợi dây nào đã nối với nhau nhanh đến vậy? Đó chính là tình giai cấp đã gắn

bó những người lính ở những vùng quê nghèo đến với nhau một cách rất tự nhiên như

nó vốn là như vậy "Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau" thì chỉ có thể là nhữngngười cùng chung cảnh ngộ, cùng giai cấp, cùng chung cảnh nghèo khổ như nhau

- Và từ những cái chung này đã dẫn đến một cái chung thứ ba như một điều tấtyếu: Cùng chung nhiệm vụ, chung mục đích, lí tưởng chiến đấu - cầm súng lên đườngbảo vệ quê hương đát nước Chính lí tưởng của thời đại đã gắn kết họ lại với nhautrong hàng ngũ quân đội cách mang Nhà thơ đã diễn tả điều này bằng một hình ảnhthơ đẹp, hàm chứa ý nghĩa sâu sắc:

"Súng bên súng, đầu sát bên đầu"

Trang 9

- Khẩu súng tượng trưng nhiệm vụ chiến đấu, "đầu" biểu tượng cho lí tưởng, suynghĩ của người lính Và khi "súng bên súng, đầu sát bên đầu" thì đó chính là lúc họhiểu nhau, tâm đầu ý hợp, cùng chung chí hướng để từ đó tình đồng chí nảy nở và trởthành bền chặt trong sự chan hoà và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui:

"Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ"

-> Cái khó khăn, thiếu thốn hiện lên: đêm rét, chăn không đủ đắp nên phải "chungchăn"

"Chung chăn" là chung nhau một hơi ấm sẻ chia giữa cái buốt giá khắcnghiệt của núi rừng Việt Bắc đã không làm họ tê cứng, gục ngã

=> Từ tất cả những điểm tương đồng ấy, những người lính ban đầu là xa lạ->quen nhau-> tri kỉ và giờ đây đã trở thành "đồng chí" của nhau

-> Hai tiếng được tách ra thành một dòng thơ, với một dấu chấm , ngân vang như mộttiếng gọi tha thiết, vừa tạo thành một nốt nhấn, lắng lại, như khẳng định về một tìnhcảm rất đỗi thiêng liêng và cao cả

Y2: Hai tiếng “đồng chí” như một bản lề khép lại cơ sở hình thành tình đồngchí và mở ra những biểu hiện cảm động của tình đồng chí

- Trước hết là tình đồng chí là sự gắn bó, cảm thông thấu hiểu sâu sắc nhữngtâm tư, tình cảm, nổi niềm sâu kín của nhau khi xa quê hương đi đánh giặc:

"Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính"

- Người lính đi đánh giặc để lạ sau lưng mình những gì thương quý nhất củaquê hương: ruộng nương, gian nhà, giếng nước gốc đa Từ "mặc kệ" cho thấy tư thế ra

đi dứt khoát, thanh thản của các anh vì nghĩa lớn Nhưng sâu xa trong lòng họ, họ vẫnluôn nhó về quê hương Ở ngoài mặt trận, họ vẫn hình dung thấy gian nhà không đanglung lay trong cơn gió nơi quê nhà xa xôi

- Từ hiểu nhau mà thương yêu nhau "Đông chí còn là sự đồng cảm sâu sắc,thương yêu chân thành, cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đờingười lính:

"Anh với tôi biét từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Trang 10

Miệng cười buốt giá

Chân không dày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay"

- Những gian lao thiếu thốn trong cuộc sống người lính những năm kháng chiếnchống Pháp hiện lên thật cụ thể, chân thực: áo rách, quần vá, chân không dày sựtrừng trải của cuộc đời người lính đã cho Chính Hữu biết được sự khổ sở khi bọ nhữngcơn sốt rét rừng hành hạ: người nóng sốt hầm hập đến ướt cả mồ hôi mà vẫn cứ ớnlạnh đén run người Và nếu như không có sự từng trải dó nnàh tơ cúng không biếtđược cái cảm giác của “miệng cười buốt gí”: tròi buốt giá, môi miệng kho và nứt nẻ,nói cưòi rất khó khăn, có khi nứt ra chảy cả máu Thế nhưng những người lính vẫncười – họ vẫn cười trong gian lao, bởi học có niềm vui và hơi ấm của tình đồng chí

“thương nhau tay năm lấy bàn tay” Hơi ấm của bàn tay, ở tấm lòng đã chiến thắng cáilạnh ở chân không giày và thời tiết buốt giá

Y3: Bài thơ kết thúc là một biểu tượng đẹp của tình đồng chí:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng canh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

- Đoạn thơ mở ra một khoảng thời gian cụ thể “đêm nay” cũng như bao đêmkhác giữa không gian là “rùng hoang, sương muối” hoang vu, lạnh lẽo, ẩn chứa nhiềuhiểm nguy, rình rập và những người lính xuất hiện:

- Họ xếp hàng ngang trong tâm thế chủ động “chờ giặc tới” Và Việt Bắc đêmhôm ấy là một đêm trăng sáng, trăng trong ngần, trăng lên cao rồi trăng tàn, trăng xế

và tâm hông người lính lãng mạn dõi theo mãnh trăng thu để rồi đến một lúc nào đótrăng như treo đầu mũi súng, lơ lững chông chênh trong bát ngát

- Và đêm hôm ấy, mỗi người lính có ba người bạn:

+ Người đồng đội bên cạnh

Trang 11

người lính: chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng Hình ảnh ấy mang được đặc điểmcủa thơ ca kháng chiến – một nền thơ giàu chất hiện thực và dạt dào cảm hứng lãngmạn.

=> Hình ảnh đó kết thúc trở thành một biểu tượng đẹp: Ca ngợi tình đồng chí, đồngđội của người lính những nămg kháng chiến chống Pháp

4 Giá trị của bài thơ:

a Nghệ thuật:

- Bài thơ thành công với thể thơ tự do

- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, chắt lọc, âm vang mang âm hưởng của văn họcdân gian

- Hình ảnh thơ sóng đôi vừa cụ thể, chân thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng

- Giọng điệu thủ thỉ tâm tình

Đề 1: Giải thích nhan đề bài thơ “Đồng chí”

Đề 2: Phân tích hình ảnh người lính qua đoạn thơ:

‘Quê hương anh nước mặn, đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đáAnh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Súng bên súng, đầu sát bên đầuĐêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Đồng chí!

Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra lính’

(Chính Hữu, trích “Đồng chí”, Ngữ Văn 9, tập 1)

Trang 12

Đề 2: Phân tích hình ảnh người lính qua đoạn thơ:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tay!

Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo”

(Chính Hữu, trích “Đồng chí”, Ngữ Văn 9, tập 1)

II “BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH” CỦA NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

1 Tác giả:

- Phạm Tiến Duật: Sinh năm 1964 -2007, quê ở huyện Thanh Ba - Tỉnh Phú Thọ

- Năm 1964 tốt nghiệp khoa Ngữ Văn - Đại học sư phạm Hà Nội vào bộ đội tháng

8-1964, hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn.Ông có nhiều đóng góp, tìm tòi cho nềnthơ hiện đại Viẹt Nam

- Ông thuộc lớp nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong khángchiến chống Mĩ

-> Là một nhà chiến sĩ nên đề tài chủ yếu của ông là viết về người lính, tập trung thểhiện hình ảnh thế hệ trẻ qua các người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyếnđường Trường Sơn

- Thơ Phạm Tiến Duật có một giọng điệu riêng: Sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, hómhỉnh, tinh nghịch mà sâu sắc, ngang tàng nhưng rất lính

* Các tác phẩm chính:

- Vầng trăng quầng lửa (thơ 1970)

- ở hai đầu núi (thơ 1971)

- Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983)

- Tác giả dã được nhận : Giải nhất cuộc thi báo Văn nghệ 1969-1970

Trang 13

2 Tác phẩm: (1969)

- Bài thơ nằm trong chùm thơ của Phạm Tiến Duật được tặng giải nhất cuộc thi thơcủa báo Văn nghệ năm 1969-1970

- Bài thơ in trong tập thơ "Vầng trăng quầng lửa" (1970) của tác giả

II Phân tích vẻ đẹp của những người lính lái xe trong bài thơ

Y1: Hai câu đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính

“Xe không kính không phả vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”

- Bằng những câu thơ dài, mang âm hưởng của văn xuôi bởi cách sử dụng điệp

từ ngữ “không” “không có kính” cùng những từ đạm tính khẩu ngữ “không phải” “đirồi” và những động từ mạnh “giật” “rung” -> hai câu thơ đã giải thích nguyên nhânnhững chieecs xe không kính một cách hồn nhiên, vô tư, hài hước: vì bom giật bomrung nên xe mất kính

-> Đó chính là hiện thực khốc liệt của chiến trường

Y2: Nhưng cũng chính từ hiện thực ấy lại là hoàn cảnh để những người lái hiện lên với những với những phẩm chất cao đệp của người lính cụ Hồ.

* Trước hết họ là những người lính trẻ trung với tư thế ung dung mà hiên ngang, tâm hồn lãng mạn, hào hoa:

"Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng"

-> Xe không kính, đó là sự thiếu thốn phương tiện Nhưng thật bất ngờ ngườilính đã biến sự thiếu thốn đó thành sự hưởng thụ Trong buồng lái không có kính chắngió, họ được trực tiếp đối mặt với thiên nhiên bên ngoài, họ càng dễ nhìn đất, nhìn trờivới tư thế nhìn thẳng thật hiên ngang Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi lại mộtcách tinh tế, sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh, điệp ngữ:

"Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhùn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đọt ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái"

Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng, đều đặn khiến người đọc liêntưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà cácchiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận được biểu hiện một thái độ tự tin, bình

Trang 14

tĩnh, thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh Chính tư thế "ung dung" của các anh đã giúp các anh nhìn thấy gió , con đường, đến cả sao trời, cánh chim Thế

giới bên ngoài uà vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo cảm giác đột ngột cho người

lái Hình ảnh những cánh chim "như sa, như ùa vào buồng lái" thật sing động, gợi cảm Hình ảnh "con đường chạy thẳng vào tim" gợi liên tưởng về con đường ra trận,

con đường chiến đấu, con đường cách mạng

* Xe không kính và tinh thần lạc quan, dũng cảm bất chấp những khó khăn hiểm nguy của người lính”

" Không có kính, ừ thì có bụiBụi phun tóc trắng như người giàChưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốcNhìm nhau mặt lấm cười ha haKhông có kính ừ thì ướt áoMưa tuôn mưa xối như ngoài trờiChưa cần thay, lái trăm cây số nữaMưa ngừng, gió lùa khô mau thôi"

- Những chiếc xe càng đi sâu vào chiến trường thì khó khăn, hiểm nguy lạicàng chồng chất: - Không chỉ có mưa bom bão đạn của kẻ thù

- Mà còn có một kẻ thù thầm lặng luôn đe dọa hành trình ra Bắcvào Nam đó là Mưa và Bụi Trường Sơn: Bụi thì phun tóc trắng

Mưa tuôn, mưa xối

-> nhưng họ “chưa cần rửa, chưa cần thay" Điệp khúc ấy tạo nên giọng điệu

ngang tàng, bất chấp: đầu tóc mặt mũi bụi bám trắng không cần rửa, áo ướt không cầnthay Khó khăn là thế nhưng các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ ,trước kẻ thù mà trái lại họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh, ý chí Họ vẫn có

thể phì phèo châm điếu thuốc- nhìn nhau mặt lấm cýời ha ha Niềm vui và tiếng

cười của những người lính trẻ sôi nổi, tinh nghịch cứ vút lên giữa gian khổ khắcnghiệt, giữa cả nguy hiểm chết người của chiến tranh với bom giật, bom rung

->Và niềm vui của họ càng được nhân lên khi chung quanh họ đều là những conngười lạc quan như thế:

* Xe không kính với tình đồng chí, đồng đội sâu sắc thắm thiết

"Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Trang 15

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy"

- Sau những chặng đường gian khổ, những tháng ngày mưa, gió, bụi mù vàbom đạn, họ lại gặp nhau Cái bắt tay qua ô cửa kính vỡ là một sự bù đắp tinh thầncho sự thiếu thốn về vật chất, Giữa cái gian khó hiểm nguy, giữa sống và chết họ vẫn

có niềm vui chung của người đồng đội, gắn bó với nhau như ruột thịt, gia đình

- Họ vẫn lạc quan băng về phía trước: "Lại đi, lại đi trời xanh thêm" Điệp ngữ

"lại đi" cùng với hình ảnh "trời xanh thêm" giúp ta hiểu thêm lòng lòng phơi phới say

mê trước những chặng đường mà người đã đi và đandddi và sẽ đi "Trời xanh thêm"thể hiện một nìêm tin về một ngày mai chiến thắng, một tinh thần hiên ngang, dũngcảm, một tâm hồn chứa chan hi vọng, lạc quan, yêu đời

* Xe không kính với tình yêu nước là ý chí chiến đấu giải phóng Miền Nam,thống nhất tổ quốc:

“ Không có kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim"

Bốn câu thơ dựng lên hai hình ảnh đối lập, tương phản rõ rệt giữa vật chất vàtinh thần, giữa bên ngoài và bên trong, giữa cái không có và cái có Bom đạn kẻ thùthật dữ dội và khốc liệt đã tước đi của chiếc xe rất nhiều, biến chiếc xe trơ trọi đến kì

la, ba cái không có: Không có kính, rồi xe không có đèn, không có mui xe, thùng xe

có xước tất cả đều không nguyên vẹn Nhưng có hề gì xe vẫn băng về phía trước.Sức mạnh để chiếc xe băng ra trận chính là sức mạnh của trái tim người lính "chỉ cầntrong xe có một trái tim"

-> Có trái tim ấy là sẽ có tất cả: "Trái tim" - hình ảnh hoán dụ thể hiện sứcmạnh chiến đấu, tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí kiên cường của người lính lái

xe vì sự nghiệp giải phóng Miền Nam thân yêu, vì sự nghiẹp thống nhất đát nước

3 Giá trị của bài thơ:

- Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là một bài thơ đặc sắc, tiêu biểu cho phongcách Phạm Tiến Duật

a Nghệ thuật:

Trang 16

- Thể thơ tám chữ có biến tấu; kết cấu đối lập xuyên suốt toàn bài.

- Ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên khỏe khoắn

5 LUYỆN ĐỀ:

Đề 1: Giải thích nhan đề “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

Đề 2: Cảm nhận của em về đoạn thơ:

Không có kính không phải vì xe không có kín

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái

Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngòai trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”

(Phạm Tiến Duật, trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kín, NV9 - tập 1)

Đề 3: Cảm nhận đoạn thơ :

Trang 17

“ Những chiếc xe từ trong bom rơi

Ðã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tớiBắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trờiChung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm

Không có kính, rồi xe không có đèn,Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim”

(Phạm Tiến Duật, trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” NV9 - Tập1)

HẾT

Trang 18

III BÀI THƠ ÁNH TRĂNG CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN DUY

1 Tác giả:

- Nguyễn Duy: Nguyễn Duy Nhuệ sinh năm 1948

- Quê ở làng Quảng Xá - xã Đông Vệ - Thành phố Thanh Hoá

- Gia nhập quân đội thông tin từ năm 1966, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường

- Là một nhà thơ chiến sĩ

- Thơ của Nguyễn Duy dung dị, hồn nhiên và trong sáng

- Ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ sáng tạo, gợi cảm và rất đẹp, một vẻ đẹp chân quê Saunày cảm xúc trữ tình trong thơ Nguyễn Duy ít nhiều pha màu sắc triết lí khá thâmtrầm, sâu sắc (ánh trăng;: Giàu chất triết lí, thiên về chiều sâu nội tâm với những trăntrở, day dứt suy tư)

2 Tác phẩm:

=> Nguyễn Duy viết bài thơ này vào lúc cuộc kháng chiến đã khiếp lại được banăm (1978) - ba năm sống trong hoà bình, không phải ai cúng còn nhớ những giankhổ và kỉ niệm nghĩa tình trong quá khứ Ngưyễn Duy viết "Ánh trăng" trước hết làtiếng lòng, là suy ngẫm riêng của nhà thơ Nhưng ý nghĩa bài thơ không chỉ có thế.Nhà thơ đứng giữa hôm nay mà nhìn ngẫm lại thời đã qua và từ tâm trạng riêng, tiếngthơ ông như một lời cảnh tỉnh, lời nhắc nhở, như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủchân tình với chính mình, vơi mọi người về lẽ sống chung thuỷ, nghĩa tình, giữ trọnđạo lí tốt đẹp

3 Phân tích bài thơ:

* Trăng và con người trong quá khứ: (hai khổ thơ đầu)

- Vầng trăng tuổi thơ trải rộng trên một không gian bao la

"Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành đôi tri kỉ"

- Với thể thơ 5 chữ hiện đại, giọng điệu thủ thỉ tâm tình, khổ thơ đã tái hiện mộtquá khứ rất xa của người lính “Hồi nhỏ”, “Hồi chiến tranh” Đó là một khoảng thờigian dài, từ thời niên thiếu đến lúc trưởng thành và nhất là trong những năm tháng gian

Trang 19

lao của chiến tranh Cả một khoảng thời gian dài đó có biết bao kỷ niệm đẹp giữangười với trăng.

- Con người với một tuổi thơ đầy vất vả gian lao, lấm lem bùn đất nhưng gầngũi với thiên nhiên: với đồng, với bể, với rừng Đó là một cuộc sống bình dị, vô tư,hồn nhiên, con người và trăng như hòa quyện gắn bó bền chặt, sẻ chia mọi niềm vui,cùng đồng cam cộng khổ, cùng xoa dịu những đau thương mất mát của chiến tranhbằng một thứ ánh sáng mát dịu

- “hồi chiến tranh ở rừng/vầng trăng thành tri kỉ”-> Phép nhân hóa: trăng nhưmột người bạn tri kỉ, đồng hành cùng với con người trên mỗi bước đường gian lao "Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ"

- Cả một quãng thời gian dài trong quá khứ con người và trăng sống vô tư, hồnnhiên, mộc mạc, không toan tính “hồn nhiên như cây cỏ”

-> Chính vì thế từ trong sâu thẳm, con người tự hứa sẽ không bao giờ quênngười bạn “trăng, bởi trăng là tri kỉ, là tình nghĩa, là biểu tượng của quá khứ, nghĩatình

- Từ “ngỡ” xuất hiện như một lời thề đinh ninh, là ḷng từ dặn lòng không quênquá khứ Nhưng từ “ngỡ” ấy thảng thốt một dự cảm lo âu về sự rạn nứt trong mối quan

hệ vốn tốt đẹp giữa

* Trăng vầ con người trong hiện tại

- Khổ thơ thứ 3 đưa người đọc trở về hiện tại với những thay đổi do hoàn cảnhcuộc sống thay đổi giữa con người và vầng trăng:

"Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường"

- Tác giả đã tạo ra sự đối lập về hoàn cảnh sống của con người trong hiện đại vàquá khứ

+ Nếu trước đây, con người sống với sông, với đồng, với bể, với rừng, thì naytrở về với cuộc sống “ánh điện cửa gương”-> Đó là một hình ảnh ẩn dụ tượng trưngcho cuộc sống đầy tự do, xa hoa, hào nhoáng về vất chất được khép kín trong nhữngcăn phòng hiện đại, xa rời thiên nhiên

Trang 20

+ Mọi sự thay đổi trong tình cảm của con người, đó là sự lãng quên vầng trăngtrong một thời tri kỉ Cái bạc bẽo vô tình đến với người ta từ từ kín đáo, khó nhận ra.Vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trở thành người dưng.

- Vầng trăng “đi qua ngõ” nhưng con người hờ hững thờ ơ, lạnh lùng, tàn nhẫn,không còn nhận ra trăng là tri kỉ

- Con người trước cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, ấm êm, dễ vô tình hay cũng cóthể quên đi quá khứ gian khổ, đau thương

+ Lãng quên vô tình có thể là mãi mãi nếu không có một bất ngờ Hoàn cảnh bài thơđược đẩy đến bước ngoặt mới khi:

"Thình lình đèn điện tắt

phòng buynh đinh tối om”

- Đây là một tình huống rất quen thuộc, rất thực nhưng tình huống ấy đã tạo nênbước ngoặt để con người bộc lộ cảm xúc: phòng buynh đinh mất điện, tiện nghi bấylâu con người quen hưởng thụ đã đột ngột bị cắt

- Phép đảo ngữ: “thình lình” “đột ngột” đặt lên đầu câu tạo nên nhịp thơ nhanh,nhấn mạnh sự việc bất thường, đèn điện tắt, phòng buynh đinh tối ôm >< Vầng trăngtròn tỏa sáng Đó là sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối

- Việc con người “vội bật tung cửa sổ” như là một việc làm theo thói quen đểtìm kiếm ánh sáng Và trong khoảnh khắc bất ngờ ấy con người không khỏi ngỡngàng, bàng hoàng khi nhận ra vẫn như xưa, đẹp đẽ, đầy đặn, vẹn nguyên không mảymay sít mẻ

-> Dường như vâng trăng tròn năm xưa vẫn luôn đứng bên cửa sổ chờ đợi, vẫntỏa sáng, vẫn đồng hành cùng con người

* Cảm xúc của con người khi gặp lại vầng trăng (khổ 5)

Khổ thơ thứ 5 diễn tả sự xúc động mãnh liệt của nhà thơ

Trang 21

- Và trong khoảng cách ấy, một cảm xúc trào dâng mãnh liệt, chiếm trọn tâm trínhà thơ "có cái gì rưng rưng" Từ láy "rưng rưng" tràn đầy cảm xúc, có thể nói đây làyếu tố trữ tình trực tiếp duy nhất của bài thơ Đó cũng là sắp khóc, là sự vỡ òa của giọtnước tràn ly Khóc vì nhớ, vì hổ thẹn, ân hận, vì xấu hổ bởi trăng vẫn tròn đầy mà lòngngười đã hao khuyết, đổi thay.

- Và rồi cái quá khứ vất vả gian lao nhưng ngập tràn niềm vui cùng với trăng,với thiên nhiên bấy lâu đã lãng quên nay bỗng ùa về trong nỗi nhớ

"như là đồng là bể

như là sông là rừng"

- Điệp từ "như là", nhịp thơ dồn dập, hình ảnh liệt kê -> quá khứ vẫn vẹnnguyên, những dài rộng của đồng, sông, bể, rừng vẫn còn đầy -> Chỉ cần một lần chạmkhẽ, quá khứ tất cả sẽ trở về, phục sinh những gì đẹp đẽ nhất trong tâm hồn con người

* Suy ngẫm triết lý sâu sắc của nhà thơ (Khổ 6)

là một quá khứ thủy chung, bao dung, hiền hậu như tấm lòng nhân dân đất nước chưabao giờổi thay d

+ Cặp từ cứ - kể chi tạo nên hai lối thơ đối lập Trăng vẫn tròn đầy mặc chodòng đời trôi chảy và lòng người đổi thay, vô tình

- « Ánh trăng im phăng phắc/đủ cho ta giật mình » Trăng hiền hậu là thế nhưngtrăng vẫn rất nghiêm khắc Phép nhân hóa trăng không một lời trách cứ, trăng nhắcnhở con người bằng một thái độ nghiêm khắc mà rất bao dung, độ lượng khiến conngười phải biết giật mình vì một ánh trăng

Trang 22

+ Thì ánh trăng lại lan tỏa khắp mặt đất, đó là thứ ánh sáng đẹp, ẩn dụ cho ánhsáng kỳ diệu Ánh sáng ấy là ánh sáng của quá khứ, ánh sáng của đạo lý có khả năngsoi thấu vào những góc khuất, ngõ tối trong tâm hồn con người và thức tỉnh họ, dẫn lốicon người trong hành trình tìm lại chính mình.

-> Và con người đã biết giật mình sám hôi, thức tỉnh: Cái giật mình tuy cómuộn nhưng thật đáng quý biết bao Cuộc đời xô bồ tât tả như ngày hôm nay cần biếtbao những cái giật mình đáng quý như thế Và cũng phải là người lính đi qua chiếntranh mới có cái bản lĩnh để giật mình như thế

4 Giá trị của bài thơ:

a Nghệ thuật:

+ Với thể thơ 5 chữ kết hợp với nhiều phương thức biểu đạt: biểu cảm, tự sự,miêu tả, bình luận Kết cấu lạ chỉ có một dấu chấm và chỉ viết hoa mỗi chữ cái đầu khổthơ nhằm tái hiện một câu chuyện liền mạch

+ Giọng điệu tâm tình tự nhiên

+ Hình ảnh xuyên suốt bài thơ và mang nhiều ý nghĩa

Đề 1: Giải thích nhan đề “Ánh trăng”

Đề 2: Cảm nhận ba khổ thơ đầu bài thơ “Ánh trăng”

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành đôi tri kỉ

Trần trụi với thiên nhiên

Trang 23

Hồn nhiên như cây cỏ

Ngỡ không bao giờ quên

Cái vầng trăng tình nghĩa

Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường”

(Nguyễn Duy, trích bài thơ “Ánh trăng”, Ngữ Văn 9, tập 1)

Đề 3: Cảm nhận ba khổ thơ cuối bài thơ “Ánh trăng”

.”Thình lình đèn điện tắt

phòng buynh đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Trang 24

- Ông là nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam.

+ Trước 1945: Thơ ông giàu chất triết lý, mang nỗi sầu nhân thế

+ Sau 1945: Thơ ông dạt dào niềm vui, đặc biệt là khi viết về cuộc sống và conngười mới

- Cảm hướng xuyên suốt trong thơ Huy Cận là cảm hứng không gian và thời gian

- Các tác phẩm: "Trời mỗi ngày lại sáng", "đất nở hoa", "Hai bàn tay em"

- Năm 1996 ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

2 Tác phẩm

"Đoàn thuyền đánh cá" là bài thơ hay của Huy Cận được viết năm 1958, khicuộc kháng chiến chống Pháp đã thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và đi vào xâydựng cuộc sống mới Niềm vui dạt dào tin vào cuộc sống mới bao trùm cả xã hội vàtrở thành nguồn cảm hứng lớn của thơ ca Nhiều nhà thơ đi đến các vùng đất xa xôi,nơi đang dấy lên phong trào sản xuất xây dựng đất nước Giữa năm 1958 Huy Cận cóchuyến đi thâm nhập thực tế dài ngày về vùng mỏ Quảng Ninh Từ chuyến đi ấy, hồnthơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên, đấtnước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới Bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" rađời trong thời gian này và in trong tập "Trời mỗi ngày lại sáng" (1958)…

3 Giá trị nội dung và nghệ thuật:

a Giá trị nội dung:

Trang 25

- Bài thơ khắc họa vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên tráng lệ.huy hoàng thể hiện sựhài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động.

- qua đó, nhà thơ bộc lộ niềm vui, niềm tự hào, ngợi ca con người mới, cuộc sốngmới trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc

b Giá trị nghệ thuật:

- Kết hợp cảm hứng hiện thúc và cảm hứng lãng mạn,thiên nhiên và con người

- Có nhiều sáng tạo trong việc sử dụng các biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ, sosánh, tượng trương, liệt kê…

- Ngôn ngữ thơ gọt dũa, hình ảnh chọn lọc,vừa gần gũi vừa chân thực, vừa mangtính biểu tượng, giầu chất lãng mạn

4 Hướng dẫn phân tích:

a Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi

- Không gian , thời gian: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa”

+ Sử dụng các biện pháp: Nhân hóa(mặt tời xuống biển), so sánh(Như hòn lửa)hai câu thơ đã cho ta thấy vẻ đẹp của hoàng hôn trên biển: huy hoàng , tráng lệ, rựcrỡ…(Liên hệ…)

+ Sóng là then cài, màn đêm là cánh cửa,biển là ngôi nhà->Không gian rộng lớn,bao la, gợi cảm giác gần gũi

=>Thiên nhiên và vũ trụ đang đi vào trạng thái nghỉ ngơi

- Hình ảnh đoàn thuyền đánh cẩ khơi: “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi”

+ Đoàn thuyền không phải chỉ một con thuyền lẻ loi mà cả một đoàn nối đuôi nhau rakhơi

+ Từ “lại”: Thể hiện hoạt động tích cực không ngừng, không nghỉ, liên tục, thườngxuyên

Ngày đăng: 27/04/2021, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w