1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học " TRUNG QUỐC - TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO TỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP "

10 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 168,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, đây là một sự kiện lớn đánh dấu công cuộc cải cách, mở cửa hội nhập kinh tế của n-ớc này đã b-ớc vào một giai đoạn mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. ở Trung Quốc và nhiều n-ớc trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về việc Trung Quốc gia nhập WTO và tác động của nó đến nhiều mặt cả tr-ớc mắt lẫn lâu dài không những trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong lĩnh vực xã hội, chính trị, văn hoá. Bài...

Trang 1

Lê Đăng Minh*

Mở đầu

Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001,

đây là một sự kiện lớn đánh dấu công

cuộc cải cách, mở cửa hội nhập kinh tế

của nước này đã bước vào một giai đoạn

mới với nhiều cơ hội và thách thức đan

xen ở Trung Quốc và nhiều nước trên

thế giới đã có những công trình nghiên

cứu về việc Trung Quốc gia nhập WTO

và tác động của nó đến nhiều mặt cả

trước mắt lẫn lâu dài không những trong

lĩnh vực kinh tế mà cả trong lĩnh vực xã

hội, chính trị, văn hoá Bài viết này chủ

yếu trình bày và phân tích nhũng tác

động của việc Trung Quốc gia nhập

WTO tới các ngành công nghiệp của

nước này

I Những tác động chính

Trong ngành công nghiệp, Trung

Quốc đã thành công trong việc thực hiện

chiến lược “từ không đến có” (1949-1978)

và “từ ít đến nhiều” (1978-1999) Từ chỗ

thiếu hụt, hiện nay Trung Quốc đã có

thể đáp ứng được 100% nhu cầu nội địa

về hàng công nghiệp Hơn nữa, xét về

tổng lượng, Trung Quốc hiện nay đang

dẫn đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực

sản xuất như than, dệt may, xi măng…

;đứng thứ 2 thế giới về sản xuất hàng

điện tử Mục tiêu vượt Anh và đuổi kịp

Mỹ trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp

mà Mao Trạch Đông đưa ra, tuy không thành công vào năm 1958, nhưng đã

được thực hiện vào năm 1999 Trong 20 năm cải cách và mở cửa, tỷ trọng của công nghiệp trong nền kinh tế đã luôn có

xu hướng tăng và chiếm tới trên 50% GDP cũng như có tới 23% lực lượng lao

động tham gia sản xuất công nghiệp Tuy nhiên, cho tới trước khi gia nhập WTO ngành công nghiệp của Trung Quốc vẫn đang còn đứng trước nhiều khó khăn và thử thách

- Thứ nhất, sản xuất hàng công nghiệp của Trung Quốc hiện nay đang nằm trong giai đoạn khủng hoảng thừa với việc 80% các mặt hàng sản xuất ra cung vượt qua cầu Đặc biệt điều đó xảy

ra trong bối cảnh quy mô sản xuất công nghiệp của Trung Quốc còn nhỏ bé (Trung Quốc chỉ có 1 công ty duy nhất trong số 500 tập đoàn và công ty lớn nhất thế giới theo đánh giá của tạp chí Fortune); chất lượng lao động của Trung Quốc không cao; năng suất lao động thấp (năng suất lao động trong ngành luyện kim - một ngành hiện đang dư thừa

* NCS Viện Kinh tế và Chính trị thế giới

Trang 2

ở Trung Quốc - thua Nhật Bản tới 12

lần); lợi nhuận ở phần lớn các ngành như

dệt, ôtô và thuốc lá, đều thấp; sản xuất

công nghiệp chủ yếu dựa trên cơ sở công

nghiệp truyền thống chứ không phải

công nghiệp mũi nhọn (các ngành công

nghệ cao của Trung Quốc chỉ chiếm có

5% GDP trong khi chỉ số này ở Mỹ và

Nhật Bản là 25%); nhiều ngành công

nghiệp của Trung Quốc sử dụng quá

mức năng lượng, đặc biệt là than, do đó

gây ô nhiễm môi trường nghiêm

trọng (1)

- Thứ hai, mặc dù đã có nhiều cải

cách nhưng khu vực doanh nghiệp nhà

nước Trung Quốc (chiếm tới 28,3% tổng

sản lượng công nghiệp; 53% lực lượng lao

động công nghiệp và 2/3 tín dụng ngân

hàng) vẫn tiếp tục là khu vực yếu kém

của nền kinh tế Tỷ lệ các doanh nghiệp

nhà nước làm ăn thua lỗ lên tới 45%; tỷ

lệ nợ trên vốn cổ phần vẫn duy trì ở mức

cao 150% (tỷ lệ trung bình ở các nước

Đông Nam á trước khủng hoảng

(1992-1996) đối với Thái Lan là 209%;

Inđônexia là 196%; Xingapo 98% và

Malaixia 92%); tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng

dư nợ thấp (dưới 8% so với tỷ lệ khoảng

30-40% ở các nước Đông Nam á)…(2)

- Thứ ba, xét theo tiêu chuẩn quốc tế,

có sự khác biệt rất lớn về khả năng cạnh

tranh giữa những doanh nghiệp quy mô

vừa (medium-sized firms) và những

doanh nghiệp quy mô lớn (large-sized

firms) ở Trung Quốc Những doanh

nghiệp quy mô vừa thường là những

doanh nghiệp hoạt động trong những thị

trường nội địa có tính cạnh tranh cao,

tăng trưởng nhanh và tích cực tiếp cận

tới các thị trường nước ngoài Điều quan

trọng nhất là những doanh nghiệp này

có cấu trúc chi phí rất linh hoạt, rất mềm dẻo trong cạnh tranh Ngược lại, những doanh nghiệp quy mô lớn không những thường thua xa đối thủ cạnh tranh nước ngoài mà khoảng cách giữa chúng lại đang ngày càng rộng ra

- Thứ tư, chế độ thương mại hàng công nghiệp của Trung Quốc được đặc trưng bởi tính nhị nguyên (dualistic structure) bao gồm chế độ chế xuất tự do (liberal export processing regime) và chế

độ thương mại được bảo hộ Chế độ thương mại khuyến khích xuất khẩu

được thực hiện đối với những hàng hóa

được sản xuất ra thuần túy để xuất khẩu

và thường chủ yếu được sản xuất bởi các

xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vốn chiếm tới 48% xuất khẩu và 53% nhập khẩu (năm 1999) Nhập khẩu các sản phẩm trung gian (dành cho xuất khẩu)

và tư liệu sản xuất (capital goods) được miễn thuế Tuy nhiên, giá trị gia tăng nội địa của các sản phẩm này thông thường chỉ chiếm dưới 20% giá trị xuất khẩu Trong khi đó, chế độ thương mại

đối với hàng hoá khác, chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ bởi các doanh nghiệp nhà nước và tập thể lại được bảo hộ rất mạnh bởi những rào cản thuế quan và phi thuế quan, trong đó có cả những hình thức hạn chế về thương mại như quyền kinh doanh thương mại và phân phối

- Thứ năm, cùng với quá trình cải cách và mở cửa cũng như chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, mức độ bảo hộ của ngành công nghiệp Trung Quốc đã liên tục giảm nhưng vẫn được duy trì ở mức cao, tính tới thời điểm trước khi gia

Trang 3

nhập Tuy nhiên, mức độ giảm bảo hộ

đối với ngành này trong thời kỳ trước khi

gia nhập (1995-2001) mạnh hơn nhiều so

mức giảm sau khi gia nhập WTO Mức

độ bảo hộ đối với các sản phẩm công

nghiệp trong thời kỳ trước và sau khi gia

nhập WTO của Trung Quốc được thể

hiện ở Bảng 2.1 Theo đó, trong thời kỳ

1995-2001, mức bảo hộ đối với ngành

công nghiệp đã giảm mạnh: từ mức

25,3% năm 1995 xuống còn 13,5% năm

2001 Đáng chú ý là mức độ giảm mạnh

của bảo hộ đối với sản phẩm của các

ngành như công nghiệp nhẹ (20%), đồ

uống và thuốc lá (94%), ôtô (94,2%) và

điện tử (14,1%) Sau khi gia nhập WTO,

mức bảo hộ bình quân của các ngành

này sẽ tiếp tục giảm nhưng với mức độ ít

hơn so với trước khi gia nhập: 7,5% (từ

mức 13,5% xuống 6%) Trong đó, những

ngành có mức độ bảo hộ giảm mạnh là

chế biến thực phẩm (16,3%), đồ uống và

thuốc lá (27,6%), dệt (12,7%), may mặc

(8,8%), ôtô (15,1%) và điện tử (8%)

Những khó khăn mà ngành công

nghiệp Trung Quốc đang giải quyết cùng

với mức độ bảo hộ cao của một số ngành

trước khi gia nhập cũng như những cam

kết giảm mạnh mức độ bảo hộ đó sau khi

gia nhập (đặc biệt là đối với các ngành

như dệt, may mặc, đồ uống và thuốc lá,

ôtô, điện tử…) sẽ khiến cho việc gia nhập

WTO tác động mạnh vào ngành công

nghiệp Trung Quốc (kể cả tích cực lẫn

tiêu cực) cũng như buộc các ngành này

phải tái cơ cấu lại một cách cơ bản Sau

đây là những phân tích về tác động của

việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với

một số ngành cụ thể

II Tác động đến một số ngành

cụ thể

1 Ngành ôtô

Xét trên khía cạnh quy mô, ngoại thương, kỹ thuật và giá cả, trước khi gia nhập WTO, ngành ôtô ở Trung Quốc có những đặc trưng cơ bản sau

Thứ nhất, số lượng nhà máy khá lớn (800 nhà máy chế tạo và lắp ráp), được

điều hành bởi 200 công ty sản xuất, nhưng sản phẩm phân tán, số lượng ít nên hiệu quả kinh tế thấp, thường xuyên thua lỗ, 13 công ty lớn nhất chiếm 92%

số xe sản xuất hàng năm; bình quân khoảng 113.000 chiếc/công ty Sản lượng bình quân của các công ty còn lại chỉ là 1.200 chiếc/năm(3)

Thứ hai, ôtô là mặt hàng nhập khẩu quan trọng của Trung Quốc: kim ngạch nhập khẩu ôtô luôn đứng vào hai mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất trong tổng kim ngạch nhập khẩu(4)

Thứ ba, xét theo chuẩn mực thế giới, trong ngành ôtô, trình độ chuyên môn hóa thấp, phân công lao động lạc hậu, trình độ kỹ thuật thấp; chất luợng sản phẩm thấp, khả năng phát triển yếu, phương thức kinh doanh lạc hậu…, đặc biệt là trong ngành sản xuất linh kiện Thứ tư, giá thành sản xuất xe con của Trung Quốc cao hơn nhiều so với giá xe cùng loại ở nước ngoài (nhưng giá xe của Trung Quốc lại rẻ hơn chủ yếu là do bảo

hộ cao: 123,1% vào năm 1995 và 28,9% vào năm 2001)

Những đặc trưng trên cùng với việc mất đi lá chắn bảo hộ cao về thuế quan, phi thuế quan và đầu tư sẽ khiến cho việc gia nhập WTO tác động mạnh tới ngành ôtô của Trung Quốc (Bảng 1)

Trang 4

Bảng 1: Mức bảo hộ nhập khẩu của một số mặt hàng công nghiệp Trung Quốc

trước và sau khi gia nhập WTO (thuế quan hoặc tương đương; %)

Nguồn: Elena Ianchovichina and Will Martin (2004) “Economic Impacts of China’s to the WTO” China and the WTO: Accession, Polity Reform and Poverty Reduction Strategies, P.216-221…

Một mặt, việc xoá bỏ các rào cản thuế

quan và phi thuế quan sẽ khiến cho

nhập khẩu tăng 24%; do áp lực của cạnh

tranh không chỉ từ phía nhập khẩu mà

còn từ phía các nhà đầu tư nước ngoài,

số lượng nhà máy sẽ phải giảm khoảng

27% và việc làm sẽ giảm 2,2% Chịu tác

động mạnh nhất là các ngành sản xuất

linh kiện, các ngành sản xuất các loại xe

thiếu khả năng cạnh tranh (như xe du

lịch, xe tải trên 8 tấn, xe tải nhẹ từ 1-2

tấn, xe chuyên dụng và xe chở khách…)

Mặt khác, sức ép của cạnh tranh sẽ

khiến cho ngành công nghiệp ôtô phải

tái cấu trúc lại cả về cơ cấu nhà máy và

cơ cấu sản phẩm (giảm số lượng nhà

máy kém chất lượng và tập trung vào

những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh

như xe tải tầm trung chẳng hạn) cũng như nâng cao kỹ thuật, công nghệ sản xuất và chất luợng sản phẩm theo chuẩn mực quốc tế Kết quả là quy mô sản xuất

ôtô sẽ được mở rộng với việc sản lượng sẽ tăng 1,4%; xuất khẩu sẽ tăng 27,7% và giá bán buôn cũng như giá bán lẻ ôtô

đều sẽ giảm (3,9% và 4,2% theo thứ tự) Như vậy, tác động mạnh nhất đối với ngành ôtô không phải là yếu tố giá cả

mà là yếu tố kỹ thuật và chất lượng Trong dài hạn, sức cạnh tranh của ngành này sẽ được nâng cao; chất lượng dịch vụ sẽ tốt hơn, đặc biệt là dịch vụ hậu mãi Các ngành kinh tế hỗ trợ cho ngành ôtô cũng sẽ phát triển kéo theo những tác động lan tỏa tích cực tới toàn

bộ nền kinh tế

Trang 5

2 Ngành dệt may

Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Trung Quốc, thời kỳ 1985-2001

Năm Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may

(tỷ USD)

Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu

(%)

Nguồn: Cục thống kê Hải quan Trung Quốc, 2001

Trung Quốc là nước sản xuất và xuất

khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới

Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của

Trung Quốc liên tục tăng nhanh từ

những năm 1990 trở lại đây (xem Bảng

2) đồng thời chiếm một tỷ trọng đáng kể

trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng

hóa của nước này (khoảng 1/5) Năm

1997, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt

may của Trung Quốc đạt 45,5 tỷ USD,

chiếm 52,9% tổng giá trị sản xuất công

nghiệp dệt và chiếm khoảng 14% tổng

giá trị xuất khẩu hàng dệt may toàn thế

giới Đây cũng là ngành mang lại lượng

ngoại tệ lớn cho Trung Quốc Năm 2000,

Trung Quốc xuất khẩu được 52,08 tỷ

USD sản phẩm dệt may, riêng quần áo

đạt kim ngạch 36 tỷ USD, trong đó 22%

lượng quần áo này được xuất sang các

thị trường có hạn ngạch như Mỹ và châu

Âu, 78% còn lại được xuất qua các thị

trường phi hạn ngạch như Nhật Bản và

các thị trường khác Năm 2001, giá trị

xuất khẩu của hàng dệt may đạt 53,28

tỷ USD, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất

khẩu hàng hóa của nước này Đặc biệt,

kể từ ngày 1-1-2005, khi Hiệp định dệt may của WTO (ATC) hết hiệu lực thì hàng rào hạn ngạch đối với hàng dệt may được dỡ bỏ, Mỹ và các nước phát triển xóa bỏ quota nhập khẩu mang tính phân biệt đối xử đối với hàng dệt may của các nước là thành viên của WTO Lúc này, hàng dệt may Trung Quốc không còn gặp trở ngại lớn nào nữa, ngành dệt may nước này sẽ thu được lợi ích rất lớn, mức độ tăng trưởng xuất khẩu của dệt may Trung Quốc có thể lên tới 130%/năm trong một thời gian ngắn,

là ngành tạo ra ngoại tệ ròng và có môi trường kinh doanh ổn định Do các sản phẩm may mặc của Trung Quốc thuộc vào loại các sản phẩm ở nước phát triển không còn sản xuất hoặc sản xuất rất ít, giá lại rẻ, nhu cầu của thị trường trong dài hạn không biến đổi lớn, đồng thời, nhờ xuất khẩu tăng mạnh, sản xuất đại trà với khối lượng lớn, giá thành có thể giảm hơn 20% nên có người nhận xét:

đến năm 2005 thị phần của Trung Quốc trên thị trường may mặc Âu, Mỹ là 35%

và 50% sản lượng toàn thế giới (tương

Trang 6

ứng, năm 2003 là 15% và 25%) Điều

này cho thấy dệt may là ngành có lợi thế

cạnh tranh lớn nhất của Trung Quốc (lợi

thế lao động rẻ) đồng thời đây cũng là

ngành phụ thuộc rất mạnh vào xuất

khẩu Tuy vậy, việc Trung Quốc gia

nhập WTO sẽ có những tác động mạnh

mẽ tới ngành này vì những lý do sau:

- Thứ nhất, xét trên phương diện sản

xuất, dệt là ngành khó khăn nhất trong

nền kinh tế Trung Quốc do việc xây

dựng trùng lắp và với kỹ thuật thấp

Năng lực sản xuất của ngành này thừa

nghiêm trọng Hơn thế nữa, các doanh

nghiệp nhà nước trong ngành này thua

lỗ triền miên và luôn đứng đầu danh

sách những doanh nghiệp thua lỗ trong

toàn quốc (mặc dù trong những năm gần

đây đã có những chuyển biến nhất định

nhưng tình hình vẫn chưa thực sự thay

đổi một cách cơ bản) Ngoài ra, các

doanh nghiệp dệt-may của Trung Quốc

chủ yếu sản xuất dưới dạng gia công sản

phẩm nên giá trị gia tăng thấp và nhiều

khi không phản ứng lại được một cách

linh hoạt đối với sự thay đổi của nhu cầu

trên thị trường quốc tế

- Thứ hai, đầu tư đối với ngành dệt

thấp, đặc biệt là đầu tư tài sản cố định

và đầu tư đổi mới trang thiết bị, khiến

cho khả năng cạnh tranh của ngành

không liên tục được nâng cao Hơn thế

nữa, lợi thế cạnh tranh của ngành

dệt-may Trung Quốc chủ yếu dựa trên sức

lao động rẻ hay nói cách khác đó là lợi

thế cạnh tranh về giá cả nên khó có thể

duy trì được lâu dài (do giá thành, lao

động và nguyên liệu không ngừng gia

tăng) Trong khí đó, khả năng cung cấp

toàn cầu về sản phẩm dệt-may lại đang

quá dư thừa

- Thứ ba, mặc dù xét trên tổng thể, ngành dệt-may của Trung Quốc vẫn duy trì được mức độ xuất siêu cao nhưng đối với một số sản phẩm cụ thể như len lông cừu, sợi tổng hợp, sản phẩm dệt chuyên dụng, sản phẩm dệt kim lại nhập siêu nhiều Hơn thế nữa, cùng với việc mở cửa thị trường, nhập siêu các sản phẩm dệt đã ngày càng tăng và với tốc độ vượt quá xuất siêu của ngành may mặc: từ

1993 đến 1998, nhập siêu sản phẩm dệt tăng 112% trong khi đó, xuất siêu sản phẩm may mặc chỉ tăng có 60% (6)

- Thứ tư, trước khi gia nhập WTO, dệt-may là ngành nhận được nhiều sự bảo hộ của Chính phủ như trợ cấp tài chính, cho vay với lãi suất thấp, chế độ hoàn thuế xuất khẩu, miễn giảm thuế giá trị gia tăng, giảm giá… Mức độ bảo hộ đối ngành dệt vào năm 2001 mặc dù đã giảm nhưng vẫn chiếm tới 21,6% (giảm từ mức 56,0% năm 1995); đối với ngành may mặc

là 23,7% (giảm từ mức 76,1%)

(1) Việc gia nhập WTO sẽ tạo cho ngành dệt may Trung Quốc cơ hội đàm phán mậu dịch đa phương bình đẳng về thương mại hàng dệt-may Hơn thế nữa, như đã trình bày, việc gia nhập này sẽ khiến cho Trung Quốc được hưởng đãi ngộ của Hiệp định dệt may của WTO (ATC) đạt được từ vòng đàm phán Urugoay Cùng với việc Trung Quốc phải

tự do hóa ngành dệt-may của mình, các nước khác cũng phải tự do hóa việc nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc Chẳng hạn, theo hiệp định Mỹ -Trung, hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt của Trung Quốc sang Mỹ đến năm 2008 sẽ

được xóa bỏ hoàn toàn Trung Quốc cũng

sẽ đa dạng hóa được thị trường xuất khẩu hàng dệt may của mình, vốn trước kia chỉ tập trung vào một số thị trường như Đông Nam á, Hồng Kông và Đài Loan

Trang 7

Bảng 3: Tác động của việc gia nhập WTO tới một số sản phẩm công nghiệp

Trung Quốc (2001-2007)

Ngành hàng lượng Sản

(%)

Công ăn việc làm (%)

Xuất khẩu (%)

Nhập khẩu (%)

Cán cân thương mại (triệu USD)

Giá bán buôn (%)

Giá

bán lẻ (%)

Đồ uống và thuốc lá -33,0 -33,1 9,7 112,4 -14.222 -1,8 -6,9

Công nghiệp khai khóang -1,0 -1,3 7,5 -4,4 2.088 -0,7 1,2

Công nghiệp nhẹ 3,7 3,7 5,9 6,8 1.786 -0,9 0,0

Công nghiệp hóa dầu -2,3 -2,3 3,1 11,8 -8.810 -0,7 0,8

Các sản phẩm chế tạo khác -2,1 -2,2 4,1 18,9 -11.291 -0,5 0,8

Nguồn: Elena Ianchovichina and Will Martin (2004) “Economic Impacts of China’s to the WTO” China and the WTO: Accession, Polity Reform and Poverty Reduction Strategies, P.216-221

(2) Mặc dù việc thực hiện các cam kết

với WTO sẽ khiến cho nhập khẩu gia

tăng: 38,5% đối với ngành dệt và 30,9%

đối với ngành may mặc (xem Bảng 3)

nhưng sức ép cạnh tranh sẽ buộc ngành

dệt may phải thay đổi cách quản lý, cải

tổ cơ cấu sản xuất cũng như sản phẩm,

nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ

sản xuất Ngành dệt may của Trung

Quốc sẽ được phát triển theo hướng cao

cấp hóa và dựa trên những lợi thế so

sánh chủ yếu của mình Sức cạnh tranh

của ngành được nâng cao cùng với việc

thị trường xuất khẩu được mở rộng sẽ

khiến cho ngành xuất khẩu dệt-may

tăng thêm 50 triệu USD mỗi năm sau

khi gia nhập WTO Thị phần xuất khẩu

của ngành dệt cũng sẽ tăng thêm 10%

sau năm 2005(7) Theo Bảng 3, sau khi

gia nhập WTO (2007) ngành dệt may

của Trung Quốc sẽ tăng trưởng mạnh xét trên giác độ sản lượng, xuất khẩu và công ăn việc làm Trong đó, sản lượng hàng dệt và may mặc sẽ tăng 15,6% và 57,3% (theo thứ tự); xuất khẩu sẽ tăng 32,7% và 105,8% (theo thứ tự); công ăn việc làm tăng 15,5% và 56,1% (theo thứ tự) Đồng thời, giá bán buôn và bán lẻ

đều giảm: 7,7% và 3,2% (theo thứ tự) đối với hàng dệt và 0,5% và 0,9% (theo thứ tự) đối với hàng may mặc Nói cách khác, những tác động tích cực của việc gia nhập WTO đối với ngành dệt-may của Trung Quốc là rất lớn, vượt quá những tác

động tiêu cực và điều này sẽ có những tác

động lan toả tích cực tới các ngành còn lại trong nền kinh tế (đặc biệt là đối với ngành sợi thực vật với mức tăng sản lượng 15,8% và việc làm tăng 16,4%.)

Trang 8

3 Một số ngành công nghiệp khác-

Công nghiệp hóa dầu

Theo các nhà nghiên cứu của Trung

Quốc, hóa dầu là một trong những

ngành kinh tế trụ cột của nước này Sau

30 năm phát triển, Trung Quốc đã hình

thành được một hệ thống công nghiệp

hóa dầu hoàn chỉnh bao gồm sản xuất,

lưu thông, nghiên cứu khoa học, thiết kế,

thi công và giáo dục Trong khâu sản

xuất lại có thể chia thành các khâu

chuyên môn như luyện dầu, hóa chất, sợi

hóa học, phân hóa học và giặt sợi hóa

học Tuy nhiên, các công ty sản xuất lại

được xây dựng ở nhiều nơi với chi phí cao

nên hiệu quả thấp và chất lượng sản

phẩm không cao (năm 1998, chi phí bình

quân để sản xuất một thùng dầu thô của

Trung Quốc là 13,3 USD, trong khi đó,

chi phí bình quân quốc tế là 8,98 USD/

thùng và ở Trung Đông là 2 USD/thùng)

Ngoài ra, mặc dù so với các nhà sản xuất

ở nước ngoài, quy mô doanh nghiệp hóa

dầu ở Trung Quốc không mấy thua kém

nhưng năng suất lao động lại thấp hơn rất

nhiều, quá trình cải tạo kỹ thuật diễn ra

chậm và không đồng đều, bộ máy quản lý

cồng kềnh, trình độ quản lý kém

Với việc gia nhập WTO, Trung Quốc

sẽ không đánh thuế nhập khẩu đối với

dầu thô, khí thiên nhiên; thuế quan

đánh vào dầu thành phẩm, dầu nhiên

liệu sẽ giảm xuống còn khoảng 6% trong

vòng từ 1-2 năm; các biện pháp phi thuế

quan như hạn ngạch nhập khẩu dầu thô,

dầu thành phẩm sẽ được xóa bỏ dần…

Mức độ bảo hộ đối với ngành hóa dầu sẽ

giảm 5,7% (từ mức 12,8% năm 2001 sau

khi đã giảm 7,4% năm 1995) Kết quả là

nhập khẩu các sản phẩm hóa dầu vào

Trung Quốc sẽ tăng mạnh: 11,8% và

xuất khẩu chỉ tăng 3,1% Đồng thời, sản

lượng của ngành cũng như việc làm sụt giảm: 2,3% và 2,3%, theo thứ tự Tuy nhiên, trong dài hạn, dưới sức ép của cạnh tranh quốc tế, ngành này sẽ được cơ cấu lại cả về mặt cơ cấu sản xuất lẫn cơ cấu sản phẩm; công nghệ và kỹ thuật cũng như kỹ năng quản lý và kinh doanh tiên tiến sẽ được áp dụng; thị trường sẽ được mở rộng… với những tác

động tích cực và vượt trội so với những tác động tiêu cực

- Ngành kỹ thuật thông tin(8) Mặc dù khởi đầu muộn, nhưng kỹ thuật thông tin là ngành phát triển rất nhanh chóng ở Trung Quốc Trong kế hoạch 5 năm lần thứ VIII (1991-1995), tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngành

kỹ thuật thông tin Trung Quốc đạt 55% Theo thống kê của Ban Thư ký WTO, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm kỹ thuật thông tin của Trung Quốc năm

1995 là 14,5 tỷ USD, đứng thứ 8 thế giới; kim ngạch nhập khẩu là 14,35 tỷ USD,

đứng thứ 9 thế giới Nếu tính cả Trung Quốc đại lục, Hồng Kông và Đài Loan thì kim ngạch nhập khẩu đạt 53 tỷ USD,

đứng thứ 3 thế giới và kim ngạch xuất khẩu đạt 43 tỷ USD, đứng thứ 4 thế giới(9) Tuy nhiên, chủng loại, chất lượng, trình độ kỹ thuật và năng lực phát triển sản phẩm của các sản phẩm công nghệ thông tin của Trung Quốc vẫn còn lạc hậu hơn rất nhiều so với các nước phát triển, thậm chí còn lạc hậu hơn so với nhiều nước Đông Nam á như Singapore, Malaysia

Việc Trung Quốc gia nhập WTO đồng nghĩa với việc nước này sẽ phải tuân thủ các nguyên tắc của “Hiệp định kỹ thuật thông tin” với những nội dung cơ bản là thực hiện tự do hóa hoàn toàn mậu dịch sản phẩm kỹ thuật thông tin (mức thuế

Trang 9

quan sẽ được giảm xuống mức zero) với

hơn 200 loại sản phẩm trong đó có phần

cứng và phần mềm máy vi tính; thiết bị

viễn thông; máy đo khoa học; chất bán

dẫn và thiết bị chế tạo của nó với tổng

giá trị là 600 tỷ USD Ngoài ra các loại

thuế và phí khác cũng được xóa bỏ

Việc thực hiện hiệp định này, một

mặt, sẽ khiến cho việc phát triển các sản

phẩm mà Trung Quốc đang nghiên cứu

và chế tạo (phầm mềm vi tính; máy đo

quang học trong truyền dẫn và thu nhận

sóng phát thanh, truyền hình…) gặp

nhiều khó khăn do phải cạnh tranh với

hàng nhập khẩu tương tự từ bên ngoài

nhưng giá rẻ hơn và chất lượng cũng tốt

hơn Mặt khác, việc thực hiện các

nguyên tắc của hiệp định cũng sẽ khiến

cho Trung Quốc mở rộng được thị trường

xuất khẩu, tăng thị phần đối với những

sản phẩm mà nước này đang có lợi thế

cạnh tranh; thu hút được kỹ thuật tiên

tiến thông qua đầu tư nước ngoài; tham

gia vào việc trao đổi kỹ thuật và phân

công lao động quốc tế; hạn chế được hiện

tượng buôn bán lậu… Tất cả những điều

đó sẽ khiến cho sức cạnh tranh của các

sản phẩm thông tin Trung Quốc được

nâng cao (chất lượng gia tăng và giá

thành sản phẩm giảm) Cũng như đối

với các ngành khác, trong dài hạn những

tác động tích cực của việc gia nhập WTO

đối với ngành kỹ thuật thông tin sẽ vượt

qua những tác động tiêu cực ngắn hạn

- Ngành vật liệu xây dựng

Đây là ngành tập trung nhiều lao

động và tiêu tốn nhiều năng lượng

nhưng những tác động tích cực của việc

Trung Quốc gia nhập WTO sẽ vượt qua

những tác động tiêu cực Việc gia nhập

WTO sẽ khiến cho ngành này có được

nhiều thông tin hơn về kỹ thuật và kinh

tế cũng như có được một môi trường thương mại quốc tế ổn định và cạnh tranh công bằng hơn; sức ép của cạnh tranh sẽ khiến cho ngành này phải thay đổi cơ cấu sản phẩm, kỹ thuật cũng như nâng cao trình độ tổ chức và quản lý sản xuất…

- Ngành điện lực Với phương châm “công nghiệp điện lực đi trước và việc phát triển ngành năng lượng lấy điện lực làm trung tâm” , ngành điện lực của Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng Cuối năm 1998, công suất máy phát điện cả nước đạt được 277 triệu KW, lượng điện sản xuất đạt 1157,7 tỷ Kw/h, đứng thứ 2 thế giới Trong đó, công suất máy phát điện của thủy điện, nhiệt điện, điện hạt nhân lần lượt là 500.000 Kw, 660.000 Kw và 900.000 Kw Năm 1999, công suất máy phát điện cả nước là 299 Kw, lượng điện sản xuất là 1230,0 tỷ kw/h tăng hơn năm

1998 lần lượt là 7,7% và 6,5%, trong đó thủy điện, nhiệt điện và điện hạt nhân lần lượt tăng từ 21,29 triệu Kw/h lên 27,97 triệu Kw/h; từ 100,47 triệu Kw/h lên 223,43 triệu Kw/h và từ 1,48 triệu Kw/h lên 2,10 triệu Kw/h

Từ năm 1997 đến nay, tình hình thiếu điện được dịu đi, công nghiệp điện bước vào giai đoạn “thị trường người mua” Tuy nhiên, mức dùng điện bình quân đầu người của Trung Quốc vẫn rất thấp Năm 1998, máy phát điện lắp đặt bình quân đầu người Trung Quốc chỉ có 0,22 Kw, lượng điện dùng bình quân đầu người Trung Quốc chỉ có 909 Kw/năm, bằng 7,3% và 7,5% (tương ứng) so với

Mỹ Đến năm 2020, khả năng phát triển lượng dùng điện bình quân đầu người của Trung Quốc vẫn chỉ tương đương 30% so khả năng phát triển lượng dùng

điện bình quân đầu người Mỹ hiện nay

Trang 10

Mặc dù vậy, hiện nay khả năng sản xuất

thiết bị phát điện của Trung Quốc cung

đã vượt quá cầu Tính đến cuối năm

1996, Trung Quốc đã sản xuất tổng số

thiết bị phát điện trên 200 triệu Kw, cơ

bản đã thỏa mãn nhu cầu phát triển

công nghiệp điện lực, đến cuối năm

1997, con số này đã lên 250 triệu Kw

Theo dự báo năm 2005, sản lượng điện

của Trung Quốc đạt 510,7 triệu Kw

Tác động lớn nhất của việc Trung

Quốc gia nhập WTO đối với ngành điện

lực là thay đổi mức độ độc quyền của

ngành này, làm tăng sự cạnh tranh trong

việc cung cấp năng lượng với việc đa dạng

hóa các nhà sản xuất với các dạng năng

lượng khác nhau: thủy điện, nhiệt điện,

điện hạt nhân… nhằm giải quyết tình

trạng thừa, thiếu cục bộ: thừa điện ở các

tỉnh phía Tây nhưng lại thiếu điện ở các

tỉnh phía Đông - nơi có ngành công nghiệp

chế tạo đang phát triển mạnh

- Ngành than

Trung Quốc là nước sản xuất than

đứng đầu thế giới (trên 1 tỷ tấn năm

1991) nhưng xuất khẩu lại không nhiều:

năm 1998 Trung Quốc xuất khẩu 32,29

triệu tấn than, chỉ bằng 1/5 của

Australia Hơn thế nữa, hiệu quả kinh

doanh của ngành than thấp, thua lỗ

nhiều năm (năm 1999 thua lỗ tại các mỏ

than trọng điểm gần 3,7 tỷ NDT); chất

lượng than thấp, chi phí vận chuyển

cao… Mặc dù việc gia nhập WTO sẽ

khiến cho cạnh tranh đối với ngành này

tăng lên (đặc biệt từ phía các nhà sản

xuất Indonesia, Việt Nam, Australia)

nhưng xuất khẩu than của Trung Quốc

sẽ tăng, chủ yếu do các điều kiện về vận

tải sẽ được cải thiện và các mỏ sẽ được

cải tổ lại dưới sức ép của cạnh tranh

quốc tế

- Ngành luyện kim

Do mức độ bảo hộ của ngành này không nhiều (từ 8,9% xuống còn 5,5%) nên những tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với ngành này không lớn Nhập khẩu sẽ tăng 6,8%; xuất khẩu tăng 3,7% trong khi đó sản lượng và việc làm giảm không đáng kể: 2,1% và 2,1% theo thứ tự

Tóm lại, tác động của việc gia nhập WTO đối với công nghiệp Trung Quốc là không tránh khỏi, bao gồm cả tích cực lẫn tiêu cực Vấn đề đặt ra là các ngành liên quan và doanh nghiệp của nước này

đã hiểu và chủ động định ra được những

đối sách phù hợp nên những thách thức

đã ít nhiều được giảm thiểu và có thể chuyển hóa thành cơ hội Tất nhiên, vì thời kỳ quá độ vẫn chưa kết thúc, thời gian bảo hộ đối với một số ngành và lĩnh vực vẫn còn Vì vậy, việc đánh giá về mức độ tác động lúc này vẫn còn sớm, cần được tiếp tục theo dõi và nghiên cứu

Chú thích:

(1), (2) Võ Đại Lược: Trung Quốc gia nhập

tổ chức thương mại thế giới - Thời cơ và thách thức Nxb KHXH, Hà Nội, 2004 (3) Trần Quốc Hùng: Trung Quốc vào WTO Cơ hội và thách thức Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2002

(4) Như chú thích (1) (5), (6) Thôi Lệ Kim: WTO và cuộc mưu sinh của người dân Trung Quốc Nxb Trẻ, Tp

Hồ Chí Minh, 2003, tr 42

(7) Như chú thích (1) (8) Kỹ thuật thông tin là những ngành kỹ thuật về máy tính, viễn thông và thông tin

Đây là loại kỹ thuật mới có tốc độ phát triển nhanh nhất và là những ngành đang được áp dụng rộng rãi trong các ngành khác như cơ khí chế tạo, tự động hóa các quy trình sản xuất, dịch vụ…

(9) Như chú thích (1)

Ngày đăng: 27/04/2021, 17:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm