DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTChuỗi giá trị toàn cầuUNCTAD Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển Giao hàng lên tàuCIF Cost, Insurance, Freight Tiền hàng, cước phí, bảo hiểmVTĐPT Vận
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
Bộ môn Kinh tế và Kinh doanh thương mại
ĐỀ ÁN
Ngành: Kinh Doanh Thương Mại
Đề tài:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC LOẠI HÌNH VẬN TẢI
ĐA PHƯƠNG THỨC TRONG NGÀNH LOGISTICS Ở VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Hoàng Khánh Nhân
Lớp chuyên ngành : Quản trị Kinh doanh thương mại 60A
Trang 2Hà Nội –Tháng 3/2021
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
Bộ môn Kinh tế và Kinh doanh thương mại
ĐỀ ÁN
Ngành: Kinh Doanh Thương Mại
Đề tài:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC LOẠI HÌNH VẬN TẢI
ĐA PHƯƠNG THỨC TRONG NGÀNH LOGISTICS Ở VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Hoàng Khánh Nhân
Lớp chuyên ngành : Quản trị Kinh doanh thương mại 60A
Trang 4Hà Nội –Tháng 3/2021
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH VẼ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LOGISTICS VÀ HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC 2
1.1 Tổng quan về Logistics 2
1.1.1 Khái niệm Logistics 2
1.1.2 Vai trò của Logistics 3
1.2 Vận tải đa phương thức 6
1.2.1 Khái niệm vận tải đa phương thức 6
1.2.2 Các loại hình Vận tải đa phương thức phổ biến hiện nay 9
1.2.3 Vai trò của Vận tải đa phương thức trong Logistics 11
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển các loại hình Vận tải đa phương thức 11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC Ở TRONG NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM 14
2.1 Đặc điểm hoạt động VTĐPT trong ngành Logistics ở Việt Nam 14
2.1.1 Đặc điểm về phương tiện Vận tải đa phương thức 14
2.1.2 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng cho Vận tải đa phương thức 18
2.1.3 Đặc điểm về mạng lưới VTĐPT và trạm trung chuyển hàng hóa 23
2.2 Thực trạng phát triển hoạt động VTĐPT ở Việt Nam 25
2.2.1 Phân tích thực trạng về cơ sở hạ tầng giao thông tại Việt Nam hiện nay 25
2.2.2 Phân tích tình hình khai thác các phương tiện VTĐPT Việt Nam 34
2.2.3 Hiện trạng kết nối vận tải đa phương thức đối với ngành dịch vụ Logistics ở Việt Nam 35
2.3 Đánh giá hoạt động phát triển hoạt động VTĐPT ở trong ngành Logistics ở Việt Nam 36
2.3.1 Kết quả 36
2.3.2 Hạn chế 36
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH VTĐPT TRONG NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM 39
3.1 Dự báo nhu cầu cho dịch vụ VTĐPT ở Việt Nam 39
3.2 Giải pháp thúc đẩy phát triển loại hình VTĐPT trong ngành Logistics Việt Nam 41
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chuỗi giá trị toàn cầuUNCTAD Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
Giao hàng lên tàuCIF Cost, Insurance, Freight
Tiền hàng, cước phí, bảo hiểmVTĐPT Vận tải đa phương thức
EDI Electronic Data Interchange
Trao đổi dữ liệu điện tửICD Inland Container Depot
Cảng hàng hóa nội địaASEAN The Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
VASCO Vietnam Air Services Company
Công ty Bay dịch vụ hàng không Việt NamVNR Vietnam National Railway
Tổng Công ty đường sắt Việt NamUNESCAP Ủy ban KT-XH Châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp QuốcKT-XH Kinh tế - Xã hội
ACV Airports Corporation of Vietnam
Tổng công ty cảng hàng không Việt NamGTVT Giao thông vận tải
BOT Build – Operate – Transfer
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao trong kinh tếGII Global International Infrastructure
Hệ thống thông tin toàn cầuICAO International Civil Aviation Organization
Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tếMTO Multimodal Transport Operator
Nhà vận tải đa phương thứcFDI Foreign Direct Investment
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàiWTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giớiB/L Bill of Lading
Vận đơn đường biểnAWB Airway Bill – Vận đơn hàng không
Trang 7DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
Hình 2.1 Biểu đồ thống kê số lượng đội tàu Việt Nam
năm 2020
14
Bảng 2.1 Thực trạng về phân loại và chiều dài hệ
thống giao thông đường bộ Việt Nam
25
Bảng 2.2 Thực trạng về mạng lưới giao thông tuyến
đường sắt Việt Nam
27
Bảng 2.3 Thực trạng về khả năng tiếp nhận tàu của các
cầu cảng biển tại Việt Nam
29Bảng 2.4 Thực trạng về GTVT thủy nội địa Việt Nam 30
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Vận tải là một khâu vô cùng quan trọng để đưa sản phẩm từ nơi sản xuấtđến tay người tiêu dùng Đặt vào bối cảnh hiện nay, khi mà hợp tác kinh tế pháttriển vượt khỏi phạm vi một quốc gia hay khu vực, các quan hệ thương mại diễn
ra trên bình diện thế giới với khối lượng hàng hoá giao dịch ngày càng lớn, vaitrò thiết yếu của vận tải lại càng được bộc lộ rõ nét hơn
Nước ta có một bờ biển dài hơn 3 triệu km, lại có vị trí địa lý thuận lợi, làgiao điểm của các đầu mối giao thông lớn Do đó, nếu phát triển được ngành vậntải và tận dụng hết các ưu thế tự nhiên, đây sẽ là một lợi thế đáng kể của ViệtNam
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các phương tiệnvận tải cũng như các cơ sở hạ tầng khác của giao thông đều được nâng cao Đồngthời với những tiến bộ đó là sự mở rộng của khái niệm hoạt động vận tải và sựxuất hiện của ngày càng nhiều các hình thức vận tải mới, tiêu biểu trong số đóchính là Vận tải đa phương thức
Vận tải đa phương thức đang trở thành ngành dịch vụ vận tải phổ biến trênthế giới, tuy còn khá mới mẻ ở thị trường Việt Nam Lựa chọn đề tài: "Thựctrạng hoạt động vận tải đa phương thức trong ngành Logistics ở Việt Nam", em
hi vọng bài tiểu luận này sẽ một lần nữa khẳng định lại tầm quan trọng của vậntải nói chung và vận tải đa phương thức nói riêng, đưa ra được những đánh giákhái quát về tình hình vận tải đa phương thức trong ngành Logistics Việt Nam,đồng thời kiến nghị những giải pháp nhằm phát triển vận tải đa phương thức ViệtNam để đưa vận tải Việt Nam bắt kịp với xu thế của thời đại
Trong quá trình thực hiện tiểu luận, do còn hạn chế về mặt thời gian vàkiến thức thực tế, chắc chắn bản đề án của em còn nhiều thiếu sót Em rất mong
sẽ nhận được những ý kiến đóng góp, nhận xét của thầy/cô để bài của em thêmhoàn thiện
Trang 9CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LOGISTICS
VÀ HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC
1.1 Tổng quan về Logistics
1.1.1 Khái niệm Logistics
Bản chất Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giốngnhư từ “Marketing”, từ Tiếng Anh sang Tiếng Việt và thậm chí cả những ngônngữ khác Bởi vì bao hàm nghĩa của từ này quá rộng nên không một từ đơn ngữnào có thể truyền tải được hết ý nghĩa của nó Thuật ngữ Logistics là thuật ngữchuyên ngành có gốc Hy Lạp và từ tiếng Việt có nghĩa gần nhất là “hậu cần”.Hiểu đơn giản nhất, Logistics là một phần của chuỗi cung ứng bao gồm tổng thể
những công việc liên quan đến hàng hóa gồm đóng gói, vận chuyển, lưu kho,
bảo quản cho tới khi hàng được giao đến người tiêu thụ cuối cùng.
Một số định nghĩa khác về Logistics
Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu
chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hoá, dịch vụ và các thông tin liên quan từnơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng (WorldMarintime Unviersity- Đại học Hàng Hải Thế Giới, D Lambert 1998)
Theo Điều 233, Bộ Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Dịch vụ Logistics
là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiềucông việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hảiquan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mãhiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuậnvới khách hàng để hưởng thù lao.”
Ngành Logistic chính là dịch vụ vận chuyển hàng hóa tối ưu nhất từ nơisản xuất, cung cấp đến tay người tiêu dùng Những đơn vị, công ty Logistics sẽphải lên kế hoạch cụ thể và kiểm soát các luồng chuyển dịch của hàng hóa haythông tin liên quan tới nguyên nhiên từ điểm xuất phát tới điểm tiêu thụ theo yêucầu mà khách hàng đặt ra
Tóm lại Logistics là quá trình lên kế hoạch, áp dụng và kiểm soát cácluồng chuyển dịch của hàng hóa hay thông tin liên quan tới nguyên nhiên liệu vật
tư (đầu vào) và sản phẩm cuối cùng (đầu ra) từ điểm xuất phát tới điểm tiêu thụ
Trang 101.1.2 Vai trò của Logistics
Là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thịtrường cho các hoạt động kinh tế Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến
-bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm pháttriển, Logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liênkết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp
Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyểncủa sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện, … tới sảnphẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng
1.1.2.1 Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế quốc gia
Phát triển dịch vụ Logistics một cách hiệu quả sẽ góp phần tăng năng lựccạnh tranh của nền kinh tế và quốc gia Trong xu thế toàn cầu mạnh mẽ như hiệnnay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt,khốc liệt hơn Điều này đã làm cho dịch vụ Logistics trở thành một trong các lợithế cạnh tranh của quốc gia Những nước kết nối tốt với mạng lưới dịch vụLogistics toàn cầu thì có thể tiếp cận được nhiều thị trường và người tiêu dùng từcác nước trên thế giới
Phát triển dịch vụ Logistics sẽ đem lại nguồn lợi khổng lồ cho nền kinh tế.Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quátrình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành côngnghiệp và thương mại mỗi quốc gia Đối với những nước phát triển như Mỹ vàNhật, Logistics đóng góp khoảng 10% GDP Đối với những nước kém phát triểnthì tỷ lệ này có thể cao hơn 30% Sự phát triển dịch vụ Logistics có ý nghĩa đảmbảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo vềthời gian và chất lượng Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng giảm đượcchi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ
Trang 111.1.2.2 Vai trò của Logistics đối với doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh
Theo thống kê của một số tổ chức nghiên cứu về Logistics cũng như Việnnghiên cứu Logistics của Mỹ cho biết, chi phí cho hoạt động Logistics chiếm tớikhoảng 10-13% GDP ở các nước phát triển, con số này ở các nước đang pháttriển thì cao hơn khoảng 15-20% Theo thống kê của một nghiên cứu, hoạt độngLogistics trên thị trường Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ bình quân là 33%/1năm và ở Brazil là 20%/1 năm Điều này cho thấy chi phí cho Logistics là rất lớn
Vì vậy với việc hình thành và phát triển dịch vụ Logistics là rất lớn, sẽ giúp cácdoanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trongchuỗi Logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệuquả hơn Giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản,hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao góp phần tăng sức cạnh tranh củadoanh nghiệp trên thị trường Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chiphí Logistics đã giảm xuống rất nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong cácnăm tới
Tiết kiệm và giảm chi phí trong các hoạt động lưu thông, phân phối
Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng vớichi phí lưu thông Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một
tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt
là hàng hóa trong buôn bán quốc tế Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông
C Mác đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóatrong không gian được giải quyết bằng vận tải” Vận tải có nhiệm vụ đưa hànghóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng củahàng hóa
Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo sốliệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-9% giá CIF Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệthống Logistics cho nên dịch vụ Logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽtiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thôngdẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông
Gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải, giao nhận
Trang 12dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản,thuần túy và đơn lẻ Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chitiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loạisản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trườngkhác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tảigiao nhận phải đa dạng và phong phú Người vận tải giao nhận ngày nay đã triểnkhai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng Họ trởthành người cung cấp dịch vụ Logistics (Logistics service provider) Rõ ràng,dịch vụ Logistics đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanhnghiệp vận tải giao nhận.
Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sửdụng dịch vụ Logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thờigian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5-6tháng xuống còn 2 tháng Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 3-
4 lần sản xuất và gấp từ 1-2 lần các dịch vụ ngoại thương khác
Phát triển góp phần mở rộng thị trường buôn bán quốc tế
Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinhdoanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất
và kinh doanh quan tâm Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mởrộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ Logistics.Dịch vụ Logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóatrên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian vàđịa điểm đặt ra Dịch vụ Logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khaithác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp
Giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế
Thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn cácloại giấy tờ, chứng từ Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ đểphục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷUSD Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ, chứng từ rườm ràhàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10% kim ngạch mậudịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế Logistics đãcung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phícho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế
Trang 13Ngoài ra, cùng với việc phát triển Logistics điện tử (Electronic Logistics)
sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và Logistics, chi phí cho giấy tờ,chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượngdịch vụ Logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặtkhông gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa Cácquốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông
1.2 Vận tải đa phương thức
1.2.1 Khái niệm vận tải đa phương thức
- Phương tiện vận tải: loại phương tiện sử dụng để vận tải, ví dụ: tàu thủy,
ô tô, máy bay
- Loại phương tiện vận tải: loại phương tiện được sử dụng trong quá trìnhvận tải
Như vậy, căn cứ vào những khái niệm cơ bản trên, có thể hình dung Vậntải đa phương thức quốc tế (Multimodal transport) còn được gọi tên là vận tảiliên hợp (Combined transport) là phương thức vận tải hàng hóa sử dụng kết hợp
từ hai phương thức vận tải khác nhau trở lên, dựa trên cơ sở một hợp đồng vậntải đa phương thức từ một điểm ở một nước đến tới một điểm chỉ định ở mộtnước khác để giao hàng
1.2.1.2 Đặc điểm của Vận tải đa phương thức
- Việc vận tải phải có ít nhất 2 phương thức vận chuyển kết hợp với nhaunhư là: Tàu thủy – máy bay, Tàu hỏa – xe tải bộ
- Sự vận chuyển của các đơn vị xếp dỡ tiêu chuẩn trong một chuỗi vậnchuyển door-to-door liên tục Bao bì hàng hóa không được mở khi thay đổiphương tiện vận tải mặc dù sử dụng môt số phương thức vận tải khác nhau trongquá trình vận chuyển
Trang 14- Người kinh doanh vận tải đa phương thức là người phải chịu trách nhiệmđối với hàng hóa trong một quá trình vận chuyển từ khi nhận hàng để chuyên chởcho tới khi giao xong hàng cho người nhận kể cả việc chậm giao hàng ở nơi đến
- Một người tổ chức vận tải, một giá, một chứng từ vận tải (đơn giản hóa)
- Vận tải hàng hóa từ điểm xuất phát ở 1 nước đến điểm giao hàng ở 1nước khác thì gọi là VTĐPT quốc tế, hàng hóa thường được vận chuyển bằngnhững dụng cụ vận tải như Container, trailer…
- Đảm bảo vận chuyển hàng hóa liên tục ở các tuyến tốt nhất, với chi phíhiệu quả, đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, trên cơ sở đơn giản hóa chứng từ, tăngcường sử dụng EDI (electronic data interchange)
1.2.1.3 Thể chế và pháp luật Việt Nam liên quan đến vận tải đa phương thức
Hiện tại, Việt Nam vẫn chưa có một bộ luật nào chính thức điều chỉnhhoạt động vận tải đa phương thức mà chỉ có các văn bản dưới luật là Nghị định125/2003 NĐ-CP về vận tải đa phương thức, thông tư 10/2004/TT-BGTVThướng dẫn thi hànhnghị định trên, thông tư 125/2004/TT-BTC hướng dẫn về thủtục hải quan đối với hàng hoá vận tải đa phương thức quốc tế và một điều khoản
về hợp đồng vận tải đa phương thức nằm trong điều 119-Bộ luật hàng hải ViệtNam Cụ thể:
Bộ luật hàng hải Việt Nam
Cho đến thời điểm hiện nay, các lĩnh vực hoạt động: đường bộ, đường sắt,đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không thuộc ngành Giao thông vận tải đềuđược điều chỉnh bởi bộ luật hoặc các luật chuyên ngành: Bộ luật Hàng hải ViệtNam, Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy nội địa, LuậtĐường sắt, Luật Hàng không dân dụng
Trong các luật chuyên ngành nói trên, duy nhất chỉ có Bộ luật Hàng hảiViệt Nam có một điều (Điều 119 - Hợp đồng vận tải đa phương thức) có quyđịnh những nội dung liên quan đến vận tải đa phương thức quốc tế Tuy nhiên,nội dung chủ yếu của điều luật này chỉ quy định về mối quan hệ, giới hạn tráchnhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức với người gửi hàng Còn lạicác luật chuyên ngành khác không có nội dung nào quy định về hoạt động vận tải
đa phương thức, mà chỉ quy định các vấn đề liên quan đến: an toàn, kết cấu hạtầng đường bộ, phương tiện tham gia giao thông đường bộ ; quy hoạch, xâydựng bảo vệ kết cấu hạ tầng, an toàn giao thông đường thủy nội địa ; quy hoạch,xây dựng bảo vệ kết cấu hạ tầng, an toàn giao thông đường sắt, đường sắt đôthị ; quản lý nhà nước về hàng không dân dụng, cảng hàng không dân dụng, bảo
Trang 15đảm an toàn hàng không Như vậy, giữa Bộ luật Hàng hải Việt Nam và các luậtchuyên ngành chưa có “tiếng nói chung” về hoạt động vận tải đa phương thức.
Trang 16Các văn bản dưới luật về vận tải đa phương thức
Về cơ bản, nội dung của Nghị định số 125/2003/NĐ-CP đã thể hiện ‘tínhmở” và hướng tới hội nhập: không phân biệt các thành phần kinh tế trong nước,
mở cửa cho tổ chức và cá nhân nước ngoài vào tham gia kinh doanh vận tải đaphương thức, hàng hóa vận tải đa phương thức được miễn kiểm tra hải quan
Về điều kiện tài chính, quy định chung đối với nhà cung cấp dịch vụ nướcngoài và ngoài nước là phải có có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp vận tải đaphương thức hoặc có bảo lãnh của ngân hàng cho người kinh doanh vận tải đaphương thức đối với tổn thất về mất mát, hư hỏng hàng hoá, giao hàng chậm vànhững rủi ro khác; có tài sản tối thiểu tương đương 80.000 SDR hoặc bảo lãnhtương đương
Thông tư 10/2004/TT-BGTVT quy định, doanh nghiệp có 100% vốn nướcngoài và công ty liên doanhđược phép cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức.Như vậy, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cho phép cung cấp dịch vụ vậntải đa phương thức do chi nhánh và văn phòng đại diện thực hiện Đáng lưu ý làquy định trong Thông tư 10 có thể gây xung đột pháp lý với các văn bản quyphạm pháp luật ban hành trước đây, bởi theo đó, doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài có thể cung cấp cả chu trình trọn gói gồm vận tải nội địa, vận tải đường bộ,giao nhận, dịch vụ cảng mà các loại dịch vụ đó theo quy định hiện hành là chỉ docác công ty trong nước hoặc các công ty có vốn đầu tư nước ngoài cung cấp vớivốn góp tối đa của bên nước ngoài không quá 49%
Ngoài các nghị định và thông tư trên, còn có Thông tư số08/2004/TTLT-BTM-BTC-BGTVT, ngày 17/12/2004 của 03 Bộ: Thương mại,Tài chính, Giao thông vận tải về việc hướng dẫn thực hiện dịch vụ trungchuyển hàng Container tại các cảng biển Việt Nam.Thông tư này được xem làphù hợp với nhu cầu tất yếu, khách quan của thị trường và đáp ứng với nguyệnvọng của các doanh nghiệp muốn tham gia kinh doanh loại hình dịch vụ này, bởilẽ: thông tư áp dụng đối với các doanh nghiệp cảng biển và các tổ chức, cá nhân
có liên quan, không giới hạn đối tượng áp dụng, mà chỉ quy định các điều kiện
về cảng biển, hàng hóa, xử lý hàng hóa và thanh toán dịch vụ trungchuyển hàng Container Nếu doanh nghiệp nào, tổ chức cá nhân nào thấy đủđiều kiện là có quyền đăng ký kinh doanh dịch vụ trung chuyển hàng Containertại cảng biển mà không cần phải xin phép Đó là “tính mở” của Thông tư 08 đốivới loại hình dịch vụ này, mà trước đây bất cứ một doanh nghiệp nào muốn kinhdoanh dịch vụ trung chuyển hàng Container đều phải xin giấy phép
Trang 171.2.2 Các loại hình Vận tải đa phương thức phổ biến hiện nay
1.2.2.1 Mô hình Vận tải đường biển – Vận tải hàng không
Với việc vận tải hàng hóa bằng mô hình vận tải biển kết hợp với mô hìnhvận tải hàng không sẽ phá huy được tối đa ưu điểm về tính nhanh chóng và tối
ưu, giúp hàng hóa được gửi đi một cách nhanh chóng Hiểu đơn giản: khi hànghóa được vận chuyển bằng đường biển tới cảng và sau đó phải chuyển sâu và đấtliền một cách nhanh chóng để đảm bảo tính thời vụ cũng như chất lượng hànghóa, thì lúc này máy bay sẽ là phương tiện được ưu tiên kết hợp nhờ sự nhanhchóng tuyệt đối
Mô hình vận tải này phát huy thế mạnh trong kết hợp về tính kinh kế vớitốc độ Hàng hóa không những đảm bảo được vận chuyển với số lượng lớn theođường biển mà còn đảm bảo tốc độ vận chuyển nhanh chóng bằng đường hàngkhông Phù hợp hàng hóa giá trị cao như đồ điện tử và những hàng hóa có tínhthời vụ cao như quần áo, đồ chơi, giầy dép… và hiện nay được nhều công ty vậntải và khách hàng ưu tiên khai thác và sử dụng
1.2.2.2 Mô hình Vận tải đường sắt – Vận tải bộ
Sự kết hợp của hai mô hình này trong vận tải hàng hóa nhằm phát huy ưuđiểm giữa tính an toàn và tốc độ cùng với tính cơ động và linh hoạt mà hai loạiphương tiện này sở hữu Theo đó, hàng hóa sẽ được đóng gói trong các trailerđược kéo đến nhà ga bằng các xe kéo gọi là tractor Tại ga, các trailer được kéolên các toa xe và chở đến ga đích Tại điểm đến, tractor sẽ thực hiện kéo cáctrailer xuống và chở đến địa điểm giao hàng cho người nhận
Có thể hình dung như sau, vận tải bộ, cụ thể là ô tô sẽ đóng vai trò làphương tiện trung chuyển hàng hóa khi hàng hóa được vận chuyển đường sắtchuyên chở từ điểm đầu đến điểm cuối Tuy nhiên có một điểm hạn chế của môhình này chính là chỉ có thể chấp nhận với những hợp đồng vận chuyển khi điểmgiao nhận có đường sắt đi qua
Trang 181.2.2.3 Mô hình Vận tải bộ - Vận tải hàng không
Đây được xem là mô hình vận tải kết hợp đươc tính linh hoạt cơ động vàtốc độ Vận tải bộ, cụ thể ở đây chính là sử dụng ô tô vào mô hình vận tải hànghóa nhằm đáp ứng như cầu gom hàng, phân phối hàng hóa ở giai đoạn đầu vàcuối của nguyên quá trình vận chuyển
Hàng hóa sẽ được tập trung hàng về đầu mối là sân bay phục vụ cho cáctuyến bay đường dài, nhằm đáp ứng thời gian tập kết để vận chuyển hàng mộtcách nhanh chóng Tiếp đó, vận tải hàng không sẽ đóng vai trò tiên quyết về tốc
độ, giúp rút ngắn thời gian chuyển phát nhanh trong suốt quá trình
1.2.2.4 Mô hình Vận tải đường sắt – Đường bộ - Vận tải nội thủy – Vận tải đường biển
Mô hình vận tải này kết hợp hầu hết các phương tiện vận tải hiện có trongmột quy trình, và mô hình này phù hợp để chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu.Ban đầu hàng hóa sẽ được chuyển nhanh bằng đường sắt, đường bộ hoặc đườngnội thủy đến cảng biển, sau đó sẽ thực hiện xuất khẩu bằng vận tải đường biển.Khi hàng hóa đã đến nơi những nước nhập khẩu thì sẽ được tiếp tục vận chuyểnngược lại bằng bằng đường bộ, đường sắt hoặc vận tải nội thủy để tiến sau vàolãnh thổ và chuyển đến người nhận
Thông thường mô hình này sẽ thích hợp với hình thức vận chuyểnContainer đường sắt trên các tuyến vận chuyển mà không yêu cầu cao về thờigian vận chuyển
1.2.2.5 Mô hình Cầu lục địa
Mô hình vận chuyển này nghe có vẻ hơi trừu tượng, nhưng thực chất nó
có sự xuất hiện của hình thức vận chuyển đường biển và vận tải trên đất liền.Theo đó, vận tải biển sẽ đóng vai trò là chặng đầu hoặc cuối trong quá trình vậnchuyển, khi hàng hóa đã được tiếp cận với đất liền thì sẽ được tiếp tục vận tảithông qua một số loại hình khác như: vận tải đường sắt, vận tải ô tô…
Với mô hình cầu lục địa này, vận tải đường biển chiếm vai trò rất quantrọng, quy mô vận tải đường biển này rất lớn với việc di chuyển từ châu lục nàysang châu lục khác Do đó, thời gian vận chuyển cũng khá lâu, phù hợp với quy
mô hàng hóa lớn và không yêu cầu gấp rút về mặt thời gian
Trang 191.2.3 Vai trò của Vận tải đa phương thức trong Logistics
Vận tải đa phương thức ngày nay đang chiếm một xu thế tất yếu và là cầunối hỗ trợ hoạt động thương mại vươn xa, do đó VTĐPT đóng góp vai trò rất lớn
và cực kỳ quan trọng trong Logistics Cụ thể:
- Tăng khả năng cạnh tranh về giá thành và chất lương, giúp giảm chi phíLogistics và just-in-time, nhờ đó mà giảm chi phí hàng hóa và sản xuất
- Mở rộng mạng lưới vận tải và đạt được hiệu quả kinh tế cao do khi sửdụng các phương thức vận tải có khả năng chuyên chở khối lượng hàng hóa lớn
- Giúp giảm thiểu những chứng từ không cần thiết nhờ tạo ra sự hợp tácgiữa chính phủ và doanh nghiệp, nhờ đó mà các thủ tục trong hoạt động vận tảitrở nên đơn giản hơn và các doanh nghiệp cũng ít gặp rào cản trong hoạt độngkinh doanh xuất nhập khẩu
- Thông qua mạng lưới vận tải kết nối nhanh chóng và dễ dàng, các doanhnghiệp sản xuất và thương mại tiếp cận nhanh hơn với thị trường, đặc biệt là thịtrường quốc tế Từ đó thúc đẩy nền kinh tế trong nước vươn xa, khuyến khíchthương mại quốc tế phát triển và tăng trưởng kinh tế
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển các loại hình Vận tải đa phương thức
Vận tải đa phương thức ngày càng phát triển và phổ biến hơn xuất phát từmột số nguyên nhân sau:
Các yếu tố điều kiện khai thác
Có thể nói điều kiện khai thác bao gồm điều kiện cơ sở hạ tầng giao thôngcho tất cả các phương thức vận tải có ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian các phươngtiện vận hành trên tuyến vận tải, nó cũng ảnh hưởng đến tính an toàn của các lôhàng trong quá trình vận chuyển Điều kiện khai thác không thuận lợi sẽ dẫn đến
sự chờ đợi làm tăng thời gian vận chuyển (thời gian giao hàng), làm tăng chi phíphát sinh
Các yếu tố về khách hàng của doanh nghiệp vận tải
Trong nhiều trường hợp, mặc dù đã có sự thống nhất về yêu cầu vậnchuyển (loại hàng, khối lượng, yếu cầu bảo quản, thời gian thu nhận hoặc giaotrả…), tuy nhiên do những lý do khác nhau, khách hàng có thể thay đổi một sốđiều khoản của hợp đồng, do đó làm cho nhà vận tải phải thay đổi theo (ngoài kế
Trang 20còn làm tăng thêm chi phí, gây khó khăn cho nhà vận tải tổ chức hoạt động vậntải.
Tính chất lô hàng
Liên quan đến lô hàng bao gồm chủng loại, khối lượng, tính chất, yêu cầubảo quản trong vận chuyển và xếp dỡ Các lô hàng khác nhau sẽ có lựa chọnphương thức vận tải, địa điểm thu gom hoặc giao trả khác nhau, lựa chọn thiết bịxếp dỡ khác nhau Nếu sự lựa chọn thiếu khoa học và thực tiễn có thể làm tăngthời gian giao hàng và chất lượng lô hàng không được đảm bảo Ngoài ra, tínhchất lô hàng còn liên quan đến công tác quản lý nhà nước về hàng hóa xuất, nhậpkhẩu Tại các điểm thu gom hoặc giao trả (hoặc tại các đầu mối ga cảng), hànghóa phải thực hiện các kiểm tra kiểm soát về tính hợp pháp hợp lệ của xuất, nhậpkhẩu, kiểm tra dịch tễ, môi trường, kiểm tra văn hóa… Các hoạt động kiểm tracàng nhiều càng làm tăng thời gian giao giao hàng và có thể làm tổn hải đếnphẩm chất của hàng hóa
Sự hợp tác phối hợp của các tổ chức liên quan
Trong hoạt động vận tải của dây chuyền logistics liên quan đến nhiều tổchức vận tải khác nhau (vận tải bằng các phương thức khác nhau), liên quan đếncác cơ quan quản lý nhà nước, liên quan đến các tổ chức xếp dỡ lô hàng Sự hợptác không chặt chẽ giữa cá bên sẽ gây ra hiện tượng chờ đợi, làm tăng thời giangiao hàng, tăng thêm chi phí phát sinh và ảnh hưởng đến phẩm chất của lô hàng
Nguồn lực cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất của các doanh nghiệp vận tải chủ yếu là đội phương tiệnvận tải (xe ô tô, máy bay, tàu thủy, toa xe, đầu kéo…) Các phương tiện này thamgia dịch chuyển các lô hàng giữa các điểm thu gom và giao trả khác nhau Cácdoanh nghiệp vận tải có đội phương tiện đủ về qui mô, phù hợp với chủng loạihàng sẽ là nhân tố quan trọng để đảm bảo lô hàng được giao đúng hạn thời gianqui định Trong trường hợp các nhà vận tải không đủ, thậm chí không có phươngtiện chuyên chở các lô hàng, khi đó họ không thể chủ động để tổ chức vận tải, cóthể phải kéo dài thời gian giao hàng vào mùa cao điểm, đồng thời tăng thêm chiphí khai thác làm tăng giá cước vận chuyển
Tại các cảng đường thủy, cảng hàng không, các ga đường sắt hoặc cáccảng nội địa (ICD), nếu được trang bị các thiết bị xếp dỡ hiện đại mang tínhchuyên dụng cao sẽ góp phần làm tăng năng suất xếp dỡ, giảm thời gian xếp dỡcác lô hàng
Trang 21Mức độ ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ
Có thể nói sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã được ứngdụng mạnh mẽ vào nhiều lĩnh vực của cuộc sống, trong đó bao gồm hoạt độngvận tải Công nghệ thông tin, truyền thông đã được các nhà vận tải ứng dụng khámạnh mẽ, đặc biệt là công nghệ truyền thông dữ liệu điện tử (EDI – ElectronicData Interchange) Điều đó không chỉ tăng tính thuận tiện và dễ dàng, nhanhchóng kết nối thông tin giữa các tổ chức liên quan đến vận tải lô hàng (các nhàvận tải ở các phương thức khác nhau, cơ quan quản lý, các chủ hàng, người giaonhận), mà còn đảm bảo sự chính xác các thông tin của lô hàng, giúp giảm thiểucác lãng phí thời gian và tổn thất liên quan đến hàng hóa, góp phần tăng nhanhthời gian giao hàng, đảm bảo an toàn hàng hóa và nâng cao hiệu quả của dịch vụlogistics
Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp vận tải chủ yếu là đội ngũ nhânviên vận hành phương tiện vận chuyển, các trang thiết bị xếp dỡ, nhân viên giaonhận hàng hóa Ngày nay, do ứng dụng khoa học và công nghệ vào lĩnh vực vậntải và sự chuẩn mực các thông tin về hàng hóa giữa các nước nhập khẩu, nướcxuất khẩu cũng như giữa các tổ chức liên quan lô hàng thương mại, đòi hỏi cácnhân viên này phải có nghiệp vụ chuyên môn, đồng thời cũng phải có kỹ năng tinhọc và ngoại ngữ, chuyên môn sâu về vận tải container trong dây chuyềnlogistics Các kiến thức và kỹ năng đó sẽ giúp cho họ thực hiện thành thạochuyên nghiệp các nhiệm vụ được giao, làm giảm các thao tác công việc, gópphần giảm thời gian vận chuyển, tăng khả năng xử lý tình huống bất thường xảyra
Trang 22CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC Ở TRONG NGÀNH LOGISTICS VIỆT
NAM
2.1 Đặc điểm hoạt động VTĐPT trong ngành Logistics ở Việt Nam
2.1.1 Đặc điểm về phương tiện Vận tải đa phương thức
2.1.1.1 Đội tàu biển Việt Nam
Đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam hiện vẫn đảm nhận được gần 100%lượng hàng vận tải nội địa bằng đường biển, trừ một số tàu chuyên dụng nhưnhiên liệu hóa lỏng, xi măng rời…Hàng hóa vận chuyển nội địa chủ yếu là cácmặt hàng gia dụng, lương thực, than, vật liệu xây dựng, thiết bị máy móc,container, xăng dầu, hàng hóa tổng hợp…
Hình 2.1: Biểu đồ thống kê số lượng đội tàu Việt Nam 2020
Nguồn: Diễn đàn thương mại và phát triển liên hợp quốc (UNCTAD)
Về vận tải biển quốc tế, hiện nay, đội tàu biển Việt Nam đang đảm nhậnvận chuyển khoảng 10% thị phần và chủ yếu vận tải các tuyến gần như TrungQuốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và khu vực Đông Nam Á Đội tàu container ViệtNam hoạt động chủ yếu trên các tuyến vận tải ngắn như Đông Nam Á và ĐôngBắc Á; một số tàu hàng rời đã vận tải hàng hóa trên các tuyến Châu Âu
Theo số liệu thống kê của Diễn đàn Thương mại và phát triển Liên hợpquốc (UNCTAD), đội tàu Việt Nam đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN (sauSingapore, Indonesia, Malaysia) và thứ 30 trên thế giới Trong đó, số lượng tàuhàng rời, tổng hợp có 757 tàu, chiếm tỷ trọng hơn 72,9%; tàu chở dầu, hóa chất
Trang 23có 159 tàu, chiếm 15%; tàu chuyên dụng khí hóa lỏng có 19, tàu chiếm 1,8%; độitàu container có 38 tàu, chiếm 3,66%; tàu chở khách có 65 tàu, chiếm 6,2% độitàu vận tải.
Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 40% đội tàu Việt Nam phải sửa chữa ở các
cơ sở công nghiệp tàu thủy nước ngoài Do chưa được bổ sung về vốn, hạ tầng cơ
sở và thiết bị của doanh nghiệp đóng tàu nên chưa thể thực hiện chiến lược pháttriển ngành công nghiệp đóng tàu với các mục tiêu của quy hoạch; chưa cạnhtranh được với các nước trong khu vực ASEAN và Châu Á – Thái Bình Dương
Đối với dịch vụ hàng hải và logistics, hiện các dịch vụ hàng hải tại một sốbến cảng tiếp tục gặp những khó khăn nhất định Nhiều bến cảng nhỏ, hoạt độngchưa hiệu quả, thiếu các trang thiết bị bốc dỡ hàng hóa hiện đại, năng suất khaithác thấp
2.1.1.2 Phương tiện vận tải đường bộ nội địa tại Việt Nam
Lực lượng đoàn xe vận tải đường bộ của nước ta đang bộc lộ những tồntại, hạn chế năng lực cạnh tranh, khó có khả năng giành được thị phần trong hộinhập khu vực và quốc tế về vận tải đường bộ bởi những yếu tố chính như sau:
- Phương tiện vận tải đường bộ hiện đang lưu hành đã qua sử dụng nhiềunăm, nhập khẩu từ nước ngoài đã được tân trang lại, quá nhiều mác, kiểu, loạithuộc nhiều nước sản xuất, phần lớn là xe có tải trọng thấp;
- Phương tiện vận tải được sản xuất trong nước chủ yếu là xe con, xe tảinhẹ và xe chở khách, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước chưa đápứng nhu cầu xe vận chuyển khách chất lượng cao, chạy đường dài liên tỉnh, xe tải
có trọng tải lớn và xe kéo container vận chuyển đường dài; giá bán các loại ô tôtại Việt Nam cao so với ô tô bán tại các nước trong khu vực, kể cả giá ô tô cũđược nhập khẩu vào Việt Nam;
- Các doanh nghiệp kinh doanh vận tải ô tô Việt Nam có quy mô nhỏ, tổchức phân tán, manh mún chưa đủ sức để đảm nhận vận chuyển đường dài vớinhững hợp đồng có khối lượng lớn hoặc đáp ứng yêu cầu xếp dỡ hàng tàu biểntải trọng lớn trong thời hạn ngắn, tàu lưu tại cảng biển Việt Nam; chất lượng kỹthuật của ôt ô và tổ chức dịch vụ chăm sóc kỹ thuật ôtô còn yếu kém, chưa tươngxứng với các nước trong khu vực
Trang 242.1.1.3 Đội tàu bay Việt Nam
Theo Dự thảo Báo cáo giữa kỳ dự án lập Quy hoạch tổng thể phát triển hệthống cảng hàng không, sân bay toàn quốc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đếnnăm 2050, tính đến năm 2019, đội máy bay của các Hãng hàng không Việt Nam(HKVN) đạt 229 chiếc với độ tuổi trung bình 5,1 Trong đó, các hãng sở hữu 53chiếc chiếm 23,1% với độ tuổi trung bình 7,5
` Cụ thể, Vietnam Airlines (bao gồm VASCO) có 105 chiếc, sở hữu 48,thuê khô 57 chiếc; Jetstar Pacific Airlines 18 chiếc, thuê khô 100%; VietJet Air
80 chiếc, sở hữu một chiếc; Hải Âu sở hữu bốn chiếc; Bamboo Airways tổng 22chiếc, thuê khô 100%
Đánh giá chung, đội máy bay các hãng HKVN đang khai thác là thế hệmáy bay mới nhất trên thế giới, được sản xuất bởi các tập đoàn hàng không lớn
và nổi tiếng như Boeing của Mỹ, Airbus, Safran của châu Âu sản xuất như A320/A321; A350, B777, B787
Đặc biệt, dòng máy bay A350 và B787 là loại máy bay hiện đại nhất thếgiới hiện nay được áp dụng những công nghệ lần đầu tiên sử dụng cho hàngkhông dân dụng Tỉ lệ sử dụng vật liệu composite trên hai loại máy bay này hơn50%
Số lượng máy bay của các hãng hàng không Việt Nam đang có xu hướngtăng nhanh trong vài năm trở lại đây Từ 82 máy bay trong đó sở hữu 34 chiếc(2010) tăng lên 229 máy bay trong đó sở hữu 53 chiếc (2019)
Riêng năm 2019, lượng máy bay tăng thêm 54 chiếc do có sự tham gia củahãng Bamboo Airways Máy bay hãng này chủ yếu tập trung dòng A320, A321(190 chiếc) Đây là dòng máy bay thân hẹp chở khách, phạm vi hoạt động từ tầmngắn đến tầm trung với ưu điểm chi phí khai thác thấp, phù hợp mạng đường baynội địa và quốc tế tại Việt Nam Báo cáo đánh giá đội máy bay của các hãngHKVN được đầu tư theo đúng quy hoạch, thuộc loại tiên tiến, hiện đại trên thếgiới, có mức độ tiện nghi và an toàn cao
Đội máy bay đã được tái cơ cấu theo hướng tập trung vào hai dòng côngnghệ chính, được sử dụng rộng rãi trên thế giới của Airbus và Boeing để thuậntiện trong khai thác cũng như bảo dưỡng, sửa chữa, cung cấp vật tư phụ tùng
Trang 252.1.1.4 Đội tàu hỏa Việt Nam
Hiện nay, chất lượng của các toa đầu máy trong ngành đường sắt ViệtNam đã cũ kỹ và xuống cấp trầm trọng Theo số liệu từ Tổng Công ty Đường sắtViệt Nam (VNR), đơn vị đang quản lý 282 đầu máy, số lượng đầu máy đang sửdụng phục vụ khai thác vận tải là 262 máy bao gồm 252 máy khổ đường1.000mm và 10 máy khổ đường 1.435mm Trong đó, đầu máy đang tạm dừngvận dụng khai thác có 20 đầu máy Đây là các đầu máy đang bị hư hỏng, lạc hậu
kỹ thuật, công suất nhỏ tiêu hao nhiên liệu lớn, chi phí sửa chữa cao và thuộcdiện sẽ bị loại bỏ trong tương lai nên hiện nay không có nhu cầu sử dụng
Căn cứ theo Nghị định số 65/NĐ-CP, các đầu máy có niên hạn trên 40năm sẽ không được tiếp tục vận dụng khai thác Nếu chiếu theo quy định nàythì số lượng đầu máy của VNR phải dừng vận dụng khai thác tính từ ngày1/1/2021 đến năm 2026 sẽ là 121 đầu máy Tương tự, về toa xe, hiện nay, cácđơn vị đang quản lý 1.030 toa xe khách các loại Trong đó, căn cứ niên hạn toa
xe quy định tại Nghị định 65/2018/NĐ-CP của Chính phủ, 794 toa xe sẽ dừngvận dụng từ ngày 1/1/2020
Từ năm 2017 trở lại đây, đường sắt đã tìm cách đầu tư phương tiện nhưng
vì thiếu vốn nên cố gắng nhiều mà đầu tư không được bao nhiêu Trong hai năm
2017 - 2018, chỉ tính riêng Công ty Cổ phần Đường sắt Hà Nội, đã đầu tư đóngmới 60 toa xe khách; hai năm 2018 - 2019 tiến hành cải tạo, nâng cấp mới đến90% đối với 74 toa xe khách và hiện đang triển khai dự án đóng mới 100 toa xehàng Với kinh phí khoảng 8 - 10 tỷ đồng/toa xe khách và khoảng hơn 1 tỷđồng/toa xe hàng đóng mới, công ty đang phải chịu áp lực rất lớn về chi phí tàichính
Ngoài ra, hiện tượng thiếu toa tàu và đầu máy liên tục diễn ra vào nhữngdịp cao điểm trong năm đang cũng là vấn đề tương đối nhức nhối và chưa có bàitoán xử lý triệt để
Trang 262.1.2 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng cho Vận tải đa phương thức
Đến nay, môi trường đã trở thành vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu &
đã được đưa vào chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới Trong việcthực hiện chiến lược tăng trưởng xanh được đưa ra bởi Ủy ban KT-XH Châu ÁThái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (UNESCAP), cơ sở hạ tầng bền vững (baogồm cả cơ sở hạ tầng logistics) là 1 trong 4 trụ cột quan trọng (các trụ cột khácgồm xanh hóa sản xuất kinh doanh, tiêu dùng bền vững, và thuế xanh) Cơ sở hạtầng logistics có vai trò đáp ứng các nhu cầu, các hoạt động sản xuất thiết yếucủa chuỗi cung ứng là vận chuyển nguyên liệu & thành phẩm, lưu trữ & xử lýhàng hóa cũng như đảm bảo thông tin liên lạc giữa các mắt xích để tạo thành mộtdây chuyền sản xuất qua các công đoạn
Theo thống kê, vận tải hàng hóa trong cơ sở hạ tầng logistics chiếm đến35% lượng năng lượng tiêu thụ trên thế giới Bên cạnh đó, sự gia tăng ngày mộtnhiều của các phương tiện và dòng vận tải hàng hóa kéo theo sự tăng lên củalượng khí thải ra môi trường nhất là khi cơ sở hạ tầng logistics cho dòng vậnchuyển đó yếu kém và thiếu đồng bộ Thế nên, cơ sở hạ tầng logistics luôn đóngvai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, thúc đẩy, đảm bảo cho hoạt động xanh hóachuỗi cung ứng của các Doanh nghiệp
Trong chuỗi cung ứng, logistics là hoạt động bắt buộc ở mọi công đoạn,
kể từ khi nhập nguyên vật liệu, vận chuyển nguyên vật liệu cho quá trình sảnxuất, vận chuyển sản phẩm và lưu trữ kho bãi (Viện nghiên cứu và phát triểnlogistics Việt Nam, 2011) Logistics có nhiệm vụ đảm bảo sự sẵn có và thôngsuốt của hàng hóa & dịch vụ trên thị trường (trong đó cơ sở hạ tầng logistics giữmột vai trò đặc biệt quan trọng)
2.1.2.1 Cơ sở hạ tầng vận tải đường hàng không
Tính đến năm 2020, tại Việt Nam có tổng cộng 22 cảng hàng không cóhoạt động bay dân sự, trong đó có 11 cảng hàng không quốc tế và 11 cảng hàngkhông nội địa Việt Nam hiện có các hãng hàng không trong nước khai thácthương mại như Vietnam Airlines, Vietjet Air, Jetstar Pacific, Vasco, BambooAirways… và khoảng 70 hãng hàng không quốc tế đang khai thác thương mại đi
và đến Việt Nam Một số pháp nhân khác đã đăng ký doanh nghiệp và đang thựchiện thủ tục được cấp phép khai thác hàng không như Thiên Minh, VietravelAirlines…Theo Cục Hàng không Việt Nam, tính đến quý I/2020, Việt Nam có
235 máy bay dân dụng và 32 trực thăng đăng ký quốc tịch Việt Nam Trong số
235 máy bay dân dụng, Vietnam Airlines có 106 chiếc (trong đó có 28 chiếc thân