Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đối với Hội LHPN trong việc đổi mới nội dung, phương thức (ND, PT) hoạt động (1997-2012) khẳng định những thành công, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân; đúc kết một số kinh nghiệm để vận dụng vào lãnh đạo Hội LHPN tỉnh Hải Dương đổi mới ND, PT hoạt động trong thời kỳ mới đạt kết quả, hiệu quả cao hơn.
Trang 1NGUYỄN THỊ NHẬT THU
§¶NG Bé TØNH H¶I D¦¥NG L·NH §¹O HéI LI£N HIÖP PHô N÷ TØNH §æI MíI NéI DUNG, PH¦¥NG THøC HO¹T §éNG Tõ N¡M 1997 §ÕN N¡M 2012
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2NGUYỄN THỊ NHẬT THU
§¶NG Bé TØNH H¶I D¦¥NG L·NH §¹O HéI LI£N HIÖP PHô N÷ TØNH §æI MíI NéI DUNG, PH¦¥NG THøC HO¹T §éNG Tõ N¡M 1997 §ÕN N¡M 2012
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 62 22 56 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH
2.PGS.TS.HOÀNG THỊ KIM THANH
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Nhật Thu
Trang 4MỞ ĐẦU 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7 Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO HỘI LIÊN
HIỆP PHỤ NỮ ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG (1997 - 2005) 18
1.1 Yêu cầu khách quan đòi hỏi Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hải
Dương đổi mới nội dung, phương thức hoạt động 181.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong lãnh đạo Hội
Liên hiệp Phụ nữ đổi mới nội dung, phương thức hoạt động (1997-2005) 37
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO HỘI LIÊN
HIỆP PHỤ NỮ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG (2005 -2012) 66
2.1 Yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội
Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hải Dương trong tình hình mới 662.2 Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh
Hải Dương trong lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ đổi mới nội dung, phương thức hoạt động (2005 - 2012) 75
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 106
3.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo Hội Liên
hiệp Phụ nữ đổi mới nội dung, phương thức hoạt động từ năm
1997 đến năm 2012 1063.2 Một số kinh nghiệm 133
KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 168
Trang 5ND, PT : Nội dung, phương thức
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định mục tiêu giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng là một trong những nhiệm vụ quan trọng Sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một bộ phận của sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH Ngay từ năm 1930, Đảng đã sớm thành lập tổ chức phụ nữ để tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh của các tầng lớp phụ nữ, phát động và hướng dẫn phong trào cách mạng của phụ nữ, quan tâm chăm lo đến sự tiến bộ của phụ nữ Trong các giai đoạn cách mạng, Đảng thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo để tổ chức Hội trở thành trung tâm đoàn kết các tầng lớp phụ nữ Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội LHPN Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam; đại diện, bảo vệ quyền bình đẳng, dân chủ, hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; tham gia quản lý nhà nước, tham gia xây dựng Đảng; đoàn kết, vận động, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Hội LHPN Việt Nam thực sự trở thành cầu nối giữa Đảng với đông đảo quần chúng phụ nữ, góp phần đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, tích cực tham gia các hoạt động của phụ nữ quốc tế và tranh thủ sự ủng hộ
to lớn của phụ nữ quốc tế đối với phụ nữ Việt Nam
Tuy nhiên, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước và hội nhập quốc tế, hoạt động của Hội LHPN Việt Nam và công tác vận động phụ nữ đã bộc lộ những hạn chế và đối mặt với những thách thức mới Xuất phát từ yêu cầu của thời kỳ mới và thực tiễn hoạt động của các cấp Hội những năm qua, để phát huy vai trò của Hội LHPN, đẩy mạnh phong trào phụ nữ, để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
Trang 7với công tác phụ nữ nói chung, đặc biệt là tăng cường lãnh đạo đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam nói riêng càng trở nên quan trọng
Hải Dương là một trong những tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh (thành lập năm 1940), tổ chức và phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương sớm hình thành và phát triển khá mạnh, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của quê hương, đất nước Tuy nhiên, khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, CNH, HĐH và hội nhập quốc
tế, cùng với phong trào phụ nữ cả nước, tổ chức Hội và phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, khiến nhiều nội dung, phương thức hoạt động vốn có của Hội không còn phù hợp: các hoạt động Hội chủ yếu mới chỉ tập trung huy động, vận động lực lượng phụ nữ thực hiện các nghĩa vụ với xã hội, với đất nước; việc tuyên truyền giáo dục tập trung nhiều vào nâng cao nhận thức về truyền thống cách mạng, cuộc đấu tranh về hai con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; động viên phụ nữ vượt khó khăn thực hiện nghĩa vụ người công dân, người vợ, người mẹ…mà chưa chú trọng tới chăm lo lợi ích thiết thực cho phụ nữ (nâng cao đời sống vật chất, tạo việc làm…), phát huy quyền làm chủ và nâng cao trình độ của phụ nữ; trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ Hội 3 cấp của tỉnh Hải Dương vẫn còn nhiều hạn chế (nhất là ở cấp cơ sở), chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác Hội, việc tham mưu, chỉ đạo, điều hành tổ chức hoạt động của Hội còn nhiều lúng túng; trong tư tưởng chỉ đạo, có nơi, có lúc còn thỏa mãn về thành tựu giải phóng phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, chưa nhận thức đầy đủ yêu cầu, nội dung giải phóng phụ nữ về kinh tế - xã hội; một số cấp ủy Đảng vẫn coi công tác phụ nữ là việc riêng của Hội LHPN… Để phát huy tốt, có hiệu quả vai trò của tổ chức Hội trong vận động, tập hợp các tầng lớp phụ nữ tích cực tham gia công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, chăm lo đến lợi ích thiết thân của phụ nữ và từng bước đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp phụ
nữ, Hội LHPN tỉnh Hải Dương thực sự cần phải đổi mới ND, PT hoạt động
Trang 8Đứng trước những yêu cầu chung và riêng nêu trên, từ khi tái lập tỉnh (1997), Đảng bộ tỉnh Hải Dương bên cạnh quan tâm lãnh đạo HTCT trong tỉnh không ngừng kiện toàn, đổi mới ND, PT hoạt động nói chung, lãnh đạo đổi mới công tác vận động quần chúng nói riêng đã rất quan tâm xây dựng nhiều chủ trương, nghị quyết cụ thể và chỉ đạo sát sao, chặt chẽ để lãnh đạo Hội LHPN tỉnh liên tục đổi mới ND, PT hoạt động Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với Hội LHPN trong đổi mới ND, PT hoạt động trở thành một nhân tố quan trọng đưa tới những thành công nổi bật của công tác Hội và phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương kể từ năm 1997
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo Hội LHPN đổi mới nội dung và phương thức hoạt động trong những năm (1997 – 2012), nhằm khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh; đánh giá ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ những nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế đó, từ đó đúc kết một số kinh nghiệm lịch sử để vận dụng, thực hiện tốt hơn trong những năm tiếp theo, góp phần thúc đẩy phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương, phong trào phụ nữ Việt Nam phát triển vững mạnh, ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế
là việc làm hết sức cần thiết
Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Hải Dương
lãnh đạo Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh đổi mới nội dung, phương thức hoạt động từ năm 1997 đến năm 2012” làm Luận án Tiến sỹ khoa học Lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đối với Hội LHPN trong việc đổi mới ND, PT hoạt động từ năm 1997 đến năm 2012: khẳng định những thành công, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân; đúc kết một số kinh nghiệm để vận dụng vào lãnh đạo Hội LHPN
Trang 9tỉnh Hải Dương đổi mới ND, PT hoạt động trong thời kỳ mới đạt kết quả, hiệu quả cao hơn; góp phần khẳng định và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác phụ nữ nói chung, hoạt động của Hội Phụ
nữ nói riêng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ yêu cầu khách quan đối với việc Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo Hội LHPN tỉnh đổi mới ND, PT hoạt động từ năm 1997 đến năm 2012
- Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo Hội LHPN đổi mới
ND, PT hoạt động của Đảng bộ tỉnh Hải Dương qua 2 giai đoạn: 1997-2005 và 2005-2012
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo Hội LHPN đổi mới ND, PT hoạt động; trên cơ sở đó đúc kết một số kinh
nghiệm để vận dụng vào đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN tỉnh trong
giai đoạn mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đối với Hội LHPN trong đổi mới ND, PT hoạt động từ khi tái lập tỉnh (1997) đến năm 2012
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Chủ trương và quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện của
Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong lãnh đạo Hội LHPN đổi mới ND, PT hoạt động
từ năm 1997 đến năm 2012 trong đó, ND, PT hoạt động của Hội bao gồm: + về nội dung hoạt động: Công tác tuyên truyền, vận động PN ;nắm
tình hình tư tưởng, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của phụ nữ ;
tham gia xây dựng,giám sát, phản biện xã hội; nghiên cứu khoa học và đề xuất chính sách ;công tác cán bộ nữ, cán bộ Hội ;củng cố, phát triển tổ chức
Hội; hỗ trợ, giúp đỡ phụ nữ trong đời sống ; quan hệ và hợp tác quốc tế
Trang 10+ về phương thức hoạt động: tham mưu đề xuất với Đảng những vấn đề liên quan đến phụ nữ; tổ chức các hoạt động trong hệ thống Hội; phối hợp với chính quyền, ban, ngành, đoàn thể trong thực hiện nhiệm vụ của Hội; vận động xã hội tạo thêm nguồn lực cho hoạt động của Hội
- Về không gian: luận án nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Hải Dương và có
so sánh với một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ
- Về thời gian: luận án nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo Hội
LHPN đổi mới ND, PT hoạt động từ năm 1997 (là năm tái lập tỉnh) đến năm
2012 (là năm đánh giá giữa nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV) Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án, nghiên cứu sinh sử dụng một số tài liệu, tư liệu có liên quan đến trước năm 1997 và sau năm 2012
4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm, đường lối của Đảng về công tác phụ nữ nói chung và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội LHPN nói riêng
4.2 Nguồn tư liệu
Tư liệu để hình thành luận án chủ yếu dựa vào hệ thống các văn kiện, nghị quyết của BCH Trung ương Đảng, các văn bản của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo, đề án của Tỉnh ủy Hải Dương, các báo cáo tổng kết năm, tổng kết giai đoạn (nhiệm kỳ) của công tác Hội và phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương; các công trình khoa học liên quan đến phụ nữ, tổ chức, hoạt động của Hội LHPN; kết quả điều tra thực tế Các bài báo, tạp chí có liên quan được đăng tải trên báo Trung ương, địa phương, trên các trang web của cơ quan, tổ chức
4.3 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu sinh sử dụng và kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu; đồng thời, còn sử dụng các phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học, khảo sát thực tiễn để hoàn thành những mục tiêu đề ra
Trang 115 Những đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo Hội LHPN tỉnh đổi mới ND, PT hoạt động những năm 1997-2012
- Rút ra những nhận xét, góp phần vào việc tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo công tác phụ nữ nói chung, lãnh đạo Hội LHPN đổi mới ND, PT hoạt động
nói riêng Đúc kết một số kinh nghiệm lịch sử vận dụng vào giai đoạn mới
- Luận án là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng và những tổ chức, cá nhân quan tâm đến phong trào phụ nữ, công tác phụ nữ
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả và phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 12TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án
Do vị trí, tầm quan trọng của phụ nữ và Hội LHPN Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc, có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan được công bố dưới các hình thức như: sách, bài trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹ khoa học Có thể khái quát thành mấy nhóm công trình chủ yếu sau đây:
1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu về vai trò của phụ nữ Việt Nam
Trong nhóm công trình nghiên cứu chung về phụ nữ, vấn đề phụ nữ gắn với bình đẳng giới, có một số công trình tiêu biểu:
Công trình: Phụ nữ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI [123] Thông qua việc
nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong tiến trình lịch sử phát triển đất nước, công trình đã góp phần đánh giá khách quan, đầy đủ và sâu sắc hơn vai trò của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong 15 năm đổi mới (1986-2001) Từ đó khẳng định bước trưởng thành vượt bậc của phụ phụ nữ Việt nam trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, gia đình
và xã hội, góp phần nâng cao vị trí,vai trò của phụ nữ Việt Nam, chuẩn bị hành trang để nâng cao vị thế của phụ nữ trong thiên niên kỷ mới
Một công trình khác: Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước [130] đã làm rõ vai trò của người phụ nữ
Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong gần 80 năm (1930-2007) Đồng thời nêu bật những quan điểm thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ và phong trào phụ nữ; đề cao và khẳng định vai trò, vị trí và sức mạnh to lớn của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng Qua việc nghiên cứu những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
và 20 năm đổi mới đất nước, công trình khẳng định sự đúng đắn trong chủ
Trang 13trương và quá trình lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ, đồng thời nêu bật sự cố gắng, nỗ lực, những đóng góp to lớn của các tầng lớp phụ nữ, phong trào phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng
Tiếp cận dưới một góc độ khác, gắn liền vấn đề phụ nữ với nghiên cứu
về giới, sách tham khảo: Phụ nữ, giới và phát triển [94] đã cung cấp hệ thống
những quan điểm, phạm trù, khái niệm, phương pháp và các vấn đề cơ bản
dưới góc độ phụ nữ học Đồng thời , các tác giả cũng phân tích các chính sách
xã hội đối với phụ nữ, làm luận cứ khoa học cho việc thực hiện nguyên tắc
công bằng xã hội và bình đẳng giới trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam
Bài viết: “Công tác tuyên truyền của Đảng nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức” [138] đã phân tích vai trò đặc biệt quan
trọng của phụ nữ trong nền kinh tế tri thức Tác giả nhấn mạnh việc nâng cao nhận thức và vai trò của các cấp ủy Đảng, chính quyền về vai trò của phụ nữ trong xã hội là một trong những giải pháp then chốt để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong thời kỳ đổi mới đất nước
Nhóm các công trình, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trên các lĩnh vực, đặc biệt là vai trò của phụ
nữ tham gia quản lý Nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội, có thể kể đến: Phát huy hơn nữa vai trò của phụ nữ trong tham gia quản lý Nhà nước [5]; Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế, xã hội, tham gia quản lý Nhà nước và định hướng phát triển đến năm 2000 [90]; Quan tâm hơn nữa việc thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện cho Phụ nữ tham gia các hoạt động quản lý Nhà nước, xã hội [135] Những công trình này đã khẳng định vị trí, vai
trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong việc tham gia phát triển kinh tế, xã hội và quản lý nhà nước Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ
Công trình: Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [140], phân tích thực trạng, chỉ ra các yếu tố
Trang 14tác động và các giải pháp nâng cao vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong sự nghiệp đổi mới đất nước; chỉ ra những áp lực xã hội mà cán bộ nữ đang phải đối mặt, những thách thức mà các cấp, các ngành cần phải vượt qua
để phát huy vai trò của phụ nữ trong quá trình CNH, HĐH
Đề tài Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị [3] góp phần làm sáng tỏ những luận cứ khoa học về việc nâng cao vị trí, vai
trò, năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ, tăng cường sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ trong hệ thống bộ máy Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể nhân dân trong tình hình mới
Ngoài ra còn có các công trình: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ trong công cuộc đổi mới hiện nay [142]; Nghiên cứu Phụ nữ, giới
và gia đình [137]; Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ với việc thực hiện trong thời kỳ đổi mới[167]; Quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam [160] Những công trình này mặc dù dưới những giác độ
nghiên cứu khác nhau của khoa học Lịch sử, Xã hội học, Hồ Chí Minh học và
đề cập đến nhiều khía cạnh, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn nhưng tựu trung lại đều nêu bật được vai trò to lớn của người phụ nữ xưa và nay trong tiến trình phát triển của đất nước, của cách mạng Việt Nam
Nghiên cứu những vấn đề chung về phụ nữ Việt Nam, nhất là trong xã hội hiện đại chính là cơ sở để thấy sự đúng đắn của Đảng trong việc tích cực đề
ra những chủ trương, đường lối lãnh đạo công tác phụ nữ nói chung, lãnh đạo
tổ chức Hội LHPN đổi mới ND, PT hoạt động nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội LHPN trong thu hút, tập hợp, vận động các tầng lớp phụ
nữ phát huy tiềm năng, sức sáng tạo xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nói chung
Trang 15Hội LHPN Việt Nam là một tổ chức chính trị xã hội, một thành viên của HTCT Việt Nam, đại diện cho các tầng lớp phụ nữ Việt Nam (chiếm trên 50% dân số và lực lượng lao động xã hội) Trong công cuộc đổi mới đất nước, việc đổi mới HTCT nói chung, đổi mới ND, PT hoạt động của HTCT nói riêng là một yêu cầu mang tính khách quan Đây là lĩnh vực nhận được sự quan tâm nghiên cứu và cũng có thể cung cấp nhiều tư liệu cho các nhà nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Nhà nước, MTTQ và các đoàn thể nhân dân bao gồm: Đổi mới mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp phường trong điều kiện kinh tế thị trường [153]; Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay [162]; Một số kiến nghị về vấn đề Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân [182]; Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, [154]; Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong thời kỳ mới [172]; Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các đoàn thể nhân dân hiện nay [176]
Các công trình nêu trên cung cấp cho tác giả những tri thức tổng thể, toàn diện về đổi mới ND, PT hoạt động của HTCT nói chung và của MTTQ
và các đoàn thể nhân dân ở Việt Nam hiện nay Đây là những kiến thức quý, làm cơ sở để tác giả có thể nghiên cứu tốt hơn, sâu hơn về sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức Hội LHPN Việt Nam, Hội LHPN tỉnh Hải Dương
Các công trình nghiên cứu về công tác vận động phụ nữ
Nghiên cứu về vấn đề này có nhiều công trình, bài viết, tiêu biểu là: Đề
tài: Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ vận trong thời kỳ đổi mới [178]
đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò nòng cốt của Hội LHPN Việt Nam đối với công tác phụ vận trong thời kỳ đổi mới, cũng như việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế thực hiện công tác vận động phụ nữ Đề tài nhấn mạnh tầm quan
Trang 16trọng của vấn đề lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc nâng cao năng lực cho phụ nữ trên nhiều phương diện
Bài viết: “Làm tốt công tác vận động, quy tụ sức mạnh của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam” [92] đã nêu bật những kết quả đáng tự hào của công tác Hội và phong trào phụ nữ cả nước những năm 2007-2012, góp phần to lớn vào thành tựu chung, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước Trên cơ sở kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và các nghị quyết, chỉ thị, chiến lược của Đảng, Nhà nước có liên quan trực tiếp tới công tác phụ nữ
và bình đẳng giới; đồng thời qua thực tiễn phong trào phụ nữ và nhu cầu của hội viên, bài viết đã nêu rõ những dự báo về thuận lợi, khó khăn, thách thức đối với công tác vận động phụ nữ trong giai đoạn mới cũng như những định hướng lớn và giải pháp có tính đột phá của Hội nhằm phát huy hơn nữa vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong công tác vận động, quy tụ sức mạnh của các tầng lớp phụ nữ, góp phần vào sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Những công trình nghiên cứu trên, dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã từng bước làm rõ sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ vận, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò to lớn của phụ
nữ trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay; đề cập đến thực trạng và những vấn đề cấp bách đặt ra trong công tác vận động phụ nữ thời kỳ đổi mới; đồng thời đưa ra một số giải pháp, định hướng chỉ đạo để thực hiện tốt hơn công tác phụ vận của Đảng trong tình hình mới
Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam với tư cách là một tổ chức chính trị - xã hội trong HTCT của đất nước, có vai trò nòng cốt trong thực hiện công tác phụ nữ của Đảng đã và đang thu hút được sự quan
Trang 17tâm của một số nhà nghiên cứu và trước hết là của chính tổ chức Hội LHPN Việt Nam, có thể kể đến một số công trình:
Các tác giả cuốn:Các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội LHPN [124], dày công tra cứu, sưu tầm những quy định từ Hiến pháp và
pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội LHPN Việt Nam, coi đó
là những căn cứ pháp lý để Hội LHPN tổ chức, hoạt động trong giai đoạn hiện nay
Bài: “Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Hội LHPN Việt Nam - Thực trạng và những giải pháp đổi mới” [126] đã chỉ rõ những cơ sở khoa học, thực tiễn của mối quan hệ giữa Hội LHPN với Đảng - tổ chức sáng lập và lãnh đạo Hội cũng như các tổ chức đoàn thể nhân dân khác trong suốt quá trình cách
mạng; quan hệ phối hợp hành động với Nhà nước - cơ quan quản lý xã hội
Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích thực trạng và đề ra những giải pháp để Hội phát huy được tính độc lập, tự chủ của tổ chức, tích cực cùng với Mặt trận
Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể nhân dân khác thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát
và phản biện xã hội, tham gia xây dựng đồng thời làm cơ sở chính trị vững chắc cho Đảng và Nhà nước
Trong công trình: Cơ cấu cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Hội LHPN Việt Nam trong hệ thống chính trị đổi mới [125] và công trình
Vị trí, vai trò, chức năng và mô hình tổ chức của Hội LHPN Việt Nam trong
hệ thống chính trị [128], Hội LHPN Việt Nam làm rõ những cơ sở khoa học và
thực tiễn của những vấn đề xoay quanh công tác tổ chức, cán bộ của Hội LHPN trong HTCT hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ thời kỳ đổi mới, xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng
và mô hình tổ chức của Hội LHPN Việt Nam trong HTCT hiện nay, từ đó xác định cơ cấu cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Hội LHPN Việt Nam Đây là những yếu tố quan trọng để Hội LHPN Việt Nam thực hiện tốt vai
Trang 18trò nòng cốt trong công tác phụ nữ của Đảng nói chung, việc đổi mới ND, PT hoạt động của Hội nói riêng trong thời kỳ mới
Trong đề tài: Thực trạng lao động nữ khu vực công nghiệp tham gia sinh hoạt Hội trên địa bàn dân cư, [131] và đề tài: Khảo sát, đánh giá mô hình thu hút hội viên phụ nữ tham gia hoạt động Hội LHPN và đề xuất giải pháp
[133], Hội LHPN Việt Nam tập trung nghiên cứu, chỉ ra những thách thức đối với tổ chức Hội hiện nay; đồng thời, đề ra phương hướng, giải pháp đổi mới ND, PT hoạt động nhằm tập hợp, thu hút các tầng lớp phụ nữ, nhất là lao động nữ khu vực công nghiệp Thông qua kết quả nghiên cứu của Đề tài, những mô hình hoạt động hiệu quả trong việc thu hút hội viên như các mô hình nhóm nhỏ theo sở thích, lứa tuổi, ngành nghề đã được ghi nhận và có định hướng nhân rộng
Các công trình và đề tài nêu trên do Trung ương Hội LHPN Việt Nam nghiên cứu và chủ trì, ở phạm vi, giác độ khác nhau đều đề cập đến vai trò của phụ nữ Việt Nam, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Hội LHPN Việt Nam, về mô hình tổ chức Hội LHPN các cấp trong HTCT; đồng thời,
đề cập đến vai trò lãnh đạo hết sức quan trọng của Đảng đối với công tác phụ vận trong thời kỳ đổi mới, cũng như việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế thực hiện công tác vận động phụ nữ Các đề tài cũng xác định tầm quan trọng của các cấp ủy Đảng trong lãnh đạo nhằm nâng cao năng lực của phụ nữ trên nhiều phương diện, trong xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ Hội LHPN, nhân tố quan trọng để đổi mới công tác Hội và nâng cao chất lượng phong trào phụ nữ trong tình hình mới
Một số nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của tổ chức Hội LHPN Việt Nam trong việc tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, đại diện, bảo vệ quyền bình đẳng, dân chủ, hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; tham gia quản lý nhà nước, tham gia xây dựng Đảng; đoàn kết, vận động, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ
Trang 19thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Đó chính là những cơ sở và nguyên tắc
cơ bản để tổ chức Hội LHPN Việt Nam trong tiến trình đổi mới thực hiện ngày càng tốt hơn những chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Hội
Ngoài ra, còn các công trình dưới dạng sách và Luận văn: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ vào hoạt động thực tiễn của Hội LHPN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới [181]; Nâng cao vị trí chính trị và năng lực hoạt động của Hội LHPN Việt Nam [90]; Sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội LHPN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [136] Những luận văn này mặc
dù nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau song đã khẳng định sự cần thiết, yêu cầu cấp bách phải đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
1.3 Các công trình liên quan trực tiếp đến hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hải Dương
Cuốn sách: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hải Dương (1930 – 1975) [16] và cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hải Dương (1975 - 2005) [62], là hai công
trình nghiên cứu công phu về quá trình hình thành, xây dựng, củng cố và phát triển của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ khi còn là những tổ chức tiền thân đến khi chính thức thành lập năm 1940 và lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân dân tỉnh Hải Dương đến năm 2005 Quá trình 75 năm lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, Đảng bộ tỉnh Hải Dương luôn coi trọng vai trò, vị trí của phụ nữ và luôn quan tâm lãnh đạo tổ chức Hội LHPN
và các phong trào phụ nữ tỉnh Qua đó, huy động được sự đóng góp to lớn, tích cực của mọi tầng lớp phụ nữ tỉnh Hải Dương vào sự nghiệp cách mạng chung, nhất là thời kỳ đổi mới
Cuốn sách: Lịch sử truyền thống cách mạng phụ nữ tỉnh Hải Dương (1930-1975) [97] và cuốn sách: Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương (1975-2000), [102] là hai công trình nghiên cứu phản ánh những sự kiện lịch sử
quan trọng, những phong trào phụ nữ điển hình và những đóng góp to lớn của các tầng lớp phụ nữ tỉnh Hải Dương vào tiến trình cách mạng Hải Dương trong
Trang 2070 năm (1930-2000); đồng thời, khẳng định sự trưởng thành, lớn mạnh của tổ chức Hội và phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương qua mỗi chặng đường cách mạng, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và 25 năm sau ngày đất nước thống nhất và thực hiện đổi mới
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hải Dương, và các đoàn thể chính trị xã hội trong tỉnh như Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân đã chủ biên các cuốn sách về lịch sử tổ chức và phong trào của quần chúng nhân dân, của giai cấp công nhân, nông dân và thanh
niên tỉnh Hải Dương từ năm 1930 đến năm 2010 như cuốn: Lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam tỉnh Hải Dương (1930 -2000)[141]; cuốn sách Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Hải Dương (1930 - 2010) (tái bản lần thứ nhất) [134]; cuốn sách Lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh, thiếu niên tỉnh Hải Dương (1931-2000)[88]; cuốn sách Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn tỉnh Hải Dương, giai đoạn 1929 - 2002 [139] Những công trình nêu trên
phản ánh vừa tổng thể, đa chiều, vừa sâu sắc, sống động nhiều phong trào sâu rộng và những đóng góp to lớn của các tầng lớp nhân dân tỉnh Hải Dương kể từ khi có Đảng Nghiên cứu những cuốn sách trên cho thấy, phụ
nữ tỉnh Hải Dương, dù tham gia sinh hoạt trong bất kỳ tổ chức đoàn thể nào vẫn luôn gìn giữ và phát huy những truyền thống quý báu của người phụ nữ
Việt Nam: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang và luôn là lực lượng
đông đảo, tiềm ẩn sức mạnh to lớn, sẵn sàng tham gia, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của quê hương, đất nước
Bộ sách, gồm 7 cuốn: Hải Dương - Đường 5 một thời kháng chiến [6] tập
trung giới thiệu, phản ánh chân thực những chiến công oanh liệt của quân và dân tỉnh Hải Dương anh hùng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ xâm lược Hình ảnh nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi vượt sông Kinh Thầy làm giao liên; nữ du kích Thành Đông dùng đòn gánh đánh Tây; nữ du kích Đường 5 dùng mìn phá đường sắt ngăn tàu chở vũ khí của giặc Pháp; hình
Trang 21ảnh cô du kích Lai Vu “Rắn quấn bên chân vẫn bắn thù”, những bà mẹ Vườn
Cam bên trận địa pháo cầu Lai Vu đi tiếp tế, cứu thương giữa mưa bom, bão đạn đã được khắc họa sinh động, thêm một lần nữa khẳng định những nét đẹp truyền thống anh hùng, bất khuất của phụ nữ tỉnh Hải Dương
Cuốn sách Bà mẹ Việt nam anh hùng tỉnh Hải Dương [68] tập trung giới
thiệu tiểu sử, công trạng, ảnh và thông tin liên quan đến liệt sỹ là thân nhân của 1.645 Bà mẹ Việt Nam anh hùng tỉnh Hải Dương (tính đến ngày 31/12/2012); những bài viết về truyền thống cách mạng của nhân dân tỉnh Hải Dương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc Cuốn sách khắc họa hình ảnh những người mẹ, người vợ dịu hiền, đảm đang động viên tinh thần và ý chí cho chồng, con lên đường đánh giặc, cùng chồng con chiến đấu giải phóng quê hương, đất nước, góp phần giáo dục truyền thống, khơi dậy niềm tự hào, động viên các thế hệ phụ nữ tỉnh Hải Dương tiếp tục phấn đấu, đóng góp công sức, trí tuệ cùng nhân dân toàn tỉnh thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng
Đối với công tác vận động phụ nữ và hoạt động của Hội LHPN tỉnh Hải
Dương những năm gần đây cũng có công trình Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động phụ nữ trên địa bàn xã ở tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay [177] Nội dung công trình đề cập đến một số hoạt động của Hội
LHPN tỉnh Hải Dương nhưng chỉ giới hạn trong địa bàn xã, dưới góc độ nghiên cứu của chuyên ngành Hồ Chí Minh học
2 Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án đã được các công trình khoa học đề cập đến
Qua số lượng và nội dung nghiên cứu của các công trình nêu trên cho thấy, mảng đề tài nghiên cứu liên quan đến phụ nữ, công tác phụ nữ, hoạt động của Hội LHPN Việt Nam nói chung, việc đổi mới ND, PT hoạt động của tổ chức Hội nói riêng là khá phong phú, bao quát khá nhiều lĩnh vực, có giá trị khoa học, thực tiễn cao Dưới những góc độ tiếp cận khác nhau của
Trang 22khoa học Chính trị, Tâm lý học, Xã hội học , các công trình đã phản ánh, nêu bật vai trò lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức Hội LHPN Việt Nam; đồng thời, làm rõ hơn vị trí, vai trò, đóng góp của phụ nữ và tổ chức Hội LHPN Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; tình hình phong trào phụ nữ và hoạt động của tổ chức Hội LHPN
ở Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay với nhiều thành tựu, hạn chế, những thời cơ, vận hội và cả khó khăn, thách thức, những định hướng, giải pháp đổi mới ND, PT hoạt động
Những kết quả nghiên cứu trên đã cung cấp những luận cứ khoa học, gợi
mở phương pháp tiếp cận trong quá trình tác giả nghiên cứu luận án Tuy nhiên, do mục đích và phạm vi nghiên cứu đặt ra, 3 nhóm công trình nêu trên mới đề cập đến những vấn đề chung về tổ chức, ND, PT hoạt động của Hội LHPN, công tác vận động phụ nữ , chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Những thành quả của các công trình nghiên cứu nêu trên là những tài liệu quý đối với tác giả, có thể kế thừa trong quá trình hoàn thành
luận án Hy vọng, kết quả nghiên cứu qua thực tiễn lãnh đạo Hội LHPN tỉnh
đổi mới ND, PT hoạt động của Đảng bộ tỉnh Hải Dương, luận án sẽ góp phần luận giải hữu ích về công tác vận động phụ nữ của Đảng Cộng sản Việt Nam
3 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Để làm rõ vai trò của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong lãnh đạo Hội LHPN đổi mới ND, PT hoạt động, luận án sẽ làm rõ một số vấn đề sau:
- Làm rõ yêu cầu khách quan tác động đến đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN tỉnh Hải Dương trong những năm 1997-2012
- Phân tích và luận giải làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong đạo Hội LHPN tỉnh đổi mới ND, PT hoạt động từ năm 1997 đến năm 2012
Trang 23- Nghiên cứu, đánh giá thành công và hạn chế quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong lãnh đạo Hội LHPN tỉnh đổi mới ND, PT hoạt động từ năm
1997 đến năm 2012; đúc kết những kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào các giai đoạn tiếp theo
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ
ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ luôn
là lực lượng đông đảo, có đóng góp to lớn và giữ vai trò quan trọng Với truyền thống vừa cần cù, thông minh sáng tạo trong lao động sản xuất, vừa dũng cảm kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm, phụ nữ Việt Nam đã lập nên những kỳ tích lớn lao, làm rạng rỡ non sông đất nước Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước, cứu dân; tục ngữ Việt
Nam có câu “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, đó là truyền thống đáng tự hào
của phụ nữ Việt Nam từ thời đại Hùng Vương - Trương Vương dựng nước, đến thời đại Hồ Chí Minh
Nhận thức rõ vị trí, vai trò của phụ nữ đối với tiến trình lịch sử dân tộc nên ngay từ khi mới thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ, gắn sự nghiệp đó với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Hồ Chí Minh nhận định: “Phụ nữ là một lực lượng xã hội rộng lớn, đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn
Trang 24bà con gái tham gia” và “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” [144, tr.219]
Hồ Chí Minh có những luận điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược khi đặt vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam, nữ trong tương quan phát triển của xã hội mới, của CNXH Người nhìn thấy khả năng to lớn của phụ nữ trong lao động sản xuất, xây dựng đất nước và cho rằng, muốn có nhiều sức lao động để sản xuất thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ:
“Nói phụ nữ là nói phần nửa của xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH chỉ có một nửa” [148, tr.523] và Người khẳng định “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [147, tr.432]
Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo luôn quán triệt, vận dụng và phát triển tư tưởng của Người về vấn đề giải phóng phụ nữ, về nam nữ bình quyền trong từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam Có thể khẳng định, chính những quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của phụ nữ trong lịch sử là yếu tố mấu chốt để một đoàn thể cách mạng riêng cho phụ nữ Việt Nam sớm được thành lập
Hội nghị lần thứ nhất BCH Trung ương Đảng (10 - 1930) thông qua một nội dung riêng trong Nghị quyết về công tác vận động phụ nữ và chủ trương thành lập Phụ nữ Hiệp hội [83, tr.188-191] Ngày 20-10-1930, Phụ nữ Hiệp hội
- tổ chức tiền thân của Hội LHPN Việt Nam được thành lập với mục đích tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng phụ nữ theo đường lối của Đảng Ngày 20-10-1946, Hội LHPN Việt Nam chính thức được thành lập Hơn 80 năm hình thành và phát triển, Hội LHPN Việt Nam luôn thể hiện vai trò nòng cốt trong công tác vận động các tầng lớp phụ nữ tham gia và đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng Trong nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng đều chỉ rõ vai trò đại
Trang 25diện của Hội LHPN Việt Nam: “ là một tổ chức quần chúng cách mạng của Đảng, có truyền thống đoàn kết và giác ngộ chính trị cho các tầng lớp phụ nữ tích cực tham gia cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đấu tranh để thực hiện nam nữ bình đẳng, giải phóng phụ nữ” [69, tr.5] Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám BCH Trung ương Đảng, Khoá VI (1990) khẳng định: Hội LHPN Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội, là một thành tố trong HTCT của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Nghị quyết số
04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động Phụ nữ trong tình hình mới nêu rõ: Hội LHPN là tổ chức đại diện
cho lợi ích của phụ nữ, là trung tâm tập hợp đoàn kết phụ nữ Việt Nam, hướng dẫn và vận động chị em phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, bình đẳng nam nữ, vì sự nghiệp phát triển và hạnh phúc của phụ nữ, vì sự nghiệp đổi mới, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Hội LHPN Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội, là một thành tố trong HTCT của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, đại diện và tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Hội là thành viên của MTTQ Việt Nam, thành viên của Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế, Liên đoàn các tổ chức Phụ nữ ASEAN Hội LHPN Việt Nam hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ Trong giai đoạn hiện nay, Hội LHPN Việt Nam có chức năng đại diện cho quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, tham gia quản lý Nhà nước, đồng thời đoàn kết, vận động, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Nhiệm vụ cơ bản của Hội LHPN là động viên, tạo điều kiện để phụ nữ tích cực học tập, nâng cao kiến thức, trình độ, năng lực mọi mặt, từ đó, tham gia tích cực vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Hội tuyên truyền, giáo dục phụ nữ giữ gìn, phát huy giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và phụ nữ Việt Nam; Hướng dẫn, giúp đỡ phụ nữ
Trang 26tổ chức tốt cuộc sống gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; Xây dựng, củng cố tổ chức Hội; Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội và cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới; Tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ; Tham mưu, đề xuất chính sách với Đảng, Nhà nước nhằm tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng và phát triển; Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu vực và trên thế giới vì mục tiêu bình đẳng, phát triển và hòa bình
Những chức năng, nhiệm vụ của Hội được quy định cụ thể trong Điều lệ
là cơ sở quan trọng để tổ chức Hội xác định các nội dung hoạt động trong từng nhiệm kỳ Qua các kỳ Đại hội, các kỳ họp BCH, Đoàn Chủ tịch, các nội dung hoạt động của Hội được lựa chọn tất cả đều nhằm thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của Hội trong mỗi giai đoạn cụ thể và vì vậy cũng luôn được cải tiến, đổi mới theo hướng phù hợp với nhiệm vụ chính trị, phong trào và tâm tư, nguyện vọng của đông đảo hội viên phụ nữ Để thực hiện có hiệu quả những nội dung hoạt động đã được xác định, các cấp Hội phụ nữ phải nghiên cứu, tìm tòi những phương thức hoạt động phù hợp với đặc thù từng nội dung hoạt động của Hội và thực tiễn của từng địa phương, đơn vị
Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng và từ thực tiễn hoạt động còn những bất cập, hạn chế của các cấp Hội, vấn đề đổi mới
ND, PT hoạt động của Hội Phụ nữ luôn được đặt ra thường xuyên, liên tục Chỉ
có thường xuyên đổi mới ND, PT thì tổ chức Hội mới làm tròn những chức năng, nhiệm vụ của một tổ chức chính trị - xã hội lại có yếu tố đặc thù về giới
Để đổi mới ND, PT hoạt động, bên cạnh sự chủ động, cố gắng nỗ lực của mình, Hội LHPN Việt Nam rất cần sự lãnh đạo, định hướng sâu sát, đúng đắn, kịp
thời của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương tác động đến việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ
Trang 27Hải Dương là một vùng đất cổ, thuộc vùng châu thổ sông Hồng Ngày nay, tỉnh Hải Dương có điều kiện địa lý và tự nhiên tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố an ninh quốc phòng: phía Đông giáp với thành phố cảng Hải Phòng, phía Tây giáp với tỉnh Hưng Yên, phía Nam giáp với tỉnh Thái Bình, phía Bắc giáp với Bắc Ninh và Quảng Ninh Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có vị trí địa lý thuận lợi nằm giữa tam giác trọng điểm phát triển phía Bắc là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Với hệ thống giao thông thuận lợi, có nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua (đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, Kép - Bãi Cháy, Quốc lộ số 5, Quốc lộ 183 ), tỉnh Hải Dương là cầu nối giữa Thủ đô
Hà Nội và các tỉnh phía Bắc ra cảng biển Đường thủy trên sông Thái Bình, sông Luộc, các sông trục Bắc Hưng Hải tạo thêm điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa giữa tỉnh Hải Dương với các tỉnh khác trong cả nước
Hải Dương là vùng đất văn hiến, có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, nổi tiếng với Văn miếu Mao Điền, làng tiến sỹ Mộ Trạch; gắn liền với các danh tích Côn Sơn, Kiếp Bạc ; gắn liền với tên tuổi các danh nhân Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Nguyễn Thị Duệ Người dân tỉnh Hải Dương nói chung, phụ nữ tỉnh Hải Dương nói riêng cần cù, thông minh, năng động trong lao động, sản xuất; thông minh, sáng tạo trong học tập; kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm Từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân tỉnh Hải Dương đã phát huy những giá trị truyền thống và phẩm chất tốt đẹp để một lòng theo Đảng, góp sức đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng CNXH, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, xây dựng quê hương giàu mạnh
Từ ngày 01-01-1997, sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, tỉnh Hải Dương chính thức được tái lập theo Nghị quyết kỳ họp thứ
10, Quốc hội khóa IX (ngày 06-01-1996) Tỉnh Hải Dương sau khi tái lập có diện tích tự nhiên là 1.660,18 km2; dân số là: 1.701.275 người, trong đó phụ nữ
Trang 28chiếm 51% Số người trong độ tuổi lao động là 978.541 người, trong đó lao động nữ chiếm 54% [54, tr.278]
Trước năm 1997, nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu và đóng góp quan trọng vào kinh tế của tỉnh Lao động ở nông thôn Hải Dương chiếm 69,6% lao động toàn tỉnh, trong đó đa phần là lao động nữ Trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, do tình trạng nam giới đi làm ăn xa ngày
càng nhiều, một số địa phương trong tỉnh đã có hiện tượng “phụ nữ hóa nông thôn” Chị em là lao động chính trong vườn, ngoài ruộng Vì vậy, vai trò, vị thế
của phụ nữ luôn được khẳng định trong ngành sản xuất lớn của địa phương Đến năm 1997, sản xuất công nghiệp của tỉnh Hải Dương còn nhỏ lẻ Qui
mô công nghiệp năm 1997 so với năm 2005 chỉ chiếm hơn 1/3 [62, tr.293] Trên 60% số công nhân lao động trong tỉnh là nữ, tập trung ở các ngành sản xuất như giầy da, may xuất khẩu, chế biến nông sản và phân bố đều ở các ngành khác Trước yêu cầu của kinh tế thị trường, chị em luôn tích cực lao động, không ngừng học tập nâng cao tay nghề, tiếp nhận và cải tiến công nghệ,
áp dụng vào sản xuất, nâng cao năng xuất, chất lượng lao động, tăng thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc Tuy nhiên lao động nữ trong công nghiệp cũng gặp không ít những khó khăn: việc làm không ổn định, lương thấp, làm việc lưu động, ca kíp, không có điều kiện nâng cao kiến thức mọi mặt và đời sống văn hóa, tinh thần, đặc biệt rất hạn chế trong việc nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết, chế độ, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
Các ngành dịch vụ trong tỉnh đã có bước phát triển và chuyển dịch khá, thị trường hàng hóa từng bước đáp ứng nhu cầu của đời sống nhân dân và tạo điều kiện giải phóng sức lao động cho phụ nữ Mặt khác trong những ngành dịch vụ thế mạnh của tỉnh như thương mại, du lịch lao động nữ cũng chiếm đa
số Có rất nhiều chị em đã chứng tỏ được khả năng và bản lĩnh của mình trong kinh doanh, trở thành những nữ chủ doanh nhân tài ba, lãnh đạo quản lý doanh nghiệp phát triển ngày càng vững mạnh trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của
cơ chế thị trường Tuy nhiên, cho đến trước năm 1997, việc tập hợp, thu hút đối
Trang 29tượng nữ tiểu thương, nữ doanh nhân vào tổ chức Hội phụ nữ còn rất hạn chế
do chưa có mô hình đặc thù phù hợp Mặt khác, chị em cũng là những người
“tham công, tiếc việc”, lại đứng mũi, chịu sào trong doanh nghiệp nên cũng rất khó khăn trong việc dành thời gian tham gia hoạt động của Hội
Sự nghiệp giáo dục, đào tạo bước đầu phát triển Việc đa dạng hóa các loại hình đào tạo ở ngay tại địa phương cũng là điều kiện thuận lợi để các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh có điều kiện nâng cao được trình độ văn hóa, chuyên môn và lý luận chính trị Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em từng bước được quan tâm, mặc dù còn thiếu thốn trang thiết bị y tế và đội ngũ y, bác sỹ nhưng chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung, cho phụ nữ và trẻ em nói riêng cũng dần được cải thiện
Từ tháng 10-1997, sau khi thực hiện chia tách huyện theo Nghị định số 11-NĐ/CP, Hải Dương chính thức hoàn thành việc thay đổi đơn vị hành chính
3 cấp Toàn tỉnh có 11 huyện, 1 thành phố, 263 xã, phường, thị trấn, trong đó
có 24 xã miền núi Sự thay đổi đơn vị hành chính đã đem lại cơ hội mới để Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hải Dương tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH Việc tái lập tỉnh đáp ứng nguyện vọng của Đảng
bộ và nhân dân trong tỉnh, tạo khí thế mới để xây dựng quê hương Sau 10 năm đổi mới, tỉnh Hải Dương bắt đầu xây dựng được những cơ sở vật chất nhất
định; thực hiện tốt phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa,
đời sống văn hóa, tinh thần của người dân từng bước được nâng lên; Đảng bộ, chính quyền và cả HTCT có một số kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của địa phương Với vị trí địa lý thuận lợi, tỉnh Hải Dương có thế mạnh lớn trong thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, thu hút các ngành dịch vụ, du lịch
Bên cạnh đó, điểm xuất phát kinh tế thấp; cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm
tỷ trọng lớn, sản xuất manh mún, hàng hóa ít, chất lượng chưa cao; cơ sở công nghiệp nhỏ bé, tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển; cơ sở hạ tầng của công nghiệp,
y tế, giáo dục còn nghèo nàn; nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh thấp hơn mức
Trang 30bình quân của tỉnh khác ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ; bộ máy hành chính cồng kềnh và các tổ chức đoàn thể nhân dân trong HTCT còn biểu hiện hành chính hóa, hoạt động kém hiệu quả là những khó khăn, thách thức lớn đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hải Dương trên con đường phát triển sau ngày tái lập tỉnh
Như vậy, không giống với tỉnh lân cận Thái Bình, một tỉnh đồng bằng ven biển với điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, xã hội chủ yếu là nông thôn, cư dân chủ yếu là nông dân, lực lượng phụ nữ cũng vì thế mà thuần nhất, trình độ tương đối đồng đều, có tính ổn định tương đối trong nhu cầu nghề nghiệp, nơi cư trú, thuận lợi hơn cho tổ chức Hội PN trong công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp chị em, trong việc đáp ứng những nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của hội viên, phụ nữ
Tỉnh Hải Dương cũng không có nét đặc thù của thành phố cảng biển Hải Phòng, có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế toàn diện, đặc biệt là kinh tế biển Hải Phòng sớm hình thành các khu, cụm công nghiệp lớn, tập trung, hệ thống
cơ sở hạ tầng phát triển, nhất là về giao thông: hải cảng quốc tế, đường thủy, đường sắt, đường bộ, đường không Chính vì có giao thông thuận lợi, kinh tế phát triển mà Hải Phòng cũng là nơi thu hút được nguồn nhân lực dồi dào, đa dạng về ngành nghề, trình độ học vấn cao hơn bình quân chung của cả nước Với điều kiện kinh tế - xã hội như vậy, người phụ nữ Hải Phòng dễ thích nghi với sự thay đổi của các ngành kinh tế, chị em có điều kiện tiếp xúc, nâng cao trình độ hiểu biết, dễ dàng tiếp thu cái mới, cái tiến bộ
Tỉnh Hải Dương có một vài nét tương đồng như tỉnh Hưng Yên, tỉnh Bắc Ninh, đều nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, không tiếp giáp với biển, nền kinh tế trước và trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới chủ đạo là kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ, chủ yếu chuyên canh cây lúa Từ khi tái lập tỉnh (1997), nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, với vị trí địa lý thuận lợi nằm trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc bộ, kinh tế Hải Dương dần chuyển dịch theo cơ cấu tăng các ngành công nghiệp nhẹ (sản xuất, chế biến) và dịch vụ,
Trang 31thương mại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Các khu, cụm công nghiệp, các công ty, nhà máy mọc lên ở hầu khắp các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh Mặt thuận lợi dễ nhận thấy là điều kiện để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất cho người dân, bên cạnh đó đời sống văn hóa, điều kiện xã hội cũng được cải thiện Tuy nhiên, với xuất phát điểm là nền kinh tế nông nghiệp kém hiện đại, manh mún nên trình độ dân trí của Hải Dương không cao như thành phố Hải Phòng, cũng không có độ đồng đều tương đối như tỉnh Thái Bình Các tầng lớp nhân dân, phụ nữ trong tỉnh những năm gần đây vì thế cũng rất đa dạng, phong phú, ngày càng có nhiều biến chuyển mới
Với đặc điểm lịch sử, tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương nêu trên
đã tác động đến hoạt động của Hội LHPN và phong trào phụ nữ tỉnh trong tiến trình phát triển Làm thế nào để phát huy được những mặt thuận lợi như truyền thống đảm đang, thông minh, tài khéo của người phụ nữ tỉnh Hải Dương xưa; ngày nay, điều kiện sống của người dân và phụ nữ được nâng lên từng ngày, chị em có điều kiện tiếp cận với một số thành tựu của khoa học, công nghệ, có điều kiện nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề, tìm kiếm việc làm Nhưng mặt khác cũng cần khắc phục được những khó khăn thách thức trong thực hiện tuyên truyền, giáo dục, vận động, tập hợp đối với đa dạng các tầng lớp phụ nữ (có trình độ, điều kiện, hoàn cảnh không đồng đều, nhu cầu nguyện vọng cũng phong phú và biến đổi không ngừng , nhất là với đối tượng nữ công nhân lao động làm việc trong các khu, cụm công nghiệp cả người địa phương và nhập cư) Đặc điểm lịch sử, tự nhiên, kinh
tế, xã hội của địa phương nêu trên cũng là một trong những cơ sở để Đảng
bộ tỉnh đề ra những chủ trương, giải pháp cụ thể, phù hợp, khoa học trong lãnh đạo công tác phụ nữ của tỉnh nói chung và đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN tỉnh nói riêng đạt hiệu quả
1.1.3 Thực trạng phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hải Dương trước năm 1997
Trang 32Trải hàng ngàn năm trên mảnh đất anh hùng có bề dày lịch sử văn hóa, văn minh của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, phụ nữ tỉnh Hải Dương luôn chứng tỏ là một lực lượng xã hội có vai trò quan trọng, sát cánh cùng nhân dân tỉnh Hải Dương dệt nên những giá trị truyền thống tốt đẹp
Ngay từ khi có Đảng, nền tảng phong trào phụ nữ và tổ chức Hội PN
tỉnh Hải Dương đã được hình thành thông qua hoạt động của các Hội tương
tế, Hội ái hữu dân cày Dưới sự chỉ đạo của tổ chức phụ nữ đầu tiên có tên Phụ nữ Phản đế (thành lập năm 1941) rồi Phụ nữ cứu quốc (1946), phong
trào phụ nữ được phát động tập trung vào các hoạt động binh vận và tham gia tự vệ, giao thông liên lạc, nuôi giấu cán bộ tích cực tham gia vào Mặt trận Dân tộc phản đế, Mặt trận Việt Minh chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền Trong cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, Hải Dương là một trong những tỉnh giành thắng lợi sớm nhất cả nước Trong thành tích chung
đó có đóng góp không nhỏ của tinh thần và năng lực lãnh đạo của cán bộ
nữ, sức mạnh vùng dậy mạnh mẽ của đông đảo phụ nữ tỉnh Hải Dương Trong cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của
Đoàn Phụ nữ cứu quốc (1946) và Hội LHPN tỉnh (thành lập 1947), phụ nữ
tỉnh Hải Dương đã tích cực tham gia mọi lĩnh vực của cuộc kháng chiến
toàn dân, toàn diện Chị em là lực lượng quan trọng tích cực lao động sản
xuất góp phần xây dựng một hậu phương an toàn, vững chắc cho cuộc kháng chiến trên địa bàn tỉnh Trong vùng địch hậu tạm chiếm, nhiều phụ
nữ tỉnh Hải Dương gan dạ, mưu trí trở thành điểm tựa che chở, nuôi dưỡng, bảo vệ nhiều cán bộ hoạt động an toàn ngay trong lòng địch Bên cạnh đó,
với truyền thống giặc đến nhà đàn bà cũng đánh phụ nữ tỉnh Hải Dương
còn trực tiếp tham gia kháng chiến, từ những lĩnh vực phát huy được khả năng, ưu thế riêng của phụ nữ như giao thông, liên lạc, binh - địch vận, đấu tranh chính trị đến việc trực tiếp cầm vũ khí đánh giặc Phụ nữ Hải
Dương rất tự hào về trung đội nữ du kích Mê Linh, nữ du kích Đường 5, nữ
Trang 33du kích Thành Đông với những phong trào diệt tề trừ gian, đánh mìn đường sắt và đặc biệt là phong trào đòn gánh đánh Tây với nhiều chiến
công vang dội tại thônTú La (Cẩm Giàng), chợ Chương (Thanh Miện), chợ Ngái (Tứ Kỳ) khiến quân thù kinh hồn, bạt vía [97]
Qua 9 năm kháng chiến, Hội LHPN và phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương
đã trưởng thành và lớn mạnh không ngừng Từ 2 vạn hội viên năm 1946 đã tăng lên trên 7 vạn hội viên vào năm 1954 [97, tr.103] Hội đã tổ chức nhiều phong trào phụ nữ sôi nổi, mạnh mẽ góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc, đánh đuổi hoàn toàn thực dân Pháp ra khỏi đất nước, lập lại hòa bình cho miền Bắc Cùng với nhân dân tỉnh Hải Dương xây dựng lại quê hương sau hoà bình lập lại (1954), phụ nữ là lực lượng tích cực tham gia cải cách ruộng đất, tham gia xây dựng tổ đổi công, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Trong giai đoạn
1965-1975, phụ nữ tỉnh Hải Dương đã tích cực hưởng ứng phong trào ba đảm đang do Hội LHPN Việt Nam phát động Trên 30 vạn phụ nữ tỉnh Hải Dương
từ thành thị đến nông thôn, người người đều hăng hái thi đua thực hiện phong trào, nỗ lực không ngừng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đảm đang trong công tác lẫn gánh vác công việc gia đình Gần 3 vạn bà mẹ tỉnh Hải Dương đã động viên từ 1- 4 con lên đường chiến đấu
và đã không được đón con trở về Trên 8 vạn phụ nữ tỉnh Hải Dương có chồng
đi chiến đấu, hàng trăm gia đình có từ 3-4 con cùng tại ngũ và hàng vạn nữ thanh niên toàn tỉnh đã gia nhập thanh niên xung phong, dân quân tự vệ và bộ
đội chủ lực Ở lại hậu phương, hàng chục vạn phụ nữ chắc “tay búa- tay súng”,
“tay cày - tay súng”, thay thế nam giới lao động sản xuất, phấn đấu hoàn thành
vượt mức kế hoạch, làm nên những cánh đồng 5 tấn, 7 tấn, chi viện cho chiến trường, đồng thời chiến đấu và phục vụ chiến đấu đánh trả hàng trăm lượt máy bay Mỹ, bảo vệ quê hương [102, tr.190-191]
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước được độc lập,
thống nhất, quá độ đi lên CNXH Phát huy truyền thống Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, cùng với phụ nữ cả nước, phụ nữ tỉnh Hải Dương trên
Trang 34từng lĩnh vực, từng vị trí công tác đã có nhiều tiến bộ mới, tiếp tục chứng minh
và khẳng định vai trò, vị trí, khả năng và sự đóng góp to lớn của mình trong gia
đình và xã hội Trong 10 năm (1978-1988) thực hiện phong trào Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, 8000 phụ nữ tỉnh Hải Dương được Hội
LHPN Việt Nam tặng huy hiệu, 22.000 chị được bình bầu là phụ nữ tài năng, hàng ngàn chị được công nhận là chiến sỹ thi đua, phong trào phụ nữ tỉnh liên tục được Hội LHPN Việt Nam tặng cờ và bằng khen đơn vị xuất sắc nhất [102 tr.86] Từ năm 1986 đến năm 1996, 10 năm sau đổi mới, sự tham gia của phụ
nữ trong các lĩnh vực góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân trong tỉnh đạt nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, làm cho vị thế của tỉnh được nâng lên, diện mạo quê hương ngày càng tươi sáng
* Những vấn đề đặt ra đối với công tác Hội và phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương
Trước năm 1997, phong trào phụ nữ và công tác Hội Phụ nữ tỉnh Hải Hưng ( Hải Dương sáp nhập cùng tỉnh Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng từ năm
1968 Đến năm 1997, tỉnh Hải Dương được tái lập) tuy đã đạt được một số thành tích đáng ghi nhận, bước đầu đổi mới hoạt động theo tinh thần Nghị quyết của Hội LHPN Việt Nam và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Hưng, nhưng kết quả đạt được còn chưa rõ nét, chưa theo kịp với yêu cầu của thời kỳ mới, thậm chí còn những hạn chế đáng kể trong ND, PT vận động phụ nữ Một
số cấp Hội tuy có chuyển biến về nhận thức nhưng hoạt động còn lúng túng, dàn trải Việc đổi mới ND, PT hoạt động của Hội chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của các đối tượng phụ nữ Một bộ phận cán bộ Hội nhận thức chưa đầy đủ về yêu cầu công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, thiếu kiến thức, kỹ năng và tư duy đổi mới, làm việc theo lối hành chính, chưa thực sự nhiệt tình, tâm huyết với công tác Hội, sự nghiệp bình đẳng giới Nghị quyết Đại hội Phụ nữ tỉnh Hải Dương lần thứ XII (1997) nhận định:
Nội dung hoạt động còn chung chung, dàn trải, chưa có trọng tâm, trọng điểm, thiếu những nội dung hoạt động thiết thực quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của hội viên PN, hiệu quả hoạt động
Trang 35chưa cao; Tính kế hoạch hóa còn yếu, phương thức hoạt động thiếu linh hoạt, năng động, nhiều hoạt động còn mang nặng tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, còn có biểu hiện hành chính hóa, chưa thực sự thiết thực để đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu của phụ nữ [95, tr.17] Điều đó thể hiện qua một số điểm hạn chế trong kết quả hoạt động của Hội Phụ nữ tỉnh Hải Hưng từ 1992-1996: tỷ lệ tập hợp thu hút hội viên tham gia sinh hoạt mới đạt 65.08%, chưa tập hợp được đông đảo đối tượng
nữ thanh niên, phụ nữ cao tuổi, phụ nữ làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nữ doanh nhân, phụ nữ tiểu thương Trong chỉ đạo chưa quan tâm đúng mức đến tổng kết, kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm Một
số cơ sở Hội chậm đổi mới, thiếu chủ động, nội dung hoạt động chưa thiết thực, chưa đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của đông đảo phụ nữ Đội ngũ cán bộ nữ chủ chốt các cấp giảm, trình độ năng lực đội ngũ cán bộ Hội, cán bộ nữ công cơ sở nhìn chung thấp so với yêu cầu trong thời kỳ CNH, HĐH Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chính trị, xã hội của PN còn thấp so với nam giới; diện lao động nông nghiệp hầu như không được đào tạo Điều kiện làm việc, đời sống sức khoẻ của lao động
nữ chưa được cải thiện, thu nhập không ổn định Trong công tác phối hợp liên ngành, mặc dù Hội có nhiều cố gắng song ở một số việc, một số cơ sở
sự phối hợp chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao Còn một bộ phận phụ nữ tự
ti, thụ động, thiếu nghị lực và ý chí phấn đấu vươn lên Số ít phụ nữ ảnh hưởng của lối sống thực dụng, cá nhân, xa rời đạo lý dân tộc, vi phạm pháp luật, sa vào các tệ nạn xã hội như mại dâm, buôn bán phụ nữ Một bộ phận phụ nữ do hạn chế về nhận thức chính trị, thiếu hiểu biết pháp luật, bị lôi kéo kích động, đã tham gia vào khiếu kiện gây mất trật tự xã hội [95] Nguyên nhân của những hạn chế trên nằm chính trong phong trào phụ
nữ và hoạt động của tổ chức Hội Phụ nữ Tuy nhiên, xét về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác phụ nữ nói chung, việc đổi mới ND, PT
Trang 36hoạt động của Hội LHPN nói riêng cũng còn nhiều vấn đề cần quan tâm hơn nữa Ngày 12-7-1993, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW
về tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, nhưng cho đến
trước năm 1997, Tỉnh ủy chưa khi nào xây dựng, ban hành Nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo công tác phụ nữ Nghị quyết số 04 - NQ/TW của Đảng đã thể hiện rõ quan điểm bình đẳng nam - nữ, coi trọng công tác phụ
nữ, nhưng trong thực tế tại địa phương, vấn đề này vẫn chưa được nhận thức đầy đủ, chủ trương, chính sách đều chậm Một số chủ trương, chính sách được ban hành nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ lại thiếu cơ chế, biện pháp cụ thể, nên hiệu quả thực hiện kém
Từ khi tái lập tỉnh (1997), trước quyết tâm của toàn Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh phấn đấu xây dựng một tỉnh Hải Dương mới: phát triển, tiến
bộ, văn minh , xuất phát từ thực trạng hoạt động của Hội, yêu cầu đổi mới
ND, PT hoạt động đã trở thành yêu cầu bức thiết của các cấp Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương, mong muốn của đông đảo hội viên phụ nữ trong tỉnh,
đồng thời cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng bộ tỉnh 1.1.4 Chủ trương của Đảng về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, trước tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến đổi phức tạp, Đảng đã hoạch định đường lối đổi mới toàn diện đất nước Để Hội LHPN phát huy vai trò huy động sự đóng góp của các tầng lớp phụ nữ vào sự nghiệp đổi mới của đất nước, đồng thời chăm lo đến lợi ích thiết thân của phụ nữ và từng bước đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ, hơn lúc nào hết việc đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam đã trở thành nhiệm vụ hàng đầu hết
sức cần thiết
Trang 37Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đánh dấu một bước đổi mới quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực Với mục tiêu khai thác mọi tiềm năng của đất nước, giải phóng năng lực sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phát huy nhân tố con người Việc con người được coi vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển xã hội đã mở ra cho phụ nữ Việt Nam con đường phát triển để tiến tới bình đẳng cùng nam giới Nghị quyết Đại hội khẳng định:
Phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng có những đặc điểm cần chú
ý Để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong
cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hóa thành chính sách, luật pháp Tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp được nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc [70, tr.116]
Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, tháng 3 năm 1990, Hội nghị lần thứ tám BCH Trung ương Đảng khóa VI ban hành Nghị quyết 8b-
NQ/TW về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”, trong đó xác định các đoàn thể ở cơ sở cần: Coi
trọng việc tập hợp quần chúng bằng những hình thức linh hoạt, hoạt động theo những nội dung thích hợp Đảng cần hướng dẫn sự đổi mới nội dung hoạt động của các đoàn thể và tổ chức quần chúng vào việc đoàn kết đoàn viên, hội viên cùng chăm lo lợi ích thiết thực của mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước, xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng
Chỉ thị số 62/CT-TW ngày 25-6-1990 của Ban Bí thư về thực hiện Nghị quyết 8b/ NQ-TW yêu cầu: các đoàn thể quần chúng ở cơ sở định rõ chức năng, cải tiến phương thức hoạt động, đề ra nhiệm vụ của tổ chức mình để đem lại lợi ích thiết thực cho đoàn viên, hội viên
Trang 38Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng ban hành các nghị quyết, chỉ thị về công tác vận động phụ nữ Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 12-
7-1993 của Bộ Chính trị về "Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới" xác định các nội dung công tác lớn, trong đó có công tác đổi mới nội dung tổ chức và phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam Nghị quyết yêu cầu: đa dạng hóa các hình thức tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của Hội theo lứa tuổi, ngành nghề, sở thích, vùng, miền, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, hướng dẫn các tầng lớp phụ nữ hoạt động theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh Thực hiện Nghị quyết, ngày 29-9-
1993, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 28/CT-TW giao nhiệm vụ cho Đảng đoàn Hội LHPN Việt Nam giúp Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo phong trào phụ nữ, đổi mới nội dung, tổ chức và phương thức hoạt động của Hội LHPN
Tiếp tục thực hiện tốt hơn Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 16-5-1994
Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 37-CT/TW “Một số vấn đề cấp bách về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” Chỉ thị một lần nữa thể hiện
quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển của phụ nữ Việt Nam, trong đó công tác cán bộ là khâu then chốt
Tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Đảng tiếp tục nhấn mạnh một số nhiệm vụ chủ yếu trong công tác vận động phụ nữ:
Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000; đặc biệt coi trọng việc đào tạo nghề, tạo việc làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe phụ
nữ, trẻ em; quan tâm phát triển Đảng và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
nữ, tăng tỷ lệ cán bộ nữ trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ở các cấp, các ngành [77, tr.109]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng tiếp tục đổi mới
tư duy về công tác vận động phụ nữ, với các quan điểm, chủ trương phù hợp với tình hình mới, nhất là việc thực hiện luật pháp, chính sách bình đẳng giới:
Trang 39Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp, chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn, có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo
và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc [79, tr.126]
Cùng với việc lãnh đạo công tác phụ nữ thông qua các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền trong cả nước đã thể chế hóa những chủ trương này thành các quy định có tính pháp lý, tạo điều kiện cho Hội LHPN các cấp hoạt động, thực hiện tốt công tác vận động phụ nữ Sau hai năm thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội, ngày 19-9-1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 163/HĐBT quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc bảo đảm cho các cấp Hội LHPN Việt Nam tham gia quản lý nhà nước Đây là văn bản pháp lý nhà nước, thể chế hóa quan hệ hợp tác, phối hợp giữa các cấp chính quyền với các cấp Hội thành những qui định cụ thể, tạo điều kiện để Hội LHPN tham gia cùng các cơ quan nhà nước xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, bàn bạc giải quyết các vấn đề về chính sách luật pháp có liên quan đến phụ nữ, thực hiện có hiệu quả hơn chức năng đại diện bảo vệ quyền lợi phụ nữ, trẻ em Ngày 7-11-1994, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 646-CT/TTg về
việc thành lập tổ chức "Vì sự tiến bộ của phụ nữ" ở các bộ ngành và địa
phương Tiếp đó, tháng 1 năm 2002, Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết
định số 19- QĐ/TTg về việc phê duyệt: “Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010” Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1994 (sửa đổi năm 2013), đã dành
riêng chương X "Những quy định riêng đối với lao động nữ"
Như vậy, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới, những định hướng về đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN được thể
Trang 40hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Đại hội Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới Thực hiện các chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ chính là những vấn đề chiến lược, thiết thực mà cấp ủy, chính quyền, các cấp, các ngành, các đoàn thể phải nỗ lực thực hiện Trong đó trước hết và trực tiếp
là Hội LHPN Việt Nam cần đổi mới ND, PT hoạt động, hướng mạnh về cơ
sở, thu hút đông đảo phụ nữ thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng của của các tầng lớp phụ nữ; xây dựng Đảng, Nhà nước, góp phần tăng cường mối quan
hệ mật thiết giữa phụ nữ, nhân dân với Đảng và Nhà nước; tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân tộc
1.1.5 Quá trình phát triển nhận thức về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam (1997-2005)
Trên cơ sở những quan điểm, chủ trương của Đảng; sự biến đổi tình hình chung trong nước, quốc tế; nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ và thực trạng phong trào phụ nữ, hoạt động của Hội LHPN các cấp, tại các kỳ Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc, vấn đề đổi mới ND, PT hoạt động của Hội đều được đề cập và được cụ thể hóa vào các nhiệm vụ/chương trình hoạt động trọng tâm của Hội trong nhiệm kỳ
Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ VI (1987) xác định:
Phải chuyển mạnh hoạt động thiết thực của Hội xuống cơ sở, địa bàn dân cư, đi sâu vào từng đối tượng phụ nữ; tập trung mọi hoạt động của Hội vào việc chăm lo đời sống mọi mặt của phụ nữ Đổi mới trong công tác chỉ đạo dọc trong hệ thống Hội kết hợp với phối hợp ngang giữa cấp Hội với cơ quan chính quyền, ban, ngành và các đoàn thể quần chúng khác [116, tr.45 - 47 ]