1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay

95 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 674,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi Cách mạng thành công, nhân dân các bộ tộc Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào giành được quyền làm chủ đất nước và trong ngày mồng 2 tháng 12 năm 1975 đã thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHĐCN) Lào. Đó là nhà nước kiểu mới - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.

Trang 1

LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng hoạt động

của Uỷ ban pháp luật của Quốc

hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau khi Cách mạng thành công, nhân dân các bộ tộc Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào giành được quyền làm chủ đất nước và trong ngày mồng 2 tháng 12 năm 1975 đã thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHĐCN) Lào Đó là nhà nước kiểu mới - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân

Để đảm bảo quyền làm chủ đất nước của nhân dân các bộ tộc Lào và đáp ứng những yêu cầu mới trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động các cơ quan quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) Quốc hội là một trong ba quyền lực đó Quốc hội có chức năng và vị trí rất quan trọng Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và pháp luật, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước

Theo chủ trương và đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân và vì dân, từng bước quản lý nhà nước bằng pháp luật, yêu cầu đó đòi hỏi phải kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, trong đó chức năng lập pháp phải được đẩy mạnh hơn nữa để đáp ứng yêu cầu mới của Đảng và Nhà nước, để thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật phù hợp với đời sống xã hội hiện nay

Uỷ ban pháp luật là một trong những cơ quan của Quốc hội có chức năng nhiệm

vụ tham mưu cho Quốc hội trong công tác lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Uỷ ban pháp luật phải được nâng cao chất lượng về tổ chức

và hoạt động nhằm làm tốt chức năng nhiệm vụ của mình, làm sáng tỏ, phát huy những giá trị của dân chủ đại diện, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân

Vì vậy, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Trang 3

là đòi hỏi cấp bách cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn Bởi vậy, tác giả lựa chọn đề

tài: “Nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước Cộng

hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội nói chung và nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật nói riêng đã và đang được các nhà nghiên cứu khoa học Lào và Việt Nam quan tâm đến, nhưng vấn đề này ở Việt Nam không phải là vấn đề mới vì có nhiều nhà nghiên cứu khoa học nghiên cứu từ lâu ở Lào, vấn đề này là vừa được nghiên cứu chính thức chỉ là một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến trong vài năm vừa qua

Những công trình khoa học nghiên cứu đến đề tài này như sau:

- Tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, Nxb CTQG, năm 1993

- Quyền giám sát tối cao của Quốc hội, luận án tiến sỹ (1995) của Phạm Ngọc

Kỳ, Viện Nhà nước và pháp luật

- Nhân dân lao động thực thi quyền lực chính trị thông qua cơ quan dân cử của

Nguyễn Viết Bé, Nxb CTQG, Hà Nội năm 1998

- Chức năng lập pháp của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

luận văn thạc sỹ (1998) của Phạm Thị Tình, trường Đại học Luật Hà Nội

- Hoàn thiện quy trình xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

trong hoạt động của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luận văn

thạc sỹ (2001) của Nguyễn Quốc Thắng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

- Đổi mới tổ chức bộ máy Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

luận văn thạc sỹ (2001) của Trần Thị Thanh Mai, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

- Nâng cao chất lượng và hiệu lực của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước

CHXHCN Việt Nam, luận văn thạc sỹ (2002) của Nguyễn Thị Dung, Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh

- Tăng cường vai trò của Quốc hội trong việc đảm bảo quyền lực chính trị của

nhân dân lao động ở nước CHDCND Lào, luận văn thạc sỹ (2004) của Xải U Phun Xả

Ly, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Luận văn có mục đích nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt

động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, đề xuất những phương hướng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, góp phần vào việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân ở nước CHDCND Lào

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội

- Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội trong công cuộc đổi mới hiện nay

- Đề xuất những phướng hướng và giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu luận văn là hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước CHDCND Lào

- Thời gian xem xét chủ yếu là từ năm 2002 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, chủ trương đường lối đổi mới của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của triết học Mác Lênin, phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, khảo sát thực tiễn so sánh, điều tra xã hội học…

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Trang 5

7 ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn sẽ góp phần hoàn thiện về phương diện lý luận về việc nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước CHDCND Lào trên cơ sở góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy về nhà nước và pháp luật trong các trường đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước về nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Chương 1

Cơ sở lý luận nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước Cộng hòa

dân chủ nhân dân Lào

1.1 Sự hình thành và phát triển của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

1.1.1 Sự hình thành của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là đất nước có lịch sử vẻ vang trên con đường đấu tranh chống ngoại xâm, nhiều thế hệ sinh sống có lòng yêu nước, hy sinh dũng cảm để giành độc lập tự do cho dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào phong trào cách mạng Lào từng bước lớn mạnh, trải qua nhiều năm đấu tranh ác liệt gian khổ nhân dân Lào đã giành được độc lập tự do, từ địa vị nô lệ, nhân dân các bộ tộc Lào đã được làm chủ đất nước, lật đổ chính quyền cũ và giành được chính quyền

Trang 6

về tay mình Tại Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ nhất khai mạc trọng thể tại Thủ đô Viêng Chăn từ ngày mồng 1 - 2 / 12 / 1975 nhân dân Lào đã tuyên bố với thế giới sự ra đời của nước CHDCND Lào và khẳng định ý chí và nguyện vọng của nhân dân các bộ tộc Lào là chấm dứt chế độ cũ Đại hội đã nhất trí đơn xin thoái vị của Vua, đơn xin giải thể Hội đồng quốc gia chính trị Liên hiệp và Chính phủ liên hiệp lâm thời Đại hội đã thông qua nghị quyết về tên Nhà nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, ngôn ngữ và chính thức tổ chức Nhà nước [33, tr.1004]

Cơ cấu quyền lực nhà nước tối cao đầu tiên của nước CHDCND Lào do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ nhất bầu ra và thông qua vào ngày 2 tháng 12 năm

1975 Hệ thống chính trị cách mạng đầu tiên của nước CHDCND Lào được tổ chức và hoạt động theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" Các bộ phận cấu thành trong hệ thống chính trị gồm có: Đảng, Nhà nước, Hội đồng nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Lào và các tổ chức quần chúng, trong cấu trúc đó bộ phận chiếm vị trí quan trọng nhất là Hội đồng nhân dân (HĐND) tối cao

Cơ cấu Nhà nước đầu tiên của nước CHDCND Lào gồm có:

Dựa vào thực tiễn của đất nước, CHDCND Lào đầu tiên được tổ chức theo quy định tại Điều 1 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân tối cao đầu tiên 1978 (khi đó chưa

Trang 7

- Hội đồng nhân dân tỉnh - thành phố;

- Hội đồng nhân dân huyện;

- Hội đồng nhân dân xã

Hội đồng nhân dân tối cao khóa I hoạt động với nhiệm kỳ đặc biệt kéo dài gần

14 năm (1975 - 1889), được tổ chức và hoạt động trong điều kiện cả nước vừa phải hoàn thành cách mạng giải phóng, thống nhất đất nước, vừa thực hiện từng bước cải cách dân chủ, hoàn thiện bộ máy nhà nước để góp phần quan trọng vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Số đại biểu Hội đồng nhân dân tối cao (Quốc hội) khóa I được bầu gồm 45 đại biểu, trong đó có 4 đại biểu nữ, 1 Chủ tịch, 4 Phó Chủ tịch và 1 Tổng Thư ký thường trực, 13 ủy viên thường vụ và có 3 ủy ban: ủy ban dự án hiến pháp, ủy ban dự án nghị định sắc lệnh - Luật bầu cử và ủy ban Kế hoạch và ngân sách; đồng thời còn có Văn phòng giúp việc Quốc hội Với trách nhiệm là đại biểu của nhân dân, Quốc hội thực sự trở thành nơi phản ánh mọi tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Các đại biểu Quốc hội được nhân dân bầu ra thực sự trở thành người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân các bộ tộc Lào

Hội đồng nhân dân tối cao khóa II được bầu ngày 26 tháng 03 năm 1989 có số đại biểu là 79, trong đó có 5 đại biểu nữ HĐND Tối cao khóa II ngoài các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch còn có thêm Uỷ ban thường vụ (UBTV) và các ban phụ trách các lĩnh vực quan trọng của đất nước trong đó có Uỷ ban pháp luật

Chủ tịch HĐND Tối cao khóa II không kiêm chức Chủ tịch nước như khóa I, chỉ phụ trách vụ của mình đó là cơ quan lập pháp tối cao HĐND Tối cao khóa II được

tổ chức và hoạt động trong giai đoạn đổi mới đất nước, thực hiện vai trò trọng yếu trong việc thể hiện hóa những chủ trương đường lối của Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ IV, HĐND Tối cao đã ban hành Hiến pháp, Hiến pháp đầu tiên của nước CHDCND Lào và 22 đạo luật điều chỉnh các quan hệ xã hội theo từng lĩnh vực cụ thể

Hệ thống tổ chức HĐND Tối cao khóa II được tổ chức và hoạt động theo ba cấp như sau:

- HĐND Tối cao;

- HĐND tỉnh - thành phố;

Trang 8

- HĐND huyện

HĐND Tối cao khóa I như trên đã nói được tổ chức hoạt động theo 4 cấp, bởi

vì điều kiện đất nước mới giải phóng bộ máy chính quyền địa phương vẫn giữ nguyên theo hình thức nhà nước khu giải phóng Đến HĐND Tối cao khóa II đã thay đổi, nhất

là bỏ HĐND cấp xã

Quốc hội nước CHDCND Lào chính thức đã ra đời vào ngày 20 tháng 12 năm

1992, gồm có 85 đại biểu, 8 đại biểu nữ, có một Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 8 ủy viên Thường vụ và 6 ủy ban: ủy ban thư ký, ủy ban kinh tế và kế hoạch tài chính, Uỷ ban pháp luật, ủy ban văn hóa-xã hội, ủy ban dân tộc và ủy ban đối ngoại, đồng thời còn có Văn phòng giúp việc Quốc hội

Quốc hội đã có những thay đổi nhất định về tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1991, dựa trên thực tiễn của đất nước và phù hợp với tinh thần đổi mới, Quốc hội đã thống nhất quyết định HĐND Tối cao 3 cấp chuyển thành Quốc hội một cấp Nhằm thực hiện vị trí, vai trò, và nhiệm vụ của mình, Điều 39 Hiến pháp

1991 xác định rõ: Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ quan có quyền lập hiến, lập pháp, có quyền giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước [34, tr.8]

Ngày 21 tháng 12 năm 1997, Quốc hội khóa IV được bầu ra gồm có 99 đại biểu, 21 đại biểu nữ, có 1 Chủ tịch, 3 Phó Chủ tịch (1 nữ) 7 ủy viên thường vụ có 6 ủy ban như Quốc hội khóa III, nhưng bỏ ủy ban thư ký và thành lập thêm ủy ban quốc phòng, an ninh [32, tr.5]

Quốc hội khóa V được bầu vào ngày 24 tháng 4 năm 2002 gồm có 109 đại biểu,

25 đại biểu nữ, 1 Chủ tịch, có 1 Phó Chủ tịch, 7 ủy viên Thường vụ và có 6 ủy ban: Uỷ ban pháp luật, ủy ban kinh tế - kế hoạch và tài chính, ủy ban văn hóa xã hội, ủy ban dân tộc, ủy ban đối ngoại và ủy ban quốc phòng, an ninh Quốc hội tiếp tục thực hiện

vị trí vai trò của mình trên cơ sở Hiến pháp (1991), Hiến pháp sửa đổi năm 2003, Luật

về Quốc hội năm 1993, Luật về Quốc hội sửa đổi năm 2003 và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997, phát huy những thành quả đạt được của Quốc hội các khóa trước Quốc hội khóa V đã có những đổi mới đáng kể, tiến hành tương đối đồng bộ, khẩn trương

và có hiệu quả trên quy mô rộng lớn trong nhiệm vụ và quyền hạn của mình

Trang 9

1.1.2 Sự phát triển của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

1.1.2.1 Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1992

Trong lịch sử Quốc hội nước CHDCND Lào, Uỷ ban pháp luật luôn luôn là bộ phận cấu thành cơ cấu tổ chức của Quốc hội, cũng như Nghị viện các nước, Quốc hội không thể hoạt động được nếu không có ủy ban chuẩn bị nội dung các báo cáo, tham mưu những vấn đề thuộc nội dung của các dự án luật, những vấn đề quan trọng do các

cơ quan có thẩm quyền trình ra Quốc hội xem xét, thông qua Với những nhiệm vụ chuyên môn khác nhau, mỗi ủy ban của Quốc hội đều có chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình để tạo nên hiệu quả hoạt động của Quốc hội

Quốc hội của bất kỳ nước nào cũng có chức năng làm luật chức năng quyết định ngân sách, chức năng giám sát việc thực thi pháp luật và một số chức năng khác

Qua nghiên cứu hệ thống Nghị viện các nước trên thế giới cho thấy, việc thành lập các ủy ban trong Nghị viện các nước thường dựa trên các bộ tương đương của Chính phủ nhưng hầu hết Nghị viện nào cũng có những ủy ban chủ chốt như ủy ban về pháp luật, kinh tế, ngân sách ở Việt Nam, Uỷ ban pháp luật là một trong 7 ủy ban và Hội đồng dân tộc của Quốc hội, Uỷ ban pháp luật có vị trí quan trọng góp phần vào việc giúp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trong công tác lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

ở Quốc hội Trung Quốc có 8 ủy ban chuyên môn Trong đó ủy ban luật pháp có

vị trí quan trọng Nghị viện Cộng hòa Pháp có Uỷ ban pháp luật phụ trách về các lĩnh vực luật dân sự, luật hình sự, luật xí nghiệp, đoàn thể, chính quyền địa phương ở cả Thượng viện và Hạ viện Nghị viện Liên bang Australia có các ủy ban Thượng viện nghiên cứu chi tiết các dự án luật và kiểm tra tính xác thực của các bản thẩm tra dự án luật

Nghị viện Canada có ủy ban liên hợp Thường trực, chuyên xem xét các nghị định của Chính phủ, có các ủy ban lập pháp để xem xét một dự án luật cụ thể và chấm dứt hoạt động khi dự án luật đó được gửi lại cho Hạ viện, Nghị viện Phần Lan có ủy ban Hiến pháp và ủy ban lập pháp Nghị viện Indonexia có ủy ban pháp chế và Văn phòng luật sư…

Trang 10

và vẫn còn tàn quân của chính quyền cũ hoạt động chống lại chế độ mới Một số nơi còn có tình trạng nhân dân không hiểu biết chủ trương, đường lối của chế độ mới, Nhà nước cũng chưa kịp ban hành các đạo luật, Nhà nước đã tạm thời quản lý kinh tế - xã hội bằng các chỉ thị, thông tư, sắc lệnh và đường lối của Đảng Nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương là chú trọng hai nhiệm vụ

cơ bản:

- Tổ chức và động viên rộng rãi, phát huy dân chủ nâng cao trình độ nhận thức của nhân dân về chính trị, về tinh thần yêu nước, yêu giai cấp, yêu chế độ mới, cùng nhau xây dựng và bảo vệ chế độ Cộng hòa dân chủ nhân dân non trẻ mới được thành lập

- Đấu tranh chống và trấn áp những kẻ có âm mưu phản cách mạng, những người có tội ác to lớn đối với nhân dân, xóa bỏ tận gốc những tàn dư tệ nạn của xã hội

Đứng trước tình hình đất nước còn có nhiều khó khăn như vậy HĐND tối cao khóa I đã tập trung vào việc khôi phục đất nước sau chiến tranh đã làm cho việc lập Hiến pháp bị tạm dừng, ủy ban dự án Hiến pháp không được hoạt động theo nhiệm vụ được đề ra

Đến cuối nhiệm kỳ của HĐND tối cao khóa I, tình hình kinh tế - chính trị và xã hội đã ổn định, cũng là lúc Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng NDCM Lào được

mở ra (1986) Đại hội lần này đã ban hành chính sách đổi mới đất nước toàn diện, trong đó việc quản lý nhà nước bằng pháp luật đã được đề cao Trong Văn kiện của Đại hội đã khẳng định: “Muốn quản lý nhà nước được là không có cách nào khác phải xây dựng

Trang 11

Sự phát triển của xã hội đang đòi hỏi Nhà nước Lào phải xây dựng và không ngừng cải cách các bộ máy quản lý để đủ khả năng đáp ứng việc xây dựng hệ thống pháp luật Công việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo và sắp xếp

bộ máy cán bộ công chức, quản lý và tạo điều kiện quản lý mọi hoạt động của xã hội

đi theo chủ trương, đường lối của Đảng

Dưới sự lãnh đạo sáng suất của Đảng, cùng với chính sách đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV và tình hình ổn định của đất nước trong giai đoạn mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động trở lại của ủy ban dự án Hiến pháp ủy ban đã bắt đầu việc chuẩn bị cho soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước CHDCND Lào

HĐND tối cao khóa II đã được thành lập Uỷ ban pháp luật trên cơ sở kết hợp 2

ủy ban là ủy ban dự án Hiến pháp và ủy ban dự án sắc lệnh và luật bầu cử Uỷ ban pháp luật của HĐND tối cao khóa II có nhiệm vụ quan trọng là tham mưu cho Uỷ ban thường vụ HĐND tối cao trong việc soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên và một số dự án luật Uỷ ban pháp luật đã góp phần quan trọng trong việc soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên Bản Hiến pháp này đã được quần chúng nhân dân góp ý kiến rộng rãi và cũng là lần đầu tiên có sự đồng ý của nhân dân tham gia soạn thảo bản Hiến pháp Bản Hiến pháp đã tổng kết những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và xây dựng đất nước Lào Quy định chế độ chính trị, chế độ kinh tế và chế độ xã hội, quyền

và nghĩa vụ cơ bản của công dân và hệ thống bộ máy nhà nước, đồng thời quy định quyền làm chủ của nhân dân Bản Hiến pháp được đại biểu HĐND tối cao khóa II thảo luận nhiều lần và đến cuối nhiệm kỳ đã được thông qua vào ngày 14/8/1991 tại kỳ họp thứ 6, và được công bố chính thức ban hành vào ngày 15/8/1991 Đó là cơ sở pháp lý vững chắc để xây dựng bộ máy nhà nước và là một văn bản luật cơ bản đầu tiên, thể hiện đường lối đổi mới của Đảng NDCM Lào, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hệ

Trang 12

thống pháp luật cho các nhiệm kỳ Quốc hội tiếp theo, bảo đảm cho các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp hoạt động có hiệu quả trong tình hình mới

1.1.2.2 Giai đoạn từ năm 1992 đến nay

Phải mất gần 16 năm sau khi giải phóng đất nước, Nhà nước CHDCND Lào mới xây dựng được bản Hiến pháp vì nhiều lý do trong và ngoài nước, từ sự sụp đổ của Liên Xô

và các nước XHCN ở Đông Âu, sau đó là sự ra đi của ông Chủ tịch Cay Xỏn Phôm Vi Hản (21/11/1992) - vị lãnh tụ trong công cuộc cách mạng giải phóng đất nước Ông là người khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước Trước tình hình trong nước và quốc tế có sự biến đổi mạnh mẽ với nhiều thuận lợi cũng như khó khăn thử thách Trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn đổi mới như vậy CHDCND Lào cần phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, xác định phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, cải cách

và hoàn thiện Nhà nước, phát huy dân chủ, giữ vững và phát huy bản chất giai cấp công nhân, từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, và vì dân, dưới

sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào

Giai đoạn này được coi là giai đoạn đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, với việc quy định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội và các ủy ban của Quốc hội, thành lập thêm các ủy ban chuyên môn đặc trách những lĩnh vực rộng lớn của đời sống xã hội, cơ cấu, chất lượng của đại biểu Quốc hội được chú trọng nâng cao Đây cũng là giai đoạn mà những thành quả của công cuộc đổi mới toàn diện được phát huy, những chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước được tập trung thực hiện nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

và cũng đặt ra yêu cầu bức xúc trong đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, bộ máy Nhà nước, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội ngang tầm đòi hỏi và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới

Số lượng thành viên của Uỷ ban pháp luật được tăng cường nhiều hơn Các đại biểu là thành viên ủy ban đều được lựa chọn trên cơ sở bảo đảm hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của ủy ban, có tính đến yếu tố đại diện cho các vùng, miền, ngành và

Trang 13

lĩnh vực công tác nhằm bảo đảm cho hoạt động của ủy ban vừa có tính chuyên môn cao vừa bảo đảm tính đại diện hợp lý và có điều kiện thời gian hoạt động

Thường trực Uỷ ban pháp luật hoạt động chuyên trách, toàn bộ thời gian và công sức phục vụ cho hoạt động của ủy ban và Quốc hội, các đại biểu được lựa chọn là những người có trình độ và kinh nghiệm xây dựng pháp luật, trong hoạt động tư pháp

và một số lĩnh vực chuyên môn khác, có trách nhiệm cao trong công việc và tổ chức hợp lý, khoa học các hoạt động của ủy ban trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao

Uỷ ban pháp luật có bộ máy giúp việc là Cục pháp luật, bao gồm các cán bộ, chuyên viên là những người tốt nghiệp đại học luật ở trong nước và nước ngoài Các điều kiện làm việc như văn phòng, trang thiết bị và cơ sở vật chất cần thiết phục vụ cho hoạt động của ủy ban ngày càng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, bảo đảm để ủy ban thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình

1.2 Chức năng nhiệm vụ của Uỷ ban pháp luật của quốc hội nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào là cơ quan đại diện quyền lực

và lợi ích của nhân dân các bộ tộc, vừa là cơ quan quyền lực nhà nước vừa là cơ quan lập Hiến, có quyền quyết định vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát hoạt động của

cơ quan hành pháp và tư pháp

Quốc hội có các ủy ban giúp việc về nhiều lĩnh vực khác nhau, các ủy ban của Quốc hội là cơ quan tham mưu của Quốc hội và UBTVQH, có nhiệm vụ thẩm tra các

dự án pháp luật, dự án pháp lệnh, giúp Quốc hội và UBTVQH thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước Mỗi ủy ban của Quốc hội đều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình để tạo nên hiệu quả hoạt động của Quốc hội Trong đó Uỷ ban pháp luật là cơ quan tham mưu của Quốc hội và UBTVQH trong lĩnh vực lập hiến, lập pháp Uỷ ban pháp luật được giao quyền thẩm tra, xem xét về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự án luật trước trình Quốc hội xem xét, thông qua, giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, kiến nghị các giải pháp liên quan đến lĩnh vực pháp luật Trong lịch sử của Quốc hội, Uỷ ban pháp luật của Quốc hội các khóa đã góp phần quan trọng vào việc giúp Quốc hội và UBTVQH hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trong công tác lập pháp, giám sát và quyết

Trang 14

định vấn đề quan trọng của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân do Đảng NDCM Lào đã đặt

Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước CHDCND Lào có ba chức năng chính là thẩm tra, giám sát, kiến nghị về lĩnh vực được giao Ba chức năng này không thể tách rời nhau mà luôn luôn gắn kết, hỗ trợ cho nhau Để thực hiện chức năng thẩm tra Uỷ ban pháp luật của Quốc hội phải thực hiện chức năng giám sát, khảo sát và qua công tác giám sát để có thể có những kiến nghị là căn cứ xác đáng phục vụ cho chức năng thẩm tra Qua công tác thẩm tra, giám sát mới đề xuất, kiến nghị với Quốc hội và UBTVQH các giải pháp để thực thi pháp luật hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành cho phù hợp với tình hình thực tiễn

- Chức năng thẩm tra của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước CHDCND Lào Thẩm tra là hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của các ủy ban của Quốc hội do Quốc hội giao nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và các dự án văn bản pháp luật khác trước khi trình Quốc hội, UBTVQH xem xét thông qua Đây là một khâu quan trọng trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội Trong các nhiệm

vụ, quyền hạn được giao thì nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và các dự án, báo cáo khác được coi là nhiệm vụ quan trọng nhất, nó là cơ sở, căn cứ để đưa các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các dự án luật, pháp lệnh hoặc dự thảo nghị quyết để trình Quốc hội, UBTVQH xem xét, sửa đổi hệ thống pháp luật hiện hành nhằm đưa pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, có giá trị điều chỉnh các quan hệ xã hội Tuy nhiên, không nên hiểu đơn thuần nhiệm vụ thẩm tra các dự án chỉ phục vụ cho việc thực hiện chức năng của Quốc hội là hoạt động lập pháp mà còn phục vụ cho cả ba chức năng của Quốc hội

Trang 15

án luật, dự án pháp lệnh và các văn bản trước khi trình Quốc hội, UBTVQH xem xét và thông qua Khi tiến hành hoạt động thẩm tra, Uỷ ban pháp luật có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức báo cáo, trình bày về những vấn đề có liên quan đến dự án được thẩm tra,

có quyền bác bỏ hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc có quyền đề nghị hoãn lại để trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội vào một phiên họp khác Để phục vụ thẩm tra, Uỷ ban pháp luật của Quốc hội có quyền tiến hành một loạt các hoạt động khác như khảo sát, điều tra, xem xét trực tiếp chất vấn, yêu cầu báo cáo về những vấn đề có liên quan đến các

dự án luật, pháp lệnh

- Lĩnh vực thẩm tra của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước CHDCND Lào

Theo Luật về Quốc hội năm 2003 (Điều 33) đã xác định nhiệm vụ thẩm tra của

Uỷ ban pháp luật về lĩnh vực như sau:

+Tổ chức bộ máy nhà nước, hình sự, nhân sự, hành chính và các dự án khác do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao

+Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đề nghị của

cơ quan khác, của tổ chức, của đại biểu Quốc hội về xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị của đại biểu Quốc hội về luật, pháp lệnh

+Các báo cáo của Chính phủ về việc giải quyết khiếu nại, tổ cáo của công dân,

về công tác phòng ngừa và chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác thi hành án, các báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Thẩm quyền trong nhiệm vụ thẩm tra của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước CHDCND Lào căn cứ vào chất lượng dự án được soạn thảo, thông qua quy trình thẩm tra, ủy ban có quyền đưa ra các quyết định sau đây:

Trang 16

+ Tán thành với toàn bộ nội dung và hình thức của dự án Việc tán thành này được thể hiện qua báo cáo thẩm tra hoặc của ủy ban trình ra Quốc hội hoặc UBTVQH Hoạt động thẩm tra của Uỷ ban pháp luật có đạt chất lượng và hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào việc chuẩn bị báo cáo thẩm tra (giai đoạn cuối cùng của quy trình thẩm tra) Hay nói cách khác, báo cáo thẩm tra là kết quả cuối cùng của hoạt động thẩm tra Toàn bộ nội dung của cuộc họp thẩm tra được phản ánh qua báo cáo thẩm tra;

+ Không tán thành với toàn bộ dự án Hậu quả của quyết định này là ngay sau khi cuộc họp thẩm tra, dự án có thể được trình UBTVQH xem xét cho ý kiến ủy ban vẫn trình báo cao thẩm tra và nêu rõ về các nội dung không tán thành để UBTVQH xem xét, quyết định Khi dự án bị Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến chưa trình ra Quốc hội thì cơ quan trình dự án phải chuẩn bị lại, xem xét lại quy trình phân tích chính sách, soạn thảo lại dự án và tiếp tục xin ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền; hoặc có quyền rút khỏi chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

+ Tán thành cơ bản về các nội dung của dự án nhưng đề nghị xem xét các điều kiện bảo đảm thực hiện hoặc sửa đổi về kỹ thuật câu chữ cho phù hợp và dự án được tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện để trình xem xét thông qua

+ Tán thành một số nội dung và yêu cầu cơ quan soạn thảo nghiên cứu sửa đổi một số nội dung, bao gồm cả kỹ thuật lập pháp hoặc những vấn đề về thủ tục Đây là vấn đề thường gặp nhất mà rất ít khi có dự án trình đến các cơ quan của Quốc hội thẩm tra lại được sự ủng hộ nhất trí hoàn toàn về nội dung cũng như hình thức của văn bản Bởi vì, về phía cơ quan soạn thảo bao giờ cũng muốn có những quy định thuận lợi cho hoạt động của mình hoặc vì lợi ích cục bộ nên có những quy định không phù hợp với

hệ thống pháp luật hiện hành Do đó, sau khi tiến hành thẩm tra bao giờ cũng có bước phối hợp giữa cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra, cơ quan tham gia thẩm tra, dự án được trình UBTVQH cho ý kiến thì cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra và Uỷ ban pháp luật (trong trường hợp Uỷ ban pháp luật là cơ quan tham gia thẩm tra) phải tổ chức họp để tiếp thu ý kiến của các thành viên UBTVQH để chỉnh lý dự án

- Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước CHDCND Lào

Báo cáo thẩm tra dự án luật, pháp lệnh là một văn bản do các cơ quan thẩm tra

về dự án được thẩm tra dưới hình thức quy định, có tính chất bắt buộc nhằm bảo đảm

Trang 17

cho quy trình xây dựng luật, pháp lệnh được tiến hành chặt chẽ, khoa học và có hiệu quả

Về mục đích với việc thể hiện quan điểm của cơ quan thẩm tra là cơ quan được Quốc hội giao phụ trách những lĩnh vực chuyên môn thì báo cáo thẩm tra chính là văn bản đánh giá chất lượng của dự án luật, pháp lệnh cả về nội dung và hình thức và một

số trường hợp nêu ra những vấn đề (về lý luận, về pháp luật, về thực tiễn) cùng những giải pháp nhất định để Quốc hội, UBTVQH có cơ sở xem xét, thảo luận và thông qua

dự án Báo cáo thẩm tra còn có sự kiểm tra trước nhằm phát hiện những vi phạm, khiếm khuyết hạn chế với dự báo, phòng ngừa những điểm sai trái có thể có trong dự thảo

Hoạt động thẩm tra của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội có những tính chất tương tự như hoạt động thẩm định của Bộ Tư pháp Tuy nhiên hai hoạt động này có sự khác nhau và có thể phân biệt qua đặc trưng về chủ thể, đối tượng, nội dung vị trí và vai trò của mỗi hoạt động quy trình xây dựng pháp luật Hoạt động thẩm định và thẩm tra mặc dù có những điểm khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau: hoạt động thẩm định là tiền đề có tác dụng hỗ trợ cho hoạt động thẩm tra Nếu hoạt động thẩm định dự án luật, pháp lệnh có chất lượng trước khi trình ủy ban thẩm tra thì

sẽ giảm bớt thời gian và công sức cho cơ quan thẩm tra, góp phần nâng cao chất lượng của dự án luật, pháp lệnh – có thể hiểu thẩm tra của ủy ban thực hiện một loạt các thao tác như xem xét, thẩm tra, khảo sát, điều tra, nghiên cứu, hỏi, chất vấn, thẩm vấn và phối hợp hoạt động với các cơ quan hữu quan đưa ra các dự án luật, pháp lệnh hoặc các dự án khác trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, các điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước, bảo đảm khi dự án được thông qua có chất lượng, bảo đảm điều chỉnh các quan hệ xã hội mà dự luật pháp lệnh hướng tới, thúc đẩy các quan hệ kinh tế – xã hội phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân

- Nội dung cơ bản của báo cáo thẩm tra:

Trang 18

+ Việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo

+ Tính khả thi của dự án;

- Hình thức báo cáo thẩm tra:

+ Nếu căn cứ vào chủ thể của cơ quan thẩm tra:

 Báo cáo thẩm tra của cơ quan thẩm tra;

 Báo cáo thẩm tra của cơ quan tham gia thẩm tra (về những nội dung có liên quan tới lĩnh vực ủy ban phụ trách);

 Báo cáo của Uỷ ban pháp luật (với tư cách tham gia thẩm tra nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật)

+ Nếu căn cứ theo mức độ thẩm tra

 Báo cáo thẩm tra sơ bộ do Thường trực ủy ban tiến hành

 Báo cáo thẩm tra chính thức do toàn thể ủy ban tiến hành

Như vậy, báo cáo thẩm tra là văn bản pháp lý quan trọng thể hiện chất lượng thẩm tra của ủy ban Chất lượng thẩm tra có liên quan đến chất lượng các dự án luật, pháp lệnh và ảnh hưởng rất lớn đến quy trình xem xét, thông qua luật tại kỳ họp Quốc hội

Báo cáo thẩm tra nó không những có giá trị như một văn bản phản biện đối với

cơ quan trình dự án luật mà còn tác động trực tiếp đến các đại biểu Quốc hội trong quá trình phân tích, xem xét thông qua dự án luật, bảo đảm cho quá trình thông qua dự án luật nhanh hơn, có chất lượng cao hơn Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật được với các dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc

Trang 19

hội và UBTVQH thông qua có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân

Một hệ thống pháp luật hợp hiến, hợp pháp và thống nhất, trong đó các văn bản pháp luật tuân theo và không được trái với quy định của Hiến pháp và các đạo luật sẽ bảo đảm được tính tối cao của Hiến pháp và các đạo luật; bảo đảm được vị trí của Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp ở nước CHDCND Lào, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân bầu ra Quốc hội, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí của nhân dân trong cả nước Thực hiện quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân trao cho, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến và lập pháp Tuy nhiên, quyền lập hiến và lập pháp của Quốc hội chỉ có ý nghĩa khi các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước phải được ban hành trên cơ sở căn cứ vào quy định của Hiến pháp và các đạo luật, đồng thời không được trái với các quy định của Hiến pháp và các đạo luật Việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật sẽ bảo đảm trật tự,

kỷ cương trong công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm cho mỗi quy phạm pháp luật đều được xuất phát từ ý chí của Quốc hội, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân và như vậy sẽ bảo đảm được các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân tránh trường hợp mỗi địa phương, mỗi ngành ban hành mỗi loại văn bản khác nhau, không phù hợp với các điều luật, đối lập với lợi ích chung của cả nước

Một hệ thống pháp luật hợp hiến, hợp pháp và thống nhất, trong đó các văn bản pháp luật không có sự chồng chéo, mâu thuẫn nhau các quy định trong mỗi văn bản pháp luật đều rõ ràng, chính xác, sẽ bảo đảm cho việc nhận thức và thực hiện pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất trên toàn quốc Một hệ thống pháp luật không đồng

bộ, mâu thuẫn nhau trong các văn bản pháp luật sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật của công dân và việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, việc đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật không có nghĩa

là các văn bản của các cơ quan nhà nước ở các địa phương đều phải như nhau, không tính đến hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mỗi địa phương các địa phương có thể ban hành các văn bản phù hợp với hoàn cảnh điều kiện ở mỗi địa phương nhưng phải trên

cơ sở quy định của các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và không được trái với

Trang 20

chúng, việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật là điều kiện quan trọng để bảo đảm pháp chế XHCN, trật tự pháp luật, bảo đảm công bằng và ổn định xã hội trong toàn quốc

Quốc hội có quyền ban hành luật, bộ luật cũng có nghĩa là luật hoặc bộ luật do Quốc hội ban hành phải bảo đảm phù hợp với Hiến pháp cả về nội dung và hình thức

Để bảo đảm cho Quốc hội có một dự án luật, bộ luật tương đối hoàn chỉnh trước khi thông qua thì các cơ quan hữu quan phải tuân thủ đầy đủ quy trình từ xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định, trình thẩm tra cho ý kiến và chỉnh lý hoàn thiện dự thảo trước khi thông qua

Luật, pháp lệnh ở CHDCND Lào được giao cho nhiều cơ quan khác nhau soạn thảo và được thể hiện theo nhiều cách, quan niệm và chuẩn mực kỹ thuật cũng khác nhau, Bộ Tư pháp là cơ quan được giao chủ trì soạn thảo một số lĩnh vực tư pháp, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đồng thời được giao thẩm định các văn bản do các Bộ, ngành khác chủ trì soạn thảo Tuy nhiên, mặc dù đã có Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thẩm định các dự án luật, pháp lệnh do các Bộ, ngành dự thảo để Chính phủ xem xét, quyết định về các nội dung của dự án trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua nhưng xu hướng chung thì Bộ, ngành nào được giao soạn thảo văn bản thuộc lĩnh vực của mình cũng đều có xu hướng cục bộ, muốn bảo vệ lợi ích của Bộ, ngành mình Vì thế, cần phải có một cơ quan của Quốc hội thực hiện việc thẩm tra hoặc tham gia thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp

và tính thống nhất của hệ thống Chức năng này theo quy định của pháp luật, Quốc hội giao cho Uỷ ban pháp luật

Để đánh giá về một hệ thống pháp luật cần phải dựa vào nhiều loại tiêu chuẩn khác nhau trong đó có những tiêu chuẩn quan trọng như tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật xây dựng văn bản, một hệ thống văn bản pháp luật hợp hiến, hợp pháp và có tính thống nhất phải bảo đảm được các yêu cầu sau đây:

- Đó là hệ thống pháp luật đồng bộ Trong hệ thống pháp luật đó, các văn bản quy phạm pháp luật không mâu thuẫn chồng chéo nhau mà tồn tại theo thứ bậc và có liên quan chặt chẽ với nhau Các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp và không được trái với các văn bản do cơ quan nhà nước cấp

Trang 21

trên ban hành; các văn bản quy phạm dưới luật khi được ban hành phải căn cứ vào các văn bản luật Không được trái với quy định của Hiến pháp và luật Mọi lĩnh vực quan

hệ xã hội quan trọng và cơ bản đều được các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, không có khoảng trống, không có sự chồng chéo mâu thuẫn trong từng văn bản, trong mỗi ngành luật và giữa các ngành với nhau

- Tính thống nhất của hệ thống pháp luật không chỉ đòi hỏi yêu cầu thống nhất

về mặt nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật mà còn đòi hỏi cả yêu cầu thống nhất về mặt hình thức thể hiện, về kỹ thuật soạn thảo văn bản, các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành phải đáp ứng những quy định quy phạm pháp luật theo quy định của luật pháp Các quy định trong mỗi văn bản quy phạm pháp luật phải được biểu hiện bằng ngôn ngữ diễn đạt phải đơn giản, phổ thông dễ hiểu, tránh trường hợp các quy phạm pháp luật có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau hoặc được diễn đạt quá rườm rà

- Tính hợp hiến của hệ thống pháp luật còn đòi hỏi văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật phải được ban hành theo đúng thẩm quyền và trình tự ban hành văn bản do pháp luật quy định Đối với Hiến pháp và các văn bản luật thì phải có Quốc hội (cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập pháp ban hành) Thủ tục soạn thảo, thông qua công bố Hiến pháp phải theo một trình tự được quy định rất chặt chẽ (so với việc thông qua qua các văn bản luật) do Quốc hội quy định UBTVQH có thẩm quyền ban hành pháp lệnh, nghị quyết, chủ tịch nước ban hành văn bản theo đúng thẩm quyền không chỉ thể hiện ở yêu cầu về mặt hình thức văn bản mà còn đòi hỏi ở yêu cầu về nội dung đối với mỗi loại văn bản, ví dụ như: những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải do Hiến pháp và pháp luật quy định, hoặc việc ban hành mới, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế là thẩm quyền mà Hiến pháp giao cho Quốc hội quy định (tức là phải dưới hình thức văn bản luật)

- Tính hợp hiến của hệ thống pháp luật còn đòi hỏi văn bản pháp luật bảo đảm định hướng chính trị Chính trị là nền tảng của pháp luật, thông qua pháp luật là một biện pháp chính trị, là chính trị Chính vì vậy trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ việc quyết định chương trình đến việc ban hành từng đạo luật pháp lệnh, Quốc hội đều có sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ Chính trị để

Trang 22

bảo đảm cho các văn bản này đi đúng định hướng Do đó, khi tiến hành thẩm tra các

dự án Uỷ ban pháp luật đúng phải luôn luôn quán triệt yêu cầu này

Trên đây là một số yêu cầu cơ bản phải có để xác định một hệ thống pháp luật

là hợp hiến, hợp pháp và thống nhất Đồng thời, chúng tôi cũng cho rằng đối với một

hệ thống pháp luật hoàn thiện thì ngoài yêu cầu hợp hiến, hợp pháp và thống nhất ra thì còn có những yêu cầu cơ bản khác như: yêu cầu về tính toàn diện của hệ thống pháp luật (đòi hỏi mọi lĩnh vực quan hệ xã hội phải được pháp luật điều chỉnh trên cơ

sở xác định một cách toàn diện, đầy đủ những nhu cầu xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật có tính đến những lĩnh vực ưu tiên): yêu cầu về tính phù hợp, hài hòa của hệ thống pháp luật (thể hiện sự tương quan giữa trình độ của hệ thống pháp luật với trình

độ phát triển của kinh tế – xã hội, không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó) Việc xác định rõ những yêu cầu đối với một hệ thống pháp luật được coi là hợp hiến, hợp pháp và thống nhất có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm và những công việc cần phải làm của cơ quan có trách nhiệm, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật

- Phương thức hoạt động thẩm tra của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước CHDCND Lào

Phương thức hoạt động thẩm tra của Uỷ ban pháp luật là hệ thống các hình thức, biện pháp sử dụng để tác động vào quá trình thực hiện chức năng thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Uỷ ban pháp luật nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Vì vậy, phương thức hoạt động thẩm tra có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến mục đích, mức độ hiệu quả hoàn thiện nhiệm vụ Quyền hạn thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Uỷ ban pháp luật

Theo quy định tại Quy chế hoạt động của Uỷ ban pháp luật năm 1999 Uỷ ban pháp luật làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy cuộc họp là nơi thảo luận và quyết định các vấn đề theo đa số, có nghĩa là mọi hoạt động của Uỷ ban pháp luật phải được bàn bạc thảo luận và biểu quyết tại phiên họp của ủy ban Mọi quyết định phải bảo đảm quá nửa tổng số ủy viên ủy ban biểu quyết tán thành mới có giá trị Vì vậy, nguyên tắc hoạt động của Uỷ ban pháp luật là theo chế độ hội nghị và quyết định theo

đa số, phản ánh tính dân chủ trong thực thi quyền lực của Quốc hội Chế độ làm việc

Trang 23

này là một cơ chế hữu hiệu chống mọi sự lạm dụng quyền lực cá nhân vào trong hoạt động của Uỷ ban pháp luật Mọi vấn đề thẩm tra đều phải được thảo luận, bàn bạc dân chủ tại phiên họp thẩm tra, các thành viên ủy ban đều có quyền phát biểu, đưa ra chính kiến, tranh luận, thảo luận về toàn bộ nội dung và hình thức thể hiện của dự án, các chính sách mà dự án hướng tới

Hình thức tổ chức họp thẩm tra của Uỷ ban pháp luật

Theo quy định hiện hành thì hiện nay Uỷ ban pháp luật có hai hình thức thẩm tra dự án luật, pháp lệnh là thẩm tra sơ bộ và thẩm tra chính thức Thẩm tra sơ bộ được tiến hành với các dự án luật, pháp lệnh để trình UBTVQH cho ý kiến còn việc trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật, pháp lệnh thì bắt buộc phải thẩm tra chính thức

- Phiên họp thẩm tra sơ bộ là phiên họp do Thường trực Uỷ ban pháp luật tổ chức bao gồm các thành viên trong Thường trực Uỷ ban pháp luật (Chủ nhiệm và Phó Chủ nhiệm theo nhiệm kỳ Quốc hội) và một số thành viên ủy ban làm việc tại các cơ quan Trung ương Tùy thuộc nội dung của từng dự án mà phiên họp thẩm tra có thể có

sự tham dự của đại diện Thường trực của các ủy ban khác của Quốc hội, đại diện một

số cơ quan, tổ chức hữu quan và đương nhiên phải có mặt của vị Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ- Trưởng ban soạn thảo được Chính phủ ủy quyền để trình bày Tờ trình về nội dung dự án

- Phiên họp thẩm tra chính thức bao gồm toàn thể thành viên ủy ban Thành phần tham dự cũng như phiên họp thẩm tra sơ bộ

Trong trường hợp dự án được giao cho Uỷ ban pháp luật chủ trì thẩm tra các ủy ban khác phối hợp thẩm tra thì phiên họp thẩm tra sơ bộ và phiên họp thẩm tra chính thức cũng đều có đại diện của Thường trực các ủy ban khác của Quốc hội tham gia

Ngoài ra, trên thực tế còn có các phương thức linh hoạt hơn cụ thể như sau:

Họp Thường trực ủy ban kết hợp gửi ý kiến nghiên cứu của Thường trực ủy ban

và các tài liệu có liên quan đến dự án cho các thành viên của ủy ban để xin ý kiến, sau

đó Thường trực ủy ban nghiên cứu, tổng hợp ý kiến phản hồi để chuẩn bị báo cáo thẩm tra

- Họp toàn thể ủy ban chủ trì thẩm tra và ủy ban phối hợp thẩm tra để thẩm tra Phương thức này rất ít khi được các ủy ban áp dụng

Trang 24

- Tiến hành thảo luận tại phiên họp thẩm tra

Sau khi nhận được dự án luật, dự án pháp lệnh, để chuẩn bị cho việc thẩm tra Thường trực ủy ban giao cho tiểu ban hoặc thành viên ủy ban nghiên cứu và chuẩn bị

ý kiến, yêu cầu cơ quan soạn thảo, các cơ quan hữu quan trình bày những vấn đề liên quan, tổ chức lấy ý kiến chuyên gia, lấy ý kiến của các cơ quan chịu sự tác động của

dự án, tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan trình dự án tổ chức khảo sát thực tế Tiếp theo ủy ban tổ chức phiên họp toàn thể ủy ban để thẩm tra hoặc phiên họp Thường trực của ủy ban để thẩm tra sơ bộ và làm báo cáo thẩm tra

Phiên họp toàn thể ủy ban được tổ chức công khai, trong trường hợp cần thiết,

có thể họp nội bộ theo đề nghị của Thường trực ủy ban Việc thẩm tra tiến hành theo trình tự sau đây:

Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc trình dự án, dự thảo báo cáo trình bày

về dự án, dự thảo;

Các đại biểu tham dự phiên họp nêu câu hỏi và đại diện cơ quan, tổ chức trình

dự án trả lời và trình bày bổ sung;

Đại diện Thường trực ủy ban phát biểu ý kiến của tiểu ban được giao nghiên cứu thẩm tra và đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

Thành viên ủy ban thảo luận;

Chủ tọa phiên họp kết luận

Đối với những vấn đề quan trọng và cần thiết thì chủ tọa phiên họp lấy biểu quyết

Trên cơ sở đó Thường trực ủy ban làm báo cáo thẩm tra Báo cáo thẩm tra của

ủy ban được gửi đến Quốc hội, UBTVQH theo thời hạn do pháp luật quy định Trong quá trình thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, trình dự án, dự thảo có thể giải trình, trình bày bổ sung ý kiến để làm rõ vấn đề mà ủy ban, đại biểu tham dự phiên họp thẩm tra nêu hoặc yêu cầu

Thường trực ủy ban có thể tổ chức phiên họp thẩm tra sơ bộ dự án luật, dự án pháp lệnh, dự án khác để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét cho ý kiến trước khi trình Quốc hội Phiên họp thẩm tra sơ bộ được tiến hành theo trình tự quy định như phiên họp toàn thể ủy ban Kết quả thẩm tra của Uỷ ban pháp luật được báo cáo trước

Trang 25

Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội bằng văn bản do Chủ nhiệm ủy ban hoặc Phó Chủ nhiệm ủy ban được Chủ nhiệm ủy ban ủy nhiệm trình bày Trong trường hợp có phối hợp thẩm tra thì trong báo cáo thẩm tra còn phải phản ánh ý kiến của các ủy ban khác

Sau khi Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về các dự án luật, pháp lệnh, Thường trực ủy ban chủ trì thẩm tra phối hợp với cơ quan tổ chức liên quan chỉnh lý dự án trước khi trình Quóc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua Khi tiến hành xem xét, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực ủy ban chủ trì thẩm tra, ủy ban có thể tham khảo ý kiến của các ủy ban khác Trong trường hợp có những vấn đề lớn liên quan tới chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

và các ý kiến tại cuộc họp thẩm tra giữa cơ quan soạn thảo dự án luật với cơ quan chủ trì thẩm tra còn có nhiều ý kiến khác nhau, chưa thống nhất thì các cơ quan này có trách nhiệm báo cáo lên cấp có thẩm quyền để cho ý kiến chỉ đạo trước khi trình báo cáo thẩm tra trước Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Trong hoạt động thẩm tra, ủy ban có quyền yêu cầu các thành viên Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và những cán bộ, công chức khác của Nhà nước cung cấp các tài liệu hoặc đến để trình bày những vấn đề mà ủy ban đang xem xét, thẩm tra Người nhận được yêu cầu của ủy ban có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó Ngoài ra ủy ban có thể tổ chức hội thảo, lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan hữu quan để phục vụ cho hoạt động thẩm tra

Uỷ ban pháp luật của Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp

và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với dự án luật, dự án pháp lệnh, trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua bằng các hoạt động: tham gia thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh do các ủy ban khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra Khi tham gia phiên họp thẩm tra, đại diện Thường trực ủy ban có trách nhiệm báo cáo ý kiến của Thường trực hoặc của ủy ban và có quyền trình bày ý kiến riêng của mình về dự án đó Trong trường hợp có ý kiến khác với cơ quan chủ trì thẩm tra về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với

dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết thì Uỷ ban pháp luật báo cáo Quốc hội,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội về ý kiến của mình

Trang 26

Trong trường hợp cần thiết, ủy ban tổ chức phiên họp riêng để thẩm tra và gửi ý kiến bằng văn bản đến các ủy ban chủ trì thẩm tra hoặc có thể trình bày ý kiến riêng của ủy ban trước Quốc hội, UBTVQH về dự án, dự thảo đó

- ý nghĩa, tầm quan trọng, giá trị pháp lý của hoạt động thẩm tra:

+ Thẩm tra các dự án trước khi trình Quốc hội, UBTVQH thông qua là một khâu quan trọng trong quy trình lập pháp Nâng cao chất lượng thẩm tra chính là góp phần nâng cao chất lượng các dự án luật thông qua, giúp Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp theo Hiến pháp và pháp luật quy định

Thẩm tra là hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của các ủy ban của Quốc hội Việc thẩm tra cắc dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác được thực hiện trước khi trình Quốc hội, UBTVQH xem xét thông qua Đây là một khâu, quan trọng trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, thể hiện sự phân công khoa học, hợp lý

và cần thiết, không chỉ ở nước Lào mà đa số Nghị viện các nước cũng quy định như vậy Hiện nay ở nước Lào các dự án do Chính phủ trình đã được Bộ Tư pháp thẩm định trước theo tiêu chí đã được Chính phủ đề ra cho từng dự án Còn đối với hoạt động thẩm tra của các Uỷ Chính ban của Quốc hội thì quy trình thẩm tra được thực hiện sau khi cơ quan soạn thảo chính thức trình ra Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội

+ Trong điều kiện của Quốc hội nước CHDCND Lào hoạt động không chuyên trách thì càng đòi hỏi tính chuyên trách cao trong các cơ quan tham mưu của Quốc hội, nhất là trong hoạt động xây dựng pháp luật Quốc hội bao gồm các đại biểu nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực chuyên môn, hơn nữa Quốc hội mỗi năm họp 2

kỳ, mỗi kỳ họp khoảng 20 ngày, thời gian dành cho việc thông qua các dự án luật không nhiều, lại với áp lực về số lượng dự án theo chương trình phải hoàn thành thì việc nâng cao chất lượng của hoạt động thẩm tra tại các ủy ban là rất quan trọng Về phía các đại biểu Quốc hội, báo cáo thẩm tra có chất lượng tốt sẽ giúp cho đại biểu có căn cứ để thảo luận và yên tâm khi lựa chọn phương án, biểu quyết thông qua các dự án luật, góp phần thực hiện tốt chương trình xây dựng pháp luật hàng năm của Quốc hội đã đề ra

+ Hoạt động thẩm tra thể hiện sự xem xét, đánh giá khách quan nhất đối với dự

án do cơ quan soạn thảo trình, vừa mang tính hợp tác, bổ sung góp phần hoàn chỉnh

Trang 27

các dự án trước khi trình để xem xét, thông qua Qua hoạt động thẩm tra, cũng đánh giá được chất lượng hoạt động của các ủy ban của Quốc hội, trong đó có Uỷ ban pháp luật của Quốc hội theo chức năng, nhiệm vụ được giao

ở CHDCND Lào cũng như ở các nước, đa số các dự án luật, pháp lệnh đều do Chính phủ trình, là cơ quan hành pháp, trực tiếp điều hành thực hiện các chính sách quốc gia, quản lý xã hội, thực thi pháp luật trong cuộc sống, Chính phủ nắm bắt sát từng lĩnh vực và các vấn đề phát sinh trong thực tế từ đó có nhiều thuận lợi khi chuẩn

bị soạn thảo các dự án

Tuy vậy, tình hình đó cũng có hạn chế là không ít dự án có các điều luật thiên

về bảo vệ lợi ích của các Bộ, tạo thuận lợi cho cơ quan nhà nước để dễ quản lý, điều hành, mà chưa chú ý quyền lợi của người dân, doanh nghiệp, tổ chức hoặc lợi ích toàn cục của đất nước nhất là trong điều kiện nhà nước đang thực hiện hội nhập quốc tế, phát huy dân chủ Bên cạnh đó, do số lượng dự án luật, pháp lệnh Chính phủ phải chuẩn bị là khá lớn, bị sức ép theo tiến độ chương trình, nhiều dự án chưa chuẩn bị kỹ vẫn trình ra Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội để xem xét thông qua ý kiến thẩm tra khách quan sẽ giúp cho UBTVQH có cơ sở chỉ đạo chỉnh lý kịp thời để có thể tiếp tục trình ra Quốc hội xem xét, thông qua hay phải hoãn lại để chỉnh lý, hoàn chỉnh thêm, thậm chí có dự án Luật phải đưa ra khỏi chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh hàng năm của Quốc hội

ý nghĩa quan trọng của hoạt động thẩm tra là sự "đánh giá lại một cách khách quan để xử lý, bổ sung hợp lý cho khâu soạn thảo, góp phần nâng cao tính có căn

cứ và tính khả thi của dự án Nếu được chuẩn bị tốt, trong phiên họp thẩm tra sẽ còn nhiều vấn đề được đặt ra để cơ quan soạn thảo giải trình rõ những căn cứ, quan điểm, nhiều ý kiến, kiến nghị được đưa ra thảo luận cân nhắc kỹ Đây cũng là nơi trao đổi, thảo luận cặn kẽ các vấn đề kể cả về từ ngữ, bố cục, kỹ thuật văn bản Do thành viên các ủy ban Quốc hội bầu ra lựa chọn, cơ cấu hợp lý, đặc biệt là am hiểu chuyên môn và có kinh nghiệm thực tiễn về lĩnh vực hoạt động, nên có điều kiện để thảo luận sâu hơn, kỹ hơn về các nội dung của dự án và những vẫn đề lớn còn có ý kiến khác nhau Mặt khác, công tác thẩm tra là hoàn toàn độc lập với quá trình soạn thảo nên rất khách quan để xem xét các dự án trên nhiều phương diện, không tránh

Trang 28

né cũng như không bị lệ thuộc những vấn đề còn vướng mắc vì nhiều lý do, phát hiện những khiếm khuyết khắc phục được tư tưởng cục bộ, chủ quan từ khâu soạn thảo Kết quả thẩm tra có tác dụng rất lớn, không những giúp cho dự án được xây dựng có luận cứ vững chắc mà còn có thể bổ sung được nhiều vấn đề mới toàn diện hơn Việc thẩm tra khoa học, cụ thể và chi tiết của cơ quan thẩm tra càng có giá trị đối với cơ quan trình dự án trong việc tiếp thu, chỉnh lý, đồng thời cũng có tác động trở lại thúc đẩy quá trình soạn thảo có sự chuẩn bị tốt hơn về luận cứ, cơ sở lý luận, thực tiễn cũng như tính khả thi

- Hoạt động thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh là hoạt động có giá trị bắt buộc trong quy trình lập pháp ở nước CHDCND Lào có yêu cầu về nội dung rõ ràng không phải là trình tự mang tính thủ tục, hình thức Như đã nêu trên, hoạt động thẩm tra là một trong những hoạt động chủ yếu của các ủy ban của Quốc hội báo cáo thẩm tra là tài liệu được lưu thành chính thức trong phiên họp của UBTVQH và kỳ họp Quốc hội, các nội dung của tài liệu thẩm tra không phải là ý kiến bắt buộc phải chấp nhận nhưng

là ý kiến chính thức của tập thể cơ quan tham mưu giúp việc cho Quốc hội, đặc biệt là các nội dung thẩm tra về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án

Việc thẩm tra bảo đảm tính hợp hiện, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật sẽ bảo đảm trật tự kỷ cương trong công tác xây dựng pháp luật, tăng cường tính khả thi của các dự án luật, pháp lệnh trong cuộc sống Đây là hoạt động rất quan trọng điều kiện chúng ta đang hoàn thiện dần hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân Các dự án được thẩm tra bảo đảm cho mỗi quy phạm pháp luật trong các dự án phải phù hợp với hiến pháp, luật, bảo đảm quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân, tránh tùy tiện Mặt khác, yêu cầu này đặt ra còn có ý nghĩa bảo đảm cho các quy định trong các dự án, luật, pháp lệnh rõ ràng, chính xác, giúp cho nhận thức thực hiện được nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm pháp chế XHCN Trật tự và công bằng xã hội Đây là nhiệm vụ không kém phần quan trọng và cần thiết thuộc về trách nhiệm của Uỷ ban pháp luật

+ Bảo đảm tiến độ, trình tự, thủ tục thẩm tra theo đúng quy định của quy trình lập pháp Điều này có ý nghĩa là thẩm tra phải được tiến hành theo đúng quy trình về

Trang 29

mặt thời gian, tiến độ, thủ tục trình tự theo luật định Mọi dự án luật pháp lệnh trước khi được trình ra Quốc hội hoặc UBTVQH xem xét, thông qua thì bắt buộc phải qua công đoạn thẩm tra, không có một ngoại lệ nào Nếu dự án luật chưa qua công đoạn thẩm tra thì cũng không được trình UBTVQH để xem xét, cho ý kiến hoặc công bố xin

ý kiến nhân dân và đương nhiên không thể trình ra Quốc hội hoặc UBTVQH xem xét, thông qua

+ Thẩm tra được tiến hành bằng phiên họp toàn thể gồm tất cả các thành viên

ủy ban (thẩm tra chính thức), hoặc bằng các phiên họp gồm một số thành viên ủy ban Đây là vấn đề có liên quan đến nguyên tắc hoạt động của ủy ban, ủy ban hoạt động theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số, vì vậy, phiên họp Thường trực mở rộng

có được coi là hợp pháp hay không cũng còn có những quan điểm khác nhau ý kiến của nhiều chuyên gia pháp luật cho rằng, cần phải nghiên cứu và đánh giá nghiêm túc trên phương diện lý luận về hoạt động thẩm tra của Thường trực ủy ban Bởi vì, nguyên tắc làm việc của ủy ban là theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số thì mọi vấn đề được đưa ra thảo luận tại ủy ban phải được toàn thể các thành viên ủy ban dự họp thảo luận và biểu quyết theo đa số Quan điểm khác thực tế hơn thì cho rằng, trong điều kiện phần lớn số thành viên ủy ban hoạt động kiêm nhiệm giữ các cương vị chủ chốt ở các địa phương như hiện nay thì việc liên tục tổ chức phiên họp thẩm tra để bảo đảm có báo cáo thẩm tra trình ra các phiên họp thường kỳ hàng tháng của UBTVQH

và tại kỳ họp Quốc hội là không có tính khả thi

- Một số yêu cầu đặt ra nhằm nâng cao hoạt động thẩm tra:

Trong tình hình và điều kiện hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng để nâng cao chất lượng các dự án luật, pháp lệnh phải tập trung từ giai đoạn soạn thảo, đây là điều rất đúng Tuy nhiên, chất lượng các dự án là kết quả chung của các giai đoạn của một quy trình nên cần quan tâm đúng mức giai đoạn tại các ủy ban Quốc hội là một trong những giai đoạn không kém phần quan trọng bảo đảm đủ yêu cầu đặt ra, để khi trình Quốc hội, UBTVQH các dự án nhanh chóng được thông qua Nâng cao chất lượng thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của ủy ban của Quốc hội có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần bảo đảm tiến độ, thời gian xem xét thông qua các dự án luật, pháp lệnh cũng như chất lượng của các dự án Nếu trong quá trình thẩm tra, ủy ban có điều kiện phân tích,

Trang 30

đánh giá cụ thể về sự cần thiết, sự phù hợp của từng điều luật với thực tế khách quan,

về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản đối với hệ thống pháp luật thì sẽ làm cơ sở vững chắc cho Ban soạn thảo và các cơ quan hữu quan nhanh chóng tiếp thu và chỉnh lý dự thảo văn bản

Để nâng cao chất lượng hoạt động thẩm tra phải tiếp tục có thêm nhiều biện pháp, trong đó cần nghiên cứu phân công về cơ quan chủ trì thẩm tra, tham gia hoặc phối hợp thẩm tra cho rõ ràng, hợp lý giữa các ủy ban Quốc hội tạo điều kiện cho các

cơ quan hoàn thành nhiệm vụ Bên cạnh đó còn có quy chế đánh giá chất lượng dự án

do cơ quan thể hiện rõ trách nhiệm và có tác dụng nâng cao chất lượng của các giai đoạn trong quy trình chung Muốn tiến hành thẩm tra một dự án có chất lương thì trước hết phải bảo đảm và quan tâm đến các yêu cầu sau:

+ Các tài liệu phục vụ phiên họp thẩm tra phải được gửi đến các thành viên dự

án họp đúng quy định, các thủ tục về thời gian gửi tờ trình, dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết cho ủy ban phải được tuân thủ nghiêm ngặt, chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày phiên họp UBTVQH cơ quan tổ chức, đại biểu Quốc hội trình

dự án phải gửi tờ trình, dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tới cơ quan thẩm tra để tiến hành thẩm tra Tờ trình về dự án văn bản phải là bản chính thức có ký tên, đóng dấu của Thủ tướng hoặc Thủ tướng cơ quan có thẩm quyền Mặc dù đó là quy định về thủ tục nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với Thường trực ủy ban, Các thành viên ủy ban và bộ phận tham mưu giúp việc trong việc bố trí thời gian để nghiên cứu trước, tìm hiểu, so sánh với quy định của pháp luật hiện hành, tham khảo ý kiến của các chuyên gia ở địa phương hoặc tài liệu tham khảo của nước ngoài, tổ chức khảo sát thực tiễn, bảo đảm cho việc thẩm tra có chất lượng thực sự

+ Phiên họp thẩm tra phải được tiến hành xem xét, thảo luận, tranh luận về tất

cả các vấn đề thuộc nội dung và hình thức của văn bản Đó là: về sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh sự phù hợp của nội dung dự án với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản với hệ thống pháp luật, tính khả thi của dự án Các vấn đề quan trọng còn có các ý kiến quan điểm khác nhau giữa các thành viên hoặc giữa các thành viên với ban soạn thảo, các đề xuất, giải pháp đưa ra đều phải được thảo luận kỹ và thể hiện trong báo cáo thẩm tra Chủ

Trang 31

tọa (người điều khiển phiên họp) phải bố trí thời gian hợp lý, đề nghị thành viên tham

dự đông đủ, phối hợp lấy ý kiến của các cơ quan hữu quan, hướng các đại biểu thảo luận vào những vấn đề trọng tâm của dự án

+ Thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Dự án luật, dự án pháp lệnh hoặc dự thảo nghị quyết đưa ra phải chuyển tải nội dung đường lối chính sách của Đảng Bởi vì, ở nước CHDCND Lào, Đảng NDCM Lào là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội Mọi chủ trương, đường lối của Đảng xuất phát từ nhân dân, mang nội dung dân chủ, phản ánh quy luật khách quan của sự vận động xã hội Trong điều kiện Đảng cầm quyền thì bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cũng là một đặc trưng tất yếu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, lấy pháp luật là phương tiện quản lý nhà nước và xã hội

+ Thẩm tra phải đánh giá chính xác về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản đối với hệ thống pháp luật ủy ban là cơ quan chuyên môn của Quốc hội, do đó nhiệm vụ của ủy ban phải là nghiên cứu, xem xét tất cả những vấn đề thuộc nội dung và hình thức của dự án Nội dung của dự án không những phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội mà còn phải phù hợp về thẩm quyền, trình tự ban hành văn bản, nó không những rõ ràng, rành mạch về nội dung mà còn chặt chẽ lôgíc về kỹ thuật lập pháp mà trình tự và thủ tục này đã được luật quy định

+ Trước khi tiến hành thẩm tra, ủy ban thẩm tra có thể tiến hành các hoạt động

hỗ trợ thẩm tra như khảo sát thực tiễn, tham gia xây dựng dự án luật, pháp lệnh, nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, yêu cầu ban soạn thảo báo cáo tiến độ, nội dung cơ bản của dự án, xin ý kiến góp ý của nhân dân, các ngành các cấp về dự án luật, pháp lệnh, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các cộng tác viên Các hoạt động

hỗ trợ cho thẩm tra này không phải là một yêu cầu bắt buộc trong quy trình thẩm tra Tuy nhiên thực tiễn là cơ sở của lý luận, soi sáng dẫn đường cho lý luận Một đạo luật được ban hành nếu không phù hợp với thực tiễn cuộc sống sẽ không có hiệu lực trên thực tế, tác động và ảnh hưởng xấu đến xã hội Vì thế, thông qua các hoạt động khảo sát thực tiễn, thu thập ý kiến của các tầng lớp nhân dân Trong xã hội sẽ giúp cho ủy ban có đủ các căn cứ vững chắc chuẩn xác khi thảo luận biểu quyết về những vấn đề

Trang 32

về chính sách mà dự án nêu ra Mặt khác, ủy ban cũng có đủ căn cứ để bác bỏ những chính sách đưa ra không hợp lý Không có tính khả thi, làm tốn kém chi phí ngân sách của nhà nước và tiền bạc của nhân dân, bảo đảm cho các quy định của luật, pháp lệnh không xa rời thực tiễn, làm cho người dân tin tưởng, tự nguyện tự giác chấp hành pháp luật

1.2.2 Chức năng và phương thức hoạt động giám sát của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào

1.2.2.1 Chức năng giám sát của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào

- Quan niệm giám sát

Theo quan niệm của Lênin, giám sát là sự cần thiết khách quan phải có trong cách mạng XHCN và coi đó là tất yếu không thể thiếu được, thậm chí là một vấn đề vốn có của CNXH Trong những tác phẩm nổi tiếng của Lênin đã nhiều lần khẳng định "Chủ nghĩa xã hội là kiểm tra và kiểm soát", "chủ nghĩa xã hội chính là sự giám sát" Lênin coi việc tổ chức hoạt động giám sát không chỉ là một tất yếu mà còn là một đặc trưng trong cách mạng XHCN Tổ chức hoạt động giám sát phụ thuộc vào tính chất, trình độ của việc tổ chức quản lý trong mỗi chế độ xã hội Như vậy hoạt động giám sát trong XHCN, theo Lênin trước hết phải xác lập vai trò chủ động sáng tạo, tự giác của quần chúng nhân dân là cơ sở nền tảng để xây dựng hoạt động giám sát, là nhân tố cơ bản của xã hội mới Nội dung của cuộc cách mạng càng sâu sắc và triệt để bao nhiêu thì quần chúng càng có những hành động lịch sử tích cực bấy nhiêu Một trong những hành động tích cực ấy là việc quần chúng thực hiện hoạt động giám sát trên toàn xã hội Quần chúng tiến hành giám sát là một trong những quá trình thực hiện dân chủ hóa Quá trình thực hiện dân chủ trong một hoạt động của đời sống xã hội là cơ sở thực hiện có hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước XHCN Là chỗ dựa cho hoạt động kiểm tra, giám sát của Nhà nước Điều đó theo Lênin, phù hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà nước Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, Lênin đã coi hoạt động kiểm tra, giám sát là một khía cạnh quan trọng của chế

độ dân chủ sau khi khẳng định mọi người đều thực sự tham gia quản lý nhà nước, và hiệu quả của quá trình hoạt động ấy thật là vô giá Nhấn mạnh vai trò của quần chúng

Trang 33

tham gia hoạt động kiểm tra, giám sát, Lênin viết: "Khi đa số nhân dân tự mình và ở khắp mọi nơi tiến hành kiểm kê, giám sát thì sự giám sát đó thật là vạn năng, phổ biến

và có tính chất toàn dân Không có ai trốn thoát sự giám sát đó bằng cách nào được cả, không còn trốn vào đâu được cả" [13, tr.15]

Một trong những biện pháp quan trọng theo Lênin: công tác kiểm tra giám sát phải được thể chế hóa bằng pháp luật Quan điểm của Lênin về việc thể chế hóa công tác kiểm tra, giám sát bằng pháp luật là một bộ phận trong hệ thống quan điểm về đời sống pháp luật với các nội dung cơ bản: ý chí của Nhà nước, của giai cấp thống trị được thể chế hóa thành pháp luật Pháp luật chỉ trở thành hành vi cụ thể, thành quan hệ pháp luật trong đời sống thực tế sinh động hàng ngày khi nó được thực hiện nghiêm chỉnh và được kiểm tra, giám sát việc tuân theo và chấp hành pháp luật

Những quan điểm trên đây của Lênin về kiểm tra, giám sát là cơ sở lý luận để hiểu biết chức năng giám sát của Quốc hội nói chung và chức năng giám sát của Uỷ ban pháp luật nói riêng

Uỷ ban pháp luật là một cơ quan của Quốc hội, được Quốc hội bầu ra, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, các thành viên của Uỷ ban pháp luật là các đại biểu của nhân dân, do nhân dân ở các địa phương khác nhau bầu ra, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước Uỷ ban pháp luật thực hiện quyền giám sát cũng chính là việc thực hiện quyền lực mà nhân dân giao cho mình Uỷ ban pháp luật thực hiện quyền giám sát để bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH Giám sát tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành hoặc giám sát văn bản của

Bộ, cơ quan ngang Bộ thuộc lĩnh vực ủy ban phụ trách, Giám sát của Uỷ ban pháp luật

là giám sát mang tính quyền lực nhà nước [35, tr.15] Tuy nhiên, khác với Quốc hội, quyền giám sát tối cao chỉ thuộc về Quốc hội và chỉ duy nhất Quốc hội mới có quyền giám sát tối cao tại kỳ họp; quyền giám sát của Uỷ ban pháp luật bị hạn chế, giới hạn trong phạm vi lĩnh vực mà Quốc hội giao, thông qua các quy định của pháp luật với những đặc điểm sau đây:

Trang 34

- Uỷ ban pháp luật chịu sự chỉ đạo, điều hòa phối hợp hoạt động giám sát của UBTVQH

Đối tượng chịu sự giám sát của Uỷ ban pháp luật là Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan, tổ chức

và công dân Giám sát là một trong ba chức năng của Uỷ ban pháp luật, chức năng giám sát của Uỷ ban pháp luật là theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH, xem xét tính hợp hiến, hợp pháp đối với các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

ở Trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan Trung ương của

tổ chức chính trị - xã hội thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách Hiệu quả gíam sát tổcủa UBPL là quyền đưa ra các kết luận, kiến nghị, yêu cầu các cơ quan tổ chức bị giám sát nghiên cứu xem xét xử lý theo thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ văn bản trái pháp luật, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý những người có hành vi vi phạm pháp luật, đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm

Phương thức hoạt động giám sát của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước CHDCND Lào:

Uỷ ban pháp luật của Quốc hội nước CHDCND Lào thực hiện phương thức hoạt động giám sát nhằm bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh trong các cơ quan nhà nước và mọi tổ chức, công dân

Trong hoạt động giám sát, Uỷ ban pháp luật sử dụng các phương thức sau đây:

Trang 35

- Họp toàn thể hoặc họp Thường trực ủy ban để nghe báo cáo về hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát, yêu cầu cơ quan báo cáo về những vấn đề mà ủy ban quan tâm;

- Tổ chức đoàn giám sát việc thực thi pháp luật;

- Nghiên cứu xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, nắm thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng

Thẩm tra các báo cáo phục vụ cho nhiệm vụ giám sát

Theo quy định tại Điều 28 của Luật giám sát của Quốc hội, Uỷ ban pháp luật của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra, nghiên cứu các báo cáo về thi hành hiến pháp, pháp luật, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật do Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành

Trình tự, thủ tục Uỷ ban pháp luật giám sát văn bản quy phạm pháp luật:

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Uỷ ban pháp luật có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đôn đốc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH đúng thời gian quy định

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Tòa

án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các cơ quan tổ chức khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch phải

có trách nhiệm gửi văn bản đã ban hành cho UBPL để giám sát Khi nhận được văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan hữu quan gửi đến, Uỷ ban pháp luật có trách nhiệm xem xét, nghiên cứu nội dung của văn bản

Trong trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có quy định trái luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH thì Uỷ ban pháp luật trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình yêu cầu chính cơ quan ban hành văn bản xem xét lại và tự quyết định đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ văn bản trái pháp luật đó Cơ quan ban hành văn bản có trách nhiệm thông báo cho Uỷ ban pháp luật việc giải quyết yêu cầu của ủy ban trong một thời gian nhất định Trong trường hợp cơ quan ban hành văn bản không chấp nhận yêu cầu của Uỷ ban pháp luật thì ủy

Trang 36

ban kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc báo cáo UBTVQH xem xét, quyết định

Uỷ ban pháp luật tiến hành giám sát theo trình tự sau đây:

- Yêu cầu các cơ quan hữu quan gửi báo cáo theo thời gian quy định để các thành viên ủy ban có điều kiện thời gian nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến trước khi dự họp ủy ban;

- Tổ chức các hoạt động kiểm tra, khảo sát, giám sát thực tế;

- Tổ chức lấy ý kiến của các chuyên gia các cơ quan, tổ chức hữu quan

- Yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp tài liệu hoặc mời đại diện các cơ quan đến dự phiên họp thẩm tra của ủy ban để trình bày, làm rõ các vấn đề ủy ban quan tâm

- Theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng;

- Nghiên cứu đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi tới Uỷ ban pháp luật hoặc các đơn thư do các đồng chí lãnh đạo Quốc hội giao

Trên cơ sở các hoạt động này, ủy ban có thể tổng hợp đầy đủ các căn cứ để xem xét, đánh giá chi tiết về nội dung, hình thức và các số liệu được trình trong báo cáo, kết quả hoạt động, sự chuyển biến, tiến bộ, những ưu điểm khuyết điểm của các cơ quan bảo vệ pháp luật, những công tác trọng tâm và những giải pháp thực hiện trong thời gian giao tới

Tổ chức các đoàn giám sát:

Tổ chức các đoàn giám sát là hoạt động được áp dụng tương đối phổ biến đối với các ủy ban Quốc hội Căn cứ pháp lý để thành lập các đoàn giám sát là chương trình công tác của Uỷ ban pháp luật hoặc do Quốc hội, UBTVQH giao tại Điều 32 của Luật Giám sát của Quốc hội năm 2003, ủy ban Quốc hội có thể thành lập Đoàn giám sát khi có sự cần thiết trong công tác giám sát nhưng phải có sự đồng ý của UBTVQH

Trong quyết định thành lập Đoàn giám sát phải quy định rõ nội dung, quyền hạn, nghĩa vụ, mục đích giám sát đối với cơ quan đối tượng chịu sự giám sát, và phải thông báo cho cơ quan, đối tượng biết trước hoạt động giám sát 7 ngày

Quyền hạn và nghĩa vụ của Đoàn giám sát:

- Yêu cầu các cơ quan bị giám sát báo cáo, các tài liệu thuộc nội dung giám sát;

Trang 37

- Thẩm tra, đánh giá báo cáo và các tài liệu;

- Kiến nghị các giải pháp khắc phục khi phát hiện có vấn đề trái pháp luật

- Gửi báo cáo thẩm tra đánh giá giám sát cho ủy ban trong thời gian 10 ngày kể

từ ngày kết thúc giám sát

Trình tự thẩm tra và giải quyết kết quả giám sát của Đoàn giám sát:

- Đoàn giám sát trình bày kết quả giám sát tại cuộc họp toàn thể của ủy ban;

- Cơ quan bị giám sát có thể giải thích các vấn đề đã đặt ra trong báo cáo kết quả giám sát

- Thành viên tham dự thảo luận, góp phần ý kiến;

- Chủ nhiệm ủy ban tổng kết các ý kiến thảo luận và các thành viên ủy ban bỏ phiếu quyết định Nếu trong trường hợp giám sát phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc ngoài phạm vi nhiệm vụ của ủy ban ủy ban có thể báo cáo trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định

Uỷ ban pháp luật có nhiệm vụ giám sát việc ban hành các nghị quyết, nghị định của Chính phủ, các văn bản của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát, xét xử Uỷ ban pháp luật giám sát "việc ban hành" các văn bản nói trên là giám sát tất cả các công đoạn từ việc soạn thảo, thẩm định cho đến khi trình thông qua các văn bản đó Uỷ ban pháp luật còn

có nhiệm vụ giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Quốc hội

Uỷ ban pháp luật có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân về lĩnh vực tư pháp Đối tượng giám sát của Uỷ ban pháp luật trong lĩnh vực này là việc giải quyết những đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân về các vụ việc thuộc lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, thi hành án, xâm phạm hoạt động tư pháp và một số vụ việc khác, hình thức giám sát là dựa trên kết quả nghiên cứu, phân loại, xử lý các đơn thư của vụ giúp việc đề tiến hành giám sát hoặc chuyển đến cơ quan thẩm quyền xem xét, giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các đơn thư đó Đối với các đơn thư khiếu nại bức xúc kéo dài, vụ việc đã qua nhiều cấp xét xử nhưng đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại, thì ủy ban tổ chức tiến hành giám sát cá biệt để đề xuất các cơ quan có các biện pháp giải quyết hoặc đề nghị UBTVQH yêu cầu cơ quan xem xét, giải quyết theo thẩm quyền

Trang 38

- Đánh giá chính xác, khách quan tình hình thực hiện pháp luật, các vi phạm luật, những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật Các nhận xét, đánh giá về tình hình thi hành pháp luật và kiến nghị của hoạt động giám sát bảo đảm để các đối tượng chịu sự giám sát có thể khắc phục kịp thời, tránh dây dưa, kéo dài

Xác định trọng tâm, trọng điểm nội dung, đối tượng giám sát rõ ràng, mục đích

và thời điểm mà ủy ban xác định nội dung cần tập trung giám sát, nhưng phải quán triệt quan điểm kết quả giám sát là phục vụ chủ yếu cho hoạt động lập pháp, mang tính

vĩ mô mà không nên tập trung quá nhiều vào việc giải quyết các vụ việc cá biệt

Hoạt động giám sát có thể được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng dù bằng hình thức nào ủy ban cũng không tổ chức giám sát tràn lan, dàn trải, có quá nhiều đoàn giám sát trong cùng một địa bàn hoặc cơ cấu Đoàn giám sát quá nhiều thành viên sẽ gây khó khăn, phiền hà cho cơ quan, địa phương nơi ủy ban tiến hành giám sát ủy ban cần kết hợp việc nghe các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan báo cáo, yêu cầu các cơ quan tổ chức, đơn vị đó giải trình cụ thể về những vấn đề mà ủy ban quan tâm đồng thời cần kết hợp tìm hiểu, xem xét, khảo sát thu thập thông tin có liên quan đến những vấn đề mà chương trình kế hoạch giám sát đã đặt ra

+ Các kết luận, kiến nghị các biện pháp giải quyết phải rõ ràng cụ thể, có tính khả thi, các cơ quan có trách nhiệm phải thi hành các kết luận, kiến nghị, các biện pháp giải quyết phải quan tâm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

+ Báo cáo giám sát phải được đưa ra phiên họp toàn thể, hoặc phiên họp Thường trực ủy ban mở rộng để thảo luận, hoặc phải được gửi đến các thành viên ủy ban góp ý kiến và biểu quyết nhất trí về các kiến nghị, giải pháp đưa ra

Trang 39

bỏ để Quốc hội, UBTVQH có cơ sở xem xét nghiên cứu trước khi thông qua Bằng hoạt động giám sát, Uỷ ban pháp luật đưa ra các kiến nghị, khuyến nghị về các giải pháp để các đối tượng bị giám sát có thể nghiên cứu sửa chữa các sai sót hoặc xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật, hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi sai trái

Chức năng kiến nghị của Uỷ ban pháp luật được thể hiện thông qua hoạt động thẩm tra, hoạt động giám sát hoặc tham gia phối hợp thẩm tra, giám sát với các ủy ban khác của Quốc hội Các kiến nghị của ủy ban là kiến nghị mang tính quyền lực nhà nước, vì lợi ích của nhân dân mà không vì lợi ích của một cá nhân thành viên ủy ban hoặc cá nhân khác Kiến nghị của ủy ban là mang tính vĩ mô, khác với kiến nghị của tổ chức, cá nhân gửi đến các cơ quan nhà nước hoặc gửi đến Quốc hội là các kiến nghị cụ thể ở tầm vĩ mô hoặc của

tổ chức Các kiến nghị của ủy ban là kiến nghị tập thể ủy ban, các kiến nghị này đã được xem xét, thảo luận và quyết định bằng các phiên họp toàn thể hoặc phiên họp Thường trực

Trang 40

ủy ban và được thể hiện thông qua báo cáo thẩm tra hoặc báo cáo giám sát Các kiến nghị mặc dù chỉ có tính chất tư vấn nhưng nó là cơ sở để các đại biểu Quốc hội hoặc các thành viên UBTVQH xem xét, thảo luận và quyết định

Thông qua hoạt động thẩm tra chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Uỷ ban pháp luật kiến nghị với Quốc hội, UBTVQH ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung một

số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, kiến nghị với Quốc hội đổi mới quy trình thông qua luật

Thông qua hoạt động thẩm tra các báo cáo của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Uỷ ban pháp luật kiến nghị với Quốc hội, UBTVQH yêu cầu các cơ quan thống nhất về thời gian tổng hợp các số liệu trên cơ sở

đó đánh giá chính xác tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật, tình hình khiếu nại, tố cáo công dân, về công tác điều tra kiểm sát, xét xử, thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

- Uỷ ban pháp luật kiến nghị với Quốc hội, UBTVQH xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới một số chính sách không còn phù hợp trong các luật, pháp lệnh hiện hành Các kết luận đánh giá của các Đoàn giám sát là các kiến nghị xác đáng về những vấn đề cụ thể để các địa phương, cơ quan được giám sát nghiên cứu, tiếp thu kịp thời xử lý những sai phạm, thông qua việc tổ chức giám sát các vụ án cá biệt, Uỷ ban pháp luật phát hiện những vướng mắc trong việc thực thi pháp luật, nhất là những vướng mắc về thời hạn, thời hiệu giải quyết khiếu nại, về các sai phạm của cán bộ có thẩm quyền, từ đó kiến nghị các giải pháp thích hợp để giảm bớt tình hình khiếu nại, tố cáo bức xúc

Thông qua hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của Bộ trưởng, Thủ tưởng cơ quan ngang Bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch thuộc lĩnh vực do ủy ban phụ trách, Uỷ ban pháp luật kiến nghị các cơ quan này kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh Trong trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì kiến nghị UBTVQH xem xét, đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội hủy bỏ hoặc bãi

bỏ văn bản đó; kiến nghị UBTVQH; xem xét, hủy bỏ hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm

Ngày đăng: 27/04/2021, 13:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w