1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở: Thực trạng thực hiện đề án vị trí việc làm tại các trung tâm phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và một số yếu tố liên quan

55 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng thực hiện đề án vị trí việc làm tại các trung tâm phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và một số yếu tố liên quan
Tác giả TS. Phạm Đức Mạnh, ThS. Cao Thị Huệ Chi
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 337,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • DANH MỤC BẢNG

  • DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

  • I. ĐẶT VẤN ĐỀ

  • II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 1. Thiết kế nghiên cứu

    • 2. Thời gian thực hiện

    • 3. Địa bàn nghiên cứu:

    • 4. Đối tượng, cỡ mẫu và phương pháp thu thập số liệu

    • 5. Quy trình thu thập số liệu

    • 6. Xử lý số liệu

    • 7. Đạo đức nghiên cứu

  • III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    • 1. Chính sách hiện hành của chính phủ về nhân lực (trước và sau khi Nghị định 41/2012/NĐ-CP ra đời) ảnh hưởng đến nhân lực của hệ thống phòng chống HIV/AIDS

      • Bảng 3.1. Danh sách các văn bản pháp luật liên quan đến nhân lực của hệ thống phòng, chống HIV/AIDS

      • 1.1. Chính sách, văn bản pháp luật liên quan đến định mức biên chế cán bộ y tế trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS

        • Bảng 3.2: Định mức biên chế đối với TTPC HIV/AIDS

      • 1.2. Chính sách đào tạo nhân lực cán bộ y tế

      • 1.3. Chính sách về chế độ đãi ngộ

    • 2. Mô tả thực trạng thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS sau khi nghị định 41/2012/NĐ-CP ra đời

      • 2.1. Cơ sở phát triển đề án vị trí việc làm và bản mô tả công việc của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS

      • 2.2. Tình hình triển khai Nghị định 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-BNV

        • Bảng 3.3: Tình hình triển khai Nghị định 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-BNV

      • 2.3. Mức độ thực hiện của các hệ thống phòng, chống HIV/AIDS địa phương

    • 3. Một số yếu tố liên quan đến thực hiện đề án vị trị việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS năm 2013

      • Bảng 3.4: Nhu cầu hỗ trợ, cải thiện quản lý nhân lực

  • IV. BÀN LUẬN

    • 1. Mẫu nghiên cứu

    • 2. Chính sách liên quan đến nhân lực

    • 3. Thực trạng thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS

    • 4. Một số yếu tố liên quan đến thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS

  • V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

    • 1. Kết luận

      • 1.1. Chính sách hiện hành của chính phủ liên quan đến nhân lực

      • 1.2. Thực trạng thực hiện đề án vị trị việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS

      • 1.3. Một số yếu tố liên quan đến việc thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS

    • 2. Khuyến nghị

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Đề tài thực hiện nghiên cứu nhằm hướng đến các mục tiêu: mô tả các văn bản pháp quy hiện tại về tình hình nhân lực trong hệ thống y tế, mô tả chính sách hiện hành của chính phủ về nhân lực (trước và sau khi Nghị định 41/2012/NĐ-CP ra đời) ảnh hưởng đến nhân lực của hệ thống phòng chống HIV/AIDS, mô tả thực trạng thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS sau khi nghị định 41/2012/NĐ-CP ra đời,... Mời các bạn cùng tham khảo.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng:

- Nghiên cứu định tính gồm 2 kỹ thuật chính: phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) với các đối tượng cung cấp thông tin chủ yếu.

Nghiên cứu định lượng sử dụng phiếu điều tra bán cấu trúc với các câu hỏi đóng nhằm xác định tình hình nhân lực và quản lý nhân lực Đồng thời, các câu hỏi mở được thiết kế để thu thập thông tin về bối cảnh, nguyên nhân, lý do và các yếu tố liên quan đến nhân lực, quản lý nhân lực, cũng như các thay đổi và thực thi chính sách y tế gần đây liên quan đến mục tiêu nghiên cứu.

Chúng tôi thực hiện tổng quan tài liệu về nhân lực, bao gồm báo cáo liên quan đến quản lý và đào tạo phát triển nhân lực, cũng như chính sách y tế liên quan đến lĩnh vực này.

Thời gian thực hiện

Địa bàn nghiên cứu

- Tuyến trung ương: Vụ TCC Bộ Y tế, Cục Phòng chống HIV/AIDS

Sở Y tế, Sở Nội Vụ, UBND và Trung tâm Phòng, Chống HIV/AIDS của bốn tỉnh An Giang, Cần Thơ, Điện Biên và Quảng Bình đã được lựa chọn dựa trên những lý do cụ thể Các tỉnh này được chọn vì có những đặc điểm và nhu cầu riêng biệt trong công tác phòng, chống HIV/AIDS.

 Đại diện cho các vùng miền và một số khu vực sinh thái;

 Đại diện cho các tỉnh có đặc điểm kinh tế xã hội và địa lý đa dạng;

 Tỉnh nhận được nhiều tài trợ và ít tài trợ của các tổ chức quốc tế;

 Tỉnh có tỷ lệ cao và thấp các nhóm quần thể có nguy cơ cao;

 Tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV cao và tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV thấp;

 Chưa có nghiên cứu một cách có hệ thống trước đây về nhân lực và quản lý nhân lực lĩnh vực HIV/AIDS.

Trong nghiên cứu về phòng chống HIV/AIDS, 37 trong số 63 trung tâm phòng chống HIV/AIDS của các tỉnh đã tham gia, đạt tỷ lệ tham gia gần 60% Sự tham gia này cho thấy sự cam kết cao từ các trung tâm trong việc cung cấp thông tin Tuy nhiên, một số trung tâm không tham gia có thể do chưa triển khai đề án vị trí việc làm, dẫn đến nhận thức rằng việc tham gia nghiên cứu này chưa cần thiết.

Đối tượng, cỡ mẫu và phương pháp thu thập số liệu

Tất cả 63 Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tại 63 tỉnh sẽ chọn ra một đại diện xuất sắc nhất về chính sách và công tác nhân sự, có thể là lãnh đạo Trung tâm hoặc nhân viên phòng Kế hoạch – Tổ chức.

- Tại mỗi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tiến hành phỏng vấn định lượng cán bộ được chọn bằng phiếu điều tra tự điền. b) Nghiên cứu định tính:

- Phỏng vấn sâu 1 đại diện của Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Y tế;

- Phỏng vấn sâu 1 đại diện lãnh đạo Cục Phòng, chống HIV/AIDS.

Tại mỗi tỉnh được chọn, tiến hành thu thập số liệu định tính theo cỡ mẫu và phương pháp thu thập như sau:

- Phỏng vấn sâu 1 đại diện của Sở Nội vụ tỉnh (phòng/ban liên quan đến công tác cán bộ);

- Phỏng vấn sâu 1 đại diện của UBND tỉnh (phòng/ban liên quan đến công tác cán bộ);

- Phỏng vấn sâu 1 đại diện của Sở Y tế (phòng Tổ chức/ Nhân sự/ Kế hoạch);

- Phỏng vấn sâu với 1 đại diện lãnh đạo Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS;

- Phỏng vấn sâu với 1 đại diện phòng Tổ chức – hành chính/ Kế hoạch;

Nhóm 1 đã tổ chức một cuộc thảo luận với 10 đại diện từ các phòng của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS, bao gồm phòng Tổ chức-hành chính/Kế hoạch, phòng Giám sát, phòng Can thiệp, phòng Điều trị và phòng Truyền thông, mỗi phòng có 2 đại diện tham gia.

Quy trình thu thập số liệu

Tất cả các cuộc phỏng vấn định tính đều tuân theo nguyên tắc tự nguyện, trong đó người tham gia phải đồng ý tham gia vào nghiên cứu, theo quy định trong phần Đạo đức nghiên cứu.

Thông tin và nội dung các cuộc phỏng vấn được ghi lại chỉ sau khi có sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu Chúng tôi cam kết không ghi chép kết quả phỏng vấn của những đối tượng không đồng ý tham gia.

Các cuộc phỏng vấn với cán bộ đại diện các đơn vị được tiến hành tại phòng làm việc của cán bộ y tế, trong khi các cuộc trò chuyện lãnh đạo được thực hiện tại Trung tâm Phòng, Chống.

Điều tra viên trong nghiên cứu định tính cần có kinh nghiệm vững vàng về phương pháp, cách tiếp cận và kỹ năng khai thác số liệu để đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của nghiên cứu.

Điều tra viên trong nghiên cứu định lượng là những chuyên gia hỗ trợ lãnh đạo Khoa/Phòng tổ chức hành chính hoặc nhân sự của TTPC HIV/AIDS hoàn thành thông tin theo mẫu số 4.

- Bước 1: Xây dựng các công cụ nghiên cứu (Bộ câu hỏi và hướng dẫn PVS và

Liên hệ với Trung tâm Phòng, Chống HIV/AIDS tại 63 tỉnh/thành và các cơ quan như Sở Y tế, Ủy ban Nhân dân, và Sở Nội vụ của 4 tỉnh Điện Biên, Cần Thơ là bước quan trọng trong quá trình điều tra.

Quảng Nam và An Giang.

- Bước 3: Thử nghiệm với các đối tượng tương ứng tại Trung tâm Phòng,

Chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Ninh.

- Bước 4: Chỉnh sửa và hoàn thiện các công cụ nghiên cứu.

- Bước 5: Tập huấn điều tra cho các cán bộ nghiên cứu định lượng (Bộ câu hỏi điều tra và Hướng dẫn PVS và TLN).

- Bước 6: Điều tra chính thức tại các cơ sở đã chọn.

Bước 7 trong quy trình quản lý số liệu định lượng bao gồm các hoạt động làm sạch, nhập liệu, kiểm tra và phân tích số liệu Đối với số liệu định tính, kết quả từ PVS và TLN được ghi chép và chuyển thành các bản ghi để phục vụ cho việc phân tích.

- Bước 8: Viết báo cáo và hoàn thiện báo cáo.

Xử lý số liệu

Chúng tôi sẽ tiến hành làm sạch số liệu để giảm thiểu lỗi trong quá trình điều tra và nhập liệu trước khi đưa vào máy tính Dữ liệu sẽ được nhập bằng phần mềm Epi Data 3.1, trong khi quá trình xử lý và phân tích sẽ sử dụng phần mềm STATA phiên bản 11 Các kết quả phân tích và trình bày số liệu sẽ được đưa ra dựa trên mục tiêu nghiên cứu của đề tài.

Thống kê mô tả được sử dụng để thể hiện thực trạng nhân lực và quản lý nhân lực, bao gồm các biến số định tính như số lượng, tỷ lệ phần trăm, biểu đồ và đồ thị Đối với biến số định lượng, các chỉ số như trung bình ± độ lệch chuẩn áp dụng cho biến có phân phối chuẩn, trong khi biến không có phân phối chuẩn sẽ sử dụng trung vị và khoảng giá trị.

Thống kê suy luận là phương pháp quan trọng để xác định nhu cầu đào tạo nhằm nâng cao năng lực phát triển hệ thống vị trí việc làm Việc sử dụng các bài kiểm tra như Chi2 hoặc t-student, tùy thuộc vào loại biến số, giúp phân tích công việc và xây dựng bản mô tả công việc hiệu quả theo từng vùng miền.

Số liệu định tính: Phương pháp phân tích số liệu định tính được áp dụng là

Phương pháp phân tích nội dung “Content analysis” Cụ thể là các kết quả cuộc

PVS và TLN được ghi chép lại và tổng hợp theo các bước sau:

- Bước 1: Đầu tiên, nhóm nghiên cứu đọc toàn bộ các bản ghi để hiểu toàn cảnh nội dung thông tin trả lời của đối tượng.

Nghiên cứu viên chính sẽ dựa vào nội dung đã thu thập để tiến hành so sánh và phân loại, từ đó hình thành và phát triển các mã hóa mở phù hợp với mục tiêu của nghiên cứu.

Bước 3 trong quá trình nghiên cứu là phiên giải và trích dẫn kết quả thông qua phương pháp “Hiện tượng học” Việc sử dụng các câu trích dẫn điển hình sẽ giúp minh họa rõ ràng cho chủ đề đã được xác định, đồng thời hỗ trợ cho các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.

Đạo đức nghiên cứu

- Tự nguyện: Đối tượng tự nguyện tham gia vào nghiên cứu sau khi hiểu được mục đích và nội dung nghiên cứu.

Cán bộ nghiên cứu và người phỏng vấn được lựa chọn với tiêu chí trung thực và khách quan, đồng thời cán bộ nghiên cứu thực địa sẽ được giám sát chặt chẽ để đảm bảo tính chính xác của số liệu thu thập.

Thông tin cá nhân thu thập từ nghiên cứu định tính và định lượng được bảo mật hoàn toàn, với quyền truy cập dữ liệu chỉ dành cho cán bộ nghiên cứu viên chính và trợ lý nghiên cứu.

- Không gây hại: Nghiên cứu thu thập thông tin chủ yếu về nhân lực, chính sách và thực trạng nên ít gây hại với đối tượng nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu mang lại lợi ích quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS, hoàn toàn không vì bất kỳ lợi ích cá nhân nào khác.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chính sách hiện hành của chính phủ về nhân lực (trước và sau khi Nghị định 41/2012/NĐ-CP ra đời) ảnh hưởng đến nhân lực của hệ thống phòng chống HIV/AIDS

Bảng 3.1 Danh sách các văn bản pháp luật liên quan đến nhân lực của hệ thống phòng, chống HIV/AIDS

Stt Tên văn bản Nội dung Cơ quan ban hành

Phê duyệt chế độ đối với người bị phơi nhiễm HIV hoặc bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp

Phê duyệt Quy định sử đổi, bổ sung một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức ngành Y tế

Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

4 Thông tư liên tịch số

Quyết định số 265/2003/QĐ-TTg ngày 16/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ hỗ trợ cho những người bị phơi nhiễm HIV hoặc nhiễm HIV/AIDS do tai nạn nghề nghiệp Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động, tạo điều kiện cho họ được chăm sóc y tế và phục hồi sức khỏe Các chế độ hỗ trợ bao gồm khám chữa bệnh, tư vấn tâm lý và các biện pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị ảnh hưởng.

Quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ, viên chức các cơ sở y tế của Nhà nước

6 Thông tư liên tịch số:

Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 276/2005/QĐ-TTg ngày 1/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề cho cán bộ, viên chức tại các cơ sở y tế Nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và khuyến khích nhân lực trong ngành y tế Quyết định này áp dụng cho tất cả cán bộ, viên chức làm việc trong lĩnh vực y tế, đảm bảo quyền lợi và chế độ đãi ngộ hợp lý để họ cống hiến tốt hơn cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân.

7 Luật số: Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra Quốc hội

Stt Tên văn bản Nội dung Cơ quan ban hành

29/6/2006 hội chứng suy giảm miễn dịch mặc phải ở người (HIV/AIDS)

8 Thông tư liên tịch số:

Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệm trong các cơ sở y tế nhà nước

Quy định về chế độ phụ cấp cho cán bộ, viên chức làm việc tại cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người bán dân và người sau nghiện ma túy rất quan trọng Những người làm việc trong lĩnh vực này cần được hưởng các chế độ đãi ngộ phù hợp nhằm khuyến khích và ghi nhận nỗ lực của họ trong công tác hỗ trợ và quản lý Việc áp dụng các chính sách phụ cấp không chỉ giúp cải thiện đời sống cho cán bộ, viên chức mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc, quản lý người nghiện và người sau nghiện.

Hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế

Quy định về chunhs sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

12 Thông tư liên tịch số

Hướng dẫn thực hiện Bảo hiểm y tế Bộ Y tế;

Quy định hế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập

Quy định vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập

Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 8 tháng 5 năm

2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập

Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và

Stt Tên văn bản Nội dung Cơ quan ban hành

Hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế

1.1 Chính sách, văn bản pháp luật liên quan đến định mức biên chế cán bộ y tế trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS

Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện mục tiêu BA KHÔNG do Liên Hợp Quốc khởi xướng, với chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 được ban hành theo Quyết định số 608/2012/QĐ – TTg ngày 25/5/2012 Chiến lược này đã dẫn đến việc phát hành Chỉ thị số 54-CT/TW ngày 30/11/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống AIDS trong tình hình mới Các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS Tuy nhiên, những văn bản này chủ yếu mang tính định hướng chiến lược mà chưa cụ thể hóa về nhân lực trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS.

 Thông tư liên tịch số 08 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ ban hành năm 2007

Thông tin này hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp tại các cơ sở y tế nhà nước, dựa trên số dân, tuyến chuyên môn kỹ thuật, hạng đơn vị sự nghiệp, nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh, cùng với các đặc điểm kinh tế xã hội và sinh thái của từng vùng, cũng như khả năng tài chính Đặc biệt, định mức biên chế cho Trung tâm y tế dự phòng tỉnh và huyện được quy định cụ thể.

Bảng 3.2 trình bày định mức biên chế cho Trung Tâm Phòng Chống HIV/AIDS, cụ thể là định mức biên chế đối với các Trung Tâm y tế dự phòng tại tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, với số lượng biên chế được quy định rõ ràng.

≤ 1 triệu dân >1-1,5 triệu dân >1,5-2 triệu dân >2-4 triệu dân >4 triệu dân

Trung tâm y tế dự phòng

Trung tâm phòng chống HIV/AIDS

25 26-30 31-35 36-45 46-50 Định mức biên chế với trung tâm y tế dự phòng quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Trung tâm y tế dự phòng quận huyện được phân bổ biên chế dựa trên vùng miền, với các khu vực hải đảo và vùng sâu vùng xa được ưu tiên hơn Các tỉnh có cửa khẩu lớn được bổ sung 20-25% biên chế Theo Thông tư liên tịch 08, tỷ lệ cán bộ chuyên môn chiếm 60-65%, xét nghiệm 20%, và quản lý hành chính 15-20% Cụ thể, tại tuyến tỉnh, tỷ lệ bác sĩ trên 30% và kỹ thuật viên xét nghiệm trên 20%; tại tuyến huyện, bác sĩ trên 20% và kỹ thuật viên xét nghiệm trên 10%.

 Nghị định số 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-BNV

Để tăng cường đổi mới cơ chế quản lý cán bộ, công chức, viên chức, cần hướng tới sự minh bạch và hiệu quả theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa X Việc xác định vị trí việc làm được coi là khâu then chốt và vô cùng quan trọng trong quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị.

Nghị định số 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-BNV hướng dẫn xác định vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập, quy định nguyên tắc, phương pháp và trình tự quản lý vị trí việc làm Nghị định này giúp thống kê và tổng hợp thông tin về vị trí, số lượng và cơ cấu viên chức, từ đó xác định biên chế và bố trí công chức hiệu quả Nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng bộ chức danh, tiêu chuẩn, quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo và đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời giảm thiểu sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ trong cơ quan, hướng tới tổ chức bộ máy tinh gọn và hiệu quả.

1.2 Chính sách đào tạo nhân lực cán bộ y tế

 Quyết định số 33/2007/QĐ-BYT

Quyết định đã đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cán bộ trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS, bao gồm việc đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và đa dạng hóa hình thức đào tạo Mục tiêu là 100% cán bộ y tế trong lĩnh vực này được tập huấn chuyên môn, 100% trường y có chương trình đào tạo về phòng, chống HIV/AIDS và thành lập trung tâm bồi dưỡng cán bộ chuyên trách.

Năm 2009, trước thách thức về nguồn lực, đặc biệt là thiếu hụt nhân lực, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 1107 nhằm đào tạo 100% cán bộ, nhân viên tại các trung tâm phòng chống HIV/AIDS tuyến tỉnh Kế hoạch đào tạo được xây dựng cho đội ngũ cán bộ có trình độ trung cấp, cao đẳng, bao gồm cử tuyển và chuyên tu Quyết định này cũng đề ra giải pháp đào tạo chuyên khoa cho bác sĩ và cán bộ phòng, chống HIV/AIDS, phối hợp với các trường, viện trung ương để tổ chức đào tạo ngắn hạn và chuyên sâu tại 7 trung tâm vùng và 2 trung tâm đặc biệt Kinh phí cho các hoạt động đào tạo và bồi dưỡng được đảm bảo từ ngân sách địa phương, với sự hỗ trợ từ ngân sách trung ương thông qua dự án phòng, chống HIV/AIDS trong chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006-2010.

 Thông tư 06 và thông tư 07 của Bộ Y tế

Thông tư 06 quy định rằng cán bộ y tế có bằng trung cấp hoặc cao đẳng y có thể sử dụng kết quả học tập trước đó để tiếp tục học liên thông lên trình độ cao hơn Chương trình đào tạo này áp dụng hình thức vừa học vừa làm và kéo dài 4 năm, dựa trên chương trình của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo Ngoài ra, thông tư cũng cho phép việc đào tạo hợp đồng theo địa chỉ, nhằm hỗ trợ cán bộ y tế tại các vùng khó khăn, nông thôn hoặc tuyến xã.

Thông tư 07 quy định về công tác đào tạo liên tục cho cán bộ y tế, bao gồm việc cập nhật kiến thức và thái độ chuyên môn Cán bộ y tế phải tham gia ít nhất 24 giờ đào tạo thực hành mỗi năm, và trong vòng 5 năm, họ cần tích lũy tối thiểu 120 giờ đào tạo liên tục trong lĩnh vực chuyên môn của mình.

Bộ Y tế đã ủy quyền cho các viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp y dược thực hiện việc thẩm định và phê duyệt các chương trình cũng như tài liệu đào tạo liên tục Kinh phí cho chương trình đào tạo này được huy động từ học viên, ngân sách nhà nước, các cơ sở y tế và các nguồn thu khác.

 Thông tư số 22 của Bộ y tế năm 2013

Đến năm 2013, Bộ Y tế (BYT) đã ban hành thông tư số 22, thay thế thông tư 07, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Thông tư này cung cấp hướng dẫn chi tiết về việc xây dựng và thẩm định chương trình đào tạo cùng tài liệu liên quan, góp phần cải thiện hiệu quả đào tạo cho đội ngũ y tế.

1.3 Chính sách về chế độ đãi ngộ

Mô tả thực trạng thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS sau khi nghị định 41/2012/NĐ-CP ra đời

2.1 Cơ sở phát triển đề án vị trí việc làm và bản mô tả công việc của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS

Từ năm 2007, định mức biên chế tại các đơn vị y tế, bao gồm hệ thống HIV/AIDS, được xét duyệt theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV và phụ thuộc vào nguồn tài chính tỉnh Đặc biệt, định mức biên chế của các trung tâm phòng, chống HIV/AIDS còn dựa vào Quyết định 25 quy định chức năng nhiệm vụ Đến cuối năm 2012, Nghị định số 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-BNV được ban hành, hướng dẫn xác định cơ cấu chức danh nghề nghiệp cho từng đơn vị, bao gồm bác sỹ khám chữa bệnh, bác sỹ y học dự phòng và điều dưỡng Ví dụ, một trung tâm phòng, chống HIV/AIDS cần xác định tỷ lệ mắc và tỷ lệ tới khám để tính toán số lượng bác sỹ và cử nhân cần thiết dựa trên số vị trí việc làm.

Nhân lực cho hệ thống phòng, chống HIV/AIDS được tuyển dụng theo Quyết định số 25/2005/QĐ-BYT và định mức TTLT số 08/2007/TTLT-BYT-BNV Nhân viên dịch vụ như bảo vệ và lao công được ký hợp đồng tự chi trả bởi cơ quan Đối với cán bộ hợp đồng từ nguồn kinh phí dự án, trung tâm không có quyền quyết định Cán bộ biên chế được tuyển dụng theo quyết định của Sở Y tế, trong khi trung tâm chỉ lập và trình kế hoạch về số lượng, loại hình và chuyên môn cần thiết.

Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS không thực hiện tuyển dụng hay ký hợp đồng nhân sự, mà chỉ tiếp nhận nhân sự theo phân bổ từ Sở Y tế.

Việc đăng báo tuyển dụng cán bộ chủ yếu do Sở Y tế thực hiện, khiến các đơn vị phụ thuộc vào Sở Nội Vụ và Sở Y tế trong quá trình tuyển dụng Điều này dẫn đến sự hạn chế quyền hạn của các đơn vị trong việc tuyển nhân viên, tạo ra bất cập khi các trung tâm chưa thực sự chủ động trong công tác tuyển dụng.

Nhiều khi, các trung tâm y tế phải chấp nhận quyết định bổ nhiệm cán bộ từ Sở Y tế và Sở Nội vụ, dù không phù hợp với yêu cầu thực tế Chẳng hạn, khi trung tâm đề nghị bổ sung một cán bộ có trình độ bác sĩ, nhưng Sở Y tế chỉ đồng ý bổ sung một cử nhân điều dưỡng, trung tâm vẫn phải tuân theo.

2.2 Tình hình triển khai Nghị định 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-

Bảng 3.3: Tình hình triển khai Nghị định 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-

Các đặc điểm Chung Miền Bắc Miền Trung Miền Nam

Nghe hoặc biết về Nghi định 41

Mức độ thực hiện Nghị định 41

Chưa triển khai Đang triển khai 1 phần Đã hoàn thành

Thông báo/chỉ đạo bộ phận triển khai để án N1

Rà soát vị trí việc làm N'

Phân tích công việc hoặc vị trí công việc N'

Viết bản mô tả công việc N'

Thống nhất bản mô tả công việc N&

Viết đề án vị trí việc làm N'

Trình đề án việc làm tới cơ quan chức năng

Bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ đơn vị có nghe hoặc biết về Nghi định 41/2012/ NĐ-

Tỷ lệ thực hiện nghị định 41/2012 và thông tư 14/2013 tại ba khu vực đạt 97,3%, trong đó miền Trung và miền Nam đạt 100% Mặc dù mức độ triển khai cao (82,86%), nhưng tỷ lệ hoàn thiện chỉ đạt 14,29% Tại miền Bắc, chỉ có một trung tâm phòng, chống HIV/AIDS chưa thực hiện nghị định, trong khi miền Nam là khu vực triển khai tốt nhất với 91,67% Không có sự khác biệt đáng kể về mức độ thực hiện nghị định giữa các vùng miền.

Trong số các trung tâm phòng, chống HIV/AIDS thực hiện Nghị định 41/2012/NĐ-CP, tỷ lệ thông báo và chỉ đạo triển khai đề án chiếm cao ở cả 3 miền, không có sự khác biệt giữa các vùng Mặc dù khoảng 2/3 các trung tâm đã trình đề án việc làm tới cơ quan chức năng, nhưng phần lớn vẫn chưa thực hiện đúng cách theo hướng dẫn của Thông tư 14/2013 về phát triển đề án vị trí việc làm.

2.3 Mức độ thực hiện của các hệ thống phòng, chống HIV/AIDS địa phương Định mức nhân lực được quy định cụ thể với từng cấp Tại tuyến Trung ương,

Vụ Tổ chức cán bộ và Bộ Nội Vụ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định định mức nhân lực và quy trình tuyển dụng Tại cấp tỉnh, các cơ quan như Sở Nội vụ, Sở Y tế và Sở Tài chính sẽ trình đề án lên Hội đồng nhân dân tỉnh để được xem xét và phê duyệt.

Mặc dù Nghị định 41/2012/NĐ-CP đã được ban hành, nhiều đơn vị vẫn tiếp tục dựa vào Thông tư 08 để xác định vị trí việc làm Theo Thông tư 08, nhiều trung tâm HIV/AIDS của tỉnh chưa đạt đủ số lượng nhân viên theo định mức quy định, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng.

Nhiều tỉnh đã gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nhân viên y tế, khi có nơi thiếu số lượng nhưng nơi khác lại thừa số lượng mà không đảm bảo chất lượng Theo Đại diện Vụ TCCB Bộ Y tế, đến cuối năm 2013, hầu hết các đơn vị đã xây dựng đề án vị trí việc làm, nhưng việc xác định số lượng nhân viên cần thiết vẫn gặp nhiều trở ngại.

- Một số vị trí làm việc không phải là vị trí toàn thời gian, nhiều cán bộ chưa thực sự hiểu rõ công việc của họ.

- Việc phân công chuyên môn tại các khoa phòng chưa hợp lý.

Hiện nay, nhiều đơn vị đang gặp tình trạng thiếu hụt nhân lực có trình độ chuyên môn cao và bằng cấp chuyên sâu, trong khi lại dư thừa nhân lực có bằng trung cấp và các chuyên ngành ít liên quan đến dự phòng và HIV/AIDS Điều này dẫn đến sự bất cập trong việc sắp xếp nhân viên tại các khoa phòng.

Triển khai đề án theo Nghị định 41 hiện tại đang gặp khó khăn, khi chỉ dừng lại ở bước tổng hợp vị trí công việc của từng cá nhân và từng khoa phòng để trình duyệt lên cấp trên, theo nhận định của đại diện lãnh đạo Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS.

Một số tỉnh như Điện Biên vẫn đang gặp khó khăn trong quản lý nhân lực và dựa vào Quyết định 25/2005 của Bộ Y tế để đề xuất nhân lực cho trung tâm phòng chống HIV/AIDS, chưa áp dụng Nghị định 41 Tuy nhiên, Quyết định 25/2005 chỉ quy định về chức năng và nhiệm vụ trong lĩnh vực dự phòng Trong thời gian tới, Quyết định này sẽ được cập nhật và chỉnh sửa để bổ sung các nhiệm vụ điều trị cho trung tâm phòng, chống HIV/AIDS của tỉnh.

Một số yếu tố liên quan đến thực hiện đề án vị trị việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS năm 2013

3.1 Khó khăn cản trở trong việc thực hiện Nghị định 41/2012/NĐ-CP

Kết quả từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với cán bộ cho thấy nhiều khó khăn trong việc triển khai Nghị định 41 và Thông tư 14 Bài viết này sẽ phân tích chi tiết các nội dung chính theo quy định của Thông tư 14 cùng với những thách thức trong quá trình thực hiện.

Xác định vị trí việc làm và tổng hợp thành danh mục vị trí việc làm

Nhiều đơn vị chưa được đào tạo đầy đủ về Nghị định 41 và phương pháp triển khai, dẫn đến khó khăn trong việc xây dựng vị trí việc làm và mô tả công việc Nhân viên gặp khó khăn khi liệt kê công việc của mình, trong khi cán bộ triển khai gặp trở ngại trong việc xác định vị trí và tên chức danh Tại nhiều đơn vị, cán bộ quản lý thường kiêm nhiệm nhiều vai trò, như trưởng khoa kiêm giám đốc, làm cho việc xác định vị trí việc làm trở nên phức tạp Cần có sự thống nhất trong việc xác định chức danh vị trí việc làm, đặc biệt là khi phát sinh những vị trí thực tế không được quy định theo luật, và điều này cần sự chỉ đạo từ các đơn vị cấp trên như Cục HIV/AIDS.

Trung tâm HIV có đông đảo nhân viên, nhưng họ thường kiêm nhiệm công việc của các khoa khác, khiến việc mô tả công việc cho một khoa trở nên khó khăn Do đó, việc xác định vị trí của nhân viên trong khoa nào là một câu hỏi cần được xem xét kỹ lưỡng.

Khi phân tích công việc, cán bộ các khoa phòng gặp khó khăn trong việc liệt kê công việc cụ thể do thiếu hiểu biết và không nắm rõ nhiệm vụ của nhau Điều này dẫn đến việc đo lường và tính toán khối lượng công việc trở nên phức tạp Thêm vào đó, kỹ năng quản lý nhân lực của các cán bộ trưởng phó phòng còn hạn chế, gây cản trở cho quá trình phân tích công việc hiệu quả.

Khi phân tích công việc, nhiều người thường lo lắng về khả năng bị thải chức, dẫn đến việc họ cố gắng nhớ lại mọi công việc đã thực hiện, ngay cả khi không thường xuyên, để chứng minh giá trị của bản thân trước lãnh đạo.

Xây dựng khung năng lực cho từng vị trí việc làm là cần thiết, nhưng hiện tại, lãnh đạo và cán bộ chưa hiểu rõ về khung năng lực và yêu cầu năng lực của vị trí công việc của họ Việc thiếu tiêu chuẩn rõ ràng cho từng vị trí đã gây khó khăn trong việc thiết lập một khung năng lực thống nhất.

“Đôi khi làm cũng khó định nghĩa thế nào là thành thạo, thế nào là chưa thành thạo”, (Thảo luận nhóm_TT PC HIV/AIDS_Cần Thơ).

Viết Bản mô tả công việc của từng vị trí việc làm

Việc viết bản mô tả công việc gặp nhiều khó khăn, với nhiều cán bộ bày tỏ sự bối rối khi không biết cách viết cho đúng và đủ (Thảo luận nhóm_TT PC HIV/AIDS_An Giang) Thêm vào đó, do công việc được phân công theo chỉ đạo của lãnh đạo, nhiều cán bộ cũng không rõ cần ghi những thông tin gì trong bản mô tả.

3.2 Tác động, ảnh hưởng của Nghị định 41/2012/NĐ-CP

Kết quả phỏng vấn và thảo luận nhóm cho thấy Nghị định 41 đã bắt đầu tác động đến hệ thống nhân lực HIV/AIDS, với một số đơn vị đã hoàn thành Đề án vị trí việc làm và gửi lên Sở Y tế để chờ phê duyệt từ Sở Nội Vụ Tuy nhiên, vẫn còn nhiều đơn vị chưa nắm rõ nội dung của Nghị định 41 và vẫn tiếp tục dựa vào quyết định 25 và thông tư 08 để xác định số lượng nhân viên, ngay cả khi đang xây dựng đề án theo Nghị định 41.

Trung tâm đã hoàn thành việc xây dựng đề án theo hướng dẫn của Nghị định 41 và đã gửi đến Sở Y tế cùng Sở Nội Vụ, hiện đang chờ phê duyệt.

Hệ thống phòng chống HIV/AIDS của tỉnh hiện nay vẫn đang được quản lý nhân lực theo Quyết định số 25 của Bộ Y tế Tuy nhiên, trung tâm vẫn chưa triển khai thực hiện Nghị định số 41.

Nghị định 41 nhấn mạnh vai trò quan trọng của người đứng đầu đơn vị y tế trong việc lập kế hoạch và tuyển dụng nhân sự Thực hiện Nghị định 41 yêu cầu các cơ sở y tế chủ động xây dựng và bảo vệ kế hoạch nhân lực, đảm bảo số lượng và chất lượng cán bộ phù hợp với nhu cầu Đồng thời, việc xác định cơ cấu chức danh nghề nghiệp chi tiết cho từng khoa, phòng đòi hỏi sự tham gia tích cực của cán bộ quản lý trong việc rà soát nhân lực Nhờ đó, công tác quản lý nhân lực tại các đơn vị sẽ trở nên hiệu quả hơn.

Xây dựng đề án vị trí việc làm thể hiện vai trò quan trọng của người đứng đầu trong việc xác định và phát triển vị trí công việc dựa trên quy mô, chức năng, nhiệm vụ và nhu cầu của đơn vị Điều này đồng nghĩa với việc tạo ra cơ cấu chức danh nghề nghiệp hợp lý và hiệu quả.

(Phỏng vấn sâu Phó Vụ trưởng Vụ TCCB BYT)

Sau khi thực hiện Nghị định 41 về vị trí việc làm, cán bộ và nhân viên trong các đơn vị sẽ nắm rõ hơn về công việc của mình và của tập thể Bản mô tả công việc sẽ quy định rõ trách nhiệm và nhiệm vụ, giúp cá nhân có định hướng tốt hơn trong công việc, đồng thời nâng cao tính cụ thể và chính xác trong quá trình đánh giá và phản hồi hiệu suất làm việc.

Mặc dù Nghị định 41 vẫn chưa chính thức có hiệu lực vì đang chờ phê duyệt từ Sở Nội Vụ, nhưng nó mang lại cơ hội cho các lãnh đạo đơn vị xem xét lại tình hình nhân lực hiện tại Qua việc thực hiện Nghị định, các đơn vị có thể định hướng phát triển đào tạo, tuyển dụng và cân đối cơ cấu nhân lực một cách hiệu quả hơn.

Khi xây dựng vị trí việc làm, các đơn vị cần nắm rõ cơ cấu nhân lực của mình để xác định những mảng thừa và thiếu Điều này giúp họ lập kế hoạch phát triển hiệu quả hơn.

(Phỏng vấn sâu Chuyên viên phòng TCCB SYT Cần Thơ)

BÀN LUẬN

Mẫu nghiên cứu

Tỉ lệ giới trong mẫu nghiên cứu giữa nam và nữ khá đồng đều, phản ánh đúng tỉ lệ giới chung của dân số Việt Nam Mẫu nghiên cứu này đại diện cho quần thể dân cư, nhưng chưa hoàn toàn đại diện cho tỉ lệ giới trong ngành y tế, do sự thiếu hụt của nữ giới trong lĩnh vực này.

Y tế luôn chiểm tỉ lệ cao hơn , do đó có thể mẫu ở đây chưa hẳn đại diện cho tất cả cán bộ trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS

Nghiên cứu đã tập trung vào các đối tượng chủ chốt, bao gồm Vụ Tổ chức Cán bộ thuộc Bộ Y tế, Lãnh đạo Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Ban Giám đốc của PAC và người phụ trách công tác cán bộ của PAC, những người có vai trò quyết định trong việc giải quyết vấn đề nhân lực trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS.

Sở Y tế, Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Nội vụ tỉnh đã hợp tác để đảm bảo kết quả nghiên cứu đạt giá trị và độ tin cậy cao, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.

Đối tượng nghiên cứu có tuổi đời trung bình là 51, cho thấy sự chín chắn và kinh nghiệm trong lĩnh vực nhân lực và phòng, chống HIV/AIDS, với thời gian công tác trung bình là 10 năm và 9 năm làm quản lý Điều này đảm bảo rằng họ đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chất lượng nghiên cứu, cung cấp thông tin giá trị và sát thực Mẫu nghiên cứu bao gồm cả cán bộ trong lĩnh vực dự phòng và lâm sàng (điều trị ngoại trú cho bệnh nhân nhiễm HIV - OPC), do đó, có khả năng đại diện cho hai lĩnh vực lớn nhất trong công tác phòng chống HIV/AIDS.

Mẫu nghiên cứu bao gồm các tuyến từ trung ương đến địa phương, tạo ra một cái nhìn toàn diện về nhân lực Điều này không chỉ giúp thực hiện các nghiên cứu định tính logic mà còn cho phép phân tích sâu xa các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp thực tiễn, phù hợp với điều kiện của từng đối tác và từng tuyến.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích với tiêu chí cụ thể, giúp đại diện cho năm khía cạnh quan trọng: các vùng/miền, các tuyến trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS (Trung ương và tỉnh), tổ chức (các khoa/phòng của các trung tâm phòng chống HIV/AIDS), lĩnh vực dự phòng và điều trị, cùng với vấn đề nghiên cứu Nhóm nghiên cứu đã tiếp cận với những cán bộ lãnh đạo có kinh nghiệm, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, sử dụng nhiều nguồn thông tin đối chiếu (PVS, TLN, tổng quan tài liệu, liên hệ địa phương), từ đó cung cấp thông tin và số liệu đáng tin cậy Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá thực trạng nhân lực trong hệ thống phòng chống HIV/AIDS và phân tích nguyên nhân, đồng thời đưa ra đề xuất cải thiện nhân lực tại các miền vùng và toàn quốc.

Chính sách liên quan đến nhân lực

Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một chính sách nhân lực phòng chống HIV/AIDS toàn diện và nhất quán, bao gồm cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực cùng chế độ đãi ngộ Điều này được thể hiện qua các văn bản quan trọng như Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS qua các giai đoạn khác nhau và các quyết định, chỉ thị hướng dẫn như chỉ thị số 54 CT-.

Quyết định số 33/2007/QĐ-BYT và quyết định số 608/QĐ-TTg đã đưa ra nhiều giải pháp cụ thể nhằm phát triển và duy trì nguồn nhân lực phòng chống HIV/AIDS Những định hướng này đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo phát triển nhân lực cho hệ thống phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam, cả trong quá khứ và tương lai Mặc dù các định hướng này chưa cụ thể hóa về nhân lực, nhưng chúng mang lại sức mạnh pháp lý và lãnh đạo từ Đảng và Nhà nước, yêu cầu các văn bản dưới đây phải tuân theo những chỉ đạo lớn này.

Thông tư liên tịch số 08/2007 quy định biên chế cán bộ cho Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh và huyện dựa trên số dân, nhưng thực tế không phản ánh đúng tình hình dịch bệnh tại nhiều địa phương Nhiều tỉnh, huyện có dân số thấp nhưng lại đối mặt với dịch HIV phức tạp hoặc tỷ lệ nhiễm cao, trong khi một số nơi dân số đông nhưng ít ghi nhận ca nhiễm Điều này cho thấy sự bất cập trong quy định biên chế theo Thông tư.

Thông tư 08/2007 quy định mức biên chế cứng nhắc tại các cơ sở công lập, gây khó khăn cho việc tự chủ về nhân lực theo nghị định 43/2006 Mặc dù tuyến huyện đã có khoa Kiểm soát dịch bệnh- HIV/AIDS trực thuộc Trung tâm y tế dự phòng huyện/quận, việc lồng ghép với kiểm soát dịch bệnh vẫn cần được đảm bảo hợp lý Tuy nhiên, quy định về số lượng biên chế cán bộ theo dân số tại tuyến huyện chưa hợp lý, khi hai huyện có dân số tương đương nhưng mức độ dịch bệnh khác nhau lại không được điều chỉnh biên chế Hơn nữa, thiếu quy định về chất lượng cán bộ tại tuyến huyện khiến cho các đơn vị dự phòng không có cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng nhân lực trong công tác tuyển dụng và đào tạo.

Tại tuyến xã, quy định về phòng chống HIV/AIDS còn mờ nhạt hơn so với tuyến huyện, với hầu như không có văn bản pháp lý cụ thể cho trạm y tế xã phường Luật phòng chống HIV/AIDS chỉ giao nhiệm vụ cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường trong việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động phòng chống HIV/AIDS, cũng như chăm sóc hỗ trợ cho người nhiễm Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 4994/QĐ-BYT vào cuối năm 2012, yêu cầu thành lập Ban chỉ đạo phòng chống HIV/AIDS tại xã phường, nhưng chưa quy định rõ về số lượng và chất lượng cán bộ cho lĩnh vực này Điều này dẫn đến việc thiếu cơ sở pháp lý và khoa học cho việc phát triển cán bộ tại tuyến xã, phường.

Bộ Y tế nhấn mạnh tính xã hội hóa trong công tác phòng chống HIV/AIDS, với Đảng ủy các cấp là hạt nhân lãnh đạo và UBND các cấp chủ trì thực hiện Ngành Y tế đóng vai trò tham mưu quan trọng, cùng với sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể và toàn thể nhân dân Công tác phòng chống HIV/AIDS trở thành nhiệm vụ chung của tất cả tổ chức và cá nhân trong xã hội Nhờ vào chính sách xã hội hóa, nguồn nhân lực và vật lực cho công tác này đã được gia tăng đáng kể, góp phần đạt được những kết quả khả quan trong những năm qua.

Năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2012 và Thông tư số 14/2012, quy định về vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập, nhằm xác định số lượng và chất lượng cán bộ cho mỗi vị trí Hai văn bản này giúp xác định chính xác nhu cầu nhân lực cho từng vị trí cũng như cho các cơ sở như PC HIV/AIDS, đồng thời xác định đầu ra và nhu cầu đào tạo Nhờ đó, công tác quản lý nhân lực trở nên dễ dàng và khoa học hơn, mặc dù thực tế thực hiện tại nhiều địa phương vẫn cho thấy một số thách thức trong việc áp dụng chính sách này.

Vị trí việc làm hiện nay gặp nhiều bất cập do một số khái niệm như “Khung năng lực” và “Sản phẩm đầu ra” chưa được định nghĩa rõ ràng, dẫn đến sự hiểu biết khác nhau và thực hiện không thống nhất giữa các địa phương Năng lực thực hiện của cán bộ tổ chức ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi một số biểu mẫu lại quá phức tạp Đặc biệt, các đơn vị công lập không còn cơ sở pháp lý để tinh giản biên chế, dẫn đến việc tăng số lượng biên chế mà Bộ Nội vụ lại không cho phép tăng thêm Sau một năm thực hiện Nghị định, kết quả chưa rõ ràng và chưa có đánh giá cụ thể, do đó cần ít nhất 3-5 năm để tổng kết Mặc dù nhiều đơn vị trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS đã hoàn thành đề án, nhưng vẫn chưa có đơn vị nào được phê duyệt để áp dụng chính thức, tạo ra lo ngại về khả năng thực thi trong tương lai.

Thực trạng thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS

Nghị định 41 được ban hành nhằm xây dựng cơ cấu chức danh nghề nghiệp, cho phép các đơn vị thiết lập vị trí công việc dựa trên quy mô và nhu cầu thực tế Nghị định này nhấn mạnh vai trò quan trọng của người đứng đầu trong việc xác định vị trí việc làm Sự khác biệt chính giữa Nghị định 41 và Thông tư 08 là Nghị định 41 cho phép các đơn vị tự xây dựng vị trí theo nhu cầu, trong khi Thông tư 08 dựa trên cơ cấu nhân viên Nghiên cứu định tính cho thấy Nghị định 41 hỗ trợ các đơn vị xác định số lượng nhân lực cần thiết để so sánh với số lượng hiện có, từ đó đưa ra quyết định phù hợp.

Trong quá trình triển khai Nghị định 41, BYT và Cục phòng chống HIV/AIDS đã xây dựng văn bản định hướng cho cơ cấu chức danh nghề nghiệp và tổ chức đào tạo cho lãnh đạo các đơn vị nhằm nâng cao quản lý đào tạo giám đốc trung tâm Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn còn ở giai đoạn đầu, chưa có triển khai cụ thể tại địa phương về xây dựng đề án vị trí việc làm Định hướng của Cục trong thời gian tới là tổ chức trao đổi về đề án mẫu giữa các nhà quản lý, cử chuyên viên xuống cơ sở để tư vấn, hỗ trợ thực hiện nghị định và tổ chức kiểm tra giám sát việc thực hiện.

Trong bối cảnh các nhà tài trợ quốc tế giảm viện trợ, BYT/VAAC đã đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho cán bộ dự án sau khi kết thúc Tại tuyến tỉnh, Giám đốc Sở Y tế sẽ dựa vào Nghị định 41 và tình hình dịch bệnh, số lượng bệnh nhân, quy mô và nhu cầu để thành lập khoa phòng chống HIV/AIDS hoặc kết hợp với các khoa khác cho phù hợp với thực tế.

Nghị định 41 và Thông tư 14 đã tạo điều kiện cho các lãnh đạo đơn vị trong việc lập kế hoạch và tuyển dụng nhân lực, nhưng nhiều đơn vị y tế vẫn tiếp tục dựa vào Thông tư 08 và Quyết định 25 để lập kế hoạch nhân lực Việc triển khai Nghị định 41 đòi hỏi sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các cấp quản lý về thủ tục và kinh phí, vì nó chỉ hướng dẫn lập kế hoạch mà chưa cung cấp cơ chế giải quyết tình trạng thiếu hoặc thừa nhân lực Biên chế nhân lực còn phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, trong khi Sở Y tế và UBND tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc phê duyệt biên chế và cấp kinh phí Do đó, để phê duyệt đề án vị trí việc làm, cần có sự hướng dẫn từ Sở Y tế và sự ủng hộ từ UBND tỉnh, nhưng hiện tại, cả Nghị định 41 và Thông tư 14 chưa đề cập đến vai trò hỗ trợ của các cấp quản lý tuyến tỉnh, dẫn đến nhiều đơn vị vẫn đang chờ đợi hướng dẫn từ các ban ngành.

Y tế về vấn đề này.

4 Một số yếu tố liên quan đến thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS

Việc xây dựng đề án vị trí việc làm tại các đơn vị đang gặp khó khăn do nhiều cán bộ chưa hiểu rõ quy trình lập bản mô tả công việc Kinh nghiệm từ dự án GIZ năm 2013 tại trung tâm phòng chống HIV/AIDS Đà Nẵng cho thấy, nếu cán bộ các khoa phòng được tập huấn về tầm quan trọng và các bước phân tích công việc, việc xây dựng bản mô tả công việc cho nhân viên hành chính sẽ khả thi Thêm vào đó, bộ chỉ số đánh giá nhu cầu nhân viên (WISN) có thể là công cụ hữu ích để mô tả và lượng hóa khối lượng công việc cho những cán bộ trực tiếp cung cấp dịch vụ tư vấn và điều trị.

Trình tự và thủ tục xây dựng, thẩm định đề án tại trung tâm hiện vẫn gặp khó khăn do hướng dẫn kỹ thuật chưa rõ ràng Mặc dù quá trình thẩm định tại các cơ sở chức năng như Sở Y tế và Sở Nội vụ có thể thuận lợi hơn nhờ có văn bản chỉ đạo từ cấp trên, nhưng để đề án được phê duyệt chính thức và áp dụng thực tế vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua.

Ngày đăng: 27/04/2021, 12:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Bui Thi Thu Ha, S.W., Bakhuti Shengalia, Marko Vujicic, Understanding the "four directions of travel": qualitative research into the factors affecting recruitment and retention of doctors in rural Vietnam. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: four directions of travel
33. Minh, Đ. Những nữ cán bộ ngành y tế giỏi việc nước đảm việc nhà. 2014; Available from: http://soyte.haiduong.gov.vn/ThongTinChuyenNganh/Pages/Nh%E1%BB%AFngn%E1%BB%AFc%C3%A1nb%E1%BB%99ng%C3%A0nhyt%E1%BA%BFgi%E1%BB%8Fivi%E1%BB%87cn%C6%B0%E1%BB%9Bc%C4%91%E1%BA%A3mvi%E1%BB%87cnh%C3%A0.aspx Link
40. Báo điện tử Tạp chí Tổ chức nhà nước. Không tăng biên chế công chức tới năm 2016, Bài trả lời chất vấn của Bộ Trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình ngày 20/11/2013 tại diễn đàn Quốc hội. 2013; Available from:http://tochucnhanuoc.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/5017/0/5119/Khong_tang_bien_che_cong_chuc_den_2016 Link
49. Thùy Giang. Tỷ lệ người nhiễm HIV tại Việt Nam đã giảm mạnh. 2013;Available from: http://www.vietnamplus.vn/ty-le-nguoi-nhiem-hiv-tai-viet-nam-da-giam-manh/206275.vnp Link
50. Trường Đại học Tây Nguyên. Thông tin tuyển sinh năm 2013. 2013 [cited 2014 13]; Available from: http://thongtintuyensinh.vn/Thong-tin-tuyen-sinh_C93_D742.htm Link
51. Tổng cục thống kê Việt Nam. Số người nhiễm HIV/AIDS và số người chết do AIDS phân theo địa phương. 2012; Available from:http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=395&idmid=3&ItemID=13950 Link
52. Vân Sơn. Giật mình chuyện yếu và thiếu ở y tế xã phường, Trang Dân trí điện tử, ngày 26-4-2013. 2013 [cited 2014; Available from:http://dantri.com.vn/suc-khoe/giat-minh-chuyen-yeu-va-thieu-o-y-te-xa-phuong-723739.htm Link
1. Chính phủ Việt Nam, Quyết định Số 36/2004/QĐ-TTG, ngày 17-3-2004 phê duyệt Chiến lược Quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, 2004: Hà Nội Khác
2. Bộ Y tế - Vụ Tổ chức cán bộ, Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ:Phân tích thực trạng và đề xuất sửa đổi, bổ sung một số chế độ phụ cấp đối với cán bộ, viên chức trong các cơ sở y tế công lập, 2009 Khác
3. Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chỉ thị số 54-CT/TW ngày 30/11/2005 Về tăng cường sự lãnh đạo công tác phòng, chống AIDS trong tình hình mới, 2005 Khác
4. Bộ Y tế, Quyết định Số: 33/2007/QĐ-BYT, ngày 23-8-2007 về phê duyệt chương trình hành động tăng cường năng lực và hợp tác quốc tế trong phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010. 2007 Khác
5. Bộ Y tế, Quyết định về việc duyệt chương trình hành động tăng cường năng lực, hợp tác quốc tế trong phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam, in 33/2007/QĐ-BYT, Bộ Y tế, Editor 2007 Khác
6. Chính phủ Việt Nam, Quyết định số 608/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2012 về phê duyệt chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030., 2012 Khác
7. Bộ Y tế - Bộ Nội vụ, Thông tư liên tịch hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước, in 08/2007/TTLT-BYT-BNV, Bộ Y tế - Bộ Nội vụ, Editor 2007 Khác
8. Thủ tướng chính phủ, Quyết định về việc phê duyệt Đề án nâng cao năng lực hệ thống phòng, chống HIV tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương giai đoạn từ 2010 đến 2015, in 1107/QĐ-TTg, Văn phòng chính phủ, Editor 2011 Khác
9. Chính Phủ, Nghị định quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập, in 41/2012/NĐ-CP, Chính Phủ, Editor 2012 Khác
10. Bộ Nội vụ, Thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính Phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập, in 14/2012/TT-BNV, Bộ Nội vụ, Editor 2012 Khác
11. Bộ Y tế, Thông tư hướng dẫn tuyển sinh đào tạo liên thông trình độ đại học, cao đẳng y tế, in 06/2008/TT-BYT, Bộ Y tế, Editor 2008 Khác
12. Bộ Y tế, Thông tư hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế, in 07/2008/TT-BYT, Bộ Y tế, Editor 2008 Khác
13. Bộ Y tế - Nhóm đối tác y tế, Báo cáo tổng quan chung ngành Y tế: Nguồn nhân lực y tế, 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w