Đề tài đã nghiên cứu phương pháp đánh giá tải trọng khai thác của tuyến đường Quảng Ngãi-Chợ Chùa đoạn Km0+26,00-Km4+940,46 thuộc tuyến ĐT.624 tỉnh Quảng Ngãi; cần sử dụng nội dung và ph
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
a) Mục tiêu tổng quát Đánh giá khả năng sức chịu tải hiện hữu của kết cấu đường bằng phương pháp đo mô đun đàn hồi để xác định tải trọng xe và tải trọng trục xe trong quá trình khai thác sử dụng b) Mục tiêu cụ thể
- Xác định mô đun đàn hồi đường Quảng Ngãi-Chợ Chùa (đoạn Km0+26,00 - Km4 + 940,46) thuộc tuyến ĐT.624 tỉnh Quảng Ngãi
- Từ số liệu đo mô đun đàn hồi để xác định tải trọng trục xe, tải trọng xe
- Đề xuất phương pháp quản lý tải trọng xe trong quá trình khai thác sử dụng.
Giới hạn nghiên cứu
Dưới tác dụng của tải trọng xe khai thác làm kết cấu đường hư hỏng do nhiều nguyên nhân chất lượng thi công, vật liệu sử dụng, tiêu chuẩn thiết kế Hư hỏng kết cấu đường có thể do phần móng, nền và mặt đường Giới hạn bài toán của luận văn xác định tải trọng trục xe khai thác của tuyến đường so với tải trọng trục xe tiêu chuẩn thiết kế.
Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá khả năng chịu tải của kết cấu đường trong quá trình khai thác sử dụng bằng phương pháp đo mô đun đàn hồi của kết cấu đường.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê thu thập số liệu;
- Phương pháp lý thuyết xác định tải trọng xe trên số liệu mô đun đàn hồi thực tế của kết cấu đường
6 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan về tải trọng xe
Chương 2: Cơ sở lý thuyết xác định tải trọng xe và các yếu tố ảnh hưởng đến tải trọng khai thác
Chương 3: Xác định tải trọng khai thác trên tuyến đường Quảng Ngãi-Chợ Chùa (đoạn Km0+26,00 - Km4 + 940,46) thuộc tuyến ĐT.624 tỉnh Quảng Ngãi
Kết luận và kiến nghị
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ TẢI TRỌNG XE
1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TẢI TRỌNG KHAI THÁC CỦA TUYẾN ĐƯỜNG
1.1.1.Tải trọng xe và tải trọng khai thác đường bộ
1.1.1.1 Tải trọng xe a) Tải trọng bản thân xe
Tải trọng bản thân xe là khối lượng của xe, đo bằng kilôgam (kg) hoặc tấn (t) ở trạng thái tĩnh được ghi theo thông số quy định trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không kể đến khối lượng người trong xe và khối lượng hàng hóa trên xe b) Tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe
Tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe gồm trọng lượng (khối lượng) bản thân xe cộng với trọng lượng (khối lượng) của người, hành lý và hàng hóa xếp trên xe (nếu có)
Xe Cửu Long 9650T2MB, biển số đăng ký 76C-067.75, theo thiết kế: Xe 2 trục; trọng lượng bản thân là: 5,67 tấn, trọng lượng hàng được chở là: 4,75 tấn, số người cho phép chở (kể cả người lái): 3x0,065=0,195 tấn; vậy tổng trọng lượng của xe là: 10,615 tấn c) Tải trọng toàn bộ xe cho phép
Tải trọng toàn bộ xe cho phép là bằng tải trọng bản thân xe cộng với khối lượng chuyên chở cho phép xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ d) Tải trọng trục xe
Tải trọng trục xe là tổng trọng lượng của xe phân bố trên mỗi trục xe hoặc cụm trục xe (trục đơn, cụm trục kép 2, cụm trục kép ba)
- Xe tải 15,9T, có 2 hàng trục đơn Trong đó trục trước 6T, trục sau 9,9T;
- Xe tải 19T, có 3 hàng trục Trong đó trục trước 6T, hai hàng trục sau 13T; e) Xe quá tải trọng
Xe quá tải trọng là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có tổng trọng lượng của xe hoặc có tải trọng trục xe vượt quá tải trọng khai thác của đường bộ
Xe Cửu Long 9650T2MB, biển số đăng ký 76C-067.75, theo thiết kế: Trọng lượng bản thân là: Xe 2 hai trục đơn 5,67 tấn, trọng lượng hàng được chở là: 4,75 tấn, số người cho phép chở (kể cả người lái): 3x0,065=0,195 tấn; vậy tổng trọng lượng của xe là: 10,615 tấn Nhưng thực tế xe đã cơi nới thành thùng xe, chở hàng vật liệu với trọng lượng hàng hóa lên 14 tấn; theo đó, tổng trọng lượng xe lên đến 19,865 tấn; như vậy, lái xe điều khiển xe đã chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe là 194,7% và điều khiển xe chở hàng có tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe vượt quá tải trọng cho phép của đường là 24,15%
1.1.1.2 Tải trọng khai thác của đường bộ
- Tải trọng của đường bộ là khả năng chịu tải khai thác của cầu và đường để bảo đảm tuổi thọ công trình theo thiết kế
- Khả năng chịu tải khai thác của cầu được xác định theo hồ sơ thiết kế cầu và tình trạng kỹ thuật thực tế của cầu, được cơ quan có thẩm quyền công bố hoặc được thể hiện bằng biển báo hiệu hạn chế tổng trọng lượng xe qua cầu theo quy định về báo hiệu đường bộ
- Khả năng chịu tải khai thác của đường được xác định theo hồ sơ thiết kế mặt đường và tình trạng kỹ thuật thực tế của đường, được cơ quan có thẩm quyền công bố hoặc được thể hiện bằng biển báo hiệu hạn chế trọng lượng trên trục xe theo quy định về báo hiệu đường bộ
1.1.2 Các văn bản pháp quy về tải trọng của xe khi tham gia giao thông
- Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012;
- Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
- Căn cứ Nghị định định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô;
- Căn cứ Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt;
- Căn cứ Thông tư số 35/2013/TT-BGTVT ngày 21/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về việc xếp hàng hóa trên xe ô tô;
- Căn cứ Thông tư số 42/2014/TT-BGTVT ngày 15/9/2014 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về thùng xe của xe tự đổ, xe xi téc, xe tải tham gia giao thông đường bộ;
- Căn cứ Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT ngày 7/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đường bộ;vận tải quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ;
- Căn cứ Thông tư số 10/2015/TT-BGTVT ngày 15/4/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định trách nhiệm và xử lý vi phạm trong hoạt động vận tải bằng xe ô tô;
- Căn cứ Thông tư số 46/2015/TT-BGTVT ngày 07/9/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ; lưu hành xe quá tải trọng, xe quá khổ giới hạn, xe bánh xích trên đường bộ; vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng và giới hạn xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ khi tham gia giao thông trên đường bộ;
- Căn cứ Thông tư số 06/2017/TT-BGTVT ngày 28/02/2017 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định quy trình sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và sử dụng kết quả thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ làm căn cứ để xác định vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ;
- Căn cứ Công văn số 1612/ĐKVN –VAR ngày 16/5/2014 của Cục Đăng kiểm Việt Nam về việc hướng dẫn kiểm tra xác định và ghi nhận khối lượng cho phép tham gia giao thông của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ;
- Căn cứ Quy chuẩn về Trạm kiểm tra tải trọng xe (QCVN 66:2013/BGTVT);
- Căn cứ Quy chuẩn về cân kiểm tra tải trọng xách tay (ĐLVN 26:2012);
- Căn cứ Quy chuẩn cân kiểm tra tải trọng xe (QCVN 48:2017);
- Căn cứ Quy chuẩn cân ô tô động (ĐLVN 145:2004);
- Căn cứ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sai số cho phép và làm tròn số đối với kích thước, khối lượng của xe cơ giới (QCVN 12 : 2011/BGTVT);
- Căn cứ Tiêu chuẩn 22TCN 211-06 “Áo đường mềm-các yêu cầu và chỉ dẫn thiết kế” của Bộ GTVT;
- Căn cứ nguồn tài liệu từ intrernet
1.1.3 Những vấn đề tải trọng xe trong quy định và trong khai thác thực tế
Theo Thông tư số 46/2015/TT-BGTVT ngày 07/9/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ; lưu hành xe quá tải trọng, xe quá khổ giới hạn, xe bánh xích trên đường bộ; vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng và giới hạn xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ khi tham gia giao thông trên đường bộ [4], Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 41:2016/BGTVT về biển báo đường bộ [10] và Tiêu chuẩn 22TCN 211-06 “Áo đường mềm-các yêu cầu và chỉ dẫn thiết kế” của Bộ GTVT [12], còn tồn tại vấn đề như sau:
- Trọng tải với tải trọng; giữa vượt trọng tải và quá tải đường bộ;
- Tải trọng trục tính toán theo tiêu chuẩn thiết kế được quy định là trục đơn 10
Tấn/trục (hoặc 12 Tấn/trục) tại mục 3.2.1 Tiêu chuẩn 22TCN 211-06 “Áo đường mềm-các yêu cầu và chỉ dẫn thiết kế” của Bộ GTVT [12];