1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giáo trình môn học tài chính doanh nghiệp 1353974

284 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 284
Dung lượng 4,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các hộ gia đình cũng có thể được sử dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong phạm vi kinh tế hộ gia đình, hoặc tham gia vào thị trường tài chính

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Giới thiệu:

Khi ti ến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có vốn tiền tệ ban đầu để xây dựng, mua sắm các tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, trả lương, khen th ưởng, cải tiến kỹ thuật…Việc chi dùng thường xuyên vốn tiền tệ đòi hỏi

ph ải có các khoản thu để bù đắp tạo nên quá trình luân chuyển vốn Như vậy trong quá trình luân chuy ển vốn tiền tệ đó doanh nghiệp phát sinh các mối quan

h ệ kinh tế, trong chương này, chúng ta sẽ đi tìm hiểu bản chất của các mối quan

h ệ kinh tế đó

Mục tiêu:

- Trình bày được hoạt động của doanh nghiệp và tài chính;

- Trình bày được các nội dung cơ bản của tài chính doanh nghiệp;

- Trình bày được các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức tài chính doanh nghi ệp;

- Phân tích được vai trò của tài chính doanh nghiệp;

- Phân bi ệt được các loại hình doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp;

- Gi ải thích được bản chất tài chính của doanh nghiệp;

- Nghiêm túc khi nghiên c ứu, tuân thủ luật và chế độ quản lý tài chính của nhà n ước

Nội dung:

1 Tài chính doanh nghiệp

1.1 Hoạt động của doanh nghiệp và tài chính

Hoạt động của con người về sử dụng phạm trù tài chính tồn tại khách quan

là hoạt động tài chính Trong đời sống thực tiễn, hoạt động tài chính luôn gắn liền với các hoạt động kinh tế - xã hội

H ệ thống tài chính là tổng thể các luồng vận động của các nguồn tài chính trong các l ĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ

v ới nhau về việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã

h ội hoạt động trong các lĩnh vực đó

H ệ thống tài chính là tổng thể các khâu tài chính có mối quan hệ mật thiết

v ới nhau trong quá trình hoạt động

Hệ thống tài chính của một quốc gia là một thể thống nhất do nhiều mắt khâu tài chính hợp thành

Hệ thống tài chính nước ta hiện nay bao gồm các khâu:

1 Ngân sách Nhà nước

2 Tài chính Doanh nghiệp

3 Bảo hiểm

Trang 3

Ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia

Đây là một “ tụ điểm “ của các nguồn tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước với mục đích phục vụ cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp và thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quản lý kinh tế - xã hội

- Ngân sách Nhà nước có các nhiệm vụ sau:

+ Thứ nhất, động viên tập trung các nguồn tài chính cho việc tạo lập quỹ

tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước - quỹ Ngân sách - từ các khoản huy động mang tính bắt buộc ( thuế, phí, lệ phí) hoặc mang tính chất tự nguyện ( viện trợ, vay nợ trong và ngoài nước)

+ Thứ hai, phân phối và sử dụng quỹ Ngân sách cho việc thực hiện các

nhiệm vụ kinh tế - xã hội như duy trì bộ máy Nhà nước, củng cố an ninh quốc phòng, phát triển văn hoá xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng, đầu tư kinh tế

+ Thứ ba, giám đốc và kiểm tra đối với các khâu tài chính khác và với mọi

hoạt động khác nhau của xã hội, với tất cả các khâu khác trong hệ thống tài chính; do đó nó có khả năng và cần phải thực hiện việc kiểm tra đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính có quan hệ với việc tạo lập và sử dụng quỹ Ngân sách ở mọi khâu tài chính và mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội

Tài chính Doanh nghiệp

Tài chính Doanh nghiệp là khâu cơ sở trong hệ thống tài chính quốc gia

Đây là một “ tụ điểm “ của các nguồn tài chính gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ Hoạt động Tài chính Doanh nghiệp luôn gắn liền với các chủ thể của nó là các doanh nghiệp ( pháp nhân hay thể nhân)

Sự tạo lập vốn ban đầu có thể và trước hết là dựa vào thị trường tài chính, thu hút vốn qua góp vốn cổ phần ( phát hành cổ phiếu) hay đi vay ( phát hành trái phiếu, vay ngân hàng ) Sau đó, do gắn liền với sản xuất kinh doanh, vốn và các quỹ tiền tệ khác được bổ sung, tái tạo thông qua việc phân phối doanh thu tiêu thụ sản phẩm, lập các quỹ bù đắp ( như quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bù đắp vốn lưu động) và tạo lập các quỹ từ lợi nhuận Mỗi quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp đều có mục đích nhất định, nhưng tính chất chung của chúng là gắn liền với sản xuất kinh doanh, chi dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh và phần tiêu dùng để hình thành thu nhập của những người tham gia sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp

Tài chính Doanh nghiệp có các nhiệm vụ sau đây:

+ Một là, Bảo đảm vốn và phân phối vốn hợp lý cho các nhu cầu của sản

xuất kinh doanh

Trang 4

+ Hai là, Tổ chức cho vốn chu chuyển một cách liên tục và có hiệu quả + Ba là, Phân phối doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp theo đúng các

quy định của nhà nước

+ Bốn là, Kiểm tra mọi quá trình vận động của các nguồn tài chính trong

doanh nghiệp; đồng thời, kiểm tra mọi hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với các quá trình đó

Tài chính Doanh nghiệp có quan hệ với các khâu khác của hệ thống tài chính như quan hệ với Tài chính hộ gia đình thông qua trả lương, thưởng, lợi tức cổ phần, trái phiếu; quan hệ với Ngân sách thông qua nộp thuế; quan hệ với các tổ chức tín dụng thông qua việc thu hút nguồn tài chính để tạo vốn hoặc trả

nợ gốc và lãi vay Quan hệ giữa Tài chính Doanh nghiệp với các khâu tài chính khác có thể là trực tiếp với nhau, cũng có thể thông qua thị trường tài chính

Bảo hiểm

Bảo hiểm là một khâu trong hệ thống tài chính nước ta Bảo hiểm có nhiều hình thức và nhiều quỹ tiền tệ khác nhau, nhưng tính chất chung và đặc biệt của các quỹ bảo hiểm là được tạo lập và sử dụng để bồi thường tổn thất nhiều dạng cho những chủ thể tham gia bảo hiểm tuỳ theo mục đích của quỹ

Theo tính chất của hoạt động bảo hiểm, bảo hiểm được chia thành hai nhóm:

- Bảo hiểm kinh doanh: ( bao gồm bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người

và các nghiệp vụ bảo hiểm khác) được hình thành từ sự đóng góp của những người ( thể nhân hoặc pháp nhân) tham gia bảo hiểm và chủ yếu được sử dụng để bồi thường tổn thất cho họ khi họ gặp rủi ro bất ngờ, bị thiệt hại vật chất theo nguyên tắc đặc thù là “ lấy số đông bù số ít ” Phần lớn các quỹ bảo hiểm kinh doanh được tạo lập và sử dụng có tính chất thương mại, vì mục đích kinh doanh lấy lợi nhuận

- Bảo hiểm xã hội: ( bao gồm bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế ) được hình thành và sử dụng không vì mục đích kinh doanh lấy lãi

Trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ Bảo hiểm, Bảo hiểm có quan

hệ trực tiếp với các khâu khác qua việc thu phí Bảo hiểm và chi bồi thường Đồng thời do khả năng tạm thời nhàn rỗi của các nguồn tài chính trong các quỹ Bảo hiểm, các quỹ này có thể được sử dụng tạm thời như các quỹ tín dụng Như vậy, Bảo hiểm cũng có thể có quan hệ với các khâu khác thông qua thị trường tài chính Do vậy Bảo hiểm được xem như là một khâu tài chính trung gian trong hệ thống tài chính

Tín dụng

Trang 5

Tín dụng là một khâu quan trọng của hệ thống tài chính Đặc trưng cơ bản của tín dụng là gắn liền với các quỹ tiền tệ được tạo lập bằng việc thu hút các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi và sử dụng để cho vay theo nguyên tắc hoàn trả

có thời hạn và có lợi tức

Ở nước ta, các tổ chức tín dụng bao gồm các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng ( như các công ty tài chính, các công ty cho thuê tài chính ), các tổ chức tín dụng hợp tác ( quỹ tín dụng nhân dân) , tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là các ngân hàng thương mại Các ngân hàng thương mại là các trung gian tài chính với chức năng chủ yếu là huy động vốn và cho vay; hoạt động với các nghiệp vụ nợ, nghiệp vụ có, nghiệp vụ môi giới trung gian

Thông qua hoạt động của các tổ chức tín dụng, khâu tín dụng có quan hệ chặt chẽ và trực tiếp với các khâu khác của hệ thống tài chính Bên cạnh đó, các

tổ chức tín dụng cũng là các tổ chức hoạt động trên thị trường tài chính, là cầu nối giữa người có khả năng cung ứng và người có nhu cầu sử dụng tạm thời các nguồn tài chính Do đó, tín dụng không những có quan hệ với các khâu khác thông qua thị trường tài chính mà còn trở thành khâu tài chính trung gian quan trọng của hệ thống tài chính

Tài chính các tổ chức xã hội và Tài chính hộ gia đình (dân cư)

- Các tổ chức xã hội là khái niệm chung để chỉ các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể xã hội, các hội nghề nghiệp Các tổ chức này còn được gọi là các tổ chức phi chính phủ

Các tổ chức xã hội có quỹ tiền tệ riêng để đảm bảo hoạt động của mình, và được hình thành từ nhiều nguồn rất đa dạng: hội phí đóng góp từ các thành viên tham gia tổ chức; quyên góp, ủng hộ, biếu tặng của các tập thể, cá nhân; tài trợ từ nước ngoài; tài trợ của Chính phủ và nguồn từ những hoạt động có thu của các tổ chức này Các quỹ tiền tệ của các tổ chức xã hội chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng trong hoạt động của các tổ chức đó Khi quỹ chưa được sử dụng,

số dư ổn định của chúng có thể tham gia thị trường tài chính thông qua các quỹ tín dụng hoặc các hình thức khác ( mua tín phiếu, trái phiếu )

- Các quỹ tiền tệ của các hộ gia đình được hình thành từ quỹ tiền lương, tiền công, thu nhập của các thành viên trong gia đình do lao động trong sản xuất kinh doanh; từ nguồn thừa kế tài sản; từ nguồn biếu tặng lẫn nhau trong quan hệ gia đình hay quan hệ xã hội ở trong hay từ ngoài nước; từ các nguồn khác như lãi suất gửi ngân hàng, lợi tức từ những khoản góp vốn, mua trái phiếu,

cổ phiếu

Quỹ tiền tệ của các hộ gia đình chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng của gia đình Một phần nguồn tài chính của các quỹ này có thể tham gia vào quỹ Ngân sách nhà nước dưới hình thức nộp thuế, phí, lệ phí; tham gia vào các

Trang 6

quỹ Bảo hiểm theo các mục đích bảo hiểm khác nhau; tham gia vào các quỹ tín dụng dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm Nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các hộ gia đình cũng có thể được sử dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong phạm vi kinh tế hộ gia đình, hoặc tham gia vào thị trường tài chính qua việc góp cổ phần, mua cố phiếu, trái phiếu, tín phiếu

* CHÚ Ý

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các khâu của hệ thống tài chính vừa có quan hệ trực tiếp với nhau, vừa có quan hệ với nhau thông qua thị trường tài chính Thị trường tài chính không phải là một khâu tài chính mà nó là môi trường cho sự hoạt động của các khâu tài chính và cho sự vận động của các nguồn tài chính

Thị trường tài chính là nơi diễn ra mua bán trong lĩnh vực tài chính Đối tượng mua bán ở đây là quyền sử dụng các nguồn tài chính ngắn hạn hoặc dài hạn Giá cả của sự mua bán là số lợi tức mà người mua quyền sử dụng vốn trả cho người nhượng ( bán ) quyền sử dụng vốn Người mua và người bán có thể là tất cả các chủ thể đại diện cho các khâu của hệ thống tài chính

Trên thị trường tài chính, các tổ chức tài chính trung gian ( Ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm ) giữ vai trò rất quan trọng, hoạt động từ những “ cầu nối “ giữa người mua và người bán quyền sử dụng các nguồn tài chính, giúp cho việc lựa chọn lĩnh vực bỏ vốn, giảm chi phí tìm kiếm

và giao dịch cũng như rủi ro đầu tư; từ đó cho phép huy động tối đa các nguồn tài chính hiện có trong nền kinh tế cũng như một số nguồn lực từ nước ngoài

Do điều kiện, tính chất, thời gian sử dụng và hình thức vận động của các nguồn tài chính, trên thị trường đã nảy sinh sự chuyên môn hoá và có sự phân biệt giữa các bộ phận chuyên môn hoá của thị trường tài chính: Thị trường tiền

tệ, Thị trường vốn và Thị trường chứng khoán

- Thị trường tiền tệ: là bộ phận của thị trường tài chính được chuyên môn hoá đối với các nguồn tài chính được trao quyền sử dụng ngắn hạn Thời gian trao quyền sử dụng các nguồn tài chính ở đây thường là dưới một năm Do thời hạn đó, các nguồn tài chính ở đây chủ yếu được sử dụng làm phương tiện thanh toán Giá cả mua bán trên thị trường này - lợi tức tiền vay ngắn hạn - là một trong những công cụ quan trọng để điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế

- Thị trường vốn: là bộ phận của thị trường tài chính được chuyên môn hoá đối với các nguồn tài chính được trao quyền sử dụng dài hạn Do thời hạn đó, các nguồn tài chính ở đây chủ yếu được sử dụng để đầu tư dài hạn vào sản xuất kinh doanh ( đầu tư vốn cố định, đầu tư vốn lưu động của các doanh nghiệp)

- Thị trường chứng khoán: là một bộ phận của thị trường tài chính được chuyên môn hoá về việc mua bán các giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng các

Trang 7

nguồn tài chính cả ngắn hạn và dài hạn và quyền nhận lợi tức do có sự thay đổi chủ thể có quyền nhận lợi tức đó Giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng các nguồn tài chính được gọi là chứng khoán Chứng khoán được mua bán ở đây bao gồm tất cả các giấy chứng nhận quyền sử dụng các nguồn tài chính dài hạn (cổ phiếu, trái phiếu các loại) cũng như ngắn hạn ( tín phiếu, giấy nhận nợ các loại)

Xét theo sự luân chuyển các chứng khoán, sự luân chuyển các nguồn tài chính; thị trường chứng khoán bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán chứng khoán lần đầu kèm theo việc làm tăng quy mô tài chính được đưa vào thị trường Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán chứng khoán từ lần hai trở đi và không làm tăng quy mô nguồn tài chính được đưa vào thị trường

Các bộ phận chuyên môn hoá của thị trường tài chính có liên quan chặt chẽ với nhau; ranh giới giữa thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán có vùng giao nhau lớn nhưng chúng không hoàn toàn trùng nhau

1.2 Nội dung tài chính doanh nghiệp

1.2.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp

Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có vốn tiền tệ ban đầu để xây dựng, mua sắm các tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, trả lương, khen thưởng, cải tiến kỹ thuật…Việc chi dùng thường xuyên vốn tiền tệ đòi hỏi phải có các khoản thu để bù đắp tạo nên quá trình luân chuyển vốn Như vậy trong quá trình luân chuyển vốn tiền tệ đó doanh nghiệp phát sinh các mối quan

hệ kinh tế Những quan hệ kinh tế đó bao gồm:

- Thứ nhất: Những quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước

Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước (nộp thuế cho ngân sách nhà nước) Ngân sách nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nước và có thể cấp vốn với công ty liên doanh hoặc cổ phần (mua cổ phiếu) hoặc cho vay (mua trái phiếu) tuỳ theo mục đích yêu cầu quản lý đối với ngành kinh tế mà quyết định tỷ lệ góp vốn, cho vay nhiều hay ít

- Thứ hai:Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác

Từ sự đa dạng hoá hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác (doanh nghiệp cổ phần hay tư nhân); giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, người cho vay, với người bán hàng, người mua thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, giữa các doanh nghiệp bao gồm các quan hệ thanh toán tiền mua bán vật tư, hàng hoá, phí bảo hiểm, chi trả tiền công, cổ tức, tiền lãi trái phiếu; giữa doanh nghiệp với ngân hàng, các tổ chức tín dụng phát sinh trong quá trình doanh nghiệp vay và hoàn trả vốn, trả lãi cho ngân hàng, các tổ chức tín dụng

Trang 8

- Thứ ba: Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp

+ Gồm quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các phòng ban, phân xưởng

và tổ đội sản xuất trong việc nhận và thanh toán tạm ứng, thanh toán tài sản

+ Gồm quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổ phần

Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường được xem là các quan hệ tiền tệ Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, là chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh

rõ nét mối liên hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu khác trong hệ thống tài chính nước ta

Như vậy có thể hiểu:

Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định

1.2.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp:

Bao gồm 3 chức năng chính sau:

Chức năng 1: Xác định và tổ chức các nguồn vốn nhằm bảo đảm nhu cầu

s ử dụng vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Để thực hiện sản xuất kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trường có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn và có phương án tạo lập, huy động vốn cụ thể

- Thứ nhất, phải xác định nhu cầu vốn (vốn cố định và vốn lưu động) cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh

- Thứ hai, phải xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn:

+ Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn, tìm kiếm mọi nguồn tài trợ với chi phí sử dụng vốn thấp nhưng vẫn bảo đảm

có hiệu quả

+ Nếu khả năng lớn hơn nhu cầu thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường hoặc có thể tham gia vào thị trường tài chính như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, góp vốn liên doanh

- Thứ ba, phải lựa chọn nguồn vốn và phương thức thanh toán các nguồn vốn sao cho chi phí doanh nghiệp phải trả là thấp nhất trong khoảng thời gian hợp lý

Chức năng 2: Chức năng phân phối thu nhập của doanh nghiệp:

Trang 9

Chức năng phân phối biểu hiện ở việc phân phối thu nhập của doanh nghiệp từ doanh thu bán hàng và thu nhập từ các hoạt động khác Nhìn chung, các doanh nghiệp phân phối như sau:

- Bù đắp các yếu tố đầu vào đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật tư, chi phí cho lao động

và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu có lãi)

- Phần lợi nhuận còn lại sẽ phân phối như sau:

 Bù đắp các chi phí không được trừ

 Chia lãi cho đối tác góp vốn, chi trả cổ tức cho các cổ đông

 Phân phối lợi nhuận sau thuế vào các quỹ của doanh nghiệp

Chức năng 3: Chức năng giám đốc đối với hoạt động sản xuất kinh

doanh

Giám đốc tài chính là việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Việc thực hiện chức năng này thông qua các chỉ tiêu tài chính để kiểm soát tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất - kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn cho sản xuất - kinh doanh Cụ thể qua

tỷ trọng, cơ cấu nguồn huy động, việc sử dụng nguồn vốn huy động, việc tính toán các yếu tố chi phí vào giá thành và chi phí lưu thông, việc thanh toán các khoản công nợ với ngân sách, với người bán, với tín dụng ngân hàng, với công nhân viên và kiểm tra việc chấp hành kỷ luật tài chính, kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng của doanh nghiệp Trên cơ sở đó giúp cho chủ thể quản lý phát hiện những khâu mất cân đối, những sơ hở trong công tác điều hành, quản lý kinh doanh để có quyết định ngăn chặn kịp thời các khả năng tổn thất có thể xảy ra, nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Đặc điểm của chức năng giám đốc tài chính là toàn diện và thường xuyên trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp

Ví dụ: Công ty A là doanh nghiệp mới thành lập có dữ liệu sau:

- Tổng vốn đầu tư cho dự án kinh doanh là 10.000 trđ, trong đó vốn tự có của công ty là 5.000trđ, và vốn vay là 5.000trđ

- Năm 2011 công ty đạt được doanh thu là 20.000trđ, chi phí phát sinh là 15.000trđ Công ty dùng 40% lợi nhuận sau thuế chia cổ tức cho cổ đông

- Năm 2012 công ty có được doanh thu là 30.000trđ, chi phí phát sinh là 28.000trđ Công ty giữ lại toàn bộ lợi nhuận để tái đầu tư

Để kiểm soát chi phí và gia tăng lợi nhuận công ty đánh giá hiệu quả kinh doanh hàng năm thông qua một số chỉ tiêu:

Trang 10

1.3 Vai trò của tài chính doanh nghiệp

- Thứ nhất, Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp

+ Xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ

+ Giúp lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn để hoạt động của các doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng, liên tục với chi phí huy động vốn thấp nhất

- Thứ hai, Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả

TCDN có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra dự án đầu tư tối ưu; huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, phân bổ hợp lý các nguồn vốn, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh

- Thứ ba, Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh

Vai trò này thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ; xác định giá bán hợp lý khi phát hành cổ phiếu, hàng hoá bán, dịch vụ

- Thứ tư, Giám sát kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp

Thông qua các chỉ tiêu tài chính, các nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, để từ đó có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại để từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh

các hoạt động kinh doanh nhằm đạt tới mục tiêu đã định

2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc tổ chức tài chính doanh nghiệp

Tổ chức tài chính doanh nghiệp là việc vận dụng tổng hợp các chức năng của tài chính doanh nghiệp để khởi thảo, lựa chọn và áp dụng các hình thức và phương pháp thích hợp nhằm xây dựng các quyết định tài chính đúng đắn về việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, nhằm đạt được các mục tiêu sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định

2.1 Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp

Trang 11

2.1.1 Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp

Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp hiện hành, ở nước ta hiện nay có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau đây:

- Doanh nghiệp nhà nước

- Doanh nghiệp tư nhân

- Công ty cổ phần

- Công ty trách nhiệm hữu hạn

- Công ty hợp danh (partnership)

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Những đặc điểm riêng về mặc hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp giữa các doanh nghiệp trên có ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức tài chính của doanh nghiệp như:

- Tổ chức và huy động vốn

- Phân phối lợi nhuận

Dưới đây xem xét việc tổ chức quản lý tài chính của một số loại hình doanh nghiệp phổ biến:

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN):

DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có vốn cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH

Đặc điểm của DNNN: DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn

và thành lập; DNNN có tư cách pháp nhân, được nhà nước đầu tư vốn và có quyền quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước đầu tư; quyền định đoạt được thực hiện theo qui định của pháp luật; DNNN hoạt động theo sự quản lý của nhà nước

Căn cứ vào các tiêu chuẩn khác nhau mà DNNN có các loại sau đây:

+ Căn cứ vào tỷ lệ vốn góp của nhà nước trong doanh nghiệp, DNNN bao gồm công ty nhà nước; công ty cổ phần nhà nước; công ty TNHH nhà nước 1 thành viên; công ty TNHH nhà nước 2 thành viên trở lên; doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp tư nhân (DNTN):

Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp tự đăng ký và có quyền tăng và giảm vốn đầu

tư Trường hợp giảm vốn đầu tư thấp hơn số vốn đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh Chủ doanh nghiệp toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sau khi

Trang 12

hoàn thành nghĩa vụ đối với NSNN, chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định

về việc sử dụng phần thu nhập còn lại Chủ doanh nghiệp có quyền thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh nhưng phải khai báo với cơ quan đang ký kinh doanh

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên:

Là một doanh nghiệp do một thành viên làm chủ sở hữu, thành viên có thể

là một tổ chức hay một cá nhân Công ty có tư cách pháp nhân và không được phép phát hành cổ phiếu và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp Chủ

sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức hoặc cá nhân khác

Công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên:

Là doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng không vượt quá 50 người Vốn của công ty chia ra thành từng phần gọi là phần vốn góp, các phần vốn góp không thể hiện dưới hình thức cổ phiếu và họ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phần vốn góp của mình Công ty có tư cách pháp nhân và không được quyền phát hành cổ phiếu Thu nhập của công ty sau khi bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra và hoàn thành nghĩa

vụ nộp thuế cho nhà nước, phần còn lại thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp Nếu là công ty do nhiều người hùn vốn, phần này sau khi trích lập các quỹ, số còn lại được đem chia cho các chủ sở hữu theo tỷ lệ phần vốn góp của mỗi người

Công ty hợp danh:

Là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh và có thể

có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp Công ty hợp danh có

tư cách pháp nhân kể từ khi có giấy đăng ký kinh doanh, và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Thành viên hợp danh có quyền quản lý công

ty, tiến hành hoạt động kinh doanh nhân danh công ty Thành viên góp vốn có

Trang 13

quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ theo quy định của điều lệ công ty nhưng không được tham gia quản lý công ty và hoạt động nhân danh công ty

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

+ Doanh nghiệp liên doanh: Là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam Công ty liên doanh có tư cách pháp nhân và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp Đối với loại hình này, việc hình thành vốn ban đầu, quá trình bổ sung vốn, việc phân chia lợi tức, thực hiện nghĩa

vụ đối với nhà nước đều được xác định rõ ràng trong một văn kiện cụ thể dưới hình thức hợp đồng hoặc điều lệ bảo đảm lợi ích cho các bên

+ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam,

tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Doanh nghiệp này được thành lập theo hình thức công ty chịu trách nhiệm hữu hạn và có tư cách pháp nhân

+ Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là văn bản ký kết giữ hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó qui định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới Các hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh bao gồm hình thức BOT, BTO và BT

Hợp tác xã (HTX):

HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các xã viên có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật HTX để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động SXKD và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Các xã viên có thể là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân; HTX hoạt động như một loại hình DN, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa

vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật; tổ chức kinh tế mang tính xã hội & hợp tác cao; tài sản của HTX thuộc sở hữu của HTX được hình thành từ vốn góp của xã viên hoặc được hỗ trợ bởi nhà nước; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX: nguyên tắc tự nguyện; nguyên tắc quản lý dân chủ, bình đẳng và công khai; nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng

2.1.2 Trình độ quản lý sản xuất và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh

Các doanh nghiệp khác nhau về trình độ quản lý và đặc điểm sản xuất kinh doanh khác nhau sẽ khác nhau về:

− Tổ chức vốn sản xuất kinh doanh: xác định qui mô, số lượng vốn, kết cấu bên trong từng loại vốn, tương quan giữa các loại vốn

Trang 14

− Kết cấu chi phí sản xuất

− Phương pháp phân phối kết quả sản xuất kinh doanh

− Các hình thức sử dụng kết quả đó

− Phương hướng tạo nguồn tài chính và đầu tư

− Thể thức thanh toán chi trả và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá

Dưới đây xem xét một số loại hình tổ chức doanh nghiệp theo đặc

điểm sản xuất kinh doanh như sau:

- Tổ chức tài chính doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp: Đây là ngành

đòi hỏi mức độ đầu tư vốn lớn, chu kỳ sản xuất kinh doanh hầu như ngắn (trừ ngành đóng tàu và một vài ngành cơ khí), vốn sản phẩm dở dang không nhiều Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng được tiến hành thường xuyên, nên có mối quan hệ chặt chẽ với thị trường hàng hoá và thị trường vốn Đây là ngành tạo nguồn thu chủ yếu cho NSNN

- T ổ chức tài chính doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng: Tài chính ngành

xây dựng có những đặc điểm sau đây:

+ Vì thời gian thi công dài nên phải tổ chức nghiệm thu và thanh toán theo từng giai đoạn, từng phần khối lượng công trình chứ không chờ đến khi công trình hoàn tất mới thanh toán như trong công nghiệp

+ Phần lớn số vốn của ngành xây dựng bỏ vào những công trình chưa hoàn thành, vì vậy phải cố gắng tập trung tiền vốn để rút ngắn thời hạn thi công xây dựng

+ Vì điều kiện xây dựng mỗi công trình không giống nhau nên việc kiểm tra tài chính đối với chất lượng sản phẩm không những chỉ đối với công việc có tính chất sản xuất mà phải đối với cả những văn kiện dự toán, thiết kế và những luận chứng kinh tế kỹ thuật của công trình

- Tổ chức tài chính doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp: Đặc điểm tài

chính ngành nông nghiệp:

+ Điều kiện sản xuất phụ thuộc rất lớn về điều kiện tự nhiên

+ Lợi nhuận mang lại không cao, không ổn định

- Tổ chức tài chính doanh nghiệp thuộc ngành thương mại (bao gồm cả nội

thương và ngoại thương): Thương mại là ngành có nhiệm vụ đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Vì vậy quản lý tài chính ngành thương mại phải đặc biệt quan tâm đến chỉ tiêu chi phí mua, bán hàng và tốc độ luân chuyển vốn lưu động Trong thương mại vốn đi vay thường nhiều hơn các ngành khác

- Tổ chức tài chính doanh nghiệp thuộc ngành dịch vụ: chi phí và giá

thành dịch vụ được xem là chỉ tiêu chất lượng quan trọng nhất Vì vậy, tài chính doanh nghiệp có nhiệm vụ phải quản lý chặt chẽ đối với chỉ tiêu này nhằm không ngừng hạ thấp chi phí, giá thành dịch vụ một cách hợp lý, tích cực, để tăng lợi nhuận doanh nghiệp

2.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh

Trang 15

Tổ chức tài chính doanh nghiệp còn dựa vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh Mỗi ngành kinh doanh có đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật riêng Những đặc điểm đó đã ảnh hưởng đến cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp (ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến vốn cố định chiếm tỷ trọng khác nhau trong tổng số vốn kinh doanh); ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn (tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp sản xuất chậm hơn tốc độ luân chuyển vốn của các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có tính chất thời vụ khác với doanh nghiệp sản xuất kinh

doanh liên tục…)

2.3 Môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp Do đó, việc tổ chức tài chính doanh nghiệp phải tính đến tác động của môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh bao gồm: sự ổn định về kinh tế, thị trường, lãi suất,

cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, chính sách kinh tế, tài chính của nhà nước… Sự ổn định của nền kinh tế sẽ tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế biến động có thể gây nên những rủi ro cho kinh doanh, những rủi ro đó ảnh hưởng tới các khoản chi phí đầu tư, ảnh hưởng nhu cầu về vốn, ảnh hưởng tới thu nhập của doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế phát triển cũng ảnh hưởng đến tiết kiệm chi phí trong kinh doanh…

Thị trường, giá cả, lãi suất đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thị trường tài chính, thị trường hàng hoá phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài cũng như mua vật tư, thiết bị bán hàng hoá của doanh nghiệp được dễ dàng

Giá cả, lãi suất đều ảnh hưởng tới sự tăng giảm về chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy động vốn vay

Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp không ngừng cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ đảm bảo cho sản phẩm của doanh nghiệp tồn tại và phát triển, đứng vững trong cạnh tranh Từ đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn đầu tư lớn và chọn hướng đầu tư thích hợp…Chính sách kinh

tế và tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp (như chính sách khuyến khích

Trang 16

đầu tư, chính sách thuế, chính sách tín dụng và lãi suất, chính sách ngoại hối, chế

độ khấu hao…) phù hợp với môi trường tài chính vĩ mô sẽ ổn định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển, khuyến khích các doanh nghiệp tích tụ vốn, sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả

Trang 17

CÂU HỎI ÔN TẬP:

Câu 1: Trình bày khái niệm tài chính doanh nghiệp? Hệ thống tài chính Việt Nam gồm mấy khâu? Trình bày mối quan hệ giữa các khâu tài chính với nhau?

Câu 2: Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp hiện hành, ở nước ta hiện nay có các loại hình doanh nghiệp nào? Nêu đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp?

Câu 3: Trình bày đặc điểm kinh doanh của ngành?

Câu 4: TCDN có những chức năng gì? Tính tất yếu khách quan về sự phát sinh và tồn tại, nội dung và vị trí của từng chức năng TCDN?

Câu 5: Vị trí của TCDN như thế nào với hệ thống tài chính và trong phạm

vi doanh nghiệp?

Câu 6: Nội dung công tác tài chính doanh nghiệp như thế nào?

Câu 7: Mục tiêu của quản trị tài chính doanh nghiệp?

Câu 8: Phân tích bản chất của tài chính doanh nghiệp thông qua quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn trong doanh nghiệp?

Câu 9: Phân tích chức năng tổ chức nguồn vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của TCDN?

Câu 10: Phân tích vai trò của TCDN trong nền kinh tế thị trường?

Trang 18

CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM:

Câu 1: Phân loại doanh nghiệp thường căn cứ vào các tiêu chí?

a Loại hình chủ thể doanh nghiệp

c Không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào

d Cả a,b,c đều sai

Câu 4: Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:

a Cổ phần ưu đãi biểu quyết

b Cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại

c Cổ phần ưu đãi khác do điều lệ doanh nghiệp quy định

d Cả a,b,c đúng

Câu 5: chức năng của tài chính doanh nghiệp:

a Tổ chức nguồn vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ

b Phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp

c Chức năng giám đốc, kiểm tra giám sát bằng đồng tiền mục đích sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng vốn, kết cấu tài chính, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời… của doanh nghiệp

d Cả a,b,c đều đúng

Câu 6: quyết định chủ yếu của tài chính doanh nghiệp là:

a Quyết định đầu tư, quyết định tài trợ nguồn vốn

b Quyết định phân phối thu nhập

Trang 19

a Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh

b Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp

c Cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước

d Chế độ hạch toán kinh tế

Câu 9: trong các hoạt động sau, hoạt động nào là Hoạch định chiến lược:

a Chính sách nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn

b Chính sách phân phối thu nhập

c Chính sách tín dụng

d Tất cả các câu trên đều đúng

Trang 20

CHƯƠNG 2: VỐN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP

Giới thiệu:

Mu ốn tiến hành sản xuất kinh doanh, trước hết mọi doanh nghiệp phải có

t ư liệu lao động, tư liệu lao động có nhiều loại như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,

ph ương tiện vận tải, công trình kiến trúc….Vốn cố định của doanh nghiệp là toàn

b ộ số tiền ứng trước về những tư liệu lao động chủ yếu mà đặc điểm của nó là luân chuy ển dần dần từng bộ phận giá trị vào sản phẩm mới cho đến khi tư liệu lao động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuy ển vốn Trong chương này chúng ta sẽ nghiên cứu về lập kế hoạch thu hồi

v ốn cố định thông qua lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định

Mục tiêu:

- Trình bày được khái niệm tài sản cố định và vốn cố định;

- Phân bi ệt được các loại tài sản cố định theo các tiêu thức phân loại;

- Trình bày được nội dung hao mòn tài sản cố định;

- Gi ải thích được hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định;

- Tính được khấu hao tài sản cố định theo các phương pháp đã học;

- L ập được kế hoạch khấu hao tài sản cố định tại doanh nghiệp;

- Làm được các bài tập thực hành về tính khấu hao tài sản cố định;

- Nghiêm túc khi nghiên c ứu, cẩn thận, chính xác trong luyện tập, tuân thủ theo đúng chế độ tài chính

Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình

TSCĐ hữu hình thường là bộ phận chủ yếu trong tổng số tài sản và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp, vì vậy việc xác định một tài sản có được ghi nhận là TSCĐ hữu hình hay là một khoản chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

TSCĐ là tư liệu lao động có đầy đủ 3 tiêu

Trang 21

chuẩnsau:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;

- Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;

- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên

LƯU Ý:

TH hệ thống có nhiều bộ phận, nếu mỗi bộ phận đều thỏa mãn 4 tiêu chuẩn thì mỗi một bộ phận được xem là một TSCĐ Những tài sản sử dụng cho mục đích đảm bảo an toàn sản xuất, kinh doanh hoặc bảo vệ môi trường mặc dù không trực tiếp đem lại lợi ích kinh tế như các TSCĐ khác nhưng chúng lại cần thiết cho doanh nghiệp trong việc đạt được các lợi ích kinh tế nhiều hơn từ các tài sản khác Tuy nhiên, các tài sản này chỉ được ghi nhận là TSCĐ hữu hình nếu nguyên giá của chúng và các tài sản có liên quan không vượt quá tổng giá trị có thể thu hồi từ các tài sản đó và các tài sản khác có liên quan Ví dụ, một nhà máy hóa chất có thể phải lắp đặt các thiết bị và thực hiện quy trình chứa và bảo quản hóa chất mới để tuân thủ yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với việc sản xuất và lưu trữ hóa chất độc Các tài sản lắp đặt liên quan đi kèm chỉ được hạch toán là TSCĐ hữu hình nếu không có chúng doanh nghiệp sẽ không thể hoạt động và bán sản phẩm hóa chất của mình

Đối với súc vật và vườn cây lâu năm , nếu thỏa mãn 4 tiêu chuẩn thì được xem là một TSCĐ

1.1.2 So sánh sự khác nhau giữa nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, tài sản cố định (Về khái niệm, đặc điểm, yêu cầu quản lý)

Là đối tuợng lao

động tham gia cấu

thành nên th ực thể của

s ản phẩm

Tham gia vào m ột

chu k ỳ sản xuất kinh

Tham gia vào m ột

ho ặc một số chu kỳ sản

xu ất kinh doanh

Giá tr ị có thể chuy ển hết một lần hoặc được phân bổ dần vào

t ừng chu kỳ sản xuất kinh doanh

V ẫn giữ được hình thái hi ện vật ban đầu

Là t ư liệu lao động

ch ủ yếu có giá trị lớn và

th ời gian sử dụng dài

Tham gia vào nhi ều chu k ỳ kinh doanh

V ẫn giữ được hình thái v ật chất ban đầu

Giá tr ị được chuyển

d ịch từng phần vào chi phí

s ản xuất kinh doanh theo

m ức độ hao mòn

Trang 22

1.1.3.Phân loại

1.1.3.1.Căn cứ vào hình thái biểu hiện và công dụng kinh

tế

Phương pháp phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu

tư vào tài sản cố định theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp và có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại tài sản cố định

Ý nghĩa cách phân loại theo phương pháp này, toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm hai loại: Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định

vô hình

Loại Tài sản cố định hữu hình:

Là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh Thuộc loại này, căn cứ vào công dụng kinh tế có thể chia thành các nhóm sau

- Nhà cửa, vật kiến trúc: Là toàn bộ các công trình kiến trúc như nhà làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, đường sá, cầu cống, cầu tầu …

- Máy móc, thiết bị: Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị chuyên dùng, máy móc thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ…

- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: Gồm các loại phương tiện vận tải đường bộ, đường sông, đường biển … các thiết bị truyền dẫn về thông tin, điện nước, băng truyền tải vật tư, hàng hoá…

- Thiết bị, dụng cụ quản lý: Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, thiết bị điện tử, thiết bị dụng cụ đo lường kiểm tra chất lượng, máy hút bụi, hút ẩm …

- Vườn cây lâu năm ( như cà phê, cao su, chè, cây ăn quả … ), súc vật làm

việc ( như trâu, bò … ) hoặc súc vật cho sản phẩm ( như bò sữa, trâu sữa … )

- Các loại tài sản cố định khác: Là toàn bộ các tài sản cố định khác chưa liệt kê vào năm loại trên như trang ảnh, tác phẩm nghệ thuật…

Loại Tài sản cố định vô hình:

Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị,

do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn tài sản cố định vô hình

Các doanh nghiệp thường đầu tư để có các nguồn lực vô hình, như: Quyền

sử dụng đất có thời hạn, phần mềm máy vi tính, bằng sáng chế, bản quyền, giấy phép khai thác thuỷ sản, hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhượng quyền, quan hệ kinh doanh với khách hàng hoặc nhà cung cấp, sự trung thành của khách hàng, thị phần và quyền tiếp thị

Để xác định nguồn lực vô hình quy định thỏa mãn định nghĩa TSCĐ vô hình

Trang 23

cần phải xem xét các yếu tố: Tính có thể xác định được, khả năng kiểm soát nguồn lực và tính chắc chắn của lợi ích kinh tế trong tương lai Nếu một nguồn lực vô hình không thoả mãn định nghĩa TSCĐ vô hình thì chi phí phát sinh để tạo ra nguồn lực vô hình đó phải ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ hoặc chi phí trả trước Riêng nguồn lực vô hình doanh nghiệp có được thông qua việc sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại được ghi nhận là lợi thế thương mại vào ngày phát sinh nghiệp vụ mua

- Tính có thể xác địnhđược

TSCĐ vô hình phải là tài sản có thể xác định được để có thể phân biệt một cách rõ ràng tài sản đó với lợi thế thương mại Lợi thế thương mại phát sinh từ việc sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại được thể hiện bằng một khoản thanh toán do bên đi mua tài sản thực hiện để có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai

Một TSCĐ vô hình có thể xác định riêng biệt khi doanh nghiệp có thể đem TSCĐ vô hình đó cho thuê, bán, trao đổi hoặc thu được lợi ích kinh tế cụ thể từ tài sản đó trong tương lai Những tài sản chỉ tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai khi kết hợp với các tài sản khác nhưng vẫn được coi là tài sản có thể xác định riêng biệt nếu doanh nghiệp xác định được chắc chắn lợi ích kinh tế trong tương lai

do tài sản đó đem lại

- Khả năng kiểm soát

+ Doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát một tài sản nếu doanh nghiệp có quyền thu lợi ích kinh tế trong tương lai mà tài sản đó đem lại, đồng thời cũng có khả năng hạn chế sự tiếp cận của các đối tượng khác đối với lợi ích đó Khả năng kiểm soát của doanh nghiệp đối với lợi ích kinh tế trong tương lai từ TSCĐ vô hình, thông thường có nguồn gốc từ quyền pháp lý

+ Tri thức về thị trường và hiểu biết chuyên môn có thể mang lại lợi kinh

tế trong tương lai Doanh nghiệp có thể kiểm soát lợi ích đó khi có ràng buộc bằng quyền pháp lý, ví dụ: Bản quyền, giấy phép khai thác thuỷ sản

+ Doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên lành nghề và thông qua việc đào tạo, doanh nghiệp có thể xác định được sự nâng cao kiến thức của nhân viên sẽ mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai, nhưng doanh nghiệp không đủ khả năng kiểm soát lợi ích kinh tế đó, vì vậy không được ghi nhận là TSCĐ vô hình Tài năng lãnh đạo và kỹ thuật chuyên môn cũng không được ghi nhận là TSCĐ vô hình trừ khi tài sản này được bảo đảm bằng các quyền pháp lý để sử dụng nó và để thu được lợi ích kinh tế trong tương lai đồng thời thoả mãn các quy định về định nghĩa TSCĐ vô hình và tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình

+ Doanh nghiệp có danh sách khách hàng hoặc thị phần nhưng do không

có quyền pháp lý hoặc biện pháp khác để bảo vệ hoặc kiểm soát các lợi ích kinh tế

từ các mối quan hệ với khách hàng và sự trung thành của họ, vì vậy không được ghi nhận là TSCĐ vô hình

- Lợi ích kinh tế trong tương lai

Trang 24

Lợi ích kinh tế trong tương lai mà TSCĐ vô hình đem lại cho doanh nghiệp có thể bao gồm: Tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, hoặc lợi ích khác xuất phát từ việc sử dụng TSCĐ vô hình

1.1.3.2.Căn cứ vào tính chất

- TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh (TSCĐ tham gia trực tiếp, gián tiếp)

- TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng

- TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ

1.1.3.3.Căn cứ vào quyền sửdụng

Thuê tài chính:

+Là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê

+Các trường hợp thuê tài sản dưới đây thường dẫn đến hợp đồng thuê tài chính:

 Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết thời hạn thuê

 Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với mức giá ước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời hạn thuê

 Thời hạn thuê tài sản tối thiểu phải chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu

 Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn (tương đương) giá trị hợp lý của tài sản thuê

 Tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng

sử dụng không cần có sự thay đổi, sửa chữa lớn nào

 Hợp đồng thuê tài sản cũng được coi là hợp đồng thuê tài chính nếu hợp đồng thoả mãn ít nhất một trong ba (3) trường hợp sau:

TH1 Nếu bên thuê huỷ hợp đồng và đền bù tổn thất phát sinh liên quan đến việc huỷ hợp đồng cho bên cho thuê;

TH2 Thu nhập hoặc tổn thất do sự thay đổi giá trị hợp lý của giá trị còn lại của tài sản thuê gắn với bên thuê;

TH3 Bên thuê có khả năng tiếp tục thuê lại tài sản sau khi hết hạn hợp đồng thuê với tiền thuê thấp hơn giá thuê thị trường

Trang 25

Thuê hoạt động:

+ Thuê tài sản được phân loại là thuê hoạt động nếu nội dung của hợp đồng thuê tài sản không có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản

+ Thuê tài sản là quyền sử dụng đất thường được phân loại là thuê hoạt động vì quyền sử dụng đất thường có thời gian sử dụng kinh tế vô hạn và quyền

sở hữu sẽ không chuyển giao cho bên thuê khi hết thời hạn thuê

So sánh thuê hoạt động và thuê tài chính

1 Quyền sở hữu Tách biệt quyền sở

hữu và quyền sử dụng

Tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng

2 Thời hạn thuê Rất ngắn so với thời

gian sử dụng của tài sản thuê

Thường dài hơn 60% thời gian sử dụng của tài sản thuê

4 Rủi ro Người cho thuê chịu

mọi rủi ro về thiệt hại về tài sản cho thuê

Người thuê chịu mọi rủi ro thiệt hại về tài sản được thuê

5 Chi phí Người cho thuê chịu

mọi chi phí vân hành, bảo trì, dịch vụ, phí bảo hiểm

Người thuê chịu mọi chi phí vận hành, bảo trì, dịch vụ, phí bảo hiểm

6 Ưu đãi về thuế Người cho thuê

hưởng và khấu trừ vào tiền thuế

Người thuê hưởng

và khấu trừ vào tiền thuê

7 Tiền bồi thường

Tài sản cho thuê thường do người thuê đặt hàng, giao nhận và sử dụng

9 Tiền bán tài sản Tiền thu được do bán

tài sản thuê thuộc về người cho thuê

Tiền bán tài sản lớn hơn so với giá quy định của người cho thuê thì người thuê hưởng

10 Các loại tài sản

thường thuê

Máy photocopy, vi tính, thiết bị gia dụng, thiết

bị văn phòng…

Bất động sản, tàu biển, máy thiết bị văn phòng…

+ Phân tích các điểm lợi và bất lợi của việc thuê tài chính của doanh nghiệp

Trang 26

phi tài chính

Những điểm lợi của việc sử dụng thuê tài chính

Đối với doanh nghiệp (phi tài chính) việc sử dụng thuê tài chính có những điểm lợi sau:

+ Thuê tài chính là một công cụ tài chính giúp cho doanh nghiệp có thể tăng vốn kinh doanh trung hạn và dài hạn để đáp ứng nhu cầu mở rộng kinh doanh

+ Sử dụng thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp huy động nhanh chóng một lượng vốn lớn dưới dạng tài sản cố định Như vậy, với số vốn hạn chế doanh nghiệp vẫn có thể mở rộng hoạt động kinh doanh

+ Sử dụng hình thức bán và tái thuê có thể giúp cho doanh nghiệp có thêm vốn kinh doanh nhất là tăng thêm vốn lưu động mà quyền sử dụng đối với các loại TSCĐ của doanh nghiệp vẫn giữ nguyên

+ Sử dụng phương thức thuê tài chính sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc huy động và sử dụng vốn vay so với các hình thức vay khác

+ Sử dụng thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện nhanh chóng dự án đầu tư, chớp được kịp thời cơ hội kinh doanh Bởi lẽ:

+ Người đi thuê có quyền lựa chọn các tài sản thiết bị và thoả thuận trước

về hợp đồng thiết bị với nhà cung cấp Sau đó mới yêu cầu Công ty cho thuê tài chính tài trợ Do vậy, có thể rút ngắn được thời gian tiến hành đầu tư vào tài sản thiết bị

+ Mặt khác, Công ty thuê tài chính thường có mạng lưới tiếp thị, đại lý rộng rãi và có đội ngũ chuyên gia có trình độ chuyên sâu về thiết bị, công nghệ nên có thể tư vấn hữu ích cho người thuê về kỹ thuật, công nghệ của thiết bị mà người thuê cần sử dụng Tránh được những rủi ro về tính lạc hậu và lỗi thời của tài sản

Điểm bất lợi chủ yếu đối với doanh nghiệp khi sử dụng thuê tài chính là phải chịu chi phí sử dụng vốn với mức độ tương đối cao so với tín dụng thông thường Gồm: vốn gốc, lãi vay, lợi nhuận hợp lý, chi phí quản lý đã được khấu trừ

về việc khuyến khích các loại thuế mà tài sản được hưởng

1.2 Vốn cố định

Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh

nghiệp.Theo quy định hiện hành của Việt Nam thì “Vốn cố định là biểu hiện

bằng tiền của tài sản cố định, hay vốn cố định là toàn bộ giá trị bỏ ra đề đầu tư vào tài sản cố định nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh”

Trong nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ để mua sắm, xây dựng tài sản cố định, một trong những yếu tố của quá trình kinh doanh đòi hỏi các Doanh nghiệp phải

có một số tiền ứng trước Vốn tiền tệ được ứng trước để mua sắm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình được gọi là vốn cố định Do vậy, đặc điểm

Trang 27

vận động của tài sản cố định sẽ quyết định sự vận động tuần hoàn của vốn cố định

Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu Chúng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhiều chu kỳ của quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp Tài sản cố định không thay đổi hình thái vật chất ban đầu trong suốt thời gian sử dụng, cho đến lúc hư hỏng hoàn toàn Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định hao mòn dần, phần giá trị hao mòn sẽ chuyển dần vào giá trị mới tạo ra của sản phẩm và được bù đắp lại bằng tiền khi sản phẩm được tiêu thụ Tài sản cố định cũng là một loại hàng hoá có giá trị sử dụng và giá trị Nó là sản phẩm của lao động và được mua bán, trao đổi trên thị trường sản xuất

Giữa tài sản cố định và vốn cố định có mối quan hệ mật thiết với nhau Tài sản cố định là hình thái biểu hiện vật chất của vốn cố định Do vậy, vốn cố định của Doanh nghiệp có đặc điểm tương tự như tài sản cố định Như thế sau nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh phần vốn cố định giảm dần và phần vốn đã luân chuyển tăng lên Kết thúc quá trình này, số tiền khấu hao đã thu hồi đủ để tái tạo một tài sản mới Lúc này tài sản cố định cũng hư hỏng hoàn toàn cùng với vốn cố định đã kết thúc một vòng tuần hoàn luân chuyển Do đó, có thể nói vốn

cố định là biểu hiện số tiền ứng trước về những tài sản cố định mà chúng có đặc điểm chuyển dần từng phần trong chu kỳ sản xuất và kết thúc một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng

2 Khấu hao tài sản cố định

Là phương pháp phân bổ một cách có hệ thống Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng

2.1 Hao mòn tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định

giá trị của tài sản cố định

- Kh ấu hao: Là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của

TSCĐ hữu hình trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó

- Giá tr ị phải khấu hao: Là nguyên giá của TSCĐ hữu hình ghi trên báo

cáo tài chính, trừ (-) giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó

- Th ời gian sử dụng hữu ích: Là thời gian mà TSCĐ hữu hình phát huy

được tác dụng cho sản xuất, kinh doanh, được tính bằng:

+ Thời gian mà doanh nghiệp dự tính sử dụng TSCĐ hữu hình,

Trang 28

hoặc:

+ Số lượng sản phẩm, hoặc các đơn vị tính tương tự mà doanh nghiệp dự tính thu được từ việc sử dụng tài sản

- Giá tr ị thanh lý: Là giá trị ước tính thu được khi hết thời gian sử

dụng hữu ích của tài sản, sau khi trừ (-) chi phí thanh lý ước tính

- Giá tr ị hợp lý: Là giá trị tài sản có thể được trao đổi giữa các bên

có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá

- Giá tr ị còn lại: Là nguyên giá của TSCĐ hữu hình sau khi trừ (-) số

khấu hao luỹ kế của tài sản đó

- Giá tr ị có thể thu hồi: Là giá trị ước tính thu được trong tương lai từ việc

sử dụng tài sản, bao gồm cả giá trị thanh lý của chúng

2.1.2 Phân biệt khấu hao và hao mòn TSCĐ

Khái niệm:

Hao mòn là sự giảm sút về mặt

giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ do

TSCĐ tham gia vào các hoạt động DN

và do các nguyên nhân khác

Khấu hao TSCĐ là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao tài sản cố định trong suốt thời gian

sử dụng hữu ích của TS đó vào giá trị sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được sáng tạo ra

Bản chất:

Là một hiện tượng khách quan

mà trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị

hao mòn do các nguyên nhân khác

nhau: tham gia vào hoạt động SXKD,

các nguyên nhân tự nhiên( hao mòn

hữu hình giảm sút giá trị và giá trị sử

dụng) do tiến bộ KHKT gây ra( hao

mòn vô hình: giảm sút thuần túy về

Trang 29

2.2 Các phương pháp tính khấu hao tài sản cố định

- Phương pháp khấu hao đường thẳng

- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh

- Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm

2.2.1 Phương pháp khấu hao đường thẳng;

Phương pháp khấu hao đường thẳng là phương pháp trích khấu hao theo mức tính ổn định từng năm vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp của tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương pháp đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ Tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao nhanh là máy móc, thiết bị; dụng

cụ làm việc đo lường, thí nghiệm; thiết bị và phương tiện vận tải; dụng cụ quản lý; súc vật, vườn cây lâu năm Khi thực hiện trích khấu hao nhanh, doanh nghiệp phải đảm bảo kinh doanh có lãi Trường hợp doanh nghiệp trích khấu hao nhanh vượt 2 lần mức quy định tại khung thời gian sử dụng tài sản

cố định nêu tại Phụ lục 1 kèm theo Thông tư này, thì phần trích vượt mức khấu hao nhanh (quá 2 lần) không được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập trong kỳ

2.2.1.1.Nội dung của phương pháp:

Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng như sau:

- Xác định mức trích khấu hao trung bình hàng năm cho tài sản cố định theo công thức dưới đây:

Mức trích khấu hao trung bình hàng

năm của tài sản cố định =

Nguyên giá của tài sản cố định Thời gian trích khấu hao

- Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng

Trang 30

Trường hợp thời gian trích khấu hao hay nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của tài sản cố định bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia (:) cho thời gian trích khấu hao xác định lại hoặc thời gian trích khấu hao còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian trích khấu hao đã đăng ký trừ thời gian đã trích khấu hao) của tài sản cố định

Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian trích khấu hao tài sản

cố định được xác định là hiệu số giữa nguyên giá tài sản cố định và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của tài sản cố định đó

Ví d ụ tính và trích khấu hao TSCĐ:

Ví dụ: Công ty A mua một tài sản cố định (mới 100%) với giá ghi trên hoá đơn là 119 triệu đồng, chiết khấu mua hàng là 5 triệu đồng, chi phí vận chuyển là

3 triệu đồng, chi phí lắp đặt, chạy thử là 3 triệu đồng

a Biết rằng tài sản cố định có tuổi thọ kỹ thuật là 12 năm, thời gian trích khấu hao của tài sản cố định doanh nghiệp dự kiến là 10 năm (phù hợp với quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số /2013/TT- BTC), tài sản được đưa vào sử dụng vào ngày 1/1/2013

Nguyên giá tài sản cố định = 119 triệu - 5 triệu + 3 triệu + 3 triệu = 120 triệu đồng

Mức trích khấu hao trung bình hàng năm = 120 triệu : 10 năm =12 triệu đồng/năm

Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng = 12 triệu đồng: 12 tháng = 1 triệu đồng/ tháng

Hàng năm, doanh nghiệp trích 12 triệu đồng chi phí trích khấu hao tài sản cố định đó vào chi phí kinh doanh

b Sau 5 năm sử dụng, doanh nghiệp nâng cấp tài sản cố định với tổng chi phí là

30 triệu đồng, thời gian sử dụng được đánh giá lại là 6 năm (tăng 1 năm so với thời gian sử dụng đã đăng ký ban đầu), ngày hoàn thành đưa vào sử dụng là 1/1/2018

Nguyên giá tài sản cố định = 120 triệu đồng + 30 triệu đồng = 150 triệu đồng

Số khấu hao luỹ kế đã trích = 12 triệu đồng (x) 5 năm = 60 triệu đồng

Giá trị còn lại trên sổ kế toán = 150 triệu đồng - 60 triệu đồng = 90 triệu đồng Mức trích khấu hao trung bình hàng năm = 90 triệu đồng : 6 năm = 15 triệu đồng/ năm

Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng = 15.000.000 đồng : 12 tháng

=1.250.000 đồng/ tháng

Trang 31

Từ năm 2018 trở đi, doanh nghiệp trích khấu hao vào chi phí kinh doanh mỗi tháng 1.250.000 đồng đối với tài sản cố định vừa được nâng cấp

Xác định mức trích khấu hao đối với những tài sản cố định đưa vào sử

Trong đó:

T: Thời gian trích khấu hao còn lại của tài sản cố định

T1 : Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định xác định theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC

T2 : Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định xác định theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số /2013/TT-BTC

t1 : Thời gian thực tế đã trích khấu hao của tài sản cố định

- Xác định mức trích khấu hao hàng năm (cho những năm còn lại của tài sản cố định) như sau:

Mức trích khấu hao trung

bình hàng năm của TSCĐ =

Giá trị còn lại của tài sản cố định Thời gian trích khấu hao còn lại của TSCĐ

- Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng

Ví d ụ tính và trích khấu hao tài sản cố định:

Ví dụ : Doanh nghiệp sử dụng một máy khai khoáng có nguyên giá 600 triệu đồng từ ngày 01/01/2011 Thời gian sử dụng xác định theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC là 10 năm Thời gian đã sử dụng của máy khai khoáng này tính đến hết ngày 31/12/2012 là 2 năm Số khấu hao luỹ kế là 120 triệu đồng

- Giá trị còn lại trên sổ kế toán của máy khai khoáng là 480 triệu đồng

- Doanh nghiệp xác định thời gian trích khấu hao của máy khai khoáng là 15 năm theo Phụ lục I Thông tư số /2013/TT-BTC

- Xác định thời gian trích khấu hao còn lại của máy khai khoáng như sau:

Trang 32

2.2.2 Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh;

Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh được áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh

TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:

- Là tài sản cố định đầu tư mới (chưa qua sử dụng);

- Là các loại máy móc, thiết bị; dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm

Nội dung:

Mức trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh được xác định như:

- Xác định thời gian khấu hao của tài sản cố định:

Doanh nghiệp xác định thời gian khấu hao của tài sản cố định theo quy định tại Thông tư số /2013/TT-BTC của Bộ Tài chính

- Xác định mức trích khấu hao năm của tài sản cố định trong các năm đầu theo công thức dưới đây:

Mức trích khấu hao hàng

năm của tài sản cố định =

Giá trị còn lại của tài sản cố định X

Tỷ lệ khấu hao nhanh

Trang 33

Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng xác định như sau:

Tỷ lệ khấu hao tài sản

hao của tài sản cố định

Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian trích khấu hao của tài sản cố định quy định tại bảng dưới đây:

Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh

(lần)

Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t ≤ 6 năm) 2,0

Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định, thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định chia cho số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định

- Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng

Ví d ụ tính và trích khấu hao tài sản cố định:

Ví dụ: Công ty A mua một thiết bị sản xuất các linh kiện điện tử mới với nguyên giá là 50 triệu đồng Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định xác định theo quy định tại Phụ lục 1 (ban hành kèm theo Thông tư số /2013/TT-BTC) là 5 năm

Xác định mức khấu hao hàng năm như sau:

- Tỷ lệ khấu hao hàng năm của tài sản cố định theo phương pháp khấu hao đường thẳng là 20%

- Tỷ lệ khấu hao nhanh theo phương pháp số dư giảm dần bằng 20% x 2 (hệ số điều chỉnh) = 40%

- Mức trích khấu hao hàng năm của tài sản cố định trên được xác định cụ thể theo bảng dưới đây:

Trang 34

Mức khấu hao hàng năm

Mức khấu hao hàng tháng

Khấu hao luỹ kế cuối năm

số dư giảm dần (10.800.000 x 40%= 4.320.000) thấp hơn mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định (10.800.000 : 2 = 5.400.000)]

Ưu, nhược điểm: Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có ưu điểm

sau:

- Giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh ở những năm đầu Doanh nghiệp vừa có thể tập trung vốn nhanh từ tiền khấu hao để đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ kịp thời vừa giảm bớt được tổn thất do hao mòn vô hình

- Nhà nước có thể cho phép doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao nhanh để tính chi phí khấu hao trong việc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh Điều đó được coi như một biện pháp hoãn thuế" cho doanh nghiệp

Bên cạnh những ưu điểm trên, nếu doanh nghiệp thực hiện phương pháp này có hạn chế: Giá thành sản phẩm ở những năm đầu của thời hạn khấu hao sẽ cao do phải chịu chi phí khấu hao lớn, điều đó gây bất lợi cho doanh nghiệp trong cạnh tranh, việc tính toán khá phức tạp

Ví dụ: Một doanh nghiệp mua một tài sản cố định có nguyên giá 200 triệu, thời gian sử dụng 5 năm Tính được mức khấu hao cho TSCĐ theo phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:

Trang 35

+ Tính tỷ lệ khấu hao bình quân: Tk bq = 1/5 * 100 = 20%

2.2.3 Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm

Tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp này là các loại máy móc, thiết bị thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

- Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm;

- Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của tài sản cố định;

- Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không thấp hơn 100% công suất thiết kế

N ội dung của phương pháp:

Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm như sau:

- Căn cứ vào hồ sơ kinh tế - kỹ thuật của tài sản cố định, doanh nghiệp xác định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của tài sản cố định, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế

- Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của tài sản cố định

- Xác định mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định theo công thức dưới đây:

Trang 36

X

Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm

X

Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm

Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của tài sản cố định

Ví d ụ tính và trích khấu hao tài sản cố định:

Ví dụ: Công ty A mua máy ủi đất (mới 100%) với nguyên giá 450 triệu đồng Công suất thiết kế của máy ủi này là 30m3/giờ Sản lượng theo công suất thiết kế của máy ủi này là 2.400.000 m3 Khối lượng sản phẩm đạt được trong năm thứ nhất của máy ủi này là:

Trang 37

- Mức trích khấu hao của máy ủi được tính theo bảng sau:

Th

áng

Sản lượng thực tế tháng

35.437.500

2.3 Phạm vi tính khấu hao

- Phương pháp khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐ hữu hình phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản đó

- Doanh nghiệp không được tiếp tục tính khấu hao đối với những TSCĐ hữu hình đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn còn sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh

- Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình phải được xem xét lại theo định kỳ, thường là cuối năm tài chính Nếu có sự thay đổi đáng kể trong việc đánh giá thời gian sử dụng hữu ích của tài sản thì phải điều chỉnh mức khấu hao + Trong quá trình sử dụng TSCĐ, khi đã xác định chắc chắn là thời gian sử dụng hữu ích không còn phù hợp thì phải điều chỉnh thời gian sử dụng hữu ích và tỷ

lệ khấu hao cho năm hiện hành và các năm tiếp theo và được thuyết minh trong báo cáo tài chính Ví dụ: Thời gian sử dụng hữu ích có thể được kéo dài thêm do việc cải thiện trạng thái của tài sản vượt trên trạng thái tiêu chuẩn ban đầu của nó, hoặc các thay đổi về kỹ thuật hay thay đổi nhu cầu về sản phẩm do một máy móc

Trang 38

sản xuất ra có thể làm giảm thời gian sử dụng hữu ích của nó

- Chế độ sửa chữa và bảo dưỡng TSCĐ hữu hình có thể kéo dài thời gian

sử dụng hữu ích thực tế hoặc làm tăng giá trị thanh lý ước tính của tài sản nhưng doanh nghiệp không được thay đổi mức khấu hao của tài sản

- Phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình phải được xem xét lại theo định

kỳ, thường là cuối năm tài chính, nếu có sự thay đổi đáng kể trong cách thức sử dụng tài sản để đem lại lợi ích cho doanh nghiệp thì được thay đổi phương pháp khấu hao và mức khấu hao tính cho năm hiện hành và các năm tiếp theo

2.4 Lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định

Các bước lập kế hoạch khấu hao TSCĐ

Bước 1: Xác định Nguyên giá TSCĐ đầu kỳ kế hoạch

Nguyên giá TSCĐ đầu kỳ = NGthực tế 30/9 báo cáo + NGdựkiến tăng quý 4 -bc + NGdự kiến giảm quy

t sdi = ( 12 - Tháng bắt đầu mua về sử dụng )

Bước 3: Xác định Nguyên giá TSCĐ bình quân giảm trong kỳ kế hoạch

Trang 39

+ TSCĐ cho thuê tài chính

+ TSCĐ đem góp vốn, biếu tặng

+ TSCĐ điều chuyển đi nơi khác

t sdi :Thời gian thôi sử dụng của TSCĐ tính theo tháng :

t sdi = ( 12 - Tháng bắt đầu thôi sử dụng )

Bước 4: Nguyên giá TSCĐ bình quân phải tính khấu hao trong kỳ kế hoạch

+ TSCĐ đem cho thuê hoạt động không ghi giảm Nguyên Giá

+ TSCĐ thuê hoạt động không ghi tăng Nguyên Giá

Bước 6:Lập bảng kế hoạch khấu hao TSCĐ

1/ Tổng NGTSCĐ đầu năm kế hoạch

1.a - NG đầu năm kế hoạch cần khấu hao

2/ Tổng NGTSCĐ tăng

2a - NG tăng cần khấu hao ()

2b - NGBQ tăng cần khấu hao () 

3/ Tổng NGTSCĐ giảm

3a - NG giảm cần thôi khấu hao ()

3b - ( NGBQ giảm cần thôi khấu hao

Trang 40

3 Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định

3.1 Bảo toàn vốn cố định

- Đánh giá và đánh giá lại TSCĐ:

Đánh giá TSCĐ là việc xác định lại giá trị của nó tại một thời điểm nhất định Đánh giá đúng TSCĐ tạo điều kiện phản ánh chính xác tình hình biến động của vốn cố định, quy mô vốn phải bảo toàn Điều chỉnh kịp thời giá trị của TSCĐ, để tạo điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao TSCĐ, không để mất vốn cố định

Thông thường có 3 phương pháp đánh giá chủ yếu:

+ Đánh giá theo nguyên giá: Là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để có được TSCĐ cho đến khi đưa TSCĐ vào hoạt động bình thường như: giá mua thực tế của TSCĐ, các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử…

Cách đánh giá này giúp doanh nghiệp thấy được số tiền vốn đầu tư mua sắm TSCĐ ở thời điểm ban đầu, là căn cứ để xác định số tiền khấu hao để tái sản xuất giản đơn TSCĐ

+ Đánh giá TSCĐ theo giá trị khôi phục(còn gọi là đánh giá lại): Là giá trị

để mua sắm TSCĐ ở tại thời điểm đánh giá Do ảnh hưởng của tiến bộ khoa học

kỹ thuật, đánh giá lại thường thấp hơn giá trị nguyên thủy ban đầu Tuy nhiên trong trường hợp có sự biến động của giá cả, đánh giá lại có thể cao hơn giá trị ban đầu của nó Tuỳ theo trường hợp cụ thể mà doanh nghiệp có quyết định sử lý thích hợp như: điều chỉnh lại mức khấu hao, hiện đại hoá hoặc thanh lý, nhượng bán TSCĐ

+ Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại: Là giá trị còn lại của TSCĐ chưa chuyển vào giá trị sản phẩm Giá trị còn lại có thể tính theo giá trị ban đầu(giá trị nguyên thuỷ còn lại) hoặc đánh giá lại(giá trị khôi phục lại) Cách đánh giá này cho phép thấy được mức độ thu hồi vốn đầu tư đến thời điểm đánh giá, từ đó lựa chọn chính sách khấu hao hợp lý để thu hồi vốn đầu tư còn lại để bảo toàn vốn

- Lựa chọn phương pháp khấu hao và mức khấu hao thích hợp:

Ngày đăng: 27/04/2021, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w