Các nhân tố lực đẩy với người di cư bao gồm: • Nhân tố từ thị trường lao động nơi xuất cư: Là những hạn chế của thị trường lao động nơi xuất cư đặc biệt là thị trường lao động nông thôn.
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Di cư là yếu tố tất yếu, là động lực tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội, góp phần phân bổ lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững Kinh tế phát triển, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế diễn ra nhanh chóng cùng với chính sách mở cửa, hội nhập dẫn đến việc di cư nội địa và ra nước ngoài tăng lên Tuy nhiên, dòng di cư nói chung, trong đó có lao động di cư cũng là nhóm người dễ bị tổn thương và bị lạm dụng và cũng chịu ảnh hưởng của các
sự kiện trong đời sống kinh tế xã hội Với bối cảnh toàn cầu hoá, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn với thế giới, việc tiếp cận thị trường thế giới tác động tới các ngành công nghiệp mới và tạo việc làm cho hàng triệu người, già
và trẻ bước vào thị trường lao động mỗi năm Sự tập trung các vùng kinh tế,
sự khác biệt về điều kiện kinh tế giữa các vùng miền thì di cư là điều tất yếu Trước thực tế trên, một vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu nguyên do của di
cư, những nhân tố nào quyết định việc di cư và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đó đối với những luồng di cư điển hình Việc phát hiện và phân tích này sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam hiểu được bản chất của vấn đề di cư trong nước và tìm ra định hướng phù hợp cho chính sách di
cư góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội cả nước Vì vậy, tác giả đã
chọn đề tài: “Nghiên cứu thống kê về di cư và các nhân tố ảnh hưởng đến
di cư nội địa ở Việt Nam giai đoạn 2005-2014” cho luận văn cao học.Để
giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DI CƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DI CƯ NỘI ĐỊA
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỐNG KÊ BIẾN ĐỘNG VỀ DI CƯ NỘI ĐỊA
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2014
Trang 2CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DI CƯ NỘI ĐỊA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2014
Luận văn với đề tài “Nghiên cứu thống kê về di cư và các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nội địa ở Việt Nam giai đoạn 2005-2014” là kết quả
nghiên cứu độc lập của tác giả Qua 3 chương chính, luận văn đã làm rõ được một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, luận văn giới thiệu tổng quan về di cư và các nhân tố ảnh
hưởng đến di cư nội địa Trong luận văn, di cư được định nghĩa là sự di chuyển của con người từ nơi này đến nơi khác, đó là chuyển đến một xã khác, huyện khác, thành phố hoặc một tỉnh khác trong một khoảng thời gian nhất định Trong đó, người di cư được định nghĩa là những người có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra khác với nơi thường trú hiện tại Người không di cư là những người có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra cũng là nơi thường trú hiện tại Mặc dù có rất nhiều cách định nghĩa về di cư, cách định nghĩa trên là cách duy nhất để có thể sử dụng với số liệu của TĐTDS Một hạn chế của cách định nghĩa này là không phân loại được một số loại hình di cư tạm thời, di cư theo mùa vụ và hồi cư
do các nhóm này ẩn trong các nhóm dân số không di cư hoặc di cư theo định nghĩa trên
Theo phân loại địa giới hành chính hiện nay, Việt Nam được chia thành
6 vùng; dưới cấp vùng là 63 tỉnh; dưới cấp tỉnh có 690 đơn vị hành chính cấp huyện và dưới cấp huyện có 11.066 đơn vị hành chính cấp xã Do đó các chính sách phát triển thường được xây dựng theo từng cấp hành chính, việc phân loại di cư theo các cấp hành chính có vai trò quan trọng trong việc tính đến người di cư trong các kế hoạch phát triển từng cấp Trong luận văn, các nhóm di cư và không di cư được xác định theo cách phân loại di cư theo cấp hành chính như sau:
Trang 3• Di cư giữa các vùng: Bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên hiện đang sống ở VN và 5 năm trước thời điểm TĐTDS sống ở vùng khác với vùng hiện cư trú
• Di cư giữa các tỉnh: Bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên hiện đang sống ở VN và 5 năm trước thời điểm TĐTDS sống ở tỉnh khác với tỉnh hiện cư trú
• Di cư giữa các huyện: Bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên và 5 năm trước thời điểm TĐTDS sống trong cùng tỉnh nhưng khác quận huyện
so với nơi thường trú hiện tại
• Di cư trong huyện: Bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên và 5 năm trước thời điểm TĐTDS sống trong cùng quận huyện nhưng khác xã/phường/thị trấn so với nơi thường trú hiện tại
• Mỗi nhóm người di cư có nhóm dân số không di cư tương ứng hay nói cách khác, người không di cư cũng được phân loại theo các cấp hành chính
Theo dòng di cư giữa nông thôn và thành thị, các dòng di cư được xác định dựa trên đặc điểm nông thôn hay thành thị của nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra và nơi thường trú hiện tại:
• Di cư từ khu vực nông thôn đến nông thôn (NT-NT);
• Di cư từ khu vực nông thôn đến thành thị (NT-TT);
• Di cư từ khu vực thành thị đến nông thôn (TT-TT);
• Di cư từ khu vực thành thị đến thành thị (TT-TT)
Để bao quát các nhân tố tác động tới quyết định di cư người dân, luận văn sẽ tập trung phân tích hai nhóm chính gồm: (i) nhân tố lực đẩy - bắt
Trang 4nguồn từ nơi xuất cư và cá nhân người di cư và (ii) nhân tố lực hút - liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội của nơi đến
Các nhân tố lực đẩy với người di cư bao gồm:
• Nhân tố từ thị trường lao động nơi xuất cư: Là những hạn chế của thị trường lao động nơi xuất cư (đặc biệt là thị trường lao động nông thôn)
• Nhân tố liên quan đến hoàn cảnh gia đình người di cư: Bao gồm các vấn đề liên quan đến hoàn cảnh gia đình như điều kinh tế khó khăn; gia đình đông người nhưng không có nhiều người có khả năng lao động; gia đình có người ốm đau, tàn tật không có khả năng lao động
• Các nhân tố khác như: Cơ sở hạ tầng kém phát triển, điều kiện tự nhiên không thuận lợi nơi xuất cư và nhóm nhân tố không thuận lợi liên quan tới dân số
Các nhân tố lực hút với người di cư bao gồm:
• Cơ hội việc làm tại nơi đến: Di cư để tìm kiếm cơ hội việc làm, tạo thu nhập là lý do di cư phổ biến nhất nên cơ hội việc làm được coi là nhân
tố hút quan trọng hàng đầu tại nơi đến Ở Việt Nam, tìm việc làm tại nơi ở mới là lý do chính khiến người dân di cư
• Thu nhập tại điểm đến cao hơn nơi xuất cư: Theo đó, người di cư thường có xu hướng di chuyển từ nơi có thu nhập bình quân thấp đến nơi có thu nhập bình quân cao hơn Đối với những khu vực có thu nhập bình quân thấp thì chỉ tiêu này sẽ tác động làm tăng xuất cư, hạn chế nhập cư; ngược lại đối với những khu vực có thu nhập bình quân cao thì chỉ tiêu này sẽ thu hút nhập cư, làm giảm xuất cư
• Lực hút từ vốn xã hội bạn bè/ người thân: Nhân tố lực hút này chủ yếu
là một dạng vốn xã hội, thông qua đó những người di cư, đang làm việc
Trang 5tại điểm đến, có thông tin và trong nhiều trường hợp, thuyết phục bạn
bè, người thân cùng di cư
• Ngoài ra, còn một số nhân tố lực hút khác như: mức sinh thấp, chính
sách thu hút đầu tư
Bên cạnh hai nhóm nhân tố lực đẩy và lực hút được phân tích ở trên, thì còn có một nhóm nhân tố khác xuất phát từ cá nhân người di cư liên quan đến giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân (mong muốn thay đổi môi trường sống, trau dồi bản thân, mở rộng quan hệ xã hội)
Thứ hai, luận văn phân tích tình hình biến động về di cư nội địa ở Việt
Nam giai đoạn 2005-2014 Qua kết quả phân tích cho thấy:
Xét theo phạm vi đơn vị hành chính
- Xu hướng gia tăng dân số di cư từ 1989 đến nay có thể chia làm hai giai đoạn:
+Giai đoạn gia tăng dân số di cư diễn ra trong hai thập kỉ từ 1989 đến 2009, dân số di cư tăng cả về số lượng và tỷ lệ người
+Giai đoạn từ năm 2009 đến 2014, đây là thời kì hậu khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, nền kinh tế phát triển chậm, các khu công nghiệp không còn thu hút nhiều lao động di cư như thời kì trước Bên cạnh đó, do chính sách phát triển nông thôn ở Việt Nam làm cho khoảng cách kinh tế giữa thành thị
và nông thôn, giữa các vùng, miền đã làm giảm số lượng di cư trong giai đoạn này
- Qua các TĐTDS và điều tra DSGK thì kết quả đã cung cấp bằng chứng
rõ ràng về một hiện tượng rất được chú ý trong nghiên cứu di cư thường được
biết đến với tên gọi “nữ hóa di cư”
Xét theo luồng giữa khu vực nông thôn và thành thị
Tương tự như các nước đang phát triển khác với đại bộ phận dân số tập trung ở nông thôn, mặc dù luồng di cư từ nông thôn tới nông thôn có xu
Trang 6hướng giảm theo thời gian từ 37% năm 1999 xuống 28,7% năm 2014, nhưng luồng di cư này vẫn chiếm tỷ trọng khá cao Trong 4 dòng di cư nông thôn - thành thị, nông thôn - nông thôn, thành thị - nông thôn, thành thị - thành thị thì dòng di cư từ thành thị tới nông thôn chiếm tỷ trọng thấp nhất
Trong giai đoạn di cư từ 2004-2009 ta thấy có sự tăng mạnh ở dòng
di cư nông thôn đến thành thị, từ 27,1% lên 31,4% Tuy nhiên, đến giai đoạn di cư 2009-2014 thì tỷ trọng di cư nông thôn - thành thị lại giảm xuống 29%, thay vào đó là sự tăng lên của dòng di cư từ thành thị đến thành thị, di cư từ thành thị đến nông thôn Điều này là do sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, các ngành đều sụt giảm lao động dẫn đến một bộ phận không tìm kiếm được việc làm ở khu vực thành thị sẽ về quê, một bộ phận khác chuyển đến những khu vực thành thị khác phát triển hơn để tìm kiếm cơ hội việc làm
Di cư giữa các vùng và các tỉnh
Xu hướng di cư 5 năm trước thời điểm điều tra đã có nhiều thay đổi nhiều so với kết quả thu được từ TĐTDS 2009 Một lần nữa cho thấy mối quan hệ hữu cơ của di cư với sự phát triển kinh tế Thời kỳ 2004-2009 là thời
kỳ các khu công nghiệp, chế xuất được xây dựng ở nhiều nơi trên cả nước với nhịp độ cao Những cơ sở sản xuất này cần lao động có tay nghề đến làm việc Hơn nữa, trong thời kỳ này người dân di chuyển ồ ạt tới các thành phố,
đô thị tìm kiếm việc làm để mưu sinh Đến giai đoạn 2009-2014 là thời kỳ nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều thách thức làm cho số người di cư giảm đi
- Di cư giữa các vùng kinh tế - xã hội
Nếu năm 2009, cả nước có 4 vùng mang tỷ suất di cư thuần ầm (xuất cư cao hơn nhập cư) là các vùng: Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long, thì đến năm 2014, Đồng bằng sông Hồng đã ra khỏi các vùng có tỷ suất
Trang 7di cư thuần âm Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục là vùng có tỷ suất di cư thuần âm lớn nhất Đông Nam Bộ là vùng có tỷ suất di cư thuần dương và khá cao do nơi đây tập các tỉnh/thành phố như TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai
- Di cư giữa các tỉnh/thành phố
Có 4 tỉnh trong giai đoạn di cư từ 2004-2009 là những tỉnh xuất cư thì đến giai đoạn 2009-2014 là tỉnh nhập cư: Điện Biên, Bắc Ninh, Nghệ
An và Bình Phước Trong những tỉnh này đặc biệt nhất là Nghệ An Trong giai đoạn di cư trước Nghệ An là tỉnh có mức di cư thuần âm và khá cao, nhưng trong giai đoạn di cư này Nghệ An có mức di cư thuần dương 7,5‰.Sự thay đổi này là do sự phát triển các khu công nghiệp mới tại tỉnh này đã làm tăng mạnh số người nhập cư vào tỉnh (từ 28 nghìn người lên
120 nghìn người)
Thứ ba, luận văn đưa ra hệ thống chỉ tiêu thống kê và phương pháp
thống kê phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nội địa ở Việt Nam giai đoạn 2005-2014
Hệ thống chỉ tiêu ảnh hưởng đến di cư nội địa ở Việt Nam được chia thành các nhóm chỉ tiêu:
Nhóm chỉ tiêu phản ánh nhân tố về kinh tế: Bao gồm các chỉ tiêu
phản ánh về tỷ lệ lao động có việc làm; thu nhập và chi tiêu của người
dân và đầu tư trực tiếp của nước ngoài
Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự phát triển giáo dục và đào tạo và y tế:
Bao gồm các chỉ tiêu phản ánh về trình độ học vấn, các điều kiện chăm
sóc cơ bản về giáo dục và y tế
Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội và sự phát triển điều kiện sinh hoạt của con người: Bao gồm các chỉ tiêu phản ánh về
đô thị hóa và các điều kiện ở, sinh hoạt của hộ dân cư
Trang 8 Nhóm chỉ tiêu phản ánh nhân tố về dân số: Bao gồm các chỉ tiêu về mức sinh, mật độ dân số, độ tuổi và tình trạng hôn nhân
Về phương pháp phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nội địa, luận văn sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu mảng (panel data) Để đo lường di
cư nội địa, biến phụ thuộc trong phân tích mà tác giả sử dụng là hai biến tỷ suất nhập cư và tỷ suất xuất cư Căn cứ vào hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đã được trình bày và nguồn số liệu tác giả có thể thu thập được nên chỉ giới hạn trong một số nhân tố chủ yếu có điều kiện về nguồn tài liệu Luận văn sử dụng 10 biến độc lập thuộc các nhóm chỉ tiêu về kinh tế, nhóm chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của giáo dục, nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ sở hạ tầng xã hội, nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện sinh hoạt của con người, nhóm chỉ tiêu phản ánh về dân số Theo kết quả ước lượng mô hình, luận văn kết luận một số các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất nhập cư như: Tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới thắp sáng, Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng Bên cạnh đó, các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất xuất cư là tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tốt nghiệp PTTH trở lên; tỷ lệ hộ có nguồn nước hợp vệ sinh; thu nhập bình quân đầu người 1 tháng
Thứ tư, dựa trên kết quả phân tích mô hình ở trên, tác giả trình bày các
kiến nghị và giải pháp cho việc xây dựng chính sách và nâng cao công tác
thống kê di cư ở Việt Nam
- Chính sách về kinh tế:
Nhà nước nên có chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tại các vùng
và khu vực có điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn để gián tiếp phân bố lại dân cư Cần ưu tiên các tỉnh/thành phố có tỷ lệ xuất cư cao
- Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo
Tăng cường bậc giáo dục hướng nghiệp đào tạo nghề phi nông nghiệp và tạo điều kiện phát triển các nghề phi nông nghiệp ở nông thôn để tận dụng thời gian nhàn rỗi
Trang 9- Chính sách về đất đai và điều kiện ở
Chính quyền địa phương cần kết hợp với Chính Phủ, Nhà nước để đưa ra chiến lược phát triển và quy hoạch cụ thể rõ ràng cho từng tỉnh/thành phố về đất đai dành cho doanh nghiệp và dành cho xây dựng nhà ở của dân cư
- Chính sách về tuyên truyền di cư
Để bố trí dân cư một cách hợp lý thay vì nhà nước tổ chức di cư theo kế hoạch thì việc áp dụng tuyên truyền về các điều kiện ưu tiên khi di chuyển đến địa phương nhất định sẽ thu hút và khuyến khích được người dân di cư tự nguyện
- Kiến nghị liên quan đến công tác thống kê về di cư
Để có được nguồn số liệu hệ thống và đồng bộ về di cư trước tiên cần xây dựng một hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình trạng di cư một cách hệ thống Đồng thời nhà nước cần quy định cụ thể cuộc điều tra nào thu thập các chỉ tiêu cơ bản nào hay chuyên sâu về di cư Việc quản lý và theo dõi tốt việc thu thập thông tin liên quan đến di cư sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho nghiên cứu phân tích và hoạch định chính sách di cư
Ngoài ra, phối hợp chặt chẽ công tác thống kê của Tổng cục Thống kê với thống kê của các Bộ ngành
Trang 101 Lý do chọn đề tài
Từ xưa đến nay, hiện tượng di cư diễn ra lúc mạnh mẽ, lúc âm thầm và kéo theo nhiều hệ lụy tích cực lẫn tiêu cực Di cư kéo theo nguồn cung lao động giảm đi
ở nơi người di cư ra đi và tăng lên ở nơi họ chuyển đến Bên cạnh sự thay đổi lực lượng lao động chân tay, di cư còn kéo theo sự di chuyển của lượng chất xám, nhân lực trí tuệ từ khu vực này đến khu vực khác Di cư giúp cân bằng hoặc giảm cầu lao động tại khu vực có người di cư đến, làm giảm chi phí lao động và góp phần tăng lợi nhuận cho người sử dụng lao động Tuy nhiên, di cư cũng làm tăng các vấn đề xã hội như bất ổn về an ninh, y tế, chính trị…Đối với những khu vực tập trung đông người di cư đến, các chính sách về kinh tế - xã hội đều phải dành sự quan tâm đến đối tượng này nhằm sử dụng họ tốt nhất đồng thời giảm thiểu các thiệt hại do họ gây
ra Ngược lại, tại những nơi người di cư đi, các chính sách đưa ra cũng nhằm tận dụng tốt nhất sự ra đi của họ hoặc loại bỏ các tiêu cực mà sự ra đi của họ đem lại Càngngày người ta càng nhận thấy rằng quá trình phát triển và di cư luôn đi đôi với nhau Di cư vừa là động lực thúc đẩy vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia Do đó, nhiều Chính phủ trên thế giới luôn dành sự chú
ý đặc biệt đến nhịp độ và xu hướng di cư, khiến cho chủ đề di cư được giới nghiên cứu và những nhà hoạch định chính sách quan tâm như những nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước
Cũng giống với các quốc gia khác, Việt Nam từ lâu đã quan tâm đến sự phân
bố hợp lý giữa dân số và tài nguyên.Trước thực tế trên, một vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu nguyên do của di cư, những nhân tố nào quyết định việc di cư và mức
độ ảnh hưởng của từng nhân tố đó đối với những luồng di cư điển hình.Việc phát hiện và phân tích này sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam hiểu được bản chất của vấn đề di cư trong nước và tìm ra định hướng phù hợp cho chính sách di cư góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội cả nước