1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN đề rút RA từ NHỮNG bài học THÀNH CÔNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG mỹ cứu nước (1954 – 1975) ý NGHĨA

29 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 143,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc khỏng chiến chống Mỹ, cứu nước của dõn tộc Việt Nam đó trụi qua hơn một phần ba thế kỷ nhưng tầm vúc lớn lao và ý nghĩa trọng đại của thắng lợi đó vẫn cũn ghi đậm dấu ấn trong lịch sử dõn tộc ta và lịch sử phong trào cách mạng thế giới. Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã chỉ rõ: thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” . Nguyên nhân thắng lợi của nhân dân Việt Nam, nguyên nhân thất bại của đế quốc Mỹ đã được nhiều nhà khoa học, chính trị, quân sự ở nhiều nước, trong đó có Mỹ, tìm hiểu, nghiên cứu. Mắc Namara cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, đã phải thừa nhận sự thất bại của Mỹ chính vì: “Chúng ta (Mỹ TG) đã nhìn thấy ở họ (Việt Nam TG) niềm khao khát và quyết tâm chiến đấu giành tự do và dân chủ. Chúng ta đã đánh giá hoàn toàn sai các lực lượng chính trị trong nước” . Rõ ràng Mỹ đã thua vì tinh thần, thua vì “niềm khát khao và quyết tâm” chiến đấu, thua vì nền độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Việt Nam chiến thắng đế quốc Mỹ không phải chỉ bằng lực lượng vật chất, mà còn bằng lòng quyết tâm cao độ, ý chí sắt đá của cả một dân tộc “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó chính là sức mạnh tinh thần đã từng bước được chuyển hoá thành sức mạnh vật chất. Thành công ấy thuộc về năng lực lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác tư tưởng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tạo nên sự đồng thuận giữa ý Đảng lòng dân, sự nhất trí cao giữa miền Nam anh dũng và miền Bắc thuỷ chung, “trên dưới một lòng”, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trang 1

VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ NHỮNG BÀI HỌC THÀNH CÔNG TRONG CUỘCKHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) - Ý NGHĨA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

HIỆN NAY

MỞ ĐẦU

Cuộc khỏng chiến chống Mỹ, cứu nước của dõn tộc Việt Nam đó trụiqua hơn một phần ba thế kỷ nhưng tầm vúc lớn lao và ý nghĩa trọng đại củathắng lợi đó vẫn cũn ghi đậm dấu ấn trong lịch sử dõn tộc ta và lịch sử phongtrào cách mạng thế giới Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiếnchống Mỹ, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã chỉ rõ: thắng lợi

của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”1 Nguyên nhân thắng lợicủa nhân dân Việt Nam, nguyên nhân thất bại của đế quốc Mỹ đã được nhiềunhà khoa học, chính trị, quân sự ở nhiều nước, trong đó có Mỹ, tìm hiểu,nghiên cứu Mắc Namara - cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, đã phải thừa

nhận sự thất bại của Mỹ chính vì: “Chúng ta (Mỹ - TG) đã nhìn thấy ở họ (Việt Nam - TG) niềm khao khát và quyết tâm chiến đấu giành tự do và dân chủ Chúng ta đã đánh giá hoàn toàn sai các lực lượng chính trị trong nước”2

Rõ ràng Mỹ đã thua vì tinh thần, thua vì “niềm khát khao và quyết tâm”chiến đấu, thua vì nền độc lập tự do của nhân dân Việt Nam Việt Nam chiếnthắng đế quốc Mỹ không phải chỉ bằng lực lượng vật chất, mà còn bằng lòng

1 Đảng Cộng sản Việt nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp h nh Trung ành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu

to n qu ành Trung ốc lần thứ IV, Nxb, Sự thật, H N ành Trung ội, 1977, tr 5 - 6

2 Rôbớt S Mắc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấm thảm kịch v nh ành Trung ững b i h ành Trung ọc về chiến tranh Việt Nam, Nxb, CTQG, H 1995, tr 316.

Trang 2

quyết tâm cao độ, ý chí sắt đá của cả một dân tộc “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Đó chính là sức

mạnh tinh thần đã từng bước được chuyển hoá thành sức mạnh vật chất.Thành công ấy thuộc về năng lực lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác tư tưởng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm

vụ, tạo nên sự đồng thuận giữa ý Đảng - lòng dân, sự nhất trí cao giữa miền

Nam anh dũng và miền Bắc thuỷ chung, “trên dưới một lòng”, quyết tâm

đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước là 21 năm trường kỳ ác liệtchưa từng thấy trong lịch sử dân tộc Chính tại thời kỳ nhiều cam go thử thách

ác liệt này, công tác tư tưởng - một mặt của công tác đảng, công tác chính trị,một yếu tố chiếm vị trí quan trọng hàng đầu tạo nên sức mạnh chiến đấu củaquân đội nhân dân Việt Nam, đã có những đóng góp đáng kể, những thànhcông rực rỡ không chỉ góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của cuộckháng chiến, mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị có thể vậndụng vào sự nghiệp xây dựng quân đội ta hiện nay

Những bài học kinh nghiệm được Đảng ta rút ra sau 21 năm khángchiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), bao gồm cả những bài học thànhcông và bài học không thành công Trong tổng số 7 bài học thành công đượcĐảng ta đúc rút từ thực tiễn kháng chiến chống Mỹ:

Một là, quán triệt đường lối chính trị của Đảng, xây dựng quyết tâm

đánh thắng giặc mỹ xâm lược

Hai là, làm rõ kẻ thù, đánh giá so sánh địch, ta

Ba là, quán triệt đường lối quân sự của Đảng, phát động quần chúng

sáng tạo cách đánh, vừa chiến đấu, xây dựng vừa phát triển lực lượng

Bốn là, xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội vững mạnh có

sức chiến đấu cao và trình độ lãnh đạo về mọi mặt làm cơ sở xây dựng quânđội vững mạnh về chính trị

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của chiến tranh.

Trang 3

Sáu là, thực hiện quân - dân một lòng, ra sức xây dựng và phát huy sức

mạnh hậu phương để đánh thắng Mỹ

Bảy là, nâng cao tinh thần quốc tế vô sản chân chính, đoàn kết quân –

dân Lào, Campuchia

Bảy bài học nêu trên là những kinh nghiệm quý báu có tính lý luận và

thực tiễn sâu sắc Tuy nhiên, do khuôn khổ của một bài tiểu luận có hạn, tác

giả không trình bày toàn bộ nội dung của 7 bài học, mà rút ra những vấn đề chủ yếu từ nội dung của 7 bài học thành công, từ đó liên hệ đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

1 Tính chất, đặc điểm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước

Sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, cả nước chưa kịp hàngắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, phát triển đất nước thì lại phảiđương đầu với một cuộc chiến tranh mới chống đế quốc Mỹ xâm lược Đó làmột cuộc chiến tranh chính nghĩa chống chiến tranh xâm lược của chủ nghĩathực dân mới, của tên đế quốc đầu sỏ và bè lũ tay sai Cuộc chiến tranh nàyvừa mang tính chất giải phóng dân tộc, vừa mang tính chất bảo vệ Tổ quốc đểgiải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất đất nước, đưa cảnước đi lên chủ nghĩa xã hội Mặt khác, cuộc chiến tranh mà đế quốc Mỹ tiếnhành không chỉ bó hẹp trên lãnh thổ Việt Nam, tiến hành kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước không chỉ riêng của quân và dân Việt Nam, mà còn diễn ra cảvới quân và dân hai nước Lào và Campuchia anh em Việt Nam không chỉ cótrách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc mình mà còn phải có trách nhiệmgiúp đỡ, phối hợp, hiệp đồng trong mặt trận chung chống đế quốc xâm lược

Vì vậy, cuộc chiến tranh của quân và dân ta vừa là sứ mệnh vẻ vang của dântộc, vừa là nghĩa vụ quốc tế cao cả Do đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước của nhân dân ta vừa mang tính chất thời đại sâu sắc, vừa mang tính chấtliên minh quốc tế cao cả

Trang 4

Nghiên cứu tính chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chophép ta khai thác, phát huy sức mạnh của toàn dân đánh giặc; sức mạnh củadân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, sức mạnh của đấu tranh quân sựvới đấu tranh chính trị, ngoại giao; sức mạnh của liên minh đặc biệt đoàn kếtgắn bó keo sơn Việt Nam - Lào - Campuchia Từ đó xây dựng quyết tâm,lòng tin, dám đánh và quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dânta.

Nghiên cứu đặc điểm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đểthấy được đặc điểm chủ yếu chi phối trong suốt tiến trình của cuộc chiếntranh đó là: sau khi kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắcnước ta được hoàn toàn giải phóng, chế độ xã hội chủ nghĩa từng bước đượcxây dựng và ngày càng phát huy tính ưu việt của nó Hệ thống chuyên chính

vô sản được thiết lập và củng cố Con người mới xã hội chủ nghĩa với giá trịđạo đức, văn hoá, lối sống xã hội chủ nghĩa từng bước được xây dựng vàhoàn thiện Trong khi đó, miền Nam còn nằm dưới ách thống trị của thực dân,

đế quốc Nhân dân miền Nam đã được rèn luyện qua kháng chiến chốngPháp, tiếp tục chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược để giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhândân ta là cuộc kháng chiến của cả nước, do một Đảng lãnh đạo, một dân tộc,một quân đội tiến hành với một mục tiêu chung là bảo vệ miền Bắc, giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xãhội

Về tình hình thế giới: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân

dân ta diễn ra trong điều kiện có những thuận lợi lớn, đồng thời có nhiều khókhăn, phức tạp Cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa không ngừng lớn mạnh,nhất là Liên Xô đã có những bước tiến vượt bậc về vũ khí chiến lược, còn đếquốc Mỹ thì đang bị sa lầy ở Việt Nam Phong trào giải phóng dân tộc, vì hoàbình dân chủ và tiến bộ xã hội dâng lên mạnh mẽ Ba dòng thác cách mạngthời đại ở thế tiến công liên tục Tuy nhiên, trong phong trào cộng sản quốc tế

Trang 5

xuất hiện sự bất đồng, có khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa dưới nhiều màu sắc.Bản thân cách mạng Trung Quốc có nhiều vấn đề Đại cách mạng văn hoá làmột thảm hoạ không chỉ đối với nhân dân Trung Quốc mà còn ảnh hưởng đến

sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với Việt nam Do đánh giá quá cao đế quốc

Mỹ, sợ Mỹ nên phát sinh những quan điểm xét lại, chung sống hoà bình bằngbất cứ giá nào, ngại chiến tranh giải phóng dân tộc lan thành chiến tranh thếgiới, chiến tranh hạt nhân Điều đó đã gây khó khăn cho ta trong việc xác địnhđường lối, tập hợp lực lượng và kìm hãm phong trào giải phóng dân tộc

Về kẻ thù xâm lược: Đế quốc Mỹ là một tên đế quốc đầu sỏ rất xảo

quyệt, hung ác và ngoan cố, có tiềm lực kinh tế quân sự rất mạnh, có mưu đồ

bá chủ thế giới Chúng đã kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược nước tabằng tất cả những thủ đoạn thâm độc và nham hiểm Mỹ đã huy động gần 60vạn quân Viễn Chinh, sử dụng hầu hết các loại vũ khí trang bị hiện đại (trong

đó có cả vũ khí hoá học - chất độc màu da cam mà các nạn nhân hiện nayđang phải gánh chịu hậu quả rất nặng nề) Chúng tiến hành cuộc “chiến tranhcục bộ” lớn nhất từ trước tới nay và mở rộng chiến tranh ra toàn cõi ĐôngDương Mỗi lần thay đổi chiến lược thì âm mưu, thủ đoạn lại thâm độc hơn,quy mô huy động vật chất, kỹ thuật lớn hơn, hiện đại hơn và tính chất ác liệthơn Đồng thời, chúng đã xây dựng, tổ chức trang bị cho hơn một triệu quânNguỵ đến “tận răng, tận tuỷ” và một hệ thống Nguỵ quyền hoàn chỉnh từTrung ương đến Buôn, Ấp để kìm kẹp nhân dân ta

Quân đội ta từ sau kháng chiến chống Pháp đã từng bước phát triểnmạnh mẽ theo hướng chính quy, hiện đại Về quy mô và cơ cấu tổ chức có sựphát triển, trang bị vũ khí được cải tiến, trình độ mọi mặt từng bước đượcnâng lên rõ rệt, vừa chiến đấu kiện toàn, củng cố, vừa làm nhiệm vụ trọng đạicủa dân tộc, vừa làm nhiệm vụ quốc tế với hai dân tộc Lào, Cămpuchia anh

em

Về phát triển lực lượng: Trong chiến tranh quân đội ta đã phát triển từ

17 vạn lên đến hơn một triệu quân gồm nhiều quân binh chủng kỹ thuật,

Trang 6

nhiều sư đoàn, quân đoàn Hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cácđơn vị luôn được củng cố, kiện toàn, phát triển từ những trận chiến đấu kếthợp tiến công tiêu diệt địch với sự nổi dậy của quần chúng phá “ấp chiếnlược”, đến các chiến dịch tổng hợp, tiến lên thực hiện nhiều chiến dịch lớnhiệp đồng quân binh chủng, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Thực tiễn trên đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ rất nặng nề đối với công tácđảng, công tác chính trị nói chung và các công tác khác trong quân đội nói riêng

Đó cũng là cơ sở mới, đối tượng mới để công tác tư tưởng, công tác tổ chức, cán

bộ, công tác chính sách… phát huy sức mạnh chính trị tinh thần, sức mạnh conngười, tổ chức trang bị vũ khí kỹ thuật, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến đấu

và chiến thắng giặc Mỹ xâm lược Mà điều trước tiên là công tác tư tưởng phảilàm cho mọi người nhận rõ và quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương lãnh đạocủa Đảng đối với quân đội về chính trị, tư tưởng, tổ chức, nhận thức rõ âm mưu,thủ đoạn của kẻ thù, đề cao ý chí, quyết tâm đánh giặc Công tác tổ chức phảibám sát vào mọi nhiệm vụ quân đội, đi sâu vào đời sống chiến đấu, công việccủa bộ đội trong mọi hoàn cảnh Kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng vớicông tác tổ chức, giữa giáo dục chính trị, tư tưởng với bảo đảm các mặt công tácquân sự, hậu cần, kỹ thuật nhằm xây dựng cho cán bộ chiến sỹ có ý chí, quyếttâm chiến đấu, dám đánh và quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

2 Những vấn đề rút ra từ 7 bài học thành công trong khángchiến chống Mỹ cứu nước Ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng quânđội ta hiện nay

2.1 Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ thành công đó là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác chính sách trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách là những bộphận hợp thành của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dânViệt Nam, có vai trò rất quan trọng trong tổ chức sự lãnh đạo của Đảng đốivới quân đội Thông qua công tác này mà đường lối, chủ trương, chính sách

Trang 7

của Đảng, Nhà nước được quán triệt tới mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội

và được tổ chức thực hiện nghiêm túc Mỗi mặt công tác có vai trò, vị trí khácnhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sự không đồng bộ của bất cứmặt công tác nào, đều làm ảnh hưởng đến kết quả, thậm trí làm triệt tiêu tácdụng của các mặt khác Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Quânđội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”1

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, sự kết hợp giữa công tác tưtưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách được Đảng ta phát triển lên mộtbước mới Đảng rất quan tâm xây dựng tư tưởng cách mạng tiến công, chốngchủ nghĩa xét lại và giáo điều về “vũ khí luận”, về chiến tranh hiện đại, giácngộ lập trường giai cấp công nhân, hun đúc lòng yêu nước, khơi dậy tinh thần

“sẻ dọc Trường sơn đi cứu nước”, khơi dậy chí căm thù giặc sâu sắc, khắcphục tư tưởng xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng và công tác đảng, công tácchính trị; đồng thời tiếp tục chú trọng xây dựng quân đội chính quy, xây dựngcác quân chủng, binh chủng, kỹ thuật hiện đại; thường xuyên tiến hành cáccuộc vận động xây dựng chi bộ 4 tốt, gắn xây dựng trung, sư đoàn vững mạnhvới xây dựng tổ chức đảng vững mạnh toàn diện, quan tâm nâng cao tỷ lệlãnh đạo trong quân đội, thực hiện chi bộ đại đội có chi uỷ, trung đội có tổđảng Đi theo sự phát triển của cuộc kháng chíên, cùng với công tác tư tưởng

và công tác tổ chức, các chính sách B, C, K của Đảng và Nhà nước đối vớicác gia đình quân nhân đã thực sự làm yên lòng bộ đội ngoài tiền tuyến

Ngày nay, cùng với việc tiếp tục giáo dục truyền thống “Bộ đội CụHồ”, giác ngộ tinh thần độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, củng cốlòng tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chống sự dao động, “tự diễnbiến”; công tác tổ chức đã đi sâu vào nghiên cứu các giải pháp phát triểnđảng, xây dựng các chi bộ đại đội đủ quân có chi uỷ trong điều kiện mới, đẩymạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn đảng trong sạch, vững mạnh.Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đổi mới các chính sách tiềnlương, phụ cấp cho cán bộ, chiến sĩ quân đội, thúc đẩy giải quyết các tồn đọng

1 Hồ Chí Minh, To n t ành Trung ập, tập 6, Nxb CTQG, H 2002, tr 560.

Trang 8

chiến tranh, đẩy mạnh các phong trào toàn dân tham gia cuộc vận động đền

ơn đáp nghĩa với các gia đình có công với cách mạng, với thương binh và giađình liệt sĩ, đẩy mạnh việc tìm kiếm và quy tập mộ liệt sĩ v.v… Tất cả đã tạonên những độc lực mới nâng cao hơn vị thế của quân đội, góp phần làm chođội ngũ sỹ quan yên tâm, tạo sức hút mạnh hơn đối với thanh niên khi lựachon con đường phục vụ lâu dài trong quân đội

Vận dụng vấn đề này vào sự nghiệp xây dựng quân đội ta hiện nay cầnquan tâm một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, trên cơ sở nắm vững mục tiêu của sự kết hợp ba mặt công tác nói trên là hoàn thành nhiệm vụ chính trị của quân đội, của các đơn vị, của từng mặt công tác theo nhiệm vụ của mình Nhiệm vụ chính trị của quân đội,

của đơn vị chính là phương hướng, là cơ sở cho các mặt công tác chủ độngkết hợp chặt chẽ với nhau Bản thân việc hướng vào mục tiêu chung để chủđộng thực hiện nhiệm vụ của từng mặt công tác đã chứa đựng sự kết hợp tựnhiên của các mặt công tác đó Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việcvạch ra nhiệm vụ của từng mặt công tác phải đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụchung Việc nắm vững mục tiêu của sự kết hợp ba mặt công tác nói trên đòihỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là lãnh đạo, chỉ huy phải luôn luôn nắmvững nhiệm vụ của quân đội, của đơn vị mình

Hai là, phải xác định đúng và giải quyết tốt vị trí, vai trò, mối quan hệ của các mặt công tác phù hợp với nhiệm vụ cách mạng và đặc thù của quân đội Theo hướng đó, phải trên cơ sở nắm vững vị trí, vai trò của từng mặt

công tác để thực hiện sự kết hợp một cách linh hoạt

Quân đội ta là một lực lượng chính trị đặc biệt, là công cụ bạo lực sắcbén của Đảng, Nhà nước và nhân dân Giáo dục chính trị tư tưỏng luôn luôn

có vai trò quan trọng hàng đầu Động lực chính trị, tinh thần vẫn là động lựcchi phối chủ yếu các mặt hoạt động của quân đội Tuy nhiên, cũng không nêntuyệt đối hoá vai trò của công tác tư tưởng, của động lực chính trị, tinh thần,

mà coi nhẹ công tác tổ chức và công tác chính sách Trong điều kiện thời

Trang 9

bình, với cơ chế thị trường hiện nay, khi lợi ích vật chất cá nhân đã trở thànhđộng lực trực tiếp của người lao động trong xã hội, thì việc xem nhẹ các chínhsách ưu đãi đối với quân đội nhất định sẽ gây ra những hậu quả khôn lường,làm suy giảm sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội Điều đó cho thấy, việchoạch định chính sách cho quân đội phải rất quan tâm tới chính sách của hoạtđộng quân sự “Nuôi quân mười năm để dùng quân trong một giờ” là một sựtổng kết kinh nghiệm quý báu của dân tộc ta về xây dựng quân đội Trongmối quan hệ của ba mặt công tác: tư tưởng, tổ chức, chính sách trong quân độithì giáo dục chính trị tư tưởng, giác ngộ lý tưởng cách mạng cho cán bộ, chiến

sĩ vẫn được coi trọng hàng đầu trong bất cứ hoàn cảnh, tình huống nào Nắmvững yêu cầu đó, chúng ta phải khéo kết hợp ba mặt công tác này trong giaiđoạn cách mạng mới Nừu chỉ nhấn mạnh công tác tư tưởng và tổ chức,không đưa công tác chính sách lên ngang tầm với đòi hỏi của công tác tưtưởng và tổ chức sẽ là duy ý chí Nhưng nếu chỉ đòi hỏi chỉ đòi hỏi chính sáchđãi ngộ quân nhân mà không làm tốt công tác tư tưởng, công tác tổ chức thìkhông phù hợp với yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng

2.2 Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ là kết quả của việc thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta diễn ra trongbối cảnh tình hình thế giới có những thuận lợi lớn, đồng thời có nhiều khókhăn phức tạp Cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa không ngừng lớn mạnh,nhất là Liên Xô Cao trào giải phóng dân tộc sôi sục ở châu Á, Phi, Mĩ Latinh Phong trào đấu tranh cho hoà bình dân chủ và tiến bộ xã hội dâng lênmạnh mẽ Ba dòng thác cách mạng của thời đại ở thế tiến công liên tục Tuynhiên, trong phong trào cộng sản quốc tế đã xuất hiện sự bất đồng, có khuynhhướng cơ hội chủ nghĩa dưới nhiều màu sắc

Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắcnước ta được hoàn toàn giải phóng, nhưng miền Nam còn dưới ách thực dân

Trang 10

mới của đế quốc Mỹ Đất nước tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, cách mạngViệt Nam phải tiến hành đồng thời hai chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam

Quân và dân ta trong cuộc đụng đầu lịch sử này phải chống lại mộttên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự, kỹ thuật rất lớn So sánh vềlực lượng vật chất, kỹ thuật thì ta kém rất xa kẻ địch Đế quốc Mỹ lại rất xảoquyệt, hung ác và ngoan cố Chúng đã xây dựng một đội quân nguỵ đông trên1triệu tên và một hệ thống nguỵ quyền hoàn chỉnh từ trung ương đến buôn, ấp

để kìm kẹp nhân dân

Trong những điều kiện phức tạp đó, Đảng ta đã lãnh đạo quân và dân

ta vượt qua mọi khó khăn, kiên quyết đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợihoàn toàn Quân đội ta đã vượt qua được những thử thách rất lớn trong chiếntranh, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, bản chất cách mạng cao đẹp.Công tác đảng, công tác chính trị trong chiến tranh chẳng những đáp ứngđược những yêu cầu của nhiệm vụ quân sự mà còn làm cho Đảng bộ quân độithấu suốt quan điểm độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế của Đảng, trên cơ sở

đó đi sâu vào từng giai đoạn, từng nhiệm vụ, xây dựng được ý chí quyết tâmđánh thắng giặc Mỹ xâm lược cho bộ đội

Từ năm 1955, quân đội ta bước vào xây dựng theo hướng chính quy,hiện đại Quy mô và cơ cấu tổ chức phát triển, vũ khí, trang bị kỹ thuật đượccải tiến, trình độ mọi mặt: chính trị, quân sự, tổ chức chỉ huy, bảo đảm hậucần, kỹ thuật được nâng lên rõ rệt Song thời gian xây dựng, củng cố chưađược bao lâu đã lại bước vào cuộc chiến đấu mới, yêu cầu đặt ra là vừa phảichiến đấu vừa tiếp tục củng cố, phát triển lực lượng

Những tính chất, đặc điểm và tình hình nhiệm vụ kể trên đặt ra nhữngyêu cầu mới, rất nặng nề đối với công tác đảng, công tác chính trị nói chung,đối với công tác xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức đảng trong quân đội nói

Trang 11

riêng Đó cũng là những cơ sở mới, những đối tượng mới để các hoạt độngcông tác đảng, công tác chính trị phát huy sức mạnh chính trị tinh thần, sứcmạnh con người, tổ chức, trang bị vũ khí - kỹ thuật trong điều kiện mới nhằmbảo đảm cho quân đội ta hoàn thành sứ mệnh vẻ vang trong sự nghiệp chống

Mỹ, cứu nước mà Đảng và nhân dân giao phó

Hoạt động công tác tổ chức xây dựng Đảng trong quân đội thời kỳ nàyđặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban

bí thư và Quân uỷ Trung ương Trên các chiến trường miền Nam còn do sự chỉđạo trực tiếp của Trung ương Cục và Quân uỷ miền, của các Khu uỷ và Đảng uỷcác quân khu, các đơn vị Đồng thời hoạt động công tác đảng, công tác chính trịnói chung, công tác xây dựng tổ chức Đảng nói riêng còn căn cứ vào các Nghịquyết của Đại hội Đảng toàn quốc và Ban chấp hành Trung ương, đặc biệt là cácNghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 12 - khoá II (1957) về xây dựng quânđội, củng cố quốc phòng; Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959) vềlãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam; Nghị quyết Đại hội Đảng lầnthứ III và các Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 9 - khoá III (1963) vềcách mạng miền Nam; Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 12 (1965) về cảnước chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ; Nghị quyết hội nghị Trungương lần thứ 21 (1973) về tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam

Những hoạt động của công tác xây dựng Đảng trong quân đội đượcbiểu hiện qua từng giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là:

Giai đoạn 1954 - 1959, công tác xây dựng Đảng tập trung vào việccủng cố chi bộ, đảng uỷ và cơ quan chính trị, xây dựng nề nếp lãnh đạo củaĐảng, nề nếp công tác đảng, công tác chính trị, đây là những nội dung quantrọng để tăng cường bản chất cách mạng của quân đội trong xây dựng chínhquy, hiện đại Trong thời kỳ này việc xây dựng Đảng đã lấy việc củng cố chi

bộ, rèn luyện đảng viên là khâu mấu chốt và là cơ sở cho việc xây dựng quân

Trang 12

đội về chính trị Đảng bộ quân đội đã tiến hành điều chỉnh đảng viên để đại độinào cũng có chi bộ; tích cực kết nạp đảng viên mới, tổ chức bồi dưỡng, kết nạplớp đảng viên nhân ngày thành lập Đảng (3/2), trung bình hàng năm phát triểnthêm được 10% tổng số đảng viên Việc giáo dục, rèn luyện đảng viên đượcđẩy mạnh và tiến hành có nề nếp, hiệu quả.

Đảng uỷ các cấp được kiện toàn về tổ chức, cả về số lượng và chấtlượng, đáp ứng kịp với tình hình và tổ chức của quân đội Chế độ đảng uỷ tậpthể lãnh đạo, thủ trưởng phân công phụ trách được thực hiện ở tất cả các đơn

vị, vai trò lãnh đạo toàn diện, nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo,lấy việc lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ là chủ yếu được thực hiện nghiêmchỉnh và ngày càng có nề nếp hơn Tuy còn có những hạn chế trong việc lãnhđạo về khoa học kỹ thuật, nhưng các tổ chức đảng đã nắm vững khâu lãnh đạochính trị, tư tưởng, chấp hành nghiêm các nguyên tắc, quan điểm của Đảng,xác định chủ trương đúng đắn nên đã làm chỗ dựa vững chắc cho người chỉhuy trong việc thực hiện các nhiệm vụ

Giai đoạn 1960 - 1964, đi đôi với việc kiện toàn các Đảng uỷ, Đảng

bộ quân đội đã tập trung vào khâu then chốt là khâu xây dựng chi bộ, nhất làchi bộ đại đội, từng bước khắc phục những nhược điểm, khuyết điểm trướcđây Do thực hiện nghĩa vụ quân sự, số đảng viên xuất ngũ hàng năm đônghơn số đảng viên nhập ngũ, công tác phát triển đảng lại chưa được chú trọng,

ở một số đơn vị có đến 21% số chi bộ từ 6 - 16 tháng liền không kết nạp đượcđảng viên mới Tỷ lệ đảng viên trong quân đội giảm mạnh: Năm 1960, tỷ lệlãnh đạo từ 21 - 31,5%, năm 1961 chỉ còn 12 - 18%, số tiểu đội không cóđảng viên là 51% Số chi bộ không có chi uỷ là 44%,… Để cải thiện tình hình

đó, Đảng bộ quân đội đã đề ra mục tiêu phấn đấu là: Chi bộ đại đội có chi uỷ,trung đội có tổ đảng, tiểu đội, khẩu đội và bộ phận kỹ thuật có đảng viên.Việc kết nạp đảng viên mới được chú trọng, bình quân có thêm 8.000 đảng

Trang 13

viên mới mỗi năm, nâng tỷ lệ lãnh đạo trong toàn quân lên xấp xỉ 30% Ở cácđơn vị quân chủng, binh chủng kỹ thuật đã thực hiện được tỷ lệ lãnh đạo caohơn các đơn vị bộ binh Cuối năm 1962 đảng bộ quân đội mở cuộc vận độngxây dựng chi bộ bốn tốt: “Lãnh đạo công tác tốt, học tập tốt, đoàn kết nội bộtốt, phát triển Đảng tốt”, triển khai cuộc vận động bảo vệ Đảng theo chỉ thịcủa Ban chấp hành Trung ương đã nâng cao được tính nguyên tắc trong xâydựng Đảng, bảo đảm tổ chức Đảng trong sạch, đưa ra khỏi đảng những ngườikhông đủ tiêu chuẩn, những người cố tình che dấu lý lịch, có những vấn đềchính trị nghiêm trọng, chống đối Một số khá đông đoàn viên thanh niênđược đứng vào hàng ngũ của Đảng (trong 5 năm có 27.850 đoàn viên đượckết nạp vào đảng, bằng 80% số đảng viên mới) Đồng thời mở rất nhiều lớphuấn luyện cho đảng viên mới, với nội dung chương trình được chỉ đạo thốngnhất Giai đoạn này cũng đã mở nhiều lớp bồi dưỡng, nhiều hội nghị trao đổikinh nghiệm cho các đảng uỷ viên, các bí thư chi bộ, bí thư đảng uỷ.

Do tổ chức được củng cố, số lượng và chất lượng được tăng lên,phương pháp lãnh đạo được cải tiến, nên số đông chi bộ đã hoàn thành tốtnhiệm vụ, ngày càng đi sâu lãnh đạo tốt hơn nhiệm vụ trung tâm là huấnluyện bộ đội sẵn sàng chiến đấu Ở những đơn vị chiến đấu trên chiến trường,những đơn vị đi sâu vào vùng địch, các chi bộ đã lãnh đạo hoàn thành tốtnhiệm vụ, rèn luyện được nhiều cán bộ, đảng viên tốt, kiên cường, dũng cảm

và mưu trí đánh địch Nhưng so với yêu cầu nhiệm vụ thì trình độ lãnh đạocủa chi bộ còn có những mặt yếu như: khi tập trung làm tốt mặt này thì mặtkhác chưa giữ được thường xuyên, đều đặn; lãnh đạo tư tưởng, lãnh đạo huấnluyện quân sự có kinh nghiệm nhưng lãnh đạo quản lý bộ đội, quản lý cơ sởvật chất, kỹ thuật còn yếu, sinh hoạt đều nhưng chất lượng chưa cao; Nghịquyết đề ra đúng nhưng khâu tổ chức, kiểm tra đôn đốc kém, hiệu lực lãnhđạo hạn chế

Trang 14

Giai đoạn 1965 - 1968, công tác xây dựng Đảng đã tập trung vào việckiện toàn các cấp uỷ Đảng, công tác xây dựng các tổ chức Đảng đã gắn vớixây dựng đơn vị vững mạnh, đơn vị quyết thắng; xây dựng chi bộ bốn tốt gắnvới xây dựng cán bộ bốn tốt, đảng viên bốn tốt Đặc biệt chú ý nâng cao chấtlượng lãnh đạo của các tổ chức đảng, nhất là lãnh đạo chính trị, tư tưởng, lãnhđạo hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, giữ vững các nguyên tắc lãnh đạo và sinhhoạt của Đảng theo những quy định phù hợp

Công tác phát triển đảng cũng được coi trọng Để đáp ứng yêu cầucủng cố và tăng cường sự lãnh đạo ở cơ sở một cách thường xuyên, từ 1965đến 1968 đã kết nạp thêm 166.711 đảng viên mới Tuy số quân tăng nhanh và

sự tiêu hao trong chiến tranh tương đối lớn, nhưng vẫn giữ vững tỷ lệ lãnhđạo lúc đầu ở khoảng 30%, số lượng chi bộ tăng từ 3.365 (1964) lên 15.459(1968) Thời kỳ này, đảng bộ quân đội đã đề nghị với Ban chấp hành Trungương ra một số quy định về phát triển đảng ở các đơn vị quân đội cho phù hợpvới hoàn cảnh chiến tranh Nhờ đó, công tác phát triển đảng có thêm nhiềuthuận lợi Trong hoàn cảnh chiến đấu khẩn trương, ác liệt nhưng đã căn bảnđạt mục tiêu đề ra: 91,6% đại đội có chi bộ, 96,3% chi bộ có chi uỷ, 96,3%trung đội có tổ đảng, 85% tiểu đội có đảng viên Trong cuộc vận động xâydựng “chi bộ bốn tốt” đã gắn chặt việc rèn luyện đảng viên với rèn luyện cán

bộ Các cấp uỷ được củng cố kịp thời, trình độ lãnh đạo được nâng lên rõ rệt.Tuy nhiên, việc khắc phục những nhược điểm về lãnh đạo và quản lý cơ sởvật chất, kỹ thuật, việc hiệp đồng binh chủng trong đánh lớn còn chuyển biếnchậm và chưa đồng đều

Giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1972, đây là giai đoạn chiến tranhbước vào thời kỳ ác liệt, khó khăn, phức tạp nhất Để lãnh đạo sát tình hình,nhiệm vụ, công tác xây dựng Đảng tập trung vào việc nâng cao năng lực lãnhđạo, khắc phục các nhược điểm về vận dụng tư tưởng chỉ đạo tác chiến, về

Ngày đăng: 27/04/2021, 09:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w