Luận văn tiến hành nghiên cứu stress của nhân viên y tế, đặc biệt đó là điều dưỡng đang trực tiếp làm việc tại bệnh viện Nhi Trung ương, nơi mà môi trường làm việc luôn căng thẳng, đi kèm nhiều những rủi ro từ đặc thù công việc đang được quan tâm rất lớn. Bệnh viện Nhi trung ương là một bệnh viện đặc thù và là một trong ba bệnh viện hàng đầu khu vực trong lĩnh vực nhi khoa nhưng còn rất ít nghiên cứu đánh giá tình trạng stress của điều dưỡng. | TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG Nguyễn Thị Minh Huyền STRESS TRẦM CẢM LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2019 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG Hà Nội năm 2019 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG Nguyễn Thị Minh Huyền STRESS TRẦM CẢM LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2019 CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG Mã số 8.72.07.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS. Nguyễn Bạch Ngọc Hà Nội
M t s khái ni m c b n
Khái ni m r i lo n c ng th ng (stress)
Theo tâm lý học, cảm giác căng thẳng là một trạng thái tâm lý tự nhiên và có thể mang lại lợi ích trong công việc và sức khỏe Stress tích cực giúp tăng cường sự tập trung và năng suất làm việc Nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thích nghi và phản ứng với môi trường xung quanh Tuy nhiên, áp lực quá mức có thể dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe và tâm lý.
Căng thẳng là một vấn đề phổ biến mà nhiều người thường gặp phải trong cuộc sống hàng ngày Những tình huống căng thẳng có thể xuất phát từ áp lực công việc, yêu cầu cao trong học tập hoặc các mối quan hệ xã hội, và nếu không được quản lý tốt, nó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm lý và thể chất.
Walter Cannon (1927) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về stress, tập trung vào khía cạnh sinh học của hiện tượng này Stress được hiểu là phản ứng “có sẵn” của cơ thể trước những tác nhân gây hại, huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó.
Stress có thể giúp chúng ta thích nghi và phát triển, nhưng nếu nhìn nhận từ góc độ tiêu cực, nó có thể phá vỡ sự cân bằng trong cuộc sống Điều này dẫn đến nhiều vấn đề về sức khỏe như lo âu, trầm cảm và suy kiệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống cá nhân và xã hội.
Theo Lazarus (1966) và Lazarus cùng Folkman (1984), stress được định nghĩa là một quá trình tương tác giữa con người và môi trường, trong đó con người nhận định các sự kiện môi trường có tính chất đe dọa và có hại, đòi hỏi phải cân nhắc sử dụng các tiềm năng thích ứng của bản thân để đối phó với những yếu tố đó.
Stress là tình trạng gây khó khăn trong học tập và ảnh hưởng đến cảm xúc cũng như tinh thần của cá nhân Nó xảy ra khi con người phản ứng với những kích thích hoặc tình huống khó khăn, áp lực và tác động từ bên ngoài Stress có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe.
Trong gi i h n nghiên c u, chúng tôi đ nh ngh a: c ng th ng (stress) là y u t th ch t, tinh th n ho c c m xúc gây ra c ng th ng cho c th ho c tinh th n
C ng th ng có th là bên ngoài (t môi tr ng, tâm lý ho c xã h i) ho c bên trong (b nh t t, b nh lý c th )
Nghiên c u n m 2008 đ c th c hi n Úc nh m đánh giá kh n ng đi u d ng viên có th làm gì và nói gì v ch m sóc s c kh e t i n i làm vi c, phát
Áp l c th ch t và tâm lý
Áp l c là thu t ng đ c s d ng trong v t lý h c đ ch l c ép trên b m t c a m t v t và vuông góc v i b m t đó Sau đ c s d ng r ng rãi ra v i ngh a áp l c là s b t ép b ng s c m nh, s c ép [6]
Theo T đi n Tâm lý h c, áp l c là l c khác v i nhu c u v h ng tác đ ng N u nhu c u là l c xu t phát t bên trong c th thì áp l c là l c tác đ ng t phía môi tr ng lên c th [27]
Áp lực thể chất và tâm lý là những yếu tố gây stress cho con người trong cuộc sống, ảnh hưởng đến cơ thể và tạo ra những cảm giác tiêu cực về mặt tâm lý Những áp lực này có thể dẫn đến sự mất cân bằng trong hoạt động sống, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cá nhân Hiểu rõ áp lực thể chất và tâm lý giúp nhận diện những nguyên nhân gây stress và những thay đổi trên cơ thể cũng như tâm trạng của con người.
Khái ni m tr m c m
Trầm cảm là một trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán nản, khác với phần lớn buồn chán trong đời sống bình thường Nguyên nhân của trầm cảm có thể phức tạp và biểu hiện lâm sàng thường không chỉ đơn thuần là triệu chứng giảm khí sắc mà còn kèm theo nhiều triệu chứng khác Do đó, người bệnh trầm cảm thường đến gặp các chuyên khoa khác và dễ bị bỏ sót chẩn đoán Trầm cảm cũng thường đi kèm với các rối loạn tâm thần khác như lo âu.
Trầm cảm là một tình trạng tâm thần phức tạp, thể hiện qua ba triệu chứng chính: Khí sắc trầm, biểu hiện bằng nét mặt buồn rầu và dáng điệu uể oải; Mất hứng thú, không còn quan tâm đến các hoạt động trước đây yêu thích; và Giảm năng lượng, khiến người bệnh cảm thấy mệt mỏi và thiếu sức sống Ngoài ra, còn nhiều triệu chứng khác liên quan đến trầm cảm mà người mắc phải có thể trải qua.
- Gi m sút tính t tr ng và lòng t tin
- T cho mình là không x ng đáng ho c có ý t ng b bu c t i, b khuy t đi m
- Nhìn t ng lai m đ m, bi quan, đen t i
- Có ý t ng, hành vi t h y ho i ho c t sát;
Tiêu chu n ch n đoán giai đo n tr m c m theo ICD 10:
- Tr m c m nh , ph i có 2/3 tri u ch ng đ c tr ng c a tr m c m và ph i có ít nh t 2/7 tri u ch ng ph bi n khác c a tr m c m
- Tr m c m v a, ph i có ít nh t 2/3 tri u ch ng đ c tr ng c a tr m c m và ph i có ít nh t 3/7 tri u ch ng ph bi n khác c a tr m c m
- Tr m c m n ng, ph i có 3/3 tri u ch ng đ c tr ng c a tr m c m và ph i có ít nh t 4/7 tri u ch ng ph bi n khác c a tr m c m [5][58].
Khái ni m lo âu
Lo âu là phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn và thách thức trong cuộc sống, mà chúng ta cần tìm cách vượt qua để phát triển và thích nghi.
Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm lý phổ biến, thường kết hợp với nhiều rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn nhân cách và rối loạn ngưỡng Rối loạn lo âu xảy ra khi có sự lo lắng quá mức về một tình huống, với đặc điểm vô lý, lặp lại và kéo dài, gây ảnh hưởng đến khả năng thích nghi trong cuộc sống Khi lo âu và sợ hãi trở nên nghiêm trọng đến mức ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày, ngay cả khi tình huống không còn, đó là dấu hiệu của bệnh lý Nguyên nhân của rối loạn lo âu thường liên quan đến nhiều yếu tố, chủ yếu là các sang chấn tâm lý kết hợp với yếu tố nhân cách có xu hướng lo âu.
Nh ng nguyên nhân gây stress và nh ng y u t liên quan
Nguyên nhân khách quan
Stress do môi tr ng sinh thái [1]:
Do r i lo n chu k th i gian sinh h c
Do suy gi m kh n ng thích ng v i môi tr ng
Do nh ng tác nhân v t lý nh ti ng n, hóa ch t, s đông đúc, không gian ch t ch i, ô nhi m, nóng b c, thay đ i n i c trú
Stress do môi trường xã hội có thể xuất phát từ nhiều yếu tố như mối quan hệ xã hội không ổn định, nghèo khổ, quyền hạn thấp, và sự phân hóa giàu nghèo Ngoài ra, sự toàn cầu hóa, quá tải dân số, gia tăng giá cả hàng hóa, suy thoái kinh tế, thất nghiệp, và sự phân phối các dịch vụ xã hội không công bằng cũng góp phần làm gia tăng stress Các yếu tố như sự phát triển công nghệ, quá tải thông tin và những biến động xã hội cũng ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của con người.
M t nghiên c u n m 2017 cho r ng, vi c có các bi n pháp gi i quy t v n đ xã h i đ c đánh giá t t h n là dùng các bi n pháp h n ch công vi c, tâm lý
Stress do nh ng m i quan h gi a các cá nhân [1]: b n bè, đ ng nghi p, gia đình, tình yêu, v ch ng, con cái, vv…
Nghiên c u c a Mai Hòa Nhung n m 2015 cho th y các y u t liên quan t i c ng th ng c a đi u d ng bao g m: tham gia công tác qu n lý, m i quan h v i đ ng nghi p và mâu thu n v i c p trên [14]
Căng thẳng trong công việc xuất phát từ nhiều yếu tố như sự thay đổi trong cuộc sống, vai trò và trách nhiệm đa dạng, điều kiện làm việc và môi trường xung quanh Thời gian lao động, tính chất và yêu cầu công việc cũng góp phần tạo ra áp lực Bên cạnh đó, vấn đề thu nhập, quan hệ lao động, và sự phát triển nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến mức độ căng thẳng Cuối cùng, chính sách và cơ cấu quản lý không phù hợp có thể làm gia tăng tình trạng này.
Nguyên nhân ch quan
M t s nghiên c u đã nhìn nh n c ng th ng là h u qu do nh h ng c a nh ng thay đ i ho c nh ng s ki n quan tr ng trong cu c s ng [1][17][21]:
Nh ng đi u phi n toái, tích l y nh ng m c kéo dài, h t h ng th ng d n đ n tình tr ng c ng th ng h n nh ng s ki n gây choáng váng m nh
Tình tr ng b nh lý th c th t tr c ho c m i phát sinh gây tác đ ng đ n tâm lý
S thi u ý th c v kh n ng ki m soát b n thân
Không ch c ch n v t ng lai hay nh ng s ki n không th d đoán
Nh ng nhân viên y t ch a s n sàng đ i m t v i vi c lãnh đ o qu n lý có th c t gi m công vi c và ranh gi i ngh hi n có [46]
Ít có quy n quy t đ nh nh ng vi c c a b n thân.
Nh ng h u qu c a stress
Nhi u tài li u nghiên c u đã ch ra stress nh h ng đ n c th theo c hai h ng tích c c và tiêu c c tùy theo t ng đ i t ng, tính ch t, m c đ khác nhau:
Stress có vai trò quan trọng trong việc giúp con người thích nghi với những thay đổi của môi trường, từ đó gia tăng khả năng sáng tạo, nâng cao khả năng cảm giác và tập trung Điều này dẫn đến việc cải thiện năng lực phán đoán, ý chí và tính chiến đấu của con người.
Tiêu c c: theo đích tác đ ng thì stress nh h ng tiêu c c đ n con ng i v c hai m t là th c th (sinh lý) và tâm th n (tâm lý) [1]
R i lo n th ch t: b nh tim m ch, huy t áp, đ ng tiêu hóa, b nh c x ng kh p, vv…
R i lo n tâm lý: r i lo n tâm th n, suy gi m ch c n ng nh n th c; s c và m t ph ng h ng; b phá v quan h xã h i; hi n t ng ki t s c (Burn Out Syndrome); tai n n th ng tích [1]
Nh v y ch p nh n thích nghi, hòa h p s ng chung v i stress s bi n nó thành đ ng l c giúp con ng i càng hoàn thi n và phát tri n h n trong vi c và cu c s ng.
Nguyên nhân, c ch b nh sinh, y u t nguy c c a tr m c m
Nguyên nhân, c ch b nh sinh
V c b n có th chia nguyên nhân c a tr m c m làm 3 lo i sau:
- Tr m c m ph n ng là tr m c m xu t hi n sau s c sang ch n, c ng th ng kéo dài
- Tr m c m th c t n là tr m c m xu t hi n trên n n t ng có t n th ng não ho c các b nh lý c th ngoài não, nh h ng đ n ho t đ ng ch c n ng c a não
- Tr m c m n i sinh là tr m c m do m t cân b ng, các ch t d n truy n th n kinh c m xúc, các amin sinh h c nh serotonin, noradrenalin, dopamin [5]
Y u t di truy n: Các nghiên c u gia đình cho th y 50% s b nh nhân r i lo n c m xúc có ít nh t m t ng i cha ho c m m c r i lo n c m xúc th ng là tr m c m [5][16]
C nghiên cứu cho thấy rằng các vùng khác nhau của não có liên quan đến việc truyền dẫn tín hiệu thần kinh, điều này có thể gây ra các rối loạn tâm cảm.
Gi thuy t v nor-epinephrin, gi thuy t v dopamine: Theo tác gi Blows
(2000) serotonin và noradrenaline nh h ng r t l n đ n hành vi v tâm th n trong khi đó dopamine ch nh h ng đ n v n đ ng [29]
Nhân cách và các yếu tố trong cuộc sống có thể ảnh hưởng đến tình trạng trầm cảm Bệnh nhân thường trải qua nhiều dạng stress trước khi phát triển triệu chứng trầm cảm Nghiên cứu cho thấy stress có thể là nguyên nhân hoặc yếu tố thúc đẩy dẫn đến tình trạng này.
M t s y u t nguy c làm gia t ng tr m c m
• Các b nh mãn tính làm gia t ng t l m c tr m c m
Theo Robert G Robinson (2002), tỷ lệ mắc trầm cảm trong cộng đồng người dân Hoa K tăng lên khoảng 17% Tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn nhiều so với những người đang mắc bệnh khác, đặc biệt trong nhóm bệnh nhân, đạt từ 20 đến 40% Trầm cảm có thể dẫn đến những tổn hại nghiêm trọng về mặt thể chất và tinh thần Nếu không được điều trị, trầm cảm có thể kéo dài nhiều tháng và làm phức tạp thêm quá trình điều trị bệnh.
Bệnh mãn tính có thể dẫn đến trầm cảm, và nhiều loại thuốc điều trị cho các bệnh này cũng có khả năng gây ra triệu chứng trầm cảm Các loại thuốc như thuốc giảm đau cho bệnh viêm khớp, thuốc hạ cholesterol, thuốc điều trị cao huyết áp và bệnh tim, cùng với thuốc giãn phế quản sử dụng cho bệnh hen suyễn, đều có thể liên quan đến tình trạng này.
- B nh tuy n giáp: suy giáp có th gây ra tr m c m Tuy nhiên, suy giáp c ng có th đ c ch n đoán l m là tr m c m và không b phát hi n
Nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa trầm cảm và đau đầu, bao gồm cả đau đầu mãn tính Một số nghiên cứu cho thấy trầm cảm, lo âu và đau đầu có thể do các yếu tố sinh hóa, đặc biệt là sự thay đổi trong các chất hóa học như dopamine và serotonin Ngoài ra, các triệu chứng đau mãn tính cũng liên quan đến trầm cảm.
Tác động của các bệnh thần kinh như bệnh Parkinson có thể làm gia tăng nguy cơ phát triển trầm cảm Những rối loạn này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng vận động mà còn dẫn đến những suy nghĩ tiêu cực và cảm giác chán nản, từ đó gây ra trầm cảm ở bệnh nhân.
- Suy tim: b nh nhân b suy tim ho c b nh nhân đã b m t c n đau tim c ng có th có nguy c b tr m c m
Rối loạn ăn uống là một phần của rối loạn tâm thần, nhiều bệnh nhân rối loạn ăn uống bị chứng trầm cảm Mặc dù chứng trầm cảm và rối loạn ăn uống là nguyên nhân chính của chứng trầm cảm, nhưng rối loạn ăn uống cũng có thể tác động đến hoạt động của các hormone và các mối liên kết trong não, dẫn đến những thay đổi trong cảm xúc Ngay cả khi có sự thay đổi nhỏ trong thói quen ăn uống, nó cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến tâm trạng của một người Theo tác giả Daniel Taylor (2005), những người bị rối loạn ăn uống có tỷ lệ mắc trầm cảm cao gấp 9,8 lần so với những người không bị rối loạn ăn uống.
Nghiên cứu gần đây cho thấy trầm cảm có thể làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường và ngược lại Theo tác giả Egede (2010), đái tháo đường và trầm cảm là hai bệnh liên quan chặt chẽ với gánh nặng bệnh tật, tử vong và chi phí chăm sóc sức khỏe Sự song hành của trầm cảm và đái tháo đường ảnh hưởng đến khả năng điều trị, giảm chuyển hóa, tăng biến chứng, giảm chất lượng cuộc sống, tăng chi phí điều trị, tăng mức độ tàn tật và giảm khả năng lao động, từ đó tăng nguy cơ tử vong Khoảng 60% bệnh nhân AIDS mắc trầm cảm.
Trầm cảm ở phụ nữ có nhiều yếu tố liên quan, bao gồm nội tiết tố, kinh tế, mang thai và thời kỳ mãn kinh Nội tiết tố thay đổi trong quá trình phát triển và sinh sản có thể ảnh hưởng đến tâm trạng, đặc biệt là trong độ tuổi dậy thì, khi phụ nữ có nguy cơ cao bị trầm cảm gấp hai lần so với nam giới Trong thời kỳ mang thai, sự thay đổi hormone có thể dẫn đến trầm cảm sau sinh, với khoảng 10-15% phụ nữ trải qua tình trạng này trong năm đầu sau khi sinh Ngoài ra, gánh nặng gia đình và trách nhiệm chăm sóc trẻ cũng có thể góp phần gây ra trầm cảm Trong giai đoạn mãn kinh, sự giảm sút hormone có thể làm gia tăng triệu chứng trầm cảm, trong khi các yếu tố như nghèo đói, bạo lực gia đình và căng thẳng cũng là những yếu tố nguy cơ quan trọng.
Trầm cảm nam giới không chỉ là hiếm gặp mà còn thường bị che giấu, với nhiều đàn ông có xu hướng sử dụng rượu nhiều hơn để đối phó với tình trạng này Nghiên cứu cho thấy rằng trầm cảm ở nam giới có liên quan đến các triệu chứng như hành vi bốc đồng, lạm dụng rượu và chất gây nghiện.
Trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên là một vấn đề nghiêm trọng, với tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở lứa tuổi này Các yếu tố nguy cơ dẫn đến trầm cảm bao gồm tiếp xúc với căng thẳng, bạo lực gia đình, biến cố tâm lý, và những thay đổi trong cảm xúc và tâm trạng Sau khi trải qua một biến cố nào đó kéo dài, trẻ có thể trở nên tách biệt, hoặc có thể gặp phải tình trạng ly hôn trong gia đình Nghiên cứu cho thấy từ 3-5% trẻ em và thanh thiếu niên mắc trầm cảm lâm sàng, trong khi 10-15% có triệu chứng trầm cảm.
Trầm cảm ở người cao tuổi là một vấn đề nghiêm trọng, với tỷ lệ mắc bệnh lên đến 12-14% trong nhóm này, thường liên quan đến các bệnh mãn tính như Parkinson, Alzheimer, bệnh tim và ung thư Người già thường phải đối mặt với những thay đổi lớn trong cuộc sống, bao gồm sự mất mát người thân, điều này làm gia tăng nguy cơ trầm cảm Một nghiên cứu tại Malaysia chỉ ra rằng trầm cảm ở người cao tuổi có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng sức khỏe gia đình, sự xuất hiện của nhiều bệnh mãn tính và những khó khăn trong tương tác xã hội.
- Hút thu c lá: Có s liên k t quan tr ng gi a hút thu c lá và tr m c m
Nhiều người gặp khó khăn trong việc ngừng hút thuốc, với nguy cơ tái phát lên đến 25% trong thời gian đầu sau khi cai, kéo dài ít nhất 6 tháng Hơn nữa, chỉ có khoảng 6% người thành công trong việc cai thuốc lá sau 1 năm Những người hút thuốc có tiềm năng tái nghiện cao, không chỉ cần được khuyến khích để tiếp tục cai thuốc mà còn phải theo dõi sát sao để ngăn ngừa tái phát Các thuốc chống trầm cảm như bupropion được sử dụng để hỗ trợ những người muốn ngừng hút thuốc lá Hút thuốc lá được biết đến là có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe sau này.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới – Australia năm 2009, "Rèn luyện thân thể nâng cao" khuyến nghị mọi người nên vận động ít nhất 30 phút mỗi ngày, giúp tăng cường sức khỏe, giảm stress và hạn chế triệu chứng trầm cảm Vận động cũng là một biện pháp điều trị hiệu quả cho bệnh nhân trầm cảm.
Công việc căng thẳng, như nghiên cứu khoa học, quản lý, và làm việc quá sức, thường dẫn đến stress và tái diễn nhiều lần Các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện lao động bao gồm môi trường (tiếng ồn, ô nhiễm không khí), tâm sinh lý (thể lực, thần kinh), và các yếu tố tổ chức (phân công lao động hợp lý) Ngoài ra, tính chất công việc, như lao động trí óc hay thể chất, cũng góp phần tác động đến tâm lý người lao động, gây ra tình trạng stress.
Nghiên cứu của Trịnh Chính và cộng sự (2009) cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm trong điều dưỡng và nhân sinh tại Bà Rịa - Vũng Tàu là 59% Những yếu tố thuộc môi trường làm việc có liên quan đến khủng hoảng tâm lý, đặc biệt là làm việc tại các khoa nhiễu bệnh nhân hoặc bệnh nhân nặng, yêu cầu quan sát lâm sàng chính xác, công việc căng thẳng, chịu sức ép lớn trong công việc và nguy cơ bị mất việc.
Theo Laura A Pratt and Debra J Brody (8/2008) cho th y ng i đ tu i 18-39, 40-59 có thu nh p d i m c nghèo thì t l m c tr m c m cao h n h n nh ng ng i có thu nh p m c trên (t l tr m c m t ng ng là 11,5% / 3,5% và 22,4% / 5,9%) [42]
Nh ng ng i tâm lý quá nh y c m, ít b n bè, s ng n i tâm, có kh n ng ch u đ ng stress y u th ng d m c tr m c m [29].
Gi i thi u v công c đo l ng stress, tr m c m, lo âu trong nghiên c u
Nh ng c n c đ l a ch n công c đo l ng stress
Theo k t lu n c a Pichot và Hamilton, các công c tr c nghi m tâm lý nói chung và b công c đo l ng v stress nói riêng c n đ m b o các tiêu chí [50]:
Tính khách quan: k t qu đo c a phép đo không ph thu c vào m i quan h riêng t gi a ng i nghiên c u và đ i t ng nghiên c u
Tin cậy là một công cụ đo lường phù hợp cho những kết quả giằng nhau qua nhiều lần thực hiện và nhiều người thực hiện trên cùng một đối tượng Tuy nhiên, cần phải luôn tính đến các đặc điểm và mục tiêu phát triển của bản thân đối tượng khảo sát.
Để thực hiện ng nghi m hiệu quả, cần áp dụng các công cụ đo lường chính xác đối tượng nghiên cứu Ng nghi m phải đảm bảo ba yếu tố quan trọng: tính hợp lệ nội dung, tức là các tiêu chí trong công cụ phải liên quan trực tiếp đến đối tượng đo; tính hợp lệ đồng thời, nghĩa là công cụ cần có giá trị đo lường theo các tiêu chuẩn đánh giá hiện hành; và tính hợp lệ cấu trúc, đảm bảo rằng công cụ đo lường phản ánh đúng các biến số hoặc cấu trúc nội tại cần được đánh giá.
Tính quy chuẩn là quá trình thực hiện và xử lý các kết quả, bao gồm các bước cụ thể và các phương pháp để đảm bảo chất lượng Công cụ đo lường phải được thực hiện theo những tiêu chuẩn nhất định, và những quy chuẩn này cần phải phù hợp với một nhóm tiêu chuẩn, đồng thời nhóm tiêu chuẩn đó cũng phải mang tính đại diện cho cộng đồng.
Trong việc lựa chọn phương tiện đánh giá phù hợp, độ tin cậy và độ chính xác của công cụ đánh giá đóng vai trò then chốt Đặc biệt, tính chất nội áp dụng của công cụ đánh giá là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến thời gian và khả năng chọn lựa các thang đo Khi đo lường stress, cần xác định rõ đối tượng để lựa chọn thang đánh giá, thang quan sát hay thang phỏng vấn phù hợp với hoàn cảnh Trên thế giới, có nhiều thang trắc nghiệm đánh giá tình trạng cảm xúc của cá nhân, với điểm chung là sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm hoặc bảng hỏi điểm Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tôi đã chọn công cụ đánh giá là thang đo Trầm cảm - Lo âu - Căng thẳng (DASS).
Công ty B đã tiến hành thử nghiệm với thời gian ngắn, ghi lại trực tiếp các kết quả, có khả năng sử dụng đối với từng cá nhân, và đã được chuẩn hóa cũng như công nhận tại Việt Nam.
Thang đi m đánh giá Tr m c m - Lo âu - C ng th ng (DASS 21)
Năm 1995, Lovibond S.H và Lovibond P.F tại Khoa Tâm lý học, Đại học New South Wales (Australia) đã thiết kế thang đánh giá ba rối loạn tâm thần phổ biến là stress, lo âu và trầm cảm, ký hiệu là DASS 42 Đến năm 1997, nhóm nghiên cứu này đã phát triển thang đo DASS 21 Cả hai thang đo DASS 42 và DASS 21 đều đánh giá chính xác ba vấn đề sức khỏe tâm thần hiện nay: căng thẳng, lo âu và trầm cảm Thang DASS 21 đã được Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định số 331/Q-BYT ngày 02/01/2016 Thang DASS 21 được đánh giá có tính giá trị, độ tin cậy và áp dụng phù hợp tại Việt Nam, không có sự khác biệt nhiều về văn hóa Nhờ tính tiện lợi và dễ sử dụng, nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã sử dụng thang DASS 21 để đánh giá tình trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng trên nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm cả nhân viên y tế.
Thang DASS 21 g m bao gồm 21 tiểu mục chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm có 7 tiểu mục, mô tả các triệu chứng thể chất và tinh thần Phần DASS - Trầm cảm tập trung vào trạng thái tâm lý và lòng tự trọng; phần DASS - Lo âu liên quan đến cảm giác lo lắng, hoang mang và sợ hãi; phần DASS - Căng thẳng tâm lý đề cập đến cảm giác căng thẳng và áp lực Điểm số cho mỗi tiểu mục từ 0 đến 3, tùy thuộc vào mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng Tổng điểm của 7 tiểu mục trong mỗi nhóm cho biết tình trạng stress, lo âu và trầm cảm, với điểm từ 0-14 cho thấy không có triệu chứng căng thẳng; từ 15-18 là có triệu chứng nhẹ; từ 19-25 là triệu chứng trung bình; từ 26-33 là triệu chứng nặng và từ 34 trở lên là triệu chứng rất nặng.
B ng 1.1 Cách tính đi m c a thang đo DASS 21
(Ngu n: Lovibond S.H & Lovibond P.F (1995), Manual for the Depression Anxiety & Stress Scales, Psychology Foundation, Sydney [45].)
Thang đo DASS 21 đã đ c Vi n s c kh e tâm th n qu c gia biên d ch, B
Thang đo DASS 21, được ban hành kèm theo Quyết định số 331/Q-BYT ngày 02/01/2016 của Bộ Y tế, đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và có tính ứng dụng cao tại Việt Nam Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tính giá trị và độ tin cậy của công cụ này, cho thấy rằng nó phù hợp với văn hóa địa phương Với tính ngắn gọn, dễ sử dụng và độ chính xác cao, DASS 21 là lựa chọn hàng đầu cho nghiên cứu của chúng tôi.
Thang đo Brief Job Stress Questionnaire - BJSQ
Bảng câu hỏi đánh giá stress công việc của Akiomi Inoue, Norito Kawakami và cộng sự (2014) gồm 57 câu hỏi được chia thành 3 phần Phần thứ nhất bao gồm các câu hỏi liên quan đến các yếu tố stress trong công việc Phần thứ hai tập trung vào các câu hỏi liên quan đến phản ứng của cá nhân đối với stress công việc Phần thứ ba đề cập đến hỗ trợ xã hội từ gia đình và cộng đồng Thang điểm đánh giá từ 0 (không có stress) đến 4 (stress cao), với mức điểm càng cao tương ứng với mức độ stress càng lớn Công cụ này đã được sử dụng để đánh giá stress công việc tại Nhật Bản và nhiều nơi khác, đồng thời đã được dịch và chuẩn hóa cho Việt Nam.
M t s thang đo khác
Bài đánh giá căng thẳng do Hiệp hội Quản lý Căng thẳng Quốc tế (International Stress Management Association) của Anh cung cấp bao gồm 25 câu hỏi trắc nghiệm dạng Có/Không Mỗi câu trả lời đúng sẽ được tính 1 điểm, trong khi câu trả lời sai sẽ được tính 0 điểm Tổng điểm từ 25 câu hỏi sẽ phản ánh mức độ căng thẳng của từng cá nhân.
Thang đo T4 đi m tr xu ng là công cụ hữu ích để đánh giá mối liên hệ giữa c ng th ng và tình trạng sức khỏe tinh thần Từ điểm 5-13, thang đo này phản ánh sự liên quan giữa các yếu tố tâm lý và sức khỏe, trong khi từ điểm 14 trở đi tập trung vào những người bị ảnh hưởng bởi c ng th ng Mặc dù thang đo này đã được áp dụng ở Việt Nam, nhưng vẫn còn thiếu sự phổ biến và ứng dụng rộng rãi.
Thang đo đánh giá công việc nghề nghiệp là công cụ khảo sát mức độ stress trong công việc, được giới thiệu bởi tác giả Phùng Kiết Dịch trong cuốn sách “Stress và sức khỏe” năm 2004 Thang đo này bao gồm 57 câu hỏi, sử dụng thang điểm từ 1 đến 5 cho mỗi câu hỏi, nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa tình trạng công việc nghề nghiệp và mối quan hệ cá nhân.
Bài viết đề cập đến 27 câu hỏi liên quan đến sức khỏe, 22 câu về hành vi nghề nghiệp và 9 câu về hứng thú nghề nghiệp Thang đo đánh giá công việc được chia thành 3 mức độ: thấp, trung bình và cao Tuy nhiên, do tính chất dài và khó hiểu của các câu hỏi, chúng ít được áp dụng trong các nghiên cứu về công việc tại Việt Nam.
Ngoài các thang đánh giá tình trạng công việc, còn có nhiều thang đo khác để đánh giá các trạng thái tâm lý như: bảng câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp của David Fontana, chỉ số đánh giá stress nghề nghiệp của Belkic (OSI), bảng câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp (JSQ), bảng câu hỏi stress học tập (ASQ) do Abouserie phát triển, thang đánh giá lo âu của Zung, thang đánh giá trầm cảm Hamilton, thang đánh giá trầm cảm Beck, và thang đánh giá trầm cảm Montgomery-Asberg (MADRS).
B câu h i đánh giá stress công vi c c a Akiomi Inoue, Norito Kawwakami và cs (2014) B ng h i có t ng s 57 câu h i, chia làm 3 ph n
Bài viết này tập trung vào việc khảo sát các yếu tố gây stress liên quan đến công việc Phần đầu tiên trình bày các câu hỏi liên quan đến những yếu tố này, trong khi phần thứ hai tập trung vào phản ứng của các đối tượng trước các yếu tố stress công việc Phần ba đề cập đến hỗ trợ xã hội từ các nguồn như đồng nghiệp và gia đình Thang đo đánh giá mức độ stress có thang điểm từ 0 (không có stress) đến 4 (stress cao) Mức độ stress càng cao thì điểm số càng cao Công cụ này đã được sử dụng để đánh giá stress công việc tại Nhật Bản và nhiều nước khác, đồng thời đã được dịch sang tiếng Việt và chuẩn hóa cho phù hợp với văn hóa Việt Nam.
Nh ng công trình nghiên c u v stress, tr m c m, lo âu và các y u t liên
Trên th gi i
Nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên y tế thường phải đối mặt với mức độ stress cao, đặc biệt là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, với khoảng 25% bác sĩ lâm sàng trải qua các triệu chứng như trầm cảm, lo âu và kiệt sức Stress không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần mà còn gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như loét dạ dày, bệnh tim mạch và huyết áp cao Điều này dẫn đến việc giảm chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân và gia tăng tỷ lệ nghỉ việc trong ngành y tế.
Nghiên cứu của M Herhue và cộng sự năm 2019 cho thấy rằng việc đào tạo và hướng dẫn nhân viên điều dưỡng có ảnh hưởng tích cực đến sự tương tác với bệnh nhân Kết quả cho thấy các nhân viên không được đào tạo có nguy cơ kiệt sức cao hơn so với những người đã được đào tạo Việc tăng cường hợp tác và giao tiếp với bệnh nhân không chỉ giúp nâng cao sự hài lòng trong công việc mà còn cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Nghiên cứu này xác định các rủi ro và yếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe của sinh viên điều dưỡng tại Pháp, nhấn mạnh các yếu tố cá nhân và môi trường, hành vi cùng các dấu hiệu lâm sàng Kết quả cho thấy nhiều sinh viên gặp phải tình trạng căng thẳng, kiệt sức và đôi khi rối loạn tâm lý sau khi tốt nghiệp.
Nghiên cứu của Demiral và đồng nghiệp (2000) đã khảo sát hơn 300 bác sĩ từ các chuyên khoa khác nhau và phát hiện tỷ lệ trầm cảm và lo âu lần lượt là 18,9% và 27,4% Một số lượng lớn các nghiên cứu cho thấy 25-30% nhân viên y tế được xác định là gặp khó khăn trong công việc trong ngành y tế.
[37] Theo nghiên c u c a Shams và El-Masry (2013), t l c ng th ng ngh nghi p trên đ i t ng nhân viên y t chuyên ngành gây mê h i s c là 69,4%
Gánh nặng công việc và áp lực từ việc chăm sóc bệnh nhân là những yếu tố chính gây stress cho cán bộ y tế Nghiên cứu của Estrin-Behar và cộng sự (1990) đã chỉ ra rằng, trong số 1505 cán bộ y tế tại Pháp, nhiều người gặp phải tình trạng trầm cảm, sử dụng thuốc an thần và gặp các rối loạn tâm lý Kết quả cho thấy mối liên quan giữa gánh nặng công việc và sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế.
Theo nghiên cứu của Hipwell và cộng sự năm 1989, nguồn gốc của sự căng thẳng cho các nhân viên y tế rất đa dạng, bao gồm nhiều yếu tố như: công việc quá tải, giao tiếp kém với đồng nghiệp, tính chất khắc nghiệt của công việc và sự vắng mặt thường xuyên của bệnh nhân Thêm vào đó, việc làm việc trong thời gian dài mà không có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, áp lực công việc cao hoặc tình hình làm việc yên tĩnh cũng góp phần làm gia tăng căng thẳng, điều này đã được nhiều báo cáo xác nhận.
Nghiên cứu của Demiral et al (2000) cho thấy tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở các bác sĩ chuyên khoa là 18,9% và 27,4% Ngoài ra, một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng 25-30% nhân viên y tế gặp khó khăn trong công việc của họ (Grassi & Magnani, 2000).
Nghiên cứu của Shams và El-Masry (2013) cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp trong đội ngũ nhân viên y tế chuyên ngành gây mê đạt 69,4% Các yếu tố như khối lượng công việc nặng, tổ chức lao động không hiệu quả, mâu thuẫn trong nhóm và áp lực từ việc chăm sóc bệnh nhân nặng, tiếp xúc hàng ngày với những vấn đề liên quan đến bệnh nhân tử vong, cùng phản ứng thái quá từ gia đình bệnh nhân, đều là những nguyên nhân chính dẫn đến stress trong ngành này.
T i Vi t Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà (2006) cho thấy 10,7% nhân viên y tế trải qua mức độ stress cao, 37,9% ở mức trung bình và 51,4% ở mức thấp Trong số các nhân viên y tế có biểu hiện stress, bác sĩ là nhóm có tỷ lệ stress cao nhất (12,9%) so với y tá và kỹ thuật viên Nghiên cứu của Lê Thành Tài (2008) tại các bệnh viện đa khoa ở Cần Thơ cho thấy 45,2% nhân viên điều dưỡng có dấu hiệu stress mức cao, 42,8% ở mức trung bình, với tỷ lệ stress cao nhất tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ là 53,1% Năm 2016, Nguyễn Thu Hà chỉ ra rằng tỷ lệ stress ở nhân viên y tế chuyên ngành tâm thần đạt 66,7%, trong đó 61,7% có stress được kiểm soát khá tốt, và chỉ 5% cần can thiệp Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối quan hệ nghịch giữa stress và chỉ số khả năng làm việc (WAI) của nhân viên y tế (r= -0,37; p=0,004), nghĩa là chất lượng công việc giảm khi mức độ stress tăng.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Nhật Trường cho thấy 27% nhân viên y tế gặp phải stress một cách thường xuyên Có mối liên quan rõ ràng giữa stress và nhiều yếu tố khác, bao gồm trình độ học vấn, tính chất công việc, mức độ hài lòng, hoạt động thể lực, thời gian nghỉ ngơi không hợp lý, quản lý kém, áp lực hoàn thành công việc, ít nhận được sự quan tâm từ cấp trên, bị bạo hành và phân biệt đối xử, cũng như thiếu trang thiết bị.
N m 2011, m t nghiên c u t i b nh vi n giao thông v n t i trung ng cho th y t l stress là 40,8%; trong đó các m c đ nh , v a, n ng và r t n ng l n l t là 22,4%, 13,6%, 3,4% và 1,4% [14]
Nghiên cứu của Phạm Minh Khuê cho thấy tỷ lệ nghỉ việc của nhân viên y tế bệnh viện Kiến An là 6,39%, cao hơn so với năm trước (nam 13,64%; nữ 3,9%) Tỷ lệ nghỉ việc cũng khác nhau theo độ tuổi và thâm niên công tác, với nhóm cán bộ có thâm niên dưới 1 năm là 21,43% và nhóm trên 50 tuổi chỉ 1,82% Phân bố tỷ lệ nghỉ việc không đồng đều giữa các khoa phòng, cụ thể khoa gây mê có tỷ lệ cao nhất 19,05%, trong khi các nhóm công việc chuyên môn như điều dưỡng 3,82%, dược tá 13,3%, bác sĩ 14,86% và kỹ thuật viên X-Quang lên tới 40%.
Nghiên cứu của tác giả Bích Nguyên Ngọc cho thấy rằng tại Bệnh viện K tỉnh Gia Lai, có 74,8% nhân viên lâm sàng không biểu hiện stress, trong khi 25,2% có dấu hiệu stress Các mức độ biểu hiện stress được xác định là nhẹ (10,4%), trung bình (8,8%) và nặng (6%), không có mức độ rất nặng nào được ghi nhận.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyên (2015) về điều dưỡng viên lâm sàng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định đã chỉ ra rằng các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp gây ra căng thẳng cho nhân viên y tế bao gồm: điều kiện lao động, vai trò lao động, môi trường lao động và các yếu tố cá nhân Căng thẳng liên quan đến sự quá tải trong lao động, làm việc ca kíp, sự hứng thú trong công việc và các mục tiêu đề ra Làm việc ca kíp cùng với áp lực về thời gian dẫn đến tình trạng căng thẳng, gây mệt mỏi và buồn chán cho nhân viên y tế Do mệt mỏi, họ không tập trung, dễ mắc lỗi và hay xảy ra tai nạn Căng thẳng của lao động ca kíp còn có thể làm trầm trọng thêm tình trạng sức khỏe, dẫn đến các bệnh như bệnh tim mạch và rối loạn tiêu hóa.
Nghiên cứu của tác giả V Bá Quỳnh về tình trạng sức khỏe tâm thần của điều dưỡng viên khối Ngoại, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 năm 2018 cho thấy tỷ lệ trầm cảm là 29,3%, lo âu 43% và stress 33,7% Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress mạn tính lần lượt là 3,3%, 11,4% và 7,3%.
Nghiên cứu của tác giả Lê Quốc Hùng năm 2018 cho thấy tỷ lệ stress của nhân viên điều dưỡng tại bệnh viện E là 24,3% Mức độ stress này được phân loại thành 12,3% mức độ nhẹ, 6,5% mức độ vừa, 4,5% mức độ nặng và 1% mức độ rất nặng Tỷ lệ stress ở nam cao hơn nữ (38,2% so với 21,3%); nhóm điều dưỡng từ 30 đến 40 tuổi có tỷ lệ stress cao nhất (43,7%); và nhóm điều dưỡng có thâm niên công tác dưới 5 năm cũng có tỷ lệ cao nhất (45%).
Gi i thi u v c s nghiên c u
Bệnh viện Nhi Trung ương, ban đầu mang tên Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em, được thành lập vào ngày 14/07/1969 tại bệnh viện Bạch Mai Với sự hỗ trợ quý báu về vật chất và nhân lực từ chính phủ và nhân dân Thái Nguyên, vào ngày 16/03/1981, toàn thể cán bộ công nhân viên của Viện đã phấn khởi đón nhận một bệnh viện mới với cơ sở vật chất khang trang, bao gồm 1 khu hành chính, 19 khoa lâm sàng, 7 khoa cận lâm sàng và 4 khu hậu cần.
Cho đ n nay, tr i qua 30 n m phát tri n v i b nh vi n đã tr thành 1 trong
3 b nh vi n chuyên môn v Nhi t t nh t c n c V i 11 phòng ch c n ng, 31 khoa lâm sàng, 8 khoa c n lâm sàng và 4 khoa h tr và các t ch c đ c thù
B ng 1.2 C c u các khoa, phòng B nh vi n Nhi Trung ng
T ch c cán b K ho ch t ng h p
Phòng i u d ng Tài chính k toán
Công ngh thông tin Công tác xã h i
H p tác qu c t Truy n thông và
Các khoa lâm sàng i u tr tích c c ngo i khoa
Khám b nh đa khoa Gây mê h i s c Qu c t i u tr t nguy n
Di truy n Th n và L c máu
Y h c c truy n Ti t ni u Tai – M i – H ng R ng – Hàm –
Ngo i t ng h p Ch nh hình nhi Ph c h i ch c n ng Khoa M t
Gi i ph u b nh Ch n đoán hình nh Sinh hóa Huy t h c
Vi sinh Truy n máu Di truy n và Sinh Nghiên c u sinh h c phân t h c phân t các b nh truy n nhi m truy n
Trong năm 2018, số lượng điều dưỡng viên tại bệnh viện đạt 850 người, trong đó có 415 người làm việc tại các khoa lâm sàng Tổng số lượt khám bệnh trong năm này là 1.047.437 lượt bệnh nhân, đạt 104,7% kế hoạch năm và tăng 11,4% so với năm 2017 Khu phòng khám chất lượng thuộc khoa Quốc tế S cũng đã được cải thiện đáng kể trong năm qua.
2018 đ t t ng s khám kho ng 57.609 l t b nh nhân, trung bình m i ngày t 200-220 BN t i khám ph n nào gi m b t tình tr ng ùn t c BN trong nh ng ngày cao đi m
Khoa Khám bệnh II đã được thành lập và hoạt động hiệu quả, với việc tiếp nhận và khám cho 475.000 lượt bệnh nhân trong năm 2018, chiếm 45% tổng số bệnh nhân khám bệnh tại bệnh viện.
Khung lý thuy t
i t ng nghiên c u
i u d ng viên đang làm vi c t i các Khoa lâm sàng B nh vi n Nhi trung ng n m 2019
Tiêu chu n l a ch n: i u d ng viên thu c biên ch b nh vi n, đang làm vi c t i các khoa lâm sàng, có 1 n m công tác tr lên và đ ng ý tham gia nghiên c u
Tiêu chuẩn đối với ứng viên là phải có thời gian công tác tối thiểu 1 năm, chưa từng bị kỷ luật và không có mặt tại thời điểm nghiên cứu, không hợp tác hoặc đã đồng ý tham gia vào nghiên cứu nhưng bị buộc thôi việc.
2.1.2 a đi m nghiên c u và th i gian nghiên c u a đi m: 31 khoa lâm sàng b nh vi n Nhi trung ng
2.2.1 Thi t k nghiên c u Áp d ng ph ng pháp nghiên c u mô t c t ngang có phân tích.
C m u, cách ch n m u
Toàn b đi u d ng t i các khoa lâm sàng (365 ng i)
Ch n m u thu n ti n trên toàn b đi u d ng đáp ng đ c tiêu chu n l a ch n t i các khoa lâm sàng b nh vi n Nhi trung ng n m 2019.
Ph ng pháp thu th p s li u
B công c
S d ng Thang đi m đánh giá Tr m c m - Lo âu – Stress (DASS 21) (Ph l c 2) [45]
B câu h i đánh giá stress ngh nghi p (Brief Job Stress Questionnaire c a Akiomi Inoue, Norito Kawwakami và cs (2014) (Ph l c 3) [39].
C s xây d ng b công c
Hai công trình nghiên cứu này đã được nhiều tác giả trên thế giới sử dụng trong các nghiên cứu về stress và rối loạn sức khỏe tâm thần, và đã được chuẩn hóa tại Việt Nam, khẳng định tính khả thi và tính ứng dụng cao trong nghiên cứu.
K thu t thu th p s li u
Thu th p s li u đ nh l ng qua phát v n b ng 2 b câu h i t đi n:
B c 1: Liên h v i lãnh đ o b nh vi n, l y thông tin và quy t đ nh đ c th c hi n nghiên c u
B c 2: Th nghi m b câu h i, ch nh s a cho phù h p v i đ a đi m và đ i t ng nghiên c u
B c 3: Sau khi hoàn thi n b câu h i, l p danh sách đ i t ng ph ng v n, chia kho ng th i gian t ng khoa phòng đ lên l ch đi l y s li u cho m i khoa
B c 4: Xin phép các tr ng/phó khoa c a 31 khoa lâm sàng, ti n hành phát v n đ i t ng nghiên c u theo l ch
B c 5: Thu phi u, ki m tra và b sung nh ng phi u còn thi u thông tin
B công c thu th p s liu đ nh l ng đã được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đó và đã thực hiện hai cuộc khảo sát trên một số đối tượng là điều dưỡng viên Ngoài ra, công cụ này còn bổ sung thêm một số thông tin nhân khẩu học cần thiết trước khi triển khai và thu thập dữ liệu chính thức.
Quy trình thu thập số liệu bao gồm việc lập danh sách điều dưỡng của bệnh viện dựa trên các tiêu chuẩn đã chọn Điều tra viên sẽ làm việc tại từng khoa phòng, phát phiếu khảo sát trực tiếp đến tay người nghiên cứu và hướng dẫn điền phiếu một cách chính xác.
Quy trình thu th p thông tin
B c 1: Tìm đ c tài li u và các thông tin liên quan đ n v n đ nghiên c u
B c 2: Vi t và hoàn thi n đ c ng lu n v n, thông qua giáo viên h ng d n
B c 4: Xây d ng, thí đi m và hoàn thi n b công c nghiên c u, in phi u đi u tra
B c 5: Ti n hành thu th p s li u t các ngu n thông tin s n có
B c 6: Làm s ch s li u, nh p s li u, phân tích s li u và vi t lu n v n.
Các bi n s , ch s nghiên c u
B ng 2.1 Các nhóm bi n s và ch s
M c tiêu STT Bi n s Ch s Lo i bi n
Ph ng pháp thu th p
1 I Thông tin chung c a đ i t ng nghiên c u (Y u t nhân kh u h c)
% nhóm tu i nh l ng, th h ng Phát v n
% gi i tính nh tính, nh phân Phát v n
M c tiêu STT Bi n s Ch s Lo i bi n
Ph ng pháp thu th p
% ch c danh nh tính, th h ng Phát v n
% trình đ chuyên môn nh tính, th h ng Phát v n
% nhóm thâm niên công tác nh l ng, danh m c Phát v n
% nhóm thu nh p nh l ng, th h ng Phát v n
% t n su t tr c nh l ng, danh m c Phát v n
II Stress, tr m c m và lo âu các đ i t ng nghiên c u (DASS 21)
Stress, tr m c m và lo âu (thang đo DASS 21) theo m c đ , tu i, gi i, thâm niên…
% có d u hi u stress, tr m c m, lo âu theo m c đ , tu i, gi i, thâm niên… nh tính, th h ng Phát v n
M c tiêu STT Bi n s Ch s Lo i bi n
Ph ng pháp thu th p III Các bi n s đánh giá stress công vi c (BJSQ)
% stress công vi c nh tính, th h ng Phát v n
% ph n ng v i stress nh tính, th h ng Phát v n
% các m c h tr xã h i nh tính, th h ng Phát v n
% s d ng r u bia nh tính, th h ng Phát v n
% hút thu c lá nh tính, th h ng Phát v n
% t n su t t p th d c th thao nh tính, th h ng Phát v n
M c tiêu STT Bi n s Ch s Lo i bi n
Ph ng pháp thu th p
% các cách gi i t a c ng th ng nh tính, th h ng Phát v n
Tu i, gi i tính, ch c v , v trí công tác, trình đ chuyên môn, thâm niên công tác, thu nh p hàng tháng, t n su t tr c…
M i liên quan gi a tu i, gi i, ch c v , v trí công tác, trình đ chuyên môn, thâm niên công tác, thu nh p hàng tháng, t n su t tr c… và stress
R u bia, thu c lá, th d c, gi i t a c ng th ng
M i liên quan gi a vi c s d ng r u bia, thu c lá, t p th d c th thao, cách gi i t a c ng th ng và stress
Tiêu chu n đánh giá
ánh giá đi m cho b công c DASS 21
B ng 2.2 Cách tính đi m c a thang đo DASS 21
ánh giá đi m cho b công c BJSQ
B ng h i stress ngh nghi p rút g n g m 57 câu, chia làm 3 ph n Ph n th
Bài viết này bao gồm ba phần chính: phần đầu tiên gồm 17 câu hỏi liên quan đến stress trong công việc, phần hai chứa 29 câu hỏi về phản ứng ngược với stress, và phần ba gồm 9 câu hỏi về hỗ trợ xã hội từ cấp trên, đồng nghiệp và gia đình Để đánh giá mức độ stress, thang Likert được sử dụng, trong đó mức độ stress thấp nhất được ghi nhận là 1 điểm và cao nhất là 4 điểm cho mỗi câu hỏi Điểm số càng cao cho thấy mức độ stress càng lớn Đối với các yếu tố hỗ trợ xã hội và phản ứng ngược với stress, phần lớn các câu hỏi được đánh giá ở mức 1 và 2 điểm, trong khi ít câu hỏi đạt mức 3 và 4 điểm.
X lý và phân tích s li u
S li u thu th p đ c làm s ch, nh p vào máy tính b ng ph n m m Epidata 3.1
Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích số liệu thu thập từ phiếu khảo sát, nhằm kiểm tra tính xác định và độ tin cậy của dữ liệu Tính toán các chỉ số như tần suất, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình và tỉ suất chênh OR (95% CI) với mức ý nghĩa α = 0,05 Sử dụng Kiểm định Chi-Square để đánh giá sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố liên quan đến vấn đề stress của đối tượng nghiên cứu Các bảng và đồ thị phù hợp được sử dụng để minh họa và trình bày kết quả sau phân tích.
Sai s và bi n pháp kh c ph c sai s
Sai s có th m c ph i
Phi u thu th p thi u thông tin do quên đi n, không mu n tr l i ho c không chính xác
Sai s t đi n do l i cách hi u v n đ c a đ i t ng nghiên c u
Bi n pháp kh c ph c sai s
Gi i thích rõ m c đích nghiên c u v i các đ i t ng nghiên c u đ h an tâm và tr l i khách quan nh t
L a ch n đ i t ng kh o sát phù h p v i tiêu chu n
Ki m tra l i s phi u thi u thu v , b sung thông tin n u thi u
o đ c trong nghiên c u
MBOs tham gia các hoạt động là tự nguyện, tuy nhiên, thông tin do điều dưỡng cung cấp hoàn toàn được giữ kín, bảo mật và chỉ phục vụ cho nghiên cứu, không có mục đích nào khác.
c s cho phép tri n khai t lãnh đ o b nh vi n
c ng nghiên c u đ c H i đ ng xét duy t đ c ng tr ng i h c
Th ng Long thông qua.
H n ch c a nghiên c u
c đi m nhân kh u h c c a đ i t ng nghiên c u
B ng 3.1 Phân lo i TNC theo nhóm tu i, gi i tính, thu nh p (n65)
Theo kết quả khảo sát, độ tuổi từ 31-40 chiếm tỷ lệ 58,6% trong nhóm đối tượng, tiếp theo là độ tuổi 20-30 với tỷ lệ 35,1% Về giới tính, nữ giới chiếm 77,3% trong khi nam giới chỉ chiếm 22,7% Đặc biệt, nhóm đối tượng có thu nhập trên 10 triệu đồng chiếm 58,6%, trong khi nhóm có thu nhập dưới 10 triệu đồng chiếm 41,4%.
B ng 3.2 Phân lo i TNC theo ch c danh, trình đ , thâm niên, bu i tr c
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nhân viên (92,1%) Trình độ văn hóa của các đối tượng chủ yếu là trung cấp, cao đẳng (54,2%), tiếp theo là trình độ đại học (26,6%) Đối tượng có thâm niên công tác trên 5 năm chiếm 71,0%, và có 75,1% đối tượng làm việc trực tiếp trên 1 buổi/tuần.
Hành vi và l i s ng c a đi u d ng viên
B ng 3.3 Môt s hành vi và l i s ng c a đ i t ng nghiên c u (n65)
Nghe nh c, xem phim 134 36,7 i du l ch, picnic 83 22,7
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 94,8% đối tượng không sử dụng thuốc lá, trong đó 65,2% có sử dụng rượu bia Nhóm đối tượng tham gia thể thao chiếm tỷ lệ cao nhất với 54,8% Ngoài ra, 36,7% đối tượng chọn nghe nhạc và xem phim để giải trí, 30,7% chọn thể thao và 22,7% chọn đi du lịch, picnic.
Th c tr ng stress, tr m c m, lo âu c a đi u d ng b nh vi n Nhi Trung
Th c tr ng stress, tr m c m, lo âu c a đ i t ng nghiên c u
B ng 3.4 Th c tr ng stress, tr m c m, lo âu c a đ i t ng nghiên c u
K t qu nêu B ng 3.4 cho th y có 86 đ i t ng có d u hi u stress chi m 23,6%, s đ i t ng có d u hi u tr m c m là 100 tr ng h p, chi m 27,4% và
152 tr ng h p có d u hi u lo âu, chi m 41,6%
B ng 3.5 M c đ stress, tr m c m, lo âu c a đ i t ng nghiên c u
Trong s đ i t ng có d u hi u stress, tình tr ng chi m t l cao là m c đ nh và v a v i t l l n l t là 43,0% và 46,5%, ch có 1,2% đ i t ng có d u hi u stress m c đ r t n ng
Trong s đ i t ng có d u hi u tr m c m, tình tr ng ch y u là m c đ v a v i t l là 72,0%
Trong s đ i t ng có d u hi u lo âu, đ i t ng có d u hi u m c đ n ng chi m t l cao nh t (43,4%), ti p theo sau đó là m c đ nh (34,2%) i t ng có d u hi u lo âu m c đ v a có t l th p nh t (9,2%)
B ng 3.6 Th c tr ng stress, tr m c m, lo âu theo nhân kh u h c c a TNC
N i dung Stress Tr m c m Lo âu
(SL) 25 (25,8) 61 (30,1) 97 (49,0) i h c (SL8) 56 (28,3) 32 (33,0) 43 (44,3) Sau đ i h c (SLp) 5 (7,1) 7 (10,0) 12 (17,1) Thâm niên công tác
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam giới gặp stress (20,5%) thấp hơn so với nữ giới (24,5%) Trình độ học vấn cũng ảnh hưởng đến mức độ stress, trong đó nhóm có trình độ học vấn cao nhất có tỷ lệ stress thấp nhất (7,1%) Ngoài ra, tỷ lệ người lao động có kinh nghiệm từ 1 đến 5 năm gặp stress (28,3%) cao hơn so với nhóm có thâm niên trên 5 năm (21,6%) Đáng lưu ý, tỷ lệ stress giữa các nhóm tuổi là tương đương nhau.
Tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm trong nữ giới (28,4%) cao hơn so với nam giới (24,1%) Trình độ sau đại học có tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm thấp nhất (10,0%) Tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm ở nhóm đối tượng có thâm niên công tác từ 1 đến 5 năm (34,0%) cao hơn so với nhóm có thâm niên trên 5 năm (24,7%) Nhóm tuổi dưới 30 có tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm cao nhất (30,4%), trong khi các nhóm tuổi khác có tỷ lệ tương đối đồng đều.
Tỷ lệ có dấu hiệu lo âu ở nữ giới (44,3%) cao hơn nam giới (32,5%) Trình độ sau đại học có tỷ lệ có dấu hiệu lo âu thấp nhất (17,1%) Nhóm tuổi trên 30 có tỷ lệ có dấu hiệu lo âu cao nhất (56,5%), trong khi các nhóm tuổi khác có tỷ lệ tương đương nhau.
B ng 3.7 Th c tr ng stress theo hành vi và l i s ng c a đ i t ng nghiên c u
N i dung Stress Tr m c m Lo âu
Theo nghiên cứu, tỷ lệ người hút thuốc lá có dấu hiệu stress là 36,8%, cao hơn so với 19,8% ở những người không hút thuốc Ngoài ra, những người tiêu thụ rượu bia cũng cho thấy tỷ lệ có dấu hiệu stress cao hơn, với 26,6% so với 23,5% ở những người không uống rượu bia.
T l ng i hút thu c lá có d u hi u tr m c m (42,1%) cao h n ng i không hút thu c lá (26,6%) Ng i có u ng r u bia có t l có d u hi u tr m c m t ng đ ng ng i không u ng r u bia
Theo nghiên cứu, tỷ lệ người hút thuốc lá có mức độ lo âu cao (57,9%) hơn so với người không hút thuốc (40,7%) Bên cạnh đó, tỷ lệ người tiêu thụ rượu bia cũng cho thấy sự khác biệt, với 44,9% người uống rượu bia có mức độ lo âu cao hơn so với 35,4% ở những người không uống rượu bia.
B ng 3.8 Th c tr ng stress theo l i s ng c a đ i t ng nghiên c u (n65)
N i dung Stress Tr m c m Lo âu
Th nh tho ng (SL 0) 48 (24,0) 60 (30,0) 88 (44,0)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người không tập thể dục có dấu hiệu stress (37,8%) cao hơn so với người thường xuyên tập thể dục (8,4%) Tuy nhiên, những người giải trí bằng các hình thức giải trí khác lại có tỷ lệ không có dấu hiệu stress khá cao.
Người không tập thể dục (40,2%) có tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm cao hơn người thường xuyên tập thể dục Trong khi đó, người thường xuyên tập thể dục có tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm thấp nhất (8,4%) Tuy nhiên, người giới tính nữ có tỷ lệ không có dấu hiệu trầm cảm khá cao khi so với các hình thức giải trí khác.
Người không tập thể dục có tỷ lệ lo âu cao hơn người thường xuyên tập thể dục (59,8%) Trong khi đó, những người thường xuyên tập thể dục có tỷ lệ stress thấp hơn (18,1%) Đặc biệt, những người giải trí bằng các hình thức khác nhau có tỷ lệ lo âu thấp đáng kể.
Th c tr ng stress do ngh nghi p c a đ i t ng nghiên c u (BJSQ)
B ng 3.9 Th c tr ng stress công vi c c a đ i t ng nghiên c u* (n65)
(Ghi chú: *Thang đo BJSQ đã đ c đánh giá m c đ phù h p Vi t Nam v i Cronbach’s Alpha là 0,93)
K t qu nêu B ng 3.9 cho th y s đ i t ng có d u hi u stress công vi c chi m 27,9% V m c đ ph n ng v i stress, có 77,3% đ i t ng ph n ng nhi u v i stress
B ng 3.10 M c đ h tr xã h i c a đ i t ng nghiên c u (n65)
B ng 3.10 cho th y có 79,2% đ i t ng đ c đ c gia đình và b n bè h tr , giúp đ Và 67,4% đ i t ng đ c đ ng nghi p h tr giúp đ nhi u
B ng 3.11 M c đ hài lòng c a đ i t ng nghiên c u (n65)
Ch a hài lòng 30 8,2 b ng 3.11 có 97,8% đ i t ng nghiên c u hài lòng v i cu c s ng gia đình và có 91,8% đ i t ng hài lòng v i công vi c hi n t i.
M t s y u t liên quan đ n stress c a đ i t ng nghiên c u
B ng 3.12 M i liên quan gi a nhóm tu i và stress c a TNC
Tu i Có Stress Không stress OR
Không th y s liên quan gi a tu i tác và vi c có d u hi u stress (p=0,6>0,05; p=0,5>0,05)
B ng 3.13 M i liên quan gi a gi i tính và stress c a TNC
Gi i Stress Không stress OR
213 (75,5) Không th y s liên quan gi a gi i tính và tình tr ng stress c a đ i t ng nghiên c u (p = 0,4 > 0,05)
B ng 3.14 M i liên quan gi a thu nh p và stress c a TNC
Thu nh p Stress Không stress OR
110 (72,8) Không th y m i liên quan gi a thu nh p và tình tr ng stress c a đ i t ng nghiên c u (p = 0,2 > 0,05)
B ng 3.15 M i liên quan gi a ch c danh và stress c a TNC
Ch c v Stress Không stress OR
254 (76,5) Không th y m i liên quan gi a ch c danh c a đ i t ng và tình tr ng stress c a đ i t ng nghiên c u (p = 0,2 > 0,05)
B ng 3.16 M i liên quan gi a trình đ và stress c a TNC
Trình đ Stress Không stress OR
Kết quả nghiên cứu Bảng 3.16 cho thấy có mối liên hệ giữa trình độ học vấn và tình trạng stress của đối tượng nghiên cứu Những người có trình độ trung cấp/cao đẳng có khả năng trải qua mức độ stress cao gấp 5,1 lần so với những người có trình độ sau đại học (p 0,05)
B ng 3.18 M i liên quan gi a t n su t tr c và stress c a TNC
74 (81,3) Không th y m i liên quan gi a t n su t tr c v i tình tr ng stress c a đ i t ng nghiên c u (p = 0,2 > 0,05)
B ng 3.19 M i liên quan gi a thói quen hút thu c lá và stress c a TNC
Hút thu c Stress Không stress OR
(63,2) Không th y m i liên quan gi a vi c hút thu c và tình tr ng stress c a đ i t ng nghiên c u (p = 0,2 > 0,05)
B ng 3.20 M i liên quan gi a thói quen s d ng r u bia v i stress c a TNC
(76,4) Không th y m i liên quan gi a vi c s d ng r u bia v i tình tr ng stress c a đ i t ng nghiên c u (p = 0,97 > 0,05)
B ng 3.21 M i liên quan gi a thói quen t p th d c v i stress c a TNC
T p th d c Stress Không stress OR
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ rõ ràng giữa thói quen tập thể dục và mức độ stress của đối tượng nghiên cứu Những người thường xuyên tập thể dục có nguy cơ gặp phải tình trạng stress cao gấp 3 lần so với những người không tập thể dục (p